1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh

113 302 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ với đời sống tinh thần cho người dân tỉnh Bắc Ninh .... Thứ hai, Quan họ là một hiện tượng sinh hoạt văn h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ VÂN

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Vân, có kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình

Hà Nội, tháng 05 năm 2017

Tác giả

Dương Thị Hòa

Trang 4

Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Sau đại học và các phòng ban khác của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho

em được học tập, nghiên cứu tại quý trường Xin chân thành cảm ơn các thầy

cô giáo khoa Triết học và khoa Giáo dục chính trị đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt thời gian qua

Em xin gửi lời cảm ơn đến UBND tỉnh nhà Bắc Ninh, Sở Văn hoá du lịch và thể thao, các cơ quan ban ngành, trường THCS Tương Giang huyện

Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện cho em tham gia học tập nâng cao trình độ

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Nghệ sĩ Nguyễn Hữu Duy - Phó trưởng đoàn nghệ thuật II nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh đã giúp đỡ

em trong suốt quá trình làm luận văn

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Vân, giảng viên khoa Triết học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Triết học của mình

Xin gửi lời cảm ơn đến bố mẹ, anh chị em trong gia đình, bạn bè đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ và động viên tác giả luận văn trong quá trình học tập, nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2017

Tác giả

Dương Thị Hòa

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 4

3 Mục đích nghiên cứu 11

4 Giả thuyết khoa học 11

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 11

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

7 Phạm vi nghiên cứu 12

8 Phương pháp nghiên cứu 12

9 Cấu trúc luận văn 12

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới 12

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HOÁ QUAN HỌ BẮC NINH 14

1.1 Cơ sở lý luận 14 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 14

1.1.2 Những nội dung cơ bản trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh 23

1.1.3 Sự cần thiết nghiên cứu triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh 39

1.2 Cơ sở thực tiễn 42

1.2.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Bắc Ninh 42 1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh 45 1.2.3 Điều kiện lịch sử - văn hoá tỉnh Bắc Ninh 46 Tiểu kết chương 1 49

Trang 6

2.1 Đề cao tình yêu thương giữa con người với con người 51

2.1.1 Tình cảm gia đình 51

2.1.2 Tình yêu đôi lứa 55

2.2 Tình yêu lao động 63

2.3 Đề cao tình yêu quê hương đất nước 68

2.4 Tinh thần lạc quan, niềm tin vào cuộc sống 73

2.5 Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ với đời sống tinh thần cho người dân tỉnh Bắc Ninh 76

2.5.1 Quán triệt quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách pháp luật của nhà nước đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh 76

2.5.2 Xây dựng đời sống vật chất và đời sống tinh thần ổn định, tạo điều kiện cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ ở Bắc Ninh hiện nay 80

2.5.3 Nâng cao nhận thức của người “chơi Quan họ” và nhân dân về giá trị của triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ 82

2.5.4 Phối hợp giữa các tổ chức, đoàn hội trong việc khắc phục những mặt hạn chế và phát huy những giá trị triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh trong xã hội hiện đại 86

Tiểu kết chương 2 88

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thứ nhất, dân ca là một loại hình nghệ thuật dân gian có từ lâu đời

Trong kho tàng văn hoá nghệ thuật và âm nhạc dân gian có rất nhiều loại hình dân ca khác nhau như: Ca trù, Cải lương, Chầu văn, Ví dặm, Đờn ca tài tử vẫn lấp lánh một dòng dân ca riêng biệt, đặc sắc:

“Trong sáu tỉnh người đà chưa tỏ Ngoài năm thành chỉ có Bắc Ninh Yêu nhau trở lại xuân đình

Nghề chơi Quan họ có tinh mới tường” [31, tr.77]

Đó là văn hoá Quan họ Kinh Bắc - Bắc Ninh Kinh Bắc, vốn là vùng đất cổ nơi dấu ấn thời gian đã ghi tạc vào lịch sử với nền văn hoá được hình thành từ lâu đời Đây cũng là địa phương có bề dày truyền thống lịch sử và nét văn hoá độc đáo của Quan họ trữ tình Ngày 30 tháng 9 năm 2009, Dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là “Di sản Văn hoá Phi vật thể đại diện của nhân loại” Từ các hình thức sinh hoạt cho tới ca Quan họ không những biểu hiện tài năng sáng tạo của người Bắc Ninh mà còn phản ánh đầy

đủ và sâu sắc những mối quan hệ đặc thù của người Bắc Ninh xưa Đó là mối quan hệ giữa những con người trong cùng một cộng đồng làng xã là mối quan

hệ giữa các làng xã phường hội với nhau

Thứ hai, Quan họ là một hiện tượng sinh hoạt văn hoá đặc biệt, với một

khoảng không gian rộng lớn bao gồm sự hợp thành của năm hoạt động: Dân

ca Quan họ, tục kết bạn Quan họ, văn hoá hành vi Quan họ, lễ hội Quan họ

và tín ngưỡng Quan họ Năm hoạt động này hoà quyện, thống nhất và chi

phối lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm điều kiện, môi trường để tồn tại Trải qua quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, chúng hợp nhất với nhau thành

một chỉnh thể gọi là: Văn hoá Quan họ Trong đó, dân ca Quan họ là hoạt

Trang 8

động quan trọng nhất, hay nói cách khác, tiếng hát Quan họ là phương tiện cơ bản để người Quan họ thực hiện có hiệu quả tất cả các hoạt động còn lại Việc xác định đúng vai trò và mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành nên văn hoá Quan họ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đề ra các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy văn hoá Quan họ trong xã hội đương đại

Thứ ba, văn hoá Quan họ là “đặc sản” tinh thần của người dân Kinh

Bắc Một hình thái sinh hoạt văn hoá dân gian chứa đựng triết lý nhân văn sâu sắc, nhân ái cao cả Từ đời này sang đời khác, từ thế hệ trước tới thế hệ sau,

người Bắc Ninh luôn gắn kết với nhau: trong họ ngoài làng, tắt lửa tối đèn có

nhau, sống ở làng sang ở nước, thương người như thể thương thân, tứ hải giao tình, bốn biển một nhà như lời ca Quan họ Văn hoá Quan họ đã làm

phong phú đời sống tinh thần, khắc sâu tình yêu thương giữa con người với con người, tình nghĩa thuỷ chung son sắt, lối sống trọn nghĩa vẹn tình, cổ vũ tinh thần lao động cũng như thể hiện khát vọng về cuộc sống hạnh phúc, ấm

no Nó góp phần làm nên vẻ đẹp trong tâm hồn, trong lối sống, trong đời sống tinh thần của người dân Bắc Ninh nói riêng và người Việt Nam nói chung Văn hoá Quan họ cò mang đậm triết lý của con người về cuộc sống, là tâm tư tình cảm, là ước mơ khát vọng, là lý tưởng sống của con người, là triết lý sống, triết lý về tình yêu Văn hoá Quan họ còn mang tính giáo dục con người về tình yêu quê hương đất nước, yêu thương con người, thương yêu đồng loại, đồng bào, lối sống trọn nghĩa vẹn tình, sự bình đẳng trong xã hội Nghiên cứu văn hoá Quan họ Bắc Ninh là góp phần tìm hiểu kho tàng văn hoá dân gian Việt Nam, làm rõ nét đặc sắc, triết lý và ý nghĩa nhân văn của nghệ thuật truyền thống Từ đó, góp phần vào công cuộc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống văn hoá, đạo đức của dân tộc Việt Nam

Thứ tư, Quan họ trước đây tồn tại, phát triển trong một xã hội ít biến

động về kinh tế - văn hoá - xã hội…Quan họ có rất nhiều các hình thức hát,

Trang 9

song quy tụ lại thì có bốn hình thức hát chủ yếu là: hát chúc - hát mừng, hát thờ, hát hội và hát canh Cách hát truyền thống tuỳ hình thức có thể hát cả bọn song chủ yếu là hát đôi và hát không có nhạc đệm Nhưng đến ngày nay, do

sự tác động của công cuộc CNH - HĐH đất nước, đặc biệt là tốc độ đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng và rộng lớn ở vùng quê Quan họ và xu thế hội nhập kinh tế - văn hoá giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế giới đã tồn tại thêm một hình thức nữa đó là hình thức “ca nhạc Quan họ”, cách diễn xướng phong phú, có hát tốp ca, đơn ca, song ca nam nữ, hát có nhạc đệm, có múa phụ hoạ và có phối bè Hình thức này ra đời là do quá trình phát triển tất yếu đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của cuộc sống đương đại hôm nay Xưa thì gọi là “chơi Quan họ” và nay gọi là “hát Quan họ” Quan họ đã và đang đứng trước những cơ hội và thử thách mới Những giá trị truyền thống của văn hoá Quan họ đang có xu hướng mờ nhạt dần Không ít những giá trị tốt đẹp của Quan họ đã bị mai một và bị lạm dụng vì mục đích thương mại hoá, khiến công chúng bất bình và dư luận phản ứng trên các phương tiện báo chí, truyền thông Mặt khác, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, hệ thống mạng internet đã giúp con người có nhiều sự lựa chọn đáp ứng nhu cầu giải trí của mỗi người khác nhau Do đó, giới trẻ hiện nay dường như đã quên đi sự hiện diện của những loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian, thay vào đó họ chọn cho mình những dòng nhạc ngoại lai, theo trào lưu mà lãng quên đi dòng nhạc truyền thống Trong Nghị quyết Hội nghị 9 Ban chấp

hành Trung ương Đảng khoá XI (5/2014) xác định: Văn hoá là nền tảng tinh

thần của xã hội, là mục tiêu, là động lực và nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững đất nước Trong xây dựng văn hoá phải lấy xây dựng, phát triển con người có nhân cách, đạo đức, có lối sống tốt đẹp làm trọng tâm, xây dựng môi trường văn hoá (gia đình, cộng đồng và xã hội) lành mạnh làm cốt lõi Vì vậy, việc nghiên cứu, lưu giữ và bảo tồn, quảng bá văn

Trang 10

hoá Quan họ Bắc Ninh là một thách thức không nhỏ, đòi hỏi sự hợp tác của nhiều ngành khoa học, nghệ thuật khác nhau, sự quyết tâm của các cấp lãnh đạo và của đội ngũ những người làm công tác văn hoá, nghệ thuật

Dựa vào bốn luận điểm trên, tác giả mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề

tài: “Triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh” làm đề tài luận

văn tốt nghiệp thạc sĩ triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quan họ Bắc Ninh đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, bình luận, khảo cứu rất nhiều bởi tính đặc sắc, phong phú, đa dạng Cho đến ngày nay đã

có trên 600 tài liệu nghiên cứu, giới thiệu về Quan họ của các tác giả trong và ngoài nước được xuất bản, nhưng đa phần là những ấn phẩm báo chí, còn lại rất ít công trình chuyên khảo về văn hoá Quan họ Những công trình này mới chỉ là những kết quả nghiên cứu trên từng lĩnh vực của Quan họ như: nguồn gốc và quá trình phát triển, nghệ thuật ca hát, lời ca và âm nhạc Quan họ

2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến các khái niệm công cụ của đề tài

Triết lý

Triết lý sống trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm và ý nghĩa giáo dục thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay của ThS Trần

Thị Hà Giang, Đoàn Hồng Văn đã đưa ra những khái niệm cơ bản về triết lý

Đó là giáo dục triết lý sống tốt đẹp cho học sinh, sinh viên biết yêu cội nguồn, biết tự hào về đất nước, giáo dục lối sống quý trọng tình nghĩa, biết khẳng định và bảo vệ chủ quyền đất nước

Triết lý ứng xử của người Việt trong truyền thuyết của tác giả Nguyễn

Thị Hạnh đã trình bày khá rõ về khái niệm triết lý, từ đó cho bạn đọc thấy rõ những triết lý sống tốt đẹp mà ông cha ta muốn nhắn nhủ qua truyền thuyết dân gian như đạo lý, phép tắc ứng xử trong gia đình: lòng hiếu kính của con

Trang 11

cái đối với cha mẹ, tình nghĩa anh em, tình cảm vợ chồng sự gắn kết cộng đồng, tình làng nghĩa nước Những giá trị tốt đẹp này đã ăn sâu vào nếp sống, suy nghĩ của mỗi con người trên đất nước Việt Nam, trở thành lẽ sống, truyền thống quý báu của dân tộc

Triết lý nhân sinh

Triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ của PGS, TS Võ Toàn

Thắng, Nguyễn Khánh Hoàng đã giúp bạn đọc hiểu rõ hơn giá trị cốt lõi trong triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ như tính mở, sống hoà hợp với tự nhiên, quan niệm “đối nhân, xử thế” vẫn còn nguyên vẹn qua đó đã tạo nên nét đặc trưng trong triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ

Triết lý nhân sinh trong tục ăn trầu của người Việt ThS Hoàng Phương

Thảo giúp cho chúng ta thấy tục ăn trầu và mời trầu là một giá trị đẹp, văn hoá ứng xử tình nghĩa trước sau, một triết lý nhân sinh nồng hậu, thắm đượm tình người Ăn trầu là một nét văn hoá truyền thống độc đáo, “mỹ tục” của người Việt Tục trầu cau là nét đẹp trong văn hoá của người Việt, mang hồn người Việt

và còn mang nét đẹp truyền thống tâm linh của người Việt

Triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ luận văn của Lâm Thị Thu Việt

đã củaiên cứu triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ mang đậm tính triết lý của con người là sự tôn trọng, gần gũi, hoà hợp, chủ động với thiên nhiên, là

lẽ sống trọng nghĩa, trọng tình, sẵn sàng xả thân vì chính nghĩa, là sự yêu thương, gắn bó thuỷ chung, hy sinh, hiếu nghĩa hoà quyện vào nhau tạo thành triết lý sống của người dân Nam Bộ

Quan họ, Quan họ Bắc Ninh

Dân ca Quan họ Bắc Ninh của nhóm bốn tác giả gồm Nguyễn Văn

Phú, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc, năm 1962 đã nghiên cứu về cách tổ chức, tục lệ sinh hoạt, các giọng hát, nội dung và lề lối hát Quan họ Đồng thời các tác giả cũng nêu ra những truyền thuyết về nguồn gốc ra đời

Trang 12

của Quan họ và có những nhận xét về tính tương đồng trong các truyền thuyết

và những điểm không hợp lý của chúng Bên cạnh đó, họ còn giới thiệu đến bạn đọc những bài hát Quan họ và có sự phân chia các bài hát theo giọng, theo cuộc chơi

Một số vấn đề về dân ca Quan họ, Ty Văn hoá Hà Bắc, năm 1972 Đây là

tuyển tập gồm nhiều bản báo cáo, tham luận khoa học của các nhà nghiên cứu thuộc nhiều ngành như văn học, sử học, dân tộc học, âm nhạc, sân khấu, và các nghệ nhân Quan họ Bởi vậy cuốn sách đã giúp cho người đọc có những nhận thức tổng quát về dân ca Quan họ trên nhiều phương diện khác nhau

Tục ngữ - Điển tích dân ca Quan họ (2011), Nxb Văn hoá thông tin, tác

giả Lâm Minh Đức cũng đã giải thích cho bạn đọc hiểu về các điển tích, những từ ngữ khó hiểu trong các lời ca Quan họ cổ, ví dụ như điển tích bạn kim lan, cầu ô thước, trúc - mai Từ đó người đọc có thể hiểu được hơn nữa nội dung của bài hát

Sum họp trúc mai (1998) do Đoàn dân ca Quan họ Bắc Ninh xuất bản

nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập đoàn, những bài viết trong sách không chỉ giới thiệu, đúc kết lại những thành tựu mà Đoàn đã đạt được trong công cuộc bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ từ những năm đầu thành lập, mà còn trình bày các giai thoại về nguồn gốc Quan họ, những ý kiến nhận xét về Quan họ trên sân khấu Đồng thời còn trình bày những truyền thuyết để giải thích cho những điển tích được dùng trong lời ca Quan họ

“Quan họ Bắc Ninh - thực trạng và giải pháp bảo tồn” cuộc hội thảo

khoa học do Sở Văn hoá - Thông tin tổ chức ngày 17/10/2006 đã góp phần vào việc bảo tồn văn hoá Quan họ

Nghĩa tình Quan họ in trên báo Bắc Ninh ngày 31/12/2014, tác giả Vũ

Thắng và Trần Thảo đã trình bày và giải thích cho bạn đọc hiểu một số lễ nghi trong giao tiếp Quan họ ví dụ như vì sao Quan họ lại coi trọng chữ

Trang 13

“nhân”, tại sao người Quan họ tiếp đãi khách đúng lề lối bao giờ cũng phải

“mâm đan, bát đàn” Đồng thời, nhóm tác giả cũng giải thích ý nghĩa sâu sắc

về trang phục của người Quan họ Qua đó khẳng định chiều sâu văn hoá, vẻ đẹp độc đáo của dân ca Quan họ

Quan họ, tên gọi và nguồn gốc in trên Tạp chí Văn nghệ Hà Bắc số 2

năm 1990, nhạc sĩ Hồng Thao đã lý giải nguồn gốc tên gọi của Quan họ

bằng phương pháp đối chiếu văn bản Thông qua hai văn bản: Văn tế sống

hai cô gái Trường Lưu của Nguyễn Du và một đoạn trong chương I tiểu

thuyết Lều chõng của Ngô Tất Tố, tác giả xác định Quan họ nguyên là danh

từ dùng để chỉ những người thuộc họ nhà quan, được trọng vọng, có chữ

nghĩa và nhiều thân thế Sau đó từ Quan họ dùng để chỉ một tổ chức, một tập thể sinh hoạt văn nghệ bình dân, một thể loại dân ca là hát Quan họ Phương

thức lưu giữ của dân ca là truyền khẩu và luôn tồn tại, phát triển bằng những

dị bản, vì vậy rất khó xác định thời điểm ra đời của một thể loại dân ca, trong đó có dân ca Quan họ Ngoài ra, tác giả đã căn cứ vào quá trình hình thành, phát triển của thể thơ lục bát trong văn chương mà đoán định niên đại

ra đời của dân ca Quan họ Theo ông, không biết dân ca Quan họ (chứ không phải tục kết nghĩa Quan họ) ra đời từ bao giờ, nhưng chắc chắn rằng nó ra đời sớm nhất là khi thể thơ lục bát ở Việt Nam đã hình thành, giả thiết là cách đây khoảng năm thế kỷ

2.2 Các công trình nghiên cứu về văn hoá Quan họ Bắc Ninh

Không gian Văn hoá Quan họ do tác giả Lê Danh Khiêm chủ biên, là

công trình chuyên khảo đầu tiên về Quan họ với quan niệm Quan họ là sinh hoạt văn hoá dân gian của quê hương Bắc Ninh với những yếu tố cấu thành không gian văn hoá độc đáo và đặc sắc, trong đó ca hát Quan họ là yếu tố trọng tâm chi phối toàn bộ sinh hoạt văn hoá Quan họ Trong công trình này, tác giả Lê Danh Khiêm tiếp tục công bố các nguồn tư liệu và kiến giải nhiều

Trang 14

vấn đề về sinh hoạt văn hoá Quan họ đã và đang được giới nghiên cứu và công chúng quan tâm bàn thảo như: Ý nghĩa của Quan họ, nguồn gốc Quan

họ, thời điểm ra đời của sinh hoạt văn hoá Quan họ Đáng chú ý trong công trình này, lần đầu tiên lễ hội các làng Quan họ được tác giả khảo tả và giới thiệu khá cụ thể, đồng thời danh mục 213 giọng (hay còn gọi là làn điệu) Quan họ cổ được công bố một cách cụ thể cùng 10 giọng thuộc hệ thống giọng giã bạn được tác giả ký âm và công bố theo tư liệu của Ban sưu tầm nghiên cứu Di sản văn hoá Quan họ Đó là nguồn tư liệu quý giúp cho các nhà nghiên cứu tiếp tục bàn thảo và làm sáng tỏ nhiều vấn đề về học thuật cũng như việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Quan họ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc quê hương Bắc Ninh

- Kinh Bắc

Hát Quan họ (1958) in trên Tạp chí Bách khoa số 43 tháng 10/1958,

GS Trần Văn Khê đã nêu ra ba truyền thuyết về nguồn gốc, xuất xứ của dân

ca Quan họ và nhận xét một số điểm bất hợp lý trong đó Tuy nhiên, ông cũng chưa xác định được nguồn gốc của Quan họ theo quan điểm của mình

Tìm hiểu nguồn gốc Quan họ Bắc Ninh của tác giả Nguyễn Tiến Chiêu

in trên tạp chí Bách khoa số 65 tháng 9 năm 1959, sau khi nhận xét, lý giải và dung hoà các tài liệu mà ông sưu tập được đã đưa ra nhận định: Quan họ ra đời từ thời nhà Lý tại Bắc Ninh, nó được phát triển từ thể hát đúm do nghệ sĩ bình dân sáng tạo ra

Để góp phần vào nghiên cứu Quan họ của nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc -

một người đã từng điền dã trên đất Quan họ và tiếp xúc nhiều với các nghệ nhân Quan họ, đăng trên tập san Văn Hoá số 11 năm 1961 đã đưa ra nhiều nhận định về nguồn gốc và sự phát triển của Quan họ Điều này có ý nghĩa lớn đối với việc nghiên cứu của các nhà khoa học sau này nhưng cũng đồng thời làm cho bạn đọc bị nhiễu Ví dụ như trong phần nguồn gốc, tác giả đã

Trang 15

trình bày bốn truyền thuyết về sự ra đời của dân ca Quan họ đan xen những quan điểm của mình, do đó người đọc khó có sự phân biệt được đâu là quan điểm chủ quan của tác giả và đâu là quan điểm khách quan

Truyện cổ ca dao tục ngữ các làng Quan họ (2011), NXB Trung tâm

văn hoá tỉnh Bắc Ninh, tác giả Lê Danh Khiêm đã trình bày các truyền thuyết, giai thoại có liên quan tới những bài hát Quan họ như giai thoại về vợ vua Thuỷ Tề, công chúa con gái vua Hùng Vương, vợ vua Thuỷ Tề… Đồng thời, tác giả cũng nói về sự hình thành của các làng Quan họ cổ như làng Diềm, làng Bịu… Từ đó góp phần nói lên sự hình thành và phát triển của văn hoá Quan họ Bắc Ninh

Văn hiến Kinh Bắc - Tái bản có bổ sung và sửa chữa do Sở Văn hoá

Bắc Ninh ban hành, cuốn Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Kinh Bắc - Trần Đình Luyện, cuốn Văn hoá dân gian ở Gia Đông (Bắc Ninh) của tác giả Chu

Quang Trứ… nghiên cứu dân ca Quan họ trên các phương diện văn hoá, lối chơi và các lễ hội Các tác phẩm này góp phần làm cho kho dữ liệu về Quan

họ trở nên phong phú và sâu sắc hơn

2.3 Các công trình nghiên cứu về triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh

“Triết lý nhân sinh trong dân ca Quan họ Bắc Ninh” khoá luận tốt

nghiệp của Nguyễn Thị Dung, đã nói về triết lý nhân sinh trong dân ca Quan

họ mộc mạc, giản dị giống như con người Bắc Ninh trọng nghĩa, trọng tình Dân ca Quan họ Bắc Ninh có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc trong việc giáo dục truyền thống đạo đức, quan niệm sống của người Việt cho thế hệ trẻ trong bối cảnh hiện đại

Dân ca Quan họ: Lời ca và Bình giải (2001), Nxb Trung tâm Văn hoá

Quan họ Bắc Ninh, tác giả Lê Danh Khiêm đã giới thiệu được cho bạn đọc

210 bài hát Quan họ lời cổ Đồng thời tác giả cũng có phần bình giải về các

Trang 16

điển tích, điển cố và những từ cổ trong các lời ca Quan họ mà bấy lâu nay không phải người nào hát Quan họ cũng có thể hiểu được Qua sự bình giải

đó, người đọc được tiếp cận với sinh hoạt văn hoá Quan họ, hiểu được những giá trị nhân sinh quý giá, có thể hiểu được tại sao người Quan họ lại gọi nhau

là anh Hai, chị Hai…, tôn vinh nhau là Đương Quan họ, hay thế nào là nón thúng quai thao… Tác phẩm này không chỉ có giá trị khoa học mà còn có giá trị thực tiễn, góp phần vào việc giới thiệu, truyền bá và hướng dẫn ca hát, giới thiệu Quan họ với mọi người nhất là đối với thế hệ trẻ

Quan họ khởi nguồn của tác giả Phạm Thuận Thành, in trên báo Bắc

Ninh ngày 25/03/2015 đã trình bày về quá trình hình thành và phát triển của trung tâm văn hoá Bắc Ninh Thông qua đó, tác giả cũng lý giải nguồn gốc ra đời và phát triển của dân ca Quan họ Bắc Ninh Đồng thời tác giả cũng đưa ra những phương hướng để bảo tồn và phát huy những giá trị nhân văn của dân

ca Quan họ trong bối cảnh hiện nay

Yêu một Bắc Ninh (2002) của Đức Miêng (một nhạc sĩ chuyên đặt lời

mới theo những làn điệu Quan họ cổ và là một trong những nhà nghiên cứu Quan họ hiện nay), Nxb Âm Nhạc, là một công trình bổ sung, đóng góp đáng quý vào công việc tìm hiểu văn hoá và ca hát Quan họ Bởi những bài viết của tác giả đã cho người đọc hiểu được một cách thấu đáo, chính xác hơn về nghệ thuật chơi và ca hát Quan họ Từ đó tìm ra những phương hướng để bảo tồn

và phát huy những giá trị triết lý của văn hoá Quan họ

Nhìn lại chặng đường nghiên cứu về Quan họ Bắc Ninh trong suốt nửa thế kỷ qua, ta có thể thấy các nhà nghiên cứu đã thu được nhiều thành tựu Hầu hết các công trình được công bố dù lớn hay nhỏ đều đã lột tả được diện mạo cũng như các vấn đề thuộc bản chất cùng một số giá trị thẩm mỹ khác nhau về loại hình độc đáo này Các công trình trên là nguồn

tư liệu quý báu để tác giả kế thừa trong quá trình nghiên cứu Tuy nhiên,

Trang 17

các công trình đó chủ yếu đi sâu tìm hiểu Quan họ trên các phương diện văn hoá, nghệ thuật, lịch sử, chưa có công trình nghiên cứu nào đi nghiên cứu độc lập, chuyên sâu dưới góc độ triết học về triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh Vì vậy, triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan

họ Bắc Ninh vẫn còn là một khoảng trống đòi hỏi tác giả nghiên cứu sâu

và làm rõ

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ cơ sở khoa học của triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh; luận văn phân tích những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh và đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị đó trong xã hội hiện đại

4 Giả thuyết khoa học

Văn hoá Quan họ Bắc Ninh chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc, nhân ái cao cả Nếu nghiên cứu sâu, phân tích khách quan, vận dụng hiệu quả giá trị triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh vào giáo dục đạo đức, lối sống con người thì nó sẽ góp phần làm nên vẻ đẹp của tâm hồn, lối sống, nhân cách cao thượng, vừa có đức vừa có tài của con người Bắc Ninh nói riêng, người Việt Nam nói chung trong giai đoạn hiện nay

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: văn hoá Quan họ Bắc Ninh

- Đối tượng nghiên cứu: triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh

- Phân tích sâu những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh

Trang 18

- Luận văn đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát huy giá trị triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh trong xã hội ngày nay

7 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ ở địa bàn tỉnh Bắc Ninh

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, bên cạnh đó kết hợp với một số phương pháp cụ thể như: Phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử, xử lý nguồn tài liệu về Quan họ Bắc Ninh, phương pháp so sánh, đối chiếu, quy nạp

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 7 tiết

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới

10.1 Những luận điểm cơ bản

Văn hoá Quan họ đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, khắc sâu tình yêu thương giữa con người với con người, tô đậm tình yêu quê hương đất nước, tình nghĩa thuỷ chung son sắt, lối sống trọn nghĩa vẹn tình, cổ vũ tinh thần lao động cũng như thể hiện khát vọng về cuộc sống hạnh phúc, ấm no

Văn hoá Quan họ làm nên vẻ đẹp tâm hồn, lối sống và gìn giữ giá trị nhân văn truyền thống của dân tộc trong thời đại toàn cầu hoá như vũ bão cho người dân Bắc Ninh nói riêng và người Việt Nam nói chung

10.2 Đóng góp mới

Trên cơ sở làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh Luận văn phân tích sâu những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh và đưa ra các giải pháp

Trang 19

cơ bản nhằm bảo tồn và phát huy giá trị triết lý nhân sinh trong văn hoá Quan

họ Bắc Ninh trong xã hội ngày nay

Luận văn nghiên cứu văn hoá Quan họ Bắc Ninh dưới góc độ triết học Qua đó, giúp cho các độc giả thấy được những giá trị nhân văn sâu sắc trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh và sức sống trường tồn của những giá trị đó

Đồng thời, đề tài góp phần trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống, văn hoá của người Bắc Ninh nói riêng và người Việt Nam nói chung

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu một số khía cạnh trong văn hoá dân gian, trong giảng dạy những bộ môn như: Triết học, Xã hội học, Đạo đức học, Mỹ học, Văn hoá học, Văn hoá dân gian, Dân tộc học

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH

TRONG VĂN HOÁ QUAN HỌ BẮC NINH

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Triết lý, triết lý nhân sinh

Triết lý

Trong Đại từ điển Tiếng Việt, Triết lý được hiểu theo hai nghĩa: 1) Lý

luận triết học; 2) Quan niệm chung và sâu sắc của con người về vấn đề nhân

Theo Giáo sư Hoàng Trinh: “Triết lý là những nguyên lý đầu tiên,

những tư tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân, làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày…có những dân tộc đã có những triết lý từ lâu mặc dầu

Cuộc sống của con người rất đa dạng, muôn màu, muôn vẻ và thường thay đổi một cách sinh động Hoàn cảnh sống, tính tình, tâm lý, thể lý của mỗi người là khác nhau nên không có cuộc sống của người nào giống người nào

Vì thế mỗi người nhìn nhận về cuộc đời một cách khác nhau Hầu như tất cả các quốc gia, dân tộc trong tiến trình lịch sử lâu dài của mình bao giờ cũng có

ít, nhiều bộ óc thông thái ở các lĩnh vực khác nhau như nhà văn, nhà thơ, nhà

sử học, nhà chính trị xã hội,… và cả những nhà trí thức bình dân Tuy nhiên,

ở giai đoạn thấp của lịch sử thì triết lý là sự suy ngẫm, đúc kết, tổng kết, những điều cơ bản về các mối quan hệ trong cuộc sống thực tế, mọi mặt của cộng đồng, từ những chiêm nghiệm rút ra các quy luật khách quan của tự nhiên, phục vụ cho những hoạt động thực tiễn đời sống

Trang 21

Triết lý không chỉ là những kết luận rút ra từ một triết thuyết, một hệ thống các nguyên lý triết học nào đó mà triết lý còn là những tư tưởng, quan điểm phản ánh bản chất của các mối quan hệ diễn ra trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của cá nhân hay cộng đồng khẳng định niềm tin, giá trị, đạo lý có tác dụng chỉ đạo cho cách ứng xử, suy nghĩ hành động, phương châm sống của con người ở những hoàn cảnh lịch sử nhất định

Triết lý, nói cách khác còn là kết quả của sự chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm và luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuốc sống cũng như những hoạt động thực tiễn rất đa dạng, phong phú của con người trong xã hội Chúng có vai trò định hướng cho cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng ấy

Triết lý có thể thể hiện bằng một mệnh đề hàm súc những ý nghĩa về nhân tình thế thái, về tự nhiên, về xã hội, nó cũng có thể là một mệnh đề, một quan niệm, một luận thuyết… Trên thực tế, triết lý đôi khi còn được toát lên

từ ý nghĩa qua những áng văn thơ, những câu chuyện cổ, câu dân ca, công trình kiến trúc hay từ lễ hội… Triết lý là một cái đích để con người không ngừng đi tìm kiếm chân lý của cuộc đời Triết lý đúng sẽ trở thành cơ sở lý luận khoa học cho một hệ thống quan điểm, học thuyết, định hướng cho hành động của con người

Triết lý là những điều được rút ra từ trải nghiệm, nó như một quan niệm nền tảng, cốt lõi trên cơ sở nhìn nhận điều gì là nguồn cội tâm thế, giá trị tinh thần, sức mạnh ứng xử, được phát biểu ngắn gọn, súc tích Triết lý như một tín điều, làm kim chỉ nam cho hành động, cách xử thế hay lối sống của cá nhân, cộng đồng

Như vậy, khái quát lại: Triết lý là những quan niệm, quan điểm chung

được đúc kết từ trong cuộc sống, có giá trị định hướng cho con người trong hoạt động thực tiễn hay trong các quan hệ xã hội

Trang 22

Triết lý nhân sinh

Theo nghĩa gốc của tiếng Hán: Nhân nghĩa là người, Sinh là sự sống,

Quan là quan niệm, Nhân sinh quan tức là quan niệm về sự sống con người

Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam: “Nhân sinh (Nhân: người; Sinh:

Sống) là cuộc sống của người ta Nhân sinh quan (Quan: xem xét) là lập trường của một người trong việc nhận xét mọi mặt của cuộc sống, nhân sinh quan tức là quan niệm về sự sống con người’’ [34, tr.1317]

Triết lý nhân sinh thường trả lời cho những câu hỏi: Lẽ sống của con người là gì? Ý nghĩa, mục đích sống của con người ra sao? Con người phải sống như thế nào cho xứng đáng? Vai trò và vị trí của con người cũng như tương lai của con người sẽ ra sao? Như vậy, nghiên cứu vấn đề nhân sinh tức là

đi nghiên cứu xem người ta sinh ra ở đời để làm gì? Mong muốn cái gì? Sống như thế nào? Hay nói cách khác, nghiên cứu vấn đề nhân sinh là đi nghiên cứu

về bản chất, mục đích, thái độ và hành vi… của đời sống con người

Mỗi người có một nhân sinh quan khác nhau, tuỳ thuộc vào thời đại, giai cấp, hoàn cảnh sống của họ Làm người mà không có nhân sinh quan, không biết đến nhân sinh quan, không hiểu hay không có đạo làm người thì cuộc đời trở nên vô nghĩa Trong đời thường bất kì người nào cũng có quan niệm của mình về cuộc sống, nhân sinh quan của con người thường tự phát, ngây thơ nhưng khi được các nhà tư tưởng nhìn nhận, đánh giá thì vấn đề đó được nâng lên thành lý luận mang tính triết học

Nhân sinh quan phản ánh tồn tại xã hội của con người Nội dung của nó biểu hiện những nhu cầu lợi ích, khát vọng và hoài bão của con người trong mỗi chế độ xã hội cụ thể Trong xã hội có giai cấp, nhân sinh quan cũng mang tính giai cấp Giai cấp đang đi lên trong lịch sử có nhân sinh quan lạc quan, tích cực, cách mạng; nhân sinh quan của giai cấp đang đi xuống thường mang tính bi quan, yểm thế Nhân sinh quan có tác dụng to lớn đến hoạt động của

Trang 23

con người; tạo niềm tin, lối sống, tạo ra phương hướng mục tiêu cho hoạt động (lý tưởng sống) Nếu như phản ánh đúng khuynh hướng khách quan của lịch sử thì nó là nhân tố mạnh mẽ để cải tạo xã hội một cách hợp lý, nhưng nếu phản ánh không đúng thì nó có tác dụng ngược lại, cản trở xã hội tiến lên

Trong lịch sử xã hội có những thời kỳ nhất định, hoạt động của con người bị tha hoá, từ đó sinh ra những loại hình nhân sinh quan lạc hậu, phản động, phản khoa học Có những nhân sinh quan mang tính tôn giáo chuyển ý nghĩa cuộc đời sang thế giới bên kia hay xuất phát từ tính người nhưng lại hiểu trìu tượng, định hướng hoạt động vào những nhu cầu và lợi ích cá nhân

Có những nhân sinh quan yểm thế, lánh đời, cũng có những nhân sinh quan tích cực nhập thế (giúp đời cứu nước) song vẫn mang ít nhiều màu sắc cá nhân chủ nghĩa (lập thân, lập công danh sự nghiệp)

Chủ nghĩa Mác là khoa học về các quy luật phát triển của lịch sử, chỉ rõ hoạt động của con người có tác dụng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, đó là nhân tố quyết định sự tiến bộ xã hội Vì vậy, sứ mệnh của mỗi người là thúc đẩy những quá trình phát triển xã hội đã chín muồi, những hoạt động lao động sáng tạo và cải tạo xã hội, đem lại một xã hội tốt đẹp tự do, ấm no, hạnh phúc, trên cơ sở đó hoàn thiện năng lực trí tuệ, tình cảm của bản thân mình

Sự khác nhau về nhân sinh quan của con người được biểu hiện thông qua các thời kỳ lịch sử, hiện hữu rõ nét nhất trong các hình thái xã hội Triết

lý nhân sinh phản ánh tồn tại xã hội của con người, nội dung của nó biểu hiện

ở quan điểm, lẽ sống, khát vọng, nhu cầu của con người trong từng hoàn cảnh

cụ thể Nó không thể tách rời sự phát triển của thời đại do ảnh hưởng của những yếu tố khác nhau Điều đó đòi hỏi chúng ta phải nhận thức rõ thời đại của mình để tìm cách thích ứng

Tóm lại, Triết lý nhân sinh là những quan niệm, quan điểm chung của

một người, một cộng đồng người trong việc xem xét mọi mặt của cuộc sống,

Trang 24

là những quan niệm của con người về cuộc sống, là tâm tư tình cảm, ước mơ, khát vọng, lý tưởng sống của con người

1.1.1.2 Văn hoá, văn hoá Quan họ Bắc Ninh

Văn hoá

Văn hoá là một lĩnh vực rất rộng lớn, vô cùng phong phú và đa dạng, thấm sâu trong toàn bộ đời sống con người Vì thế, có rất nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về văn hoá Văn hoá là một khái niệm mở, có tính xã hội

và lịch sử Cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm văn hoá không ngừng được bổ sung và mở rộng

C.Fufedorf (1632-1694) - nhà nghiên cứu luật học người Đức Ông được coi là người đầu tiên đưa thuật ngữ văn hoá vào khoa học Ông coi: Văn hoá là toàn bộ những gì do hoạt động xã hội của con người tạo ra và bản chất của văn hoá là cái đối lập với trạng thái tự nhiên Kế tục những tư tưởng của Fufedorf, Hecde - nhà triết học khai sáng Đức cho rằng: Văn hoá là sự hình thành thứ hai của con người Lần thứ nhất con người xuất hiện như một thực thể sinh vật tự nhiên Lần thứ hai con người hình thành như một thực thể xã hội, tức là con người văn hoá

Năm 1871, E.B Tylor - người góp phần khẳng định ngành văn hoá như

một khoa học, đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá, hiểu theo nghĩa rộng nhất của

nó, là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và những khả năng tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” [87, tr 52].

Sau nhiều năm tìm tòi theo các hướng, các cách tiếp cận khác nhau Đến những năm 70 của thế kỷ XX, cách hiểu phổ biến và gặp nhau nhiều nhất

là quan niệm, coi văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động Năm 1982, tại Mêhicô, Hội nghị thế giới

Trang 25

về chính sách văn hoá vì sự phát triển đã thông qua tuyên bố Mêhicô ngày 6-8

cho rằng: “Theo nghĩa rộng ngày nay văn hoá có thể được coi là toàn bộ các

đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” [87, tr.14]

Như vậy, theo nghĩa vừa rộng lớn, vừa bản chất của nó, văn hoá là toàn

bộ hoạt động tinh thần - sáng tạo, tác động vào tự nhiên, xã hội và con người nhằm tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao hơn để vươn tới sự hoàn thiện theo khát vọng chân, thiện, mỹ và góp phần thúc đẩy sự phát triển tiến bộ, phát triển không ngừng của đời sống xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá [52, tr.431]

Phạm vi của văn hoá hết sức rộng lớn, nó có mặt trong toàn bộ mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội và đời sống con người Nhưng quan trọng nhất

nó thể hiện ở giá trị do hoạt động - sáng tạo của con người tạo ra, biểu hiện trình độ hiểu biết, năng lực và phẩm giá của cả cộng đồng và từng cá thể, là thước đo trình độ phát triển và sức vươn lên hoàn thiện con người theo lý tưởng chân, thiện, mỹ

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng - nhà văn hoá lớn của đất nước ta ở thế

kỷ XX cho rằng văn hoá là một đề tài bao la như con người và sự sống Đây

là vấn đề nhân sinh quan và thế giới quan, là cách nhìn bao trùm và cách ứng

xử qua hành động thiết thực của con người với thiên nhiên và cộng đồng người trong xã hội:

Trang 26

Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hoá với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ

và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh [21, tr.16]

Văn hoá là bộ mặt của xã hội, bộ mặt của con người và cộng đồng, diện mạo bên trong với những phẩm chất cao quý của nó và diện mạo bên ngoài với những hoạt động đa dạng của nó

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng

(khoá VIII) “Về xây dựng phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà

bản sắc dân tộc (16/7/1998)” đã tiếp cận và đề cập đến vấn đề văn hoá theo

nghĩa rộng lớn và bao quát, đồng thời chỉ ra các lĩnh vực cụ thể của văn hoá trong đời sống và cấu trúc xã hội, nhấn mạnh một số mặt quan trọng cần đặc

biệt quan tâm, đó là “Tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá” Từ

đó, Nghị quyết đã nhấn mạnh một phương hướng cực kỳ quan trọng trong quá

trình xây dựng và phát triển đất nước: “Làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn

bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể

và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo nên trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bước vững chắc nên Chủ nghĩa xã hội”

Trong Nghị quyết Hội nghị 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá

XI (5/2014) xác định: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu,

Trang 27

là động lực và nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững đất nước; Trong xây dựng văn hoá phải lấy xây dựng, phát triển con người có nhân cách, đạo đức, có lối sống tốt đẹp làm trọng tâm, xây dựng môi trường văn hoá (gia đình, cộng đồng và xã hội) lành mạnh làm cốt lõi

Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá, song ta có thể

định nghĩa: Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và xãnh thần mà con

người đã sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử gọi chung là hệ giá trị

xã hội Hệ giá trị này biểu hiện thông qua vốn di sản văn hoá và phương thức ứng xử văn hoá của cộng đồng người, là thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội, có khả năng chi phối, điều tiết hoạt động của mọi thành viên sống trong cộng đồng xã hội ấy

Văn hoá Quan họ Bắc Ninh

Văn hoá Quan họ không chỉ đơn giản là một loại hình dân ca như các loại hình dân ca khác Đó là một loại hình sinh hoạt Văn hoá tổng hợp với sự cấu thành của: Tục kết bạn Quan họ, Văn hoá hành vi Quan họ, Dân ca Quan

họ, Lễ hội Quan họ và Văn hoá tín ngưỡng Quan họ Năm mặt này hoà quyện, thống nhất và chi phối lẫn nhau Tất cả tạo nên một Văn hoá Quan họ rất quy chỉnh Trong đó, Dân ca Quan họ là mặt hoạt động trọng tâm hay nói cách khác, tiếng hát Quan họ là phương tiện cơ bản để người Quan họ thực hiện có hiệu quả tất cả các mặt hoạt động của mình

Văn hoá Quan họ là đặc sản tinh thần của người dân Bắc Ninh Nó biểu hiện tình cảm đằm thắm, thuỷ chung, trọn nghĩa vẹn tình giữa người Quan họ với nhau “Yêu nhau chẳng lấy được nhau” còn gì buồn hơn khi yêu nhau chẳng lấy được nhau? Có lẽ cái sự buồn ấy cộng thêm tâm hồn người nghệ sĩ bay bổng người Quan họ mới ra được những lời da diết như thế Tuy nhiên, việc không lấy được nhau không phải là quy định bắt buộc chung của những người chơi Quan họ như đã hiểu nhầm Chuyện không lấy nhau chỉ xảy ra ở

Trang 28

những bọn Quan họ kết bạn với nhau trong khi giữa hai làng của họ có tục kết chạ Để rồi cách giải quyết của người Quan họ không tiêu cực mà rất dí dỏm

“Để em làm tiểu em vào tu chung” Vậy là dù không lấy được nhau nhưng vẫn ở bên nhau suốt đời Đó chính là cái tình của người Quan họ

Trong Văn hoá hành vi Quan họ còn thể hiện cách ứng xử khéo léo, tế nhị, kín đáo và mang đầy ý nghĩa như các làn điệu mời nước, mời trầu thật chân tình, nồng thắm mỗi khi khách đến chơi nhà đôi tay em nâng chén rượu đào, đổ đi thì tiếc, uống vào thì say Quan họ uống chén rượu mừng xuân, mừng hội, vui bầu, vui bạn rồi ca xướng cho tàn canh mãn võ, cho tàn đêm rạng ngày, rồi các làn điệu chia tay giã bạn đầy khuyến luyến trong câu hát

“Người ơi người ở đừng về” tàn canh, giã hội rồi mà Quan họ vẫn còn ngậm ngùi tiếc nhớ Người về tôi vẫn ngậm ngùi, để thương, để nhớ cho tôi thế này Người về tôi chẳng dám nài, áo trong người mặc, áo ngoài người để làm tin Và rồi kết thúc bằng những lời hứa hẹn tha thiết “Đến hẹn lại lên” trong mùa hội tới Ngôn ngữ của người Quan họ trong giao tiếp thể hiện sự tao nhã và lịch sự

Văn hoá Quan họ là một hình thái sinh hoạt văn hoá dân gian chứa đựng giá trị nhân văn, nhân ái sâu sắc Những người Quan họ đến với nhau đều dựa trên cơ sở kết bạn với nhau, họ coi nhau như anh em trong một nhà

Họ thường xuyên quan tâm, chăm lo cho nhau trong cuộc sống, kể cả đời sống vật chất lẫn tinh thần, thăm viếng nhau mỗi khi bản thân hoặc gia đình mỗi thành viên bọn Quan họ có việc vui, việc buồn, thậm chí còn giúp đỡ nhau trong lao động, sản xuất, buôn bán Vì thế mà người Quan họ rất coi trọng tình nghĩa Từ đó hình thành nên đặc điểm văn hoá của người Bắc Ninh

Về làng Quan họ, Bắc Ninh chiếm 44 làng Quan họ trên tổng số 49 làng (tính tới trước năm 1945) Về lời ca Quan họ, hiện nay chưa có số liệu chính xác số lượng bài hát Quan họ, các nhà nghiên cứu đã ước tính khoảng

Trang 29

hơn 300 bài hát Quan họ Dân ca Quan họ bắt nguồn từ lối hát đối đáp, giao duyên phục vụ cho sản xuất Do đó, chủ đề tình yêu là đề tài trọng yếu của người Quan họ Bên cạnh đó, dân ca Quan họ còn thể hiện tình yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống, cổ vũ tinh thần lao động, thể hiện khát vọng ước mơ hạnh phúc của người dân Bắc Ninh Dân ca Quan họ mang đậm triết

lý về giáo dục con người về tình yêu quê hương đất nước, yêu thương con người, yêu thương đồng loại, đồng bào, tình nghĩa thuỷ chung son sắt, lối sống trọn nghĩa vẹn tình, sự bình đẳng trong xã hội Có thể nói văn hoá Quan

họ tuy giản dị nhưng mang tính triết lý nhân sinh sâu sắc

1.1.2 Những nội dung cơ bản trong văn hoá Quan họ Bắc Ninh

1.1.2.1 Tục kết bạn Quan họ

“Kết bạn Quan họ” tức là các bọn Quan họ ở các làng Quan họ kết nghĩa với nhau gọi là kết bạn Quan họ Nếu không kết bạn Quan họ thì không thể tham gia “chơi Quan họ” Chính vì thế kết bạn Quan họ là phong tục phổ biến chung, trở thành một “tục”, cho nên mới gọi là “tục kết bạn Quan họ”

Từ khái niệm trên, đưa ta đến tìm hiểu về tổ chức của “Bọn Quan họ”

“Bọn Quan họ” là tên gọi do các liền anh, liền chị Quan họ ngày xưa đặt ra để chỉ tổ chức của Quan họ “Chơi quan họ” đã trở thành “nghề chơi” cho nên những người chơi phải chuyên tâm, chuyên nghiệp Vì vậy, ai muốn tham gia

“chơi Quan họ” buộc phải tham gia vào một “bọn Quan họ” nào đó của làng

“Bọn” về nguyên nghĩa, là để chỉ một tập thể đồng chất Tức là, đối với Quan họ thì chỉ một tập thể cùng giới tính, nghĩa là “bọn nam” thì toàn nam

và “bọn nữ” thì toàn nữ Như vậy có hai loại bọn Quan họ đó là bọn Quan họ nam và bọn Quan họ nữ Quy định về “bọn Quan họ” hết sức chặt chẽ đến mức, người đứng đầu bọn Quan họ nam là “ông trùm” và tương tự người đứng đầu bọn Quan họ nữ là “bà trùm” Cũng có nơi không gọi là “ông trùm”

và “bà trùm” mà gọi là “anh Cả” và “chị Cả” (Lũng Giang)

Trang 30

Tổ chức nhân sự của một bọn Quan họ cũng hết sức chặt chẽ Đã là một bọn Quan họ thì bắt buộc phải có những thành phần sau:

Ông trùm hoặc bà trùm: Các liền anh, liền chị đã lớn tuổi, không trực

tiếp “chơi Quan họ” nữa, đứng ra tập hợp lực lượng để thành lập bọn Quan

họ Những người này gọi là “ông trùm” (nếu là bọn Quan họ nam) hoặc “bà trùm” (nếu là bọn Quan họ nữ) Một số nơi thì gọi là anh Cả (bọn nam) hoặc chị Cả (bọn nữ) Họ làm nhiệm vụ quản lý, điều hành mọi hoạt động của bọn Quan họ, có thể họ dạy hát chứ không tham gia vào các cuộc hát đối đáp của bọn Quan họ Trong một bọn Quan họ chỉ được có 5 liền anh (nếu là bọn nam) hoặc 5 liền chị (nếu là bọn nữ) Đây là quy định bất di bất dịch Lý giải

về điều này, các cụ nghệ nhân nói nôm na, dễ hiểu rằng: Bàn tay, bàn chân của con người có 5 ngón, thì Quan họ cũng chỉ được có 5 người Nhưng xét

về nguyên thuỷ thì người Quan họ tuân thủ theo thuyết âm dương ngũ hành của phương Đông: vũ trụ được tạo ra và hoàn thiện bởi 5 yếu tố, 5 đại nguyên

tố, nguyên thuỷ của tự nhiên đó là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Thuyết âm dương ngũ hành (trong Kinh dịch) đã thấm nhuần trong nhiều loại hình văn hoá, văn nghệ truyền thống của dân tộc ta Trong đó, Quan họ có ảnh hưởng trực tiếp Trong ngày lễ hội dân gian, bao giờ cũng có cờ ngũ hành 5 màu mà chúng ta quen gọi là “cờ ngũ sắc” Cờ ngũ hành là biểu hiện cho: trời đất, thế giới vạn vật đều được sinh ra do sự vận động của 5 đại nguyên tố với 5 hình thái, chất văng, chất loáng, chất dao động, chất nóng và chất đất Và dân gian cho rằng đây chính là biểu hiện của kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ

Người sáng tác: Do hát Quan họ là đối giọng, nên nếu bên kia ra bài

sáng tác mới, thì bên này phải sáng tác bài để đối lại (cùng giai điệu âm nhạc với bài kia nhưng lời khác) Nên nhu cầu là thường xuyên phải sáng tác bài bản mới, mới cả nhạc lẫn lời Vì vậy mỗi bọn Quan họ thường phải có một người sáng tác bài mới và bài để đối lại Ngoài việc sáng tínhra các bài hát mới và đối đáp lại thì người sáng tác còn phải nghĩ ra các câu giao tiếp giàu

Trang 31

tính văn chương để các liền anh, liền chị học thuộc sau này đi hát tuỳ cơ ứng biến trong các hoàn cảnh khác nhau

Những người phục vụ: Những người này thường là người nhà của các

thành viên trong bọn Quan họ, chuyên làm việc như dọn dẹp “nhà chứa”, têm giầu, làm “cơm Quan họ”… (Nhà chứa là nhà để chứa bọn Quan họ luyện tập

và ca hát Ngày xưa từ đó không có nghĩa xấu, miệt thị như bây giờ)

Những em nhỏ học nghề: Mỗi bọn Quan họ xưa thường dìu dắt một số

em nhỏ từ 9 -10 tuổi để đến năm mười tám, đôi mươi các em có vốn, dần thay thế lớp liền anh, liền chị cao tuổi Những em nhỏ này thường là con cháu trong nhà các liền anh, liền chị hoặc ở trong cùng xóm với các bọn Quan

họ Các em nhỏ học nghề này được “đào tạo” theo 2 cách: Thứ nhất, là do

các liền anh, liền chị trực tiếp giảng dạy từ giao tiếp đến những hiểu biết toàn diện về Quan họ Các liền anh, liền chị thường tranh thủ dạy cho các

em nhỏ vào buổi tối, vì ban ngày họ còn bận việc lao động, sản xuất, buôn bán Có những hôm học khuya quá, không về nhà được, nên các em ngủ lại

“ nhà chứa”, gọi là “ngủ bọn” Thứ hai, là học bằng cách tiếp cận thực tế,

nghĩa là các em nhỏ đi theo các liền anh, liền chị đi “chơi Quan họ” hoặc được dự các buổi bọn Quan họ tiếp đón Quan họ bạn trong các dịp lễ hội Qua việc tiếp cận thực tế như vậy, dần dần các em thuộc câu, thuộc lối chơi Quan họ một cách tự nhiên Thông thường, thì bọn Quan họ nam sẽ kèm cặp các em nhỏ nam và bọn Quan họ nữ thì kèm cặp các em nhỏ nữ, nhưng đôi khi có một bọn Quan họ lại kèm cặp cả nam - nữ Qua đây cho thấy rằng ngay từ xa xưa ông cha ta đã rất quan tâm tới việc bảo tồn loại hình nghệ thuật này Họ coi trọng việc đào tạo đội ngũ kế cận rất công phu, nhằm bảo tồn dân ca Quan họ lâu dài theo hướng “tre già, măng mọc” Có

tổ chức “bọn Quan họ”, có cơ sở vật chất là “nhà chứa”, nhưng nếu không

có kết bạn với bọn Quan họ nào thì cũng không thể có sinh hoạt Văn hoá

Trang 32

Quan họ Chính vì vậy, yêu cầu bắt buộc cho mỗi bọn Quan họ là phải kết bạn với ít nhất là một bọn Quan họ khác

Có thể nói rằng, Quan họ có thiết chế văn hoá rất hoàn chỉnh, bao gồm

tổ chức, cơ sở vật chất và phương thức hoạt động Các mặt này đều được gắn kết chặt chẽ với nhau

Nhà chứa: ngoài những cơ sở vật chất và địa điểm sẵn có để sinh hoạt

Quan họ của làng như đình, đền, chùa, sân đình, sân đền, sân chùa, hoặc bờ

đê, bờ ao, hồ còn có một cơ sở vật chất quan trọng hơn cả dành riêng của từng bọn Quan họ với nhau đó là “nhà chứa” Ngày nay, có rất nhiều ý kiến cho rằng dùng từ “nhà chứa” và “bọn Quan họ” là không hay, không mỹ miều

và làm xấu Quan họ Nhưng thực ra, đó chính là cách gọi của người Quan họ xưa và họ hiểu theo đúng nghĩa Theo nguyên nghĩa, thì “nhà chứa” hiểu là

“nhà” để “chứa” bọn Quan họ “Nhà chứa” là nơi tụ họp, tập luyện, nơi “ngủ bọn” của bọn Quan họ và lớp đàn em học nghề chơi Đây cũng chính là nơi bọn Quan họ tiếp đãi bạn Quan họ, mời “cơm Quan họ”, nơi tổ chức các canh hát Quan họ giữa bọn Quan họ và Quan họ kết nghĩa với mình trong các dịp

lễ hội mùa xuân của làng Có tổ chức “bọn Quan họ”, có cơ sở vật chất “nhà chứa”, nhưng nếu không kết bạn với “bọn Quan họ” nào thì không thể có sinh hoạt Văn hoá Quan họ Bởi vì, chỉ có kết bạn mới có bạn chơi, có nhiều mối quan hệ, có hoạt động Quan họ Ngày xưa, chỉ có bọn Quan họ kết bạn với nhau thì mới chơi Quan họ với nhau Còn nếu hai bọn Quan họ không kết bạn với nhau mà ca hát với nhau, mặc dù giọng Quan họ nhưng chỉ coi là “hát Ghẹo”, tức là trai gái hát để “ghẹo” nhau

Tục kết bạn Quan họ: muốn “chơi Quan họ” thì nhất định phải kết bạn

với nhau, mỗi một bọn Quan họ phải kết bạn với ít nhất một bọn Quan họ khác Yêu cầu này đã trở nên phổ biến trong Quan họ, không ngoại trừ trường hợp nào cả, nên đã trở thành tập tục quy định của Quan họ, gọi là “Tục kết bạn Quan họ”

Trang 33

Nguyên tắc kết bạn Quan họ (2 nguyên tắc): Một là, nguyên tắc “âm

dương tương cầu”, có nghĩa là bọn Quan họ nam phải kết bạn với bọn Quan

họ nữ Không có chuyện hai bọn Quan họ nam hoặc hai bọn Quan họ nữ kết

bạn với nhau Hai là, nguyên tắc “làng đối làng”, nghĩa là bọn Quan họ nam

của làng này phải kết bạn với bọn Quan họ nữ của làng kia Không có chuyện hai bọn Quan họ cùng làng kết bạn với nhau Căn cứ vào tính bền vững của tình bạn Quan họ mà chia thành 2 loại kết bạn Quan họ: Loại kết bạn không bền vững: loại kết bạn này chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn và có thể thay bạn hoặc kết thêm bạn Loại kết bạn này thường không phải là giữa các làng kết chạ với nhau Loại kết bạn bền vững truyền đời: Đó là loại kết bạn lâu dài, vĩnh viễn, bền vững, truyền từ đời này sang đời khác Loại kết bạn này chỉ có ở những làng kết chạ với nhau Như vậy, có thể khẳng định rằng: Tục kết bạn Quan họ chính là bắt nguồn từ tục kết chạ vốn có của các làng Lâu dần, do nhu cầu giao lưu ngày càng mở rộng, mới phát triển đến mức có kết bạn Quan họ giữa những làng không cùng chạ Do tục kết chạ với tục kết bạn có những điểm tương đồng, nên cho tới ngày nay vẫn nhiều người nhầm lẫn giữa tục kết chạ và tục kết bạn Chính sự nhầm lẫn ấy mà cho rằng Quan họ yêu nhau không lấy được nhau Quan họ không lấy nhau chỉ diễn ra

ở “bọn Quan họ” giữa hai làng kết chạ với nhau, còn đối với “bọn Quan họ” kết bạn với nhau nhưng giữa hai làng không kết chạ với nhau thì Quan họ vẫn nên duyên vợ chồng

Trong xã hội phong kiến với giáo lý hà khắc của Nho giáo “Nam nữ thụ thụ bất tương thân”, nên nam nữ Quan họ tất yếu không được phép tự do giao lưu với nhau Chỉ khi nào hai bọn Quan họ nam nữ đã kết bạn với nhau thì mới được qua lại “chơi Quan họ” với nhau Sự kết bạn giữa các bọn Quan họ với nhau cũng phải trải qua rất nhiều bước, thậm chí còn mang yếu tố duy tâm, họ phải được sự chứng giám và đồng ý của thần Thành hoàng cả hai nơi,

Trang 34

đôi bên mới có danh chính để thường xuyên “chơi Quan họ” với nhau, tương

tự như câu nói của người xưa “Danh có chính thì ngôn mới thuận”

Khi đã kết bạn rồi Quan họ coi nhau như anh em một nhà Trong ngày

lễ hội mùa xuân, bọn Quan họ trước ngày hội làng sẽ cử đại diện sang gặp bọn Quan bạn có “nhời mời” (lời mời) Quan họ bạn nhận lời mời đến hẹn lại lên, còn Quan họ sở tại kéo nhau ra tận sân đình hoặc đầu làng đón bạn Khi bạn tới, sau mấy câu chào hỏi, đôi bên hát chúc, hát mừng, mừng sức khoẻ và đầu năm mới Ngay sau đó, Quan họ sở tại dẫn Quan họ bạn vào đình thắp nhang làm lễ thần, hát thờ thần, gọi là “Quan họ ca sự tại đình” Rồi đó, mời Quan họ bạn về nhà chứa họ tổ chức hát chúc, hát mừng, mời khách xơi nước, xơi giầu bằng các câu hát chẳng hạn như:

“Khách đến chơi nhà Đốt than, quạt nước pha trà mời người xơi Chén trà này quý vậy, đôi người ơi

Mỗi người xơi một chén cho em vui lòng…” [30, tr.45]

Hoặc như câu mời giầu:

“Tay em nâng cái cơi đựng giầu,…

Giầu têm cánh phượng dâng lên em mời người?

Ai ơi có nhớ, Người ơi nay có nhớ đến chúng em chăng?” [30, tr.46]

Giầu, nước xong, Quan họ sở tại mời Quan họ bạn xơi bữa “cơm Quan họ” thật thịnh soạn Cuối cùng đôi bên tổ chức hát canh cho tới tận sáng Buổi đón tiếp và hát canh như vậy gọi là “Quan họ du ca tại gia”

Sáng hôm sau buổi “Quan họ du ca tại gia” thì bọn Quan họ khách sẽ đến từng gia đình các thành viên bọn Quan họ làng bạn mở hội để hỏi thăm sức khoẻ các gia đình Tại các gia đình họ lại tổ chức hát chúc, hát mừng, hát cầu may mắn và cầu vui Kết thúc chuyến du xuân trẩy hội, họ giã bạn tạm

Trang 35

chia tay nhau ra về và hẹn nhau đến hẹn lại lên Cuộc chơi cứ như vậy cho hết ngày hết hội mới thôi Hội xuân của các làng Quan họ kéo dài từ ngày mùng 4 tháng Giêng tới ngày 15 tháng hai hàng năm Vậy nên các cuộc chơi Quan họ kết bạn cứ triền miên say sưa theo chiều dài giêng hai của hội xuân Quan họ Quan họ đã kết bạn rồi, thì giữa họ có rất nhiều mối quan hệ và hoạt động giao lưu thường xuyên với nhau Đó chính là toàn bộ mọi quan hệ, mọi hoạt động của văn hoá Quan họ Người Quan họ thường xuyên chăm lo cho nhau trong cuộc sống, kể cả vật chất lẫn tinh thần, thăm viếng nhau mỗi khi bản thân hoặc gia đình mỗi thành viên trong bọn có việc vui hay buồn, thậm chí còn giúp đỡ nhau trong lao động, sản xuất…

Trong lao động sản xuất, các nghệ nhân Quan họ giữa bạn Quan họ với nhau còn mang cả trâu cày bừa sang giúp bạn Các bạn nữ thì sang cấy giúp Mục đích của họ là mong muốn cho bạn của mình cày cấy kịp thời vụ và đồng thời cũng là giúp bạn mình có thời gian tham gia “chơi Quan họ” vào dịp xuân sang, mở hội Khi mỗi một thành viên trong bọn Quan họ có việc vui như cưới xin, sinh con trai, làm nhà thì bọn Quan họ sang thăm hỏi, chúc mừng, sau là hát cầu may mắn, cầu vui Không chỉ chia sẻ niềm vui mà giữa bọn Quan họ với nhau còn chia sẻ với nhau những nỗi buồn, nỗi bất hạnh như

ốm đau hoặc nhà có tang bọn Quan họ tổ chức đến thăm hỏi, động viên, chia buồn Nếu nhà có tang thì bọn Quan họ tổ chức hát thờ, cầu mong cho linh hồn người đã khuất sang thế giới bên kia được thanh thản hoặc cầu cho con thuyền tới Tây Trúc được êm đềm, lặng sóng

Như vậy, có thể khẳng định văn hoá Quan họ đã kế thừa các yếu tố lễ nghĩa truyền thống của văn hoá cộng đồng công xã Bắc Ninh Đó là sự kế thừa theo hướng càng phát triển mở rộng, từ gốc là các yếu tố của tục kết chạ giữa các làng, tới chỗ là phổ biến chung cho cả làng Quan họ, trở thành đặc điểm, đặc trưng chung cho tất cả các liền anh, liền chị, tất cả các bọn Quan

Trang 36

họ Chính quá trình mở rộng và hoàn thiện ấy là nét mới của văn hoá lễ nghĩa Quan họ so với truyền thống

1.1.2.2 Văn hoá hành vi Quan họ

Văn hoá hành vi Quan họ là những biểu hiện về phong cách của người Quan họ, thái độ của người Quan họ đối với nhau thông qua các hành vi trong giao tiếp và ca hát Văn hoá hành vi Quan họ được bắt nguồn từ văn hoá lễ nghĩa và văn hoá lễ hội Trong văn hoá Quan họ có sự tiếp thu và mang đặc điểm của các loại hình văn hoá trên

Ngôn ngữ cũng như lời ca của người Quan họ trong giao tiếp thường sử dụng thủ pháp chuyển nghĩa bằng uyển ngữ Trong đời thường hay trong thơ

ca chúng ta thường bắt gặp những hiện tượng ngoa dụ Ngoa dụ là cách diễn đạt cường điệu tính chất, đặc trưng của sự vật và hiện tượng Ví dụ câu ngoa

liền anh, liền chị nào đó nói với bạn hát rằng: “Chúng em đã ca đôi câu Thật

đúng là “Cầm đèn soi giăng, đánh trống qua cửa nhà sấm” Giờ xin mời Quan họ người ca đôi câu để chị em chúng em theo tiếp” [41, tr.197].

Trong ca hát và giao tiếp, người Quan họ không bao giờ gọi tên thật của bạn mà thường dùng những đại từ phiếm chỉ mang tính trân trọng, tế nhị

Trang 37

và đề cao bạn mình Trong giao tiếp, “Đã lâu ngày Quan họ không về chơi, hôm nay chúng em mời Quan họ đến chơi bên chúng em, trước là thầy mẹ chúng em mừng, sau là chúng em được học đòi Quan họ đôi câu” Hoặc trong lời ca thì từ “Quan họ” được dùng để gọi bạn rất phổ biến, kiểu như “Quan họ

ở chúng em ra về”…

Một hiện tượng gọi gián tiếp nữa mà chúng ta khó có thể tìm thấy ở các loại hình dân ca khác đó là các liền anh, liền chị không gọi tên trực tiếp của nhau mà gọi là anh hai, chị hai, anh ba, chị ba… cho tới anh sáu, chị sáu Tuy không gọi tên trực tiếp của nhau nhưng người Quan họ đều nhận biết được thông tin chính xác là gọi ai, bởi giữa họ mặc nhiên có sự quy định qua các cuộc giao tiếp

Người Quan họ bao giờ cũng kiêng tên kỵ, tên huý trong giao tiếp cũng như trong ca hát Điều này cũng xuất phát từ tục kiêng kỵ, kiêng huý của cộng đồng làng xã, nhất là kiêng nói đến các vị thần Thành hoàng

Người Quan họ bao giờ cũng gọi nhau là “anh” hoặc “chị” và tự xưng

là “em” hoặc “chúng em” để biểu thị sự quý trọng, đề cao, tôn kính bạn mình

Đó là sự tiếp thu cách xưng hô trong giao tiếp của người dân ở những làng cùng chạ Rộng hơn nữa, hiện tượng này cũng rất phổ biến trong lời ăn, tiếng nói của người Bắc Ninh xưa Tính bình đẳng toàn diện giữa người với người Quan họ với nhau được biểu hiện rõ trong đặc điểm này Mặt khác, việc đôi bên đều xưng “em”, “chúng em” và gọi bên kia là “anh” hoặc “chị” của người Quan họ còn thể hiện tính bình đẳng sâu sắc giữa nam và nữ đầy chất công

xã Đây là một đặc trưng văn hoá hành vi tiêu biểu của Quan họ mà ta khó có thể tìm thấy trong tất cả các loại hình dân ca, cổ truyền khác

Trong giao tiếp, người Quan họ đã sử dụng một loại ngôn ngữ đặc biệt

và đạt mức nghệ thuật, đó là “miếng giầu” (miếng trầu) Người xưa thường nói “miếng giầu là đầu câu chuyện” Như vậy, miếng giầu cũng là một loại

Trang 38

ngôn ngữ, đó chính là ngôn ngữ thầm kín, không thành tiếng nhưng bản thân miếng giầu đã nói rõ tiếng lòng, tình nghĩa, tình cảm của người mời và người nhận Vậy nên, có thể nói rằng miếng giầu là một loại ngôn ngữ hành vi ở dạng đặc biệt của người Quan họ

Miếng giầu gắn với mọi hoạt động sinh hoạt văn hoá Quan họ như: việc mời khách, tục kết bạn, chơi hội cầu may, cầu vui, chơi hội mang theo giầu để mời nhau… Miếng giầu gắn với người Quan họ tới mức, trong trang phục của các liền chị, bao giờ cũng phải có bộ xà tích, tuy hình thức là để trang trí cho đẹp song thực tế là để đựng ống vôi Việc mời giầu của người Quan họ cũng hết sức đặc biệt, nó khác với cách mời trầu ở các vùng miền khác:

- Nhất niên, nhất lệ, năm mới, tháng xuân, anh em chúng em

có cơi giầu mời đương Quan họ

- Chị em chúng em còn cả sữa non măng, ăn giầu đã vậy

biết nói năng thế nào?

- Giầu này trong tráp mở ra

Giấu thầy, giấu mẹ mang ra mời người

Có cau có vỏ có vôi Xin mời đương Quan họ người xơi khẩu giầu Rồi cho anh em chúng em học đòi một đôi lối

- Thôi thì, nhất niên, nhất lệ, năm mới, tháng xuân Ngày

xuân thong thả, chị em chúng em đi hội cầu may, tình cờ lại gặp người đây, đương Quan họ liền anh người cho ăn giầu, thì chúng

em nhận ạ

- Xin mời đương Quan họ xơi khẩu giầu, rồi đương Quan họ

người cất câu ca, trước là ngày xuân anh em chúng em gặp may mắn, sau là được học đòi Quan họ đôi câu [41, tr.159-160].

Tuy việc mời giầu là đặc điểm chung của văn hoá hành vi làng xã xưa, người Quan họ chỉ là kế thừa Nhưng việc mời giầu - nhận giầu được Quan họ

Trang 39

nâng lên cao hơn bởi những lời mời, lời đáp vừa rất mực nhiệt thành, rất mực văn chương mà vẫn bảo đảm chất chân thực của người Quan họ

1.1.2.3 Dân ca Quan họ

Dân ca Quan họ là hình thức hát đối đáp nam nữ Họ hát Quan họ vào mùa xuân, mùa thu khi có lễ hội hay khi có bạn bè Nếu như ở các loại hình dân ca khác, hát là mục đích của người chơi dân ca, thì ở văn hoá Quan họ mục đích chính là đi “chơi Quan họ”, dân ca Quan họ - tiếng hát Quan họ chỉ

là phương tiện để người Quan họ thực hiện các cuộc “chơi” của mình

Dân ca Quan họ là loại hình ca hát nhiều làn điệu (giọng) Mỗi một giọng đều có lời ca riêng để phù hợp Giữa nhạc và lời luôn gắn bó hữu cơ với nhau, không thể tách rời Trong những năm trở lại đây, phong trào “Quan họ lời mới” khá phát triển Hướng sáng tác theo kiểu “bình cũ rượu mới” đã thích ứng với nhiều loại dân ca, song lại thiếu khoa học đối với Quan họ Mặt khác, lời ca Quan họ còn dựa theo ca trù, hát văn, ca dao, các truyện nôm khuyết danh, Truyện Kiều, nên Quan họ còn là nghệ thuật phổ thơ Mỗi một giọng Quan họ là một ca khúc hoàn chỉnh, là sự kết hợp không thể tách rời, thay đổi nhạc hay lời, nên không thể gọi là “thơ Quan họ” mà gọi là “lời ca”, hay nói theo ca khúc ngày nay thì gọi là “ca từ”

Quan họ là ca đối giọng (đối các làn điệu âm nhạc) Điều này có nghĩa

là, bên này ra một giọng thì bên kia cũng phải có bài đối lại, lời khác nhưng cùng giọng với bên ra Chẳng hạn giọng “Cái ả” có hai câu:

Câu ra: Nhất ngon là mía Lam Điền

Câu đối: Cổ tay đã trắng lại tròn

Dân ca Quan họ trải qua hàng trăm năm nhưng luôn tồn tại ở dạng

“động” Tức là bên cạnh những giọng hát cũ không còn phù hợp đã mất đi thay vào đó là những bài bản (giọng) mới ra đời, mới cả nhạc lẫn lời Vậy nên, Quan họ có rất nhiều giọng Cho tới ngày nay Ban sưu tầm nghiên cứu

Trang 40

Quan họ và Trung tâm Văn hoá - Thông tin) đưa ra kết luận có 213 giọng Quan họ khác nhau, với nhiều câu là câu đối, nhiều câu là dị bản Đó là 213 giọng Quan họ khác nhau mà chúng ta có thể sưu tầm được

Theo lề lối của hát Quan họ, thì có 3 hệ thống giọng Quan họ: các giọng lề lối, các giọng lẻ giọng vặt và các giọng giã bạn

Địa điểm hát Quan họ thì phải phù hợp với hoàn cảnh và hình thức hát Quan họ, từ xưa Quan họ ca ở hai loại địa điểm là hát ngoài trời và hát trong

nhà Thứ nhất, hát ngoài trời thì chủ yếu là diễn ra trong các lễ hội mùa xuân

của làng Hát ngoài trời có thể hát trên bộ địa điểm như hát ở cổng làng, đầu làng trong ngày hội; hát ở cổng nhà chứa trong ngày hội; hát ở trung tâm hội (sân đình, sân đền, sân chùa) Còn hát trên thuyền tức là các bọn Quan họ rủ

nhau xuống thuyền hát Hát thuyền được tổ chức ở ao, hồ trung tâm hội Thứ

hai, là hát trong nhà thì chủ yếu là hát trong đình hoặc trong đền, hát canh

trong nhà chứa vào ban đêm, hát cầu vui, cầu may trong nhà riêng của các thành viên Quan họ

Như vậy, có thể khẳng định rằng dân ca Quan họ - tiếng hát Quan họ là phương tiện để người Quan họ thực hiện sinh hoạt văn hoá Quan họ, mục đích chính là “chơi Quan họ”

1.1.2.4 Lễ hội Quan họ

Văn hoá Quan họ và lễ hội Quan họ có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại, hai chiều với nhau: Lễ hội Quan họ là điều kiện để sinh hoạt văn hoá Quan họ tồn tại và phát triển Ngược lại, văn hoá Quan họ với tư cách là một

bộ phận cấu thành lễ hội làng xã làm cho lễ hội Quan họ mang màu sắc riêng:

Lễ hội vừa được nâng cao hơn về tính cộng đồng, lại vừa thêm tôn nghiêm, sôi động và trữ tình

Người Quan họ quan tâm tới nhau thường xuyên trong cuộc sống, chính vì thế đã có rất nhiều hoạt động văn hoá Quan họ diễn ra vào ngày

Ngày đăng: 14/06/2017, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII,Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị TW 4 (khoá VII) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị TW 4 (khoá VII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
20. Đạo làm người trong văn hoá Việt Nam (2014), Nxb Lý luận Chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo làm người trong văn hoá Việt Nam
Tác giả: Đạo làm người trong văn hoá Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2014
21. Phạm Văn Đồng (1994), Văn hoá và đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1994
22. Lâm Minh Đức (2005), Dân ca Quan họ Bắc Ninh - 100 bài lời cổ, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Quan họ Bắc Ninh - 100 bài lời cổ
Tác giả: Lâm Minh Đức
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2005
23. Lâm Minh Đức (2011), Từ ngữ điển tích dân ca Quan họ, Nxb Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ điển tích dân ca Quan họ
Tác giả: Lâm Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2011
24. Du Minh Hoàn (1951), Nhân sinh quan mới, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân sinh quan mới
Tác giả: Du Minh Hoàn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1951
25. Lê Văn Hương (2012), Làng nghề Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Tác giả: Lê Văn Hương
Nhà XB: Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2012
26. Xuân Khải (2004), Dân ca Việt Nam - Tuyển chọn 100 bài dân ca ba miền, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Việt Nam - Tuyển chọn 100 bài dân ca ba miền
Tác giả: Xuân Khải
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2004
27. Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo (2005), Từ điển văn nghệ - Văn hoá - Tín ngưỡng phong tục, Nxb Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn nghệ - Văn hoá - Tín ngưỡng phong tục
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2005
28. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên và Võ Quang Nhơn (1997), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên và Võ Quang Nhơn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
29. Trần Văn Khê (1958), "Hát Quan họ",Tạp chí Bách Khoa, (43) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát Quan họ
Tác giả: Trần Văn Khê
Năm: 1958
30. Lê Danh Khiêm (2010), Dân ca Quan họ Lời ca và bình giảng, Trung tâm Văn hoá tỉnh Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Quan họ Lời ca và bình giảng
Tác giả: Lê Danh Khiêm
Nhà XB: Trung tâm Văn hoá tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2010
31. Lê Danh Khiêm (2011), Không gian Văn hoá Quan họ, Trung tâm Văn hoá tỉnh Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian Văn hoá Quan họ
Tác giả: Lê Danh Khiêm
Năm: 2011
32. Lê Danh Khiêm (2011), Truyện cổ ca dao tục ngữ các làng Quan họ, Trung tâm Văn hoá tỉnh Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ ca dao tục ngữ các làng Quan họ
Tác giả: Lê Danh Khiêm
Nhà XB: Trung tâm Văn hoá tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2011
33. Đinh Trọng Lạc (1994), 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1994
34. Nguyễn Lân (2000), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN