VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ TÌNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TÌNH
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
Mã số: 9 22 90 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS HỒ SĨ QUÝ
HA NOI - 2018
Trang 2
Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Hồ Sĩ Quý
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Văn Huyên
Phản biện 2: GS.TS Lê Hồng Lý
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn
Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện khoa học xã hội
Vào hồi ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia và Thư viện Học viện khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tục ngữ, ca dao là một bộ phận đồng thời là chỉ báo tin cậy phản ánh sự phát triển của đời sống tinh thần của người Việt Nam từ trong lịch sử xa xưa Bằng nghệ thuật ngôn từ trau chuốt, sâu sắc nhưng dung dị, mộc mạc, quen thuộc với người nông dân, ca dao, tục ngữ, và triết lý nhân sinh chứa đựng trong đó đã thực sự là vũ khí tinh thần sắc bén, là những chỉ dẫn thế giới quan và nhân sinh quan sáng suốt, định hướng cho con người sống, lao động, sáng tạo và yêu thương… trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Ngày nay, triết lý nhân sinh trong ca dao tục ngữ vẫn là hành trang đắt giá của
xã hội hiện đại
Nói đến triết lý nhân sinh ở Việt Nam, trước tiên, người ta không thể không tìm kiếm trong văn học dân gian Việt Nam, trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam Dĩ nhiên, triết học là tri thức hệ thống, bác học về thế giới quan và phương pháp luận, còn tục ngữ, ca dao lại là tri thức dân gian (Folk Knowledge) - tri thức của sự phản ánh cái
cụ thể, cái thuộc về những kinh nghiệm, lẽ phải thông thường Quần chúng nhân dân, bằng kinh nghiệm và trí khôn của nhiều thế hệ là tác giả của loại hình tri thức này Sức mạnh của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao là ở đó
Như nhiều tài liệu đã khẳng định, tục ngữ, ca dao Việt Nam, trên khắp các vùng miền, ở tất cả các lĩnh vực, đều chứa đựng trong nó hệ thống phong phú các triết lý nhân sinh sâu sắc Mấy nghìn năm dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển, cũng là mấy nghìn năm triết lý nhân sinh luôn nối tiếp nhau xuất hiện và thực hiện chức năng định hướng của mình trong tục ngữ, ca dao Kinh nghiệm sống, lao động và đấu tranh, các giá trị làm người, các bản sắc đặc trưng về lối sống và ứng xử… không ngừng được đúc kết và cất giữ trong ca dao, tục ngữ, kể cả trong xã hội hiện đại
Vấn đề là ở chỗ, hiện hay việc xác định hệ thống triết lý nhân sinh trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam trên thực tế chưa được tìm hiểu một cách hệ thống Đại đa số các tác giả tuy đánh giá cao giá trị của các triết lý nhân sinh, chỉ ra sự tồn tại của một số triết lý nhân sinh cụ thể trong kho tàng tục ngữ, ca dao và phân tích nội dung của chúng, nhưng lại chưa tiến hành hệ thống hóa, phân loại, và đánh giá ý nghĩa nhiều tầng, đa diện của tục ngữ, ca dao đối với các xã hội ở từng giai đoạn lịch sử và trong toàn bộ đời sống
xã hội nói chung Việc xem xét cũng chủ yếu tiến hành trong khuôn khổ những nghiên cứu văn học, văn hóa học… hầu như rất ít được nghiên cứu từ góc độ triết học
Đối với việc nghiên cứu từ góc độ triết học, những vấn đề cần phải giải đáp là: Những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam gồm những gì? Làm thế nào để phân loại, xác định và nhận diện hợp lý các triết lý nhân sinh phong phú, đa dạng trong đời sống xã hội Việt Nam ở các thời kỳ lịch sử khác nhau? Ý nghĩa định hướng của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao đối với đời sống
xã hội hiện nay thể hiện như thế nào? Cần phải làm gì và làm như thế nào để giữ gìn
và phát huy những nội dung của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam vào giáo dục con người trong bối cảnh hiện nay?
Trang 4Nghiên cứu triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, do vậy có ý nghĩa không nhỏ trong việc khẳng định những giá trị quý báu của văn hóa dân tộc Trên cơ
sở đó, việc làm rõ, đánh giá những giá trị của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, sẽ góp phần làm tăng cường sức sống của đời sống tinh thần xã hội, củng
cố niềm tin, lý tưởng sống cho mỗi người Việt Nam hiện nay dưới tác động của toàn cầu hóa
Vì những lý do đó, tác giả đã chọn: “Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay” để làm đề tài luận
án tiến sĩ triết học này
Phù hợp với mục đích nghiên cứu nói trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan và xác định khung lý thuyết để
nghiên cứu đến đề tài
- Nghiên cứu, xác định triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
- Phân tích nội dung cơ bản của các loại triết lý nhân sinh chủ yếu trong kho tàng tục ngữ, ca dao Việt Nam
- Đánh giá ý nghĩa với những giá trị và hạn chế của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án giới hạn nghiên cứu những ca dao, tục ngữ đã được tuyển chọn trong kho tàng tục ngữ, ca dao các tỉnh Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ Chủ yếu là trong các tác phẩm về tục ngữ, ca dao đã xuất bản
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 54.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp logic - lịch sử, quy nạp - diễn dịch, tổng hợp - phân tích, so sánh - đối chiếu, thống kê,…
Luận án chú trọng sử dụng các tài liệu triết học và triết lý, về đời sống tinh thần
và vật chất của xã hội và con người, về văn hóa và con người Trong chừng mực có liên quan, luận án có sử dụng các tài liệu văn học, văn hóa học có liên quan đến chủ đề, các báo cáo chuyên môn của các tổ chức văn hóa - xã hội của Đảng và Nhà nước, đặc biệt các báo cáo của các Hội văn học - nghệ thuật, các trường Đại học khu vực phía bắc… có liên quan đến đề tài
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án đã xác định được những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam Bước đầu phân loại các loại triết lý nhân sinh theo đặc thù của đời sống người Việt thể hiện trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam
Luận án đã cố gắng chỉ ra những nét độc đáo, góp phần khẳng định giá trị của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
Luận án đã phân tích làm rõ ý nghĩa của các triết lý nhân sinh trong việc xây dựng nhân sinh quan lành mạnh của con người Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án đã góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận như nội dung cơ bản, phân loại, ý nghĩa định hướng… của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam Luận án đã chỉ ra ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam đối với việc xây dựng nhân sinh quan của con người hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về triết học, triết lý, chủ nghĩa duy vật lịch sử, văn học dân gian, văn hóa học về ca dao, tục ngữ Việt Nam, đặc biệt về triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
được bố cục làm 4 chương với 12 tiết
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Các công trình nghiên cứu về triết lý và triết lý nhân sinh
1.1.1 Các công trình nghiên cứu triết lý trong sự phân biệt với triết học
Công trình sớm nhất phân biệt triết học và triết lý là của Trần Đức Thảo với tên gọi “Triết lý đã đi đến đâu”, Nxb Minh Tân, Paris, 1950; và một số bài nghiên cứu khác của Trần Văn Giàu Các thế hệ sau đã làm rõ hơn vấn đề qua các công trình như: Phạm Xuân Nam (chủ biên) “Triết lý phát triển ở Việt Nam – Mấy vấn đề cốt yếu”,
Trang 6Nxb Khoa học xã hội, 2003; Nguyễn Văn Huyên với “Triết lý phát triển – từ Mác – Lênin đến Hồ Chí Minh”, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; Hồ Sĩ Quý với bài viết “Một số suy nghĩ về triết học và triết lý” Tạp chí Triết học số 3/1998… Đây là những tư liệu tham khảo rất bổ ích cho tác giả luận án khi phân biệt Triết học và triết
lý
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về con người và đời sống con người
Trong luận án, hầu hết các công trình nghiên cứu có giá trị về con người và đời sống con người đã được tổng quan và đánh giá Trong đó, đáng chú ý là: Phạm Minh Hạc (chủ biên) “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức và Hồ
Sỹ Quý (đồng chủ biên) “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Những ấn phẩm này đã nêu rõ những nét cơ bản về giá trị và giá trị truyền thống, về quan hệ giữa truyền thống với sự phát triển, trong đó nhấn mạnh vị thế của văn hóa nội sinh trong hội nhập, khai thác những yếu tố tích cực của truyền thống cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Trần Văn Giàu với “Con người Việt Nam, một số vấn đề cần nghiên cứu” trên Tạp chí “Nghiên cứu con người”, số 2 năm 2002 là một bài báo rất sâu sắc về giá trị con người của người Việt Nam trong lịch sử và hiện nay; Hồ Sĩ Quý với “Con người và phát triển con người”, Giáo trình Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007 Nguyễn Văn Dân với “Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011… là những công trình có ý nghĩa mà tác giả luận án đã khai thác được nhiều gợi ý khi bàn đến các vấn đề triết lý nhân sinh
1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về giá trị ca dao tục ngữ nói chung
Trong luận án, các các công trình nghiên cứu có giá trị được tổng quan và phân tích là:
Nguyễn Văn Ngọc với công trình sưu tập ca dao, tục ngữ được đánh giá là công phu nhất, có nội dung rất phong phú là bộ sách “Tục ngữ phong dao”, Nxb Đại Nam, xuất bản năm 2003 (xuất bản lần đầu năm 1928) Vũ Ngọc Phan với “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, 2010 “Tục ngữ Việt Nam” của nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri, Nxb Khoa học xã hội xuất bản
1975 Nguyễn Xuân Lạc với “Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường”, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1998 Thao Nguyễn với công trình “Ca dao Việt Nam - Viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian”, Nxb Văn hóa – thông tin, Hà Nội, 2005 Vũ Thị Thu Hương với “Ca dao Việt Nam - Những lời bình” Nxb Văn hóa – thông tin, Hà Nội, 2000
Trong những công trình này, các tác giả đã dày công sưu tập ca dao, tục ngữ các vùng miền, tiến hành hệ thống hóa và phân loại các loại hình ca dao tục ngữ Một số
Trang 7công trình đã phân tích sâu nội dung và giá trị của các loại hình ca dao tục ngữ điển hình
Những công trình này chủ yếu bàn luận vấn đề trên phương diện văn học Tuy vậy, đó cũng là những gợi ý để luận án tìm hiểu vấn đề triết lý và triết học trong tục ngữ ca dao Việt Nam
1.2.3 Các công trình nghiên cứu về triết lý và triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam
Nguyễn Nghĩa Dân với “Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam” Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000, bàn đến khía cạnh triết học của tục ngữ, ca dao Không nhiều tác phẩm trực tiếp bàn đến khía cạnh triết lý của vấn đề: Lê Huy Thực với bài
“Tiêu chí kiểm định đạo đức trong tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam”, tạp chí Triết học số 9/2005; Vũ Hùng với “Tìm hiểu những yếu tố triết học (hay triết lý dân gian) trong tục ngữ Việt Nam”, Tạp chí Triết học số 1/2007 Song Phan với “Cảm nhận triết
lý tục ngữ, ca dao” đăng trên báo Người Hà Nội, ngày 27/10/2005; và công trình khoa học cấp Bộ của Bùi Văn Dũng (Đại học Vinh) “Tìm hiểu tư tưởng triết học về con người trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam” Đề tài khoa học trọng điểm, bảo vệ 2009…
Đây là ít ỏi các công trình trực tiếp bàn đến triết lý và triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam Tuy nhiên vì không phải là mục đích chính của sự nghiên cứu nên những công trình này cũng mới chỉ là những phác thảo rất sơ lược về yếu tố triết học hay triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam
1.3 Những kết quả đƣợc kế thừa từ các công trình đã công bố và những vấn
đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Thứ nhất, trong quan hệ với đề tài luận án, những tác phẩm nói trên, đều là
những công trình có giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn về ca dao tục ngữ, về đạo đức, về giáo dục đạo đức, truyền thống, giá trị truyền thống, giáo dục đạo đức truyền thống cho con người Việt Nam nói chung và cho thế hệ trẻ hiện nay nói riêng
Thứ hai, những công trình đó có giá trị không nhỏ đối với luận án này, dẫu vậy,
vẫn còn ít nhiều mang tính chất chung chung; một số có đi vào những lĩnh vực cụ thể thì lại không đề cập đến triết lý nhân sinh Do vậy, ở đề tài này, tác giả luận án được
kế thừa chủ yếu là những phác thảo chung, những gợi ý… Việc đi sâu phân tích triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ và nêu lên ý nghĩa của những triết lý ấy đối với đạo đức, lối sống… trong đời sống xã hội ở nước ta hiện nay, vẫn căn bản là còn lĩnh vực trống, đòi hỏi phải khám phá nhiều hơn và sâu hơn
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian nói chung, tục ngữ ca dao
nói riêng cũng đã có những thành tựu đáng kể trong việc phân loại tục ngữ ca dao Nhưng thực sự lại chưa có một công trình nào nghiên cứu và phân loại các nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam Ý nghĩa của nó về phương diện triết lý,
do vậy, cũng rất mờ nhạt trong các công trình Các công trình đi trước không đặt ra cho mình việc xác định và hệ thống hóa các triết lý nhân sinh trong ca dao tục ngữ
Trang 8Những công trình nghiên cứu của các các giả đi trước đã giúp tác giả luận án những gợi ý quan trọng và có ý nghĩa về cơ sở văn hóa - xã hội của loại hình tục ngữ
ca dao, tính kinh nghiệm, địa phương của những khái quát của loại hình tri thức này, đời sống con người với những định hướng kinh nghiệm mà từ đó có thể khái thác những chỉ dẫn về thế giới quan và nhân sinh quan Tuy nhiên những gọi ý như vậy rất tản mạn, mờ nhạt và khá xa triết học
Những thiếu hụt vừa nêu cũng chính là nhiệm vụ mà luận án đặt ra cho mình để nghiên cứu, bổ sung, làm rõ
Kết luận chương 1
Nghiên cứu ca dao, tục ngữ Việt Nam là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả quan tâm Hàng loạt các nghiên cứu về các nội dung chi tiết của ca dao tục ngữ đã được các thế hệ nối tiếp nhau công bố Có khá nhiều các tác phẩm nghiên cứu về tục ngữ, ca dao đã đạt tới trình độ những công trình có giá trị, nhiều công trình
ở dạng quy mô lớn Tuy nhiên, do mục tiêu, nhiệm vụ của các công trình cụ thể chưa đặt ra hoặc ít bàn đến các vấn đề về triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, nên cho đến nay, nội dung này vẫn là chủ đề chưa được khám phá ở mức cần thiết
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ CA DAO VIỆT NAM:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 2.1 Quan niệm về triết lý nhân sinh
2.1.1 Triết học và triết lý: phân biệt triết lý với triết học
2.1.1.1 Triết học
Có nhiều quan niệm khác nhau về triết học Tựu trung, các định nghĩa hợp lý về triết học đều thể hiện rằng, triết học nghiên cứu toàn bộ vũ trụ và con người (hay thế giới, con người, xã hội và tư duy) trong hệ thống chỉnh thể toàn vẹn vốn có của nó và của tư duy triết học Triết học giải thích tất cả các quan hệ trong và ngoài chỉnh thể đó bằng các nguyên nhân tất yếu, chỉ ra những quy luật phổ biến nhất chi phối, quy định
sự vận động của các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ, trong xã hội loài người, trong con người và trong tư duy Những tri thức đó được triết học khái quát thành các chỉ dẫn có tính hệ thống về thế giới quan và nhân sinh quan
2.1.1.2 Triết lý
Ở nước ta có nhiều quan niệm khác nhau về triết lý, các quan niệm đó có những
điểm thống nhất là:
Thứ nhất, triết lý khác triết học Triết học nghiên cứu những vấn đề chung nhất,
phổ biến nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Triết lý không nghiên cứu những vấn đề chung nhất của thế giới như triết học, mà chỉ đề cập tới từng mặt, từng lĩnh vực hẹp của đời sống xã hội, chủ yếu là vấn đề nhân sinh
Thứ hai, từ những nguyên lý triết học cụ thể nhất định, người ta có thể rút ra
những triết lý về phương diện nào đó của cuộc sống
Trang 9Thứ ba, triết lý chủ yếu hướng con người về những vấn đề nhân sinh, có ý nghĩa
làm phương châm cho đối nhân, xử thế, cho hành vi của con người trong đời sống hàng ngày
Thứ tư, triết lý có thể được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người
Nghĩa là từ hoạt động thực tiễn hàng ngày, con người có thể rút ra những triết lý sống,
triết lý hành động cho bản thân và cộng đồng
Thứ năm, có nhiều loại triết lý khác nhau, như triết lý phát triển, triết lý nhân sinh,
triết lý kinh doanh,.v.v
2.1.1.3 Phân biệt triết học với triết lý
Luận án chỉ ra mối liên hệ giữa triết học và triết lý như sau:
- Triết học là một hệ thống tri thức, có thể là một bộ môn khoa học (có thời kỳ còn được xem là khoa học của mọi khoa học), triết lý không phải là hệ thống chặt chẽ, hay bộ môn khoa học Như vậy, triết lý hẹp hơn triết học
- Từ triết học người ta có thể rút ra những triết lý, cách ứng xử, phương châm sống và hành động của những cá nhân và cộng đồng nào đó Từ triết lý, chưa thấy hệ thống lý luận triết học nào được xây dựng
- Trong đời sống tinh thần xã hội, có hiện tượng là khi chưa có một nền triết học thành văn hoàn chỉnh, nhưng đã có triết lý Như vậy, triết lý có thể có trước triết học
- Triết lý có thể được rút ra từ triết học Nhưng phần lớn triết lý nảy sinh từ đời sống thường ngày, từ ý nghĩa trong một số áng văn thơ, công trình kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ; từ một số lễ hội, y học, võ thuật, truyền thuyết, cổ tích, thần thoại,… Triết lý còn được thể hiện qua những hành động, đó chính là triết lý hành động Lại có cả triết
lý im lặng, triết lý vô ngôn của nhà Phật
2.1.2 Nhân sinh, nhân sinh quan và triết lý nhân sinh
2.1.2.1 Quan niệm về nhân sinh
Nhân sinh (với tính cách là khái niệm dùng để chỉ một lĩnh vực thuộc đối tượng
của nhận thức được phản ánh ở các trình độ khác nhau - từ ý thức thông thường, triết
lý dân gian đến tôn giáo, tư tưởng triết học hay triết học…) là quan niệm về giá trị của đời sống con người, về ý nghĩa của cuộc đời, về mục đích của cuộc sống, về giá trị làm người của mỗi cá nhân, về giá trị xã hội của mỗi con người, về vị thế của con người
trong xã hội và trong thế giới…
2.1.2.2 Nhân sinh quan
Nói đến nhân sinh quan là nói tới quan điểm, quan niệm sống với hệ thống giá
trị cá nhân và xã hội định hướng hành vi và hoạt động của con người Quan điểm sống,
quan niệm sống và hệ giá trị (nhân sinh quan) quy định cách sống, lối sống và hành vi
và phẩm chất của hành vi, quy định việc xác định ý nghĩa của cuộc sống và ý nghĩa của sự làm người
2.1.2.3 Khái niệm triết lý nhân sinh
Triết lý nhân sinh là những chiêm nghiệm, chỉ dẫn, khái quát ở tầm thế giới quan và nhân sinh quan về giá trị của đời sống con người – con người trong hoạt động
Trang 10thường ngày, trong đời sống xã hội, trong quan hệ với tự nhiên và với vũ trụ Triết lý nhân sinh trong mọi loại hình tri thức thường được biểu hiện trước hết dưới dạng các quan niệm và thái độ sống, cách sống và cách ứng xử của con người đối với thế giới xung quanh Triết lý nhân sinh được hình thành trước hết từ những kinh nghiệm sống kết hợp với các tri thức văn hóa – xã hội được tiếp nhận từ bên ngoài, kể cả từ triết học hay tôn giáo
Hình thức phổ biến của triết lý nhân sinh là những chiêm nghiệm thường ngày của mỗi cá nhân về mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống
Hầu hết các triết lý nhân sinh đều hướng con người tới một cuộc sống tốt đẹp hơn, một xã hội tiến bộ hơn không chỉ cho mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng mà còn cho cả nhân loại
2.2 Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam: cơ sở hình thành và đặc điểm
2.2.1 Quan niệm về tục ngữ và ca dao: một số vấn đề lý luận
2.2.1.1 Quan niệm về tục ngữ
Tục ngữ là sự đúc kết kinh nghiệm dân gian dưới dạng quy tắc, nguyên tắc, quy luật về mọi mặt của đời sống con người Với hình thức ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh nên thể loại văn học dân gian này có sức mạnh đặc biệt
Tục ngữ phản ánh những điều kiện và phương thức lao động của người dân, những kinh nghiệm sống và lao động, sáng tạo, phản ánh những đặc điểm của đời sống dân tộc Những kinh nghiệm được nảy sinh trong quá trình đấu tranh, cải tạo và chinh phục thiên nhiên được đúc kết trong tục ngữ, trở thành những chỉ dẫn thế giới quan và nhân sinh quan, định hướng cho cuộc sống của nhiều thế hệ
2.2.1.2 Phân biệt tục ngữ và thành ngữ
Tục ngữ thường là là một mệnh đề hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý; còn thành ngữ chỉ là một cụm từ, một bộ phận của mệnh đề, diễn đạt một quy tắc, một quan hệ tất nhiên, một định hướng nhận thức và hành động Tục ngữ thiên về đúc rút kinh nghiệm sống Thành ngữ lại nặng về khái quát, ẩn dụ bằng nghệ thuật tu từ để định hướng con người Thành ngữ và tục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân Không dễ phân biệt thành ngữ với tục ngữ Hầu hết thành ngữ và tục ngữ đều do nhân dân sáng tác, tuy nhiên cũng có một số ít câu rút ra từ các thi phẩm nổi tiếng, hoặc từ ca dao, dân ca
2.2.1.3 Quan niệm về ca dao
Ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu Đôi khi là lời những đoạn dân ca đã thoát ra khỏi đời sống âm nhạc của nó Ca dao để lại dấu ấn rõ rệt nhất trong văn học và trong đời sống Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu - tình yêu nam nữ, yêu gia đình, yêu quê hương đất nước và diễn tả các mối quan hệ trong đời sống xã hội
2.2.1.4 Phân biệt ca dao với dân ca
Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán – Việt Thời trước người ta còn gọi ca dao là
Trang 11phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại Tuy nhiên, theo chúng tôi ca dao có từ hai đến tám chữ đều có thể ngâm được nguyên câu Còn dùng một bài ca dao để hát thì nó sẽ biến thành dân ca, vì hát yêu cầu phải có khúc điệu và như vậy phải có thêm tiếng đệm Tác giả Vũ ngọc Phan lấy ví dụ:
Một đàn cò trắng (thời) tung bay Bên nam (thời) bên nữ ta cùng hát lên 1
Vậy thì ca dao là một loại thơ dân gian có thể được ngâm như các loại thơ khác
và có thể xây dựng thành các làn điệu dân ca
Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu Dân ca là những câu hát có nhạc điệu nhất định, nó ngả về nhạc điệu ở mặt hình thức, nên ca hát người ta cung gọi là thanh nhạc, nó là nhạc do ngừi ta đưa ra thành tiếng ở cổ họng” cũng như những tiếng thoát
bó về chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội
2.2.2.2 Khu vực Bắc Trung bộ
Cộng đồng cư dân Bắc Trung Bộ có những nét văn hóa riêng, mang đặc thù vùng Trong lịch sử dân tộc, những giá trị Bắc Trung Bộ có ý nghĩa to lớn Điều đó được phản ánh trong tục ngữ ca dao, đặc biệt trong các triết lý dân gian
2.2.3 Đặc điểm và vai trò của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
2.2.3.1 Đặc điểm của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam
Thứ nhất, ca dao tục ngữ chính là những sáng tạo của người dân, một loại hình
nghệ thuật mang tính tập thể mà tác giả là những người lao động Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ, do vậy đa dạng, phong phú, phản ánh hầu hết các mặt của đời sống xã hội
Thứ hai, ca dao tục ngữ là một loại hình nghệ thuật vừa sâu sắc vừa dân dã Triết
lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ, do vậy có sức thu hút và thích hợp với mọi tầng lớp nhân dân
Thứ ba, ca dao tục ngữ là một loại hình nghệ thuật mang tính truyền miệng Triết
lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ, do vậy lưu truyền rộng rãi, xuyên thời gian và không gian
Trang 12
2.2.3.2 Vai trò của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao đối với đời sống con người
Trong đời sống hàng ngày của người dân, những kinh nghiệm trong lao động sản xuất, những tri thức đúc kết từ văn hóa bên ngoài, được sử dụng trong những tình huống sống - đơn giản và phức tạp, gay cấn và bình thường… được thể hiện qua tục ngữ, ca dao, được cô đọng trong các triết lý lại là vũ khí tinh thần sắc bén, là kim chỉ nam định hướng hoạt động, là ngọn lửa hy vọng dẫn dắt các thế hệ người Chính những triết lý này đã đồng hóa nhiều tư tưởng ngoại lai, là cơ sở tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa – văn minh bên ngoài, biến thành thế giới quan, nhân sinh quan chỉ đạo, định hướng cuộc sống và phương thức ứng xử của người dân lao động
Không hệ thống đến mức trở thành học thuyết, nhưng triết lý nhân sinh trong tục ngữ ca dao lại có sức sống mãnh liệt trường tồn cùng với dân tộc Ngày nay, những quan niệm, tư tưởng đó không hề cản trở chúng ta trong hội nhâp, trái lại lại là cơ sở, điều kiện, là hành tranh giúp chúng ta hội nhập và hội nhập thành công với các nền văn hoá khác
Kết luận chương 2
Tục ngữ, ca dao là một hình thức của nghệ thuật ngôn từ tồn tại bằng phương thức truyền miệng Nó từ tồn tại xã hội mà ra, phản ánh tồn tại xã hội, dẫn dắt con người sống, sáng tạo trong tồn tại xã hội
Tri thức của tục ngữ, ca dao là tri thức dân gian được rút ra trên cơ sở quan sát và miêu tả cái cụ thể, đó là những tri thức kinh nghiệm, những “lẽ phải thông thường” Tục ngữ, ca dao là một trong những thể loại của Văn học dân gian nên tác giả là tập thể, là quần chúng nhân dân Tục ngữ, ca dao Việt Nam chứa đựng trong nó triết lý nhân sinh, thứ triết lý có sức mạnh đặc biệt trong việc phát hiện ra bản chất và tính quy luật của các sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người
Chương 3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM 3.1 Triết lý về nguồn gốc, bản chất, về vị thế con người
3.1.1 Triết lý về nguồn gốc của con người
Từ xa xưa, khi trình độ tư duy khái quát của con người chưa cao, khả năng nhìn nhận vấn đề chưa bao quát, vậy mà người Việt đã có sự nhìn nhận, đánh giá rất sâu
sắc về con người Người ta là hoa đất 2 là tư tưởng thể hiện một triết lý sâu sắc - Con người không phải là thực thể tách khỏi hoàn toàn giới tự nhiên mà bản thân con người
là một phần của giới tự nhiên, là một thực thể phát triển cao của tự nhiên, luôn gắn kết với tự nhiên Quan niệm người ta sinh ra từ đất rất gần gũi với quan niệm của các nhà triết học Hylạp cổ đại, khi họ cho thế giới, con người do nước, lửa, không khí hay Apeirôn sinh ra Cũng có thể thấy điểm giống nhau giữa triết lý dân gian Việt Nam với
2