lực chất lượng cao thiếu về số lượng, thấp về chất lượng, chưa đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa;… Tình trạng nói trên cũng có nguyên nhân từ triết lý sống, phản ánh trong th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ PHƯƠNG THANH
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HÓA ỨNG XỬ
CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ PHƯƠNG THANH
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HÓA ỨNG XỬ
CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM VĂN CHÍN
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn là công trình làm việc, nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Văn Chín Kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước được tiếp thu chân thực, cẩn trọng, tư liệu trích dẫn có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Phương Thanh
Trang 4Xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học An Giang, nhất là Khoa Triết học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc học tập, nghiên cứu của tác giả suốt thời gian tham gia chương trình đào tạo vừa qua;
Đặc biệt bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến PGS.TS Phạm Văn Chín đã hết lòng hướng dẫn, chỉ bảo tận tâm, hỗ trợ tận tình giúp tác giả hoàn thành luận văn này;
Cuối cùng, cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, anh chị em học viên Cao học Triết học K25 - An Giang đã luôn động viên, khích lệ trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Phương Thanh
Trang 5UNESCO : United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc)
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5
5 Giả thuyết khoa học 5
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 6
8 Phương pháp nghiên cứu 6
9 Luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 6
10 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỰ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa ứng xử 8
1.1.2 Khái niệm triết lý nhân sinh và nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh 16
1.2 Cơ sở thực tiễn - những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ 23
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội 23
1.2.2 Lối sống của người dân Nam Bộ 32
Tiểu kết chương 1 42
Trang 72.1 Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng của người dân Nam Bộ với
tự nhiên 43
2.1.1 Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ với tài nguyên thiên nhiên 43
2.1.2 Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ với bảo vệ môi trường thiên nhiên 51
2.2 Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ với môi trường xã hội 59
2.2.1 Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ giữa con người với con người 59
2.2.2 Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ giữa con người với cộng đồng xã hội 74
2.3 Những giá trị và hạn chế triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ 86
2.3.1 Những giá trị 86
2.3.2 Những hạn chế 90
2.3.3 Những giải pháp nhằm phát huy giá trị tốt đẹp về triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ giai đoạn hiện nay 93
Tiểu kết chương 2 104
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Triết lý sống không chỉ phản ánh tư duy và lối sống, mà còn thể hiện tư tưởng, tình cảm, niềm tin, truyền thống, tập quán và cả chiều sâu tâm lý của cộng đồng người sống trong một giai đoạn lịch sử nhất định Vì vậy, nó ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động sống của con người, cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của cả cộng đồng người
Nam Bộ có lịch sử phát triển hơn 300 năm, là vùng đất mở, năng động, nơi tụ cư, giao lưu của cư dân nhiều vùng miền, nhiều dân tộc và nhiều luồng văn hóa khác nhau Trong đó, cộng đồng người Việt đã trải qua quá trình khai phá, mở mang bờ cõi và khẳng định chủ quyền dân tộc ở Nam Bộ; quá trình
tổ chức đời sống, hình thành xóm ấp; quá trình sản xuất, kinh doanh; quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ gìn chủ quyền lãnh thổ và tham gia phát triển đất nước Chính trong thực tiễn xã hội đó đã hình thành nên triết lý sống biểu hiện qua văn hóa ứng xử, phản ánh phong cách tư duy và lối sống trọng nghĩa, phóng khoáng, tự do, táo bạo, năng động sáng tạo, dễ tiếp thu cái mới, trọng thực tế và hiệu quả của cộng đồng người Việt ở Nam Bộ
Trải qua 30 năm đổi mới và hội nhập, vùng đất Nam Bộ đã có nhiều đổi thay và phát triển vượt bậc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao Điều này có sự tác động nhất định từ những ưu điểm tích cực trong triết lý sống của người dân Nam Bộ Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình phát triển của vùng đất Nam Bộ bộc lộ những hạn chế, nghịch lý và cả tiêu cực Đó là phát triển kinh tế chưa thật sự gắn với phát triển văn hóa - xã hội và con người, chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực vốn có của vùng; tăng trưởng kinh tế chưa đi đôi với thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, chưa gắn với bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân; nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân
Trang 9lực chất lượng cao thiếu về số lượng, thấp về chất lượng, chưa đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa;…
Tình trạng nói trên cũng có nguyên nhân từ triết lý sống, phản ánh trong thực tế rằng tư duy và lối sống của một bộ phận người Việt ở Nam Bộ
có những điểm hạn chế, thậm chí có cả yếu tố tiêu cực như: tản mạn, cục bộ, thiếu căn bản lý luận và tri thức khoa học, kinh nghiệm chủ nghĩa, lối sống thực dụng, cá nhân,… Những hạn chế này là vật cản đối với yêu cầu đổi mới, hội nhập phát triển của vùng đất Nam Bộ và cả nước
Để phát huy những ưu điểm tích cực, khắc phục những hạn chế như đã nói trên, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình đổi mới và hội nhập ở Nam Bộ, cần thiết phải nghiên cứu cộng đồng người Việt ở Nam Bộ về biểu hiện triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử, phản ánh tư duy và lối sống truyền thống, những giá trị tích cực và hạn chế của nó trước yêu cầu đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay
Đó cũng là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài “Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ” làm luận văn thạc sĩ triết học.
Đặng Trường Sơn, Nguyễn Thị Mỹ Hòa (2014), “Triết lý nhân sinh
trong đờn ca tài tử Nam Bộ”, Tạp chí khoa học Cần Thơ, (4), tr 35-36 Trong
bài viết này, ngoài việc đề cập sơ lược nguồn gốc hình thành và phát triển của đờn ca tài tử Nam Bộ, tác giả tập trung phân tích những triết lý nhân sinh tiêu biểu qua việc khảo cứu lời của một số bài bản đờn ca tài tử, từ đó chỉ ra những giá trị triết lý trong đời sống hiện thực của người dân Nam Bộ Những
Trang 10triết lý nhân sinh tiêu biểu mà tác giả đã nhận diện và đề cập trong bài viết là: triết lý nhân sinh trong tình cảm bạn bè; triết lý nhân sinh thể hiện qua tình cảm vợ chồng, tình yêu đôi lứa; triết lý nhân sinh trong tính cách của người dân Nam Bộ; và triết lý nhân sinh trong tình yêu quê hương đất nước
Lê Văn Tùng, Nguyễn Thị Kim Ngân (2014), “Triết lý nhân sinh của
cư dân Nam Bộ qua một số công trình khảo cứu của Sơn Nam”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học An Giang, (2), tr 109-114 Trong bài viết này, tác giả
phân tích những tư tưởng của Sơn Nam về triết lý nhân sinh của cư dân Nam
Bộ được thể hiện trong một số công trình khảo cứu của ông Bên cạnh việc làm rõ những nét sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của Sơn Nam, tác giả đã phác thảo một số nét cơ bản trong tính cách cư dân Nam Bộ như: thẳng thắn, bộc trực, dám nghĩ dám làm, trọng nghĩa, thực tế, năng động, bao dung, hài hòa và tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm Đồng thời đưa ra quan điểm
về sự chi phối của điều kiện tự nhiên - xã hội đặc thù đối với đời sống và tập quán của cư dân Nam Bộ, cũng như nêu lên giá trị nhân sinh tích cực của cư dân Nam Bộ cần được giữ gìn và phát huy trong giai đoạn hiện nay
Võ Văn Thắng, Nguyễn Khánh Hoàng (2016), “Triết lý nhân sinh của
người dân Nam Bộ”, Triết lý nhân sinh trong văn hóa Việt Nam, Nxb Lý luận
chính trị, Hà Nội, tr 356-364 Trong bài viết này, tác giả đã đi vào phân tích nội dung triết lý nhân sinh của cư dân Nam Bộ một cách tương đối có hệ thống Cụ thể, tác giả trình bày khái quát cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của cư dân Nam Bộ; tập trung phân tích, làm rõ ba đặc trưng cơ bản triết lý nhân sinh của cư dân Nam Bộ, gồm: quan điểm sống hòa hợp, bình dị với tự nhiên; quan điểm sống chan hòa, hào phóng, trọng nghĩa và yêu quê hương, đất nước; tính mở trong triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ Đồng thời rút ra kết luận về giá trị cốt lõi trong triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ
là tính mở, sống hòa hợp với tự nhiên và quan niệm đối nhân xử thế
Trang 11Trên thực tế, có không nhiều những tài liệu nghiên cứu trực tiếp về triết
lý nhân sinh của người dân Nam Bộ một cách hệ thống và tương đối hoàn chỉnh Những tài liệu trên đây bước đầu nhận diện những đặc trưng cơ bản về triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ, phản ánh tư duy và lối sống mang nét văn hóa đặc thù thể hiện trên một số lĩnh vực của đời sống Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa có tính nhất quán cao, do đó cũng chưa có hệ thống giải pháp đồng bộ để phát huy, phát triển các mặt ưu điểm trong triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ, nhất là ảnh hưởng của nó đối với vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng
Từ những kết quả nghiên cứu bước đầu nêu trên, chúng tôi kế thừa và tiếp thu có chọn lọc để tiếp cận nghiên cứu về “Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ”
Thực ra, đề cập về triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ, ngoài các bài nghiên cứu đã nêu ở trên, chúng tôi còn tìm thấy bài viết của Lê Quang
Hiền (2014), “Vài suy nghĩ về triết lý sống của người dân Nam Bộ”, Tập san Nghiên cứu văn hóa Đồng Nai và Cửu Long, (9) Trong đó, người viết đưa ra
một số nét đặc thù của con người Nam Bộ gồm: vì lợi ích con người; thực tiễn, thực dụng; coi trọng tương quan; năng động, sáng tạo; đoàn kết, đùm bọc nhau; dung hợp, hài hòa; yêu nước Để minh chứng cho tư duy, cách ứng xử mang nét đặc thù của người Nam Bộ, người viết đã lấy trường hợp của Nguyễn Đình Chiểu, Petrus Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản làm tiêu biểu Tuy nhiên, theo chúng tôi, giá trị học thuật của bài viết này không cao và chúng tôi cũng bác bỏ hoàn toàn những quan điểm cá nhân mà người viết đưa
ra Bởi vì, những quan điểm cá nhân của tác giả bày viết này mang yếu tố xuyên tạc hiện thực một cách có chủ ý Do đó, chúng tôi xác định loại bỏ bài viết này ngay từ đầu, đồng thời cảnh báo những ai tiếp cận với bài viết này,
dù với mục đích gì, cần hết sức tỉnh táo
Trang 123 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ biểu hiện triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử giúp hiểu rõ hơn đặc điểm tư duy và lối sống của người dân Nam Bộ, phần nào giải thích các vấn đề khúc mắc nảy sinh trong các mặt đời sống văn hóa -
xã hội hiện tại, góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập ở khu vực Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ
5 Giả thuyết khoa học
Hiểu đặc điểm tư duy và lối sống của người dân Nam Bộ được phản ánh qua triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử, xác định được những mặt ưu điểm để tiếp tục phát huy, những hạn chế để khắc phục sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực phục
vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển ở vùng đất Nam Bộ hiện nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn sự hình thành triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ;
Trình bày và phân tích các biểu hiện triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ;
Đánh giá những giá trị, hạn chế và đưa ra các giải pháp khuyến nghị để phát huy giá trị tích cực về triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay
Trang 137 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong vùng văn hóa Nam Bộ giai đoạn hiện nay; với chủ thể chính được đề cập là tộc người Việt
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích và tổng hợp, khái quát hóa, đối chiếu, so sánh… kết hợp sử dụng thêm tư liệu lịch sử, văn hóa học, văn học (thơ, truyện ngắn,
ca dao,…) để làm rõ các luận giải đề cập trong nội dung nghiên cứu
9 Luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
9.1 Các luận điểm chính của luận văn
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội đặc thù có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ
Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ với môi trường tự nhiên, tính chất hòa hợp và thích nghi có phần nổi trội hơn so với tính chất chế ngự và thống trị
Triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử giữa người với người của người dân Nam Bộ thể hiện đậm nét tinh thần trọng nghĩa, chân thành, giản
9.2 Đóng góp mới của luận văn
9.2.1 Về mặt lý luận
Cung cấp căn cứ lý luận, góp phần nâng cao nhận thức về lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt ở Nam Bộ, từ đó có cái nhìn
Trang 14tổng quát, toàn diện hơn về vùng đất Nam Bộ trên các lĩnh vực: lịch sử, tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là triết lý nhân sinh phản ánh tư duy
và lối sống của người dân Nam Bộ
9.2.2 Về mặt thực tiễn
Góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa trên vùng đất Nam Bộ Đặc biệt là góp phần cung cấp cơ sở khoa học về đặc điểm tư duy, lối sống, tâm lý, tính cách con người Nam Bộ cho việc đổi mới nhận thức, nội dung và phương pháp đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỰ HÌNH THÀNH
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HÓA ỨNG XỬ
CỦA NGƯỜI DÂN NAM BỘ
Trong đó, có điều kiện sống, có những thế ứng xử phù hợp Thông qua những
phương thức hoạt động khác nhau của ý thức, bao gồm lý trí, tình cảm, tâm linh mà khoa học, kĩ thuật, công nghệ, nghệ thuật, tín ngưỡng, tôn giáo, đạo đức, lối sống… ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, văn hóa được hình thành và phát triển
Văn hóa là sản phẩm của ý thức, xuất hiện và phát triển cùng với sự hình
thành và phát triển của xã hội loài người, làm cho con người trở thành người
và ngày càng người hơn Do đó, văn hóa trở thành một hiện tượng phổ biến
gắn liền với mọi mặt của đời sống, tạo nên sự phát triển toàn diện trong bản thân từng con người, bao gồm: thể lực, trí lực, tâm lực, mọi mối quan hệ với gia đình, xã hội, tự nhiên, ước mơ, lý tưởng, niềm tin…
Như vậy, khẳng định ý thức là nguồn gốc của sự hình thành, phát triển
văn hóa, là nguồn gốc cơ bản của sự hình thành, phát triển yếu tố người trong con người thì cũng có nghĩa là, nơi nào và lúc nào đang tồn tại sự vô
ý thức thì có thể sẽ dẫn đến tình trạng mất văn hóa Rõ ràng, ở đâu có sự
Trang 16tác động có ý thức của con người thì ở đó có văn hóa Vì vậy, quanh chúng
ta đâu đâu cũng có thể thấy sự tồn tại của văn hóa Tuy nhiên, văn hóa
không phải bản thân sự vật, hiện tượng cụ thể, mà là cái nằm bên trong sự vật, hiện tượng mang tính trừu tượng Do đó, muốn nói rõ cái nằm bên
trong mang tính trừu tượng như vậy là không đơn giản Thực tế, văn hóa là một khái niệm rộng, được xem xét dưới nhiều góc độ, rất khó để định nghĩa một cách nhất nghĩa
Có vô số cách định nghĩa khác nhau về văn hóa, với nhiều cách lý giải khác nhau Mỗi định nghĩa được hình thành trên cơ sở xem xét văn hóa thuộc một lĩnh vực cụ thể nhất định, mỗi định nghĩa vạch ra các phương diện riêng biệt của hiện tượng đa chiều đa khía cạnh này
Nguyễn Nghĩa Trọng, khi phân tích khái niệm văn hóa đã dẫn lại định nghĩa đã được nêu trong Từ điển Triết học, Nxb Chính trị, Matxcơva, 1972,
như sau: “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội; các giá trị ấy nói lên trình độ phát triển của lịch sử loài ngoài” [91, tr.8] Đồng thời trích
dẫn thêm quan điểm của Fedefico Maygor Zaragoza, nguyên Tổng giám đốc
UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại - Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [91, tr.8].
Phạm Xuân Nam, trong công trình nghiên cứu Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa - Một góc nhìn từ Việt Nam có nêu lại định nghĩa văn hóa trong Tuyên bố chung được thông qua tại Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa của UNESCO vào tháng 8-1982: “Theo nghĩa rộng nhất của nó, ngày nay văn hóa có thể được xem là toàn bộ phức thể những nét nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay
Trang 17một nhóm xã hội Nó không chỉ gồm nghệ thuật, văn học mà còn cả lối sống, các quyền cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” [48, tr.20].
Đào Duy Anh cho rằng: “Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất
cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt” [1, tr.13].
Phan Ngọc đưa ra quan điểm: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” [60, tr.17].
Trần Ngọc Thêm cho biết: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình” [77, tr.27].
Giáo sư Trần Quốc Vượng, trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam đã
nhắc lại quan điểm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về văn hóa như sau:
“Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [99, tr.21-22].
Trang 18Có thể thấy, tùy vào quan điểm và góc độ tiếp cận mà mỗi định nghĩa nhấn mạnh một khía cạnh nào đó của văn hóa Song, các định nghĩa đều cho
thấy bản chất của văn hóa chính là làm cho hành vi, cuộc sống của con người
đẹp hơn lên Và với ý nghĩa đó, có thể nói văn hóa, hiểu một cách bao quát chính là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, qua mối quan hệ giữa con người với con người, con người với môi trường tự nhiên và xã hội bằng ý thức và sự tự giác cao nhất của mình
Từ những phân tích trên đây, chúng tôi chọn cách hiểu về văn hóa theo
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp ở mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [45, tr.431] Quan điểm này
có phần cụ thể hơn, cho thấy nét nổi bật một trong những đặc trưng quan
trọng nhất của văn hóa là tính nhân sinh Hơn nữa, quan niệm này cũng khá
gần gũi với cách hiểu về văn hóa trong đời thường Theo đó, văn hóa được hiểu đơn giản là cách chúng ta sống, sinh hoạt, ứng xử nói chung Và vì thế,
sử dụng quan điểm này sẽ thuận tiện trong việc nghiên cứu của luận văn Bản thân văn hóa là một vấn đề phức tạp, vừa có tính bảo thủ, lại vừa liên tục thay đổi Sự chọn lựa khái niệm văn hóa như trên là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu và phân tích những vấn đề tiếp theo của luận văn
1.1.1.2 Văn hóa ứng xử
Ứng xử là từ ghép của hai từ ứng và xử Ứng là sự phản ứng, ứng phó,
đáp ứng, ứng biến Xử là xử sự, đối xử, xử thế, xử lý Như vậy, ứng xử trong
Trang 19các mối quan hệ của con người với tự nhiên, xã hội, với người khác và với chính bản thân mình là phản ứng của người đó trước mọi tác động trong tình
huống cụ thể Thế nên ông cha ta mới có câu đối nhân xử thế Trong truyền
thống văn hóa Việt, ông cha ta rất chú ý đến vấn đề giao tiếp ứng xử Những lời dạy được truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác như: lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau; học ăn, học nói, học gói, học
mở; ăn coi nồi, ngồi coi hướng;… cho thấy nét đẹp trong ứng xử luôn được
ông cha ta coi trọng giữ gìn
Văn hóa ứng xử theo quan niệm của Triệu Thùy Dương là “hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử, khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý… trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống, đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của
cá nhân, nhóm xã hội, toàn xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng, bản sắc của văn hóa một dân tộc, một quốc gia… được cá nhân, nhóm
xã hội, cộng đồng, toàn xã hội, thừa nhận và làm theo” [24, tr.34].
Ta thấy, ứng xử văn hóa của cá nhân phụ thuộc vào sự hiểu biết, kinh nghiệm và yếu tố văn hóa của xã hội mà cá nhân đó đang sống Đó là tập hợp thái độ, hành vi, lời nói thích hợp trong quan hệ giao tiếp giữa người với người, giữa người với thiên nhiên; là phản ứng của con người trước sự tác động của người khác hay môi trường tự nhiên trong tình huống cụ thể; là biểu hiện bản chất nhân cách của mỗi cá nhân thông qua ngôn từ, cử chỉ, thái độ, hành vi trước sự tác động của các yếu tố bên ngoài Thế ứng xử của con người không diễn ra một cách tùy tiện, ngẫu hứng ở mỗi cá nhân mà được lặp lại thường xuyên bởi nhiều người trong cả không gian lẫn thời gian, tạo thành những khuôn mẫu nhất định, thường gọi là khuôn mẫu ứng xử
Khuôn mẫu ứng xử là sự thống nhất về hành động và cảm nghĩ được
Trang 20thực hiện ở đa số người, là thế ứng xử được tổng quát hóa, tiêu chuẩn hóa, hợp thức hóa làm chuẩn mực phân biệt hành vi (ứng xử) chấp nhận được và hành vi không chấp nhận được trong cộng đồng Như vậy, ứng xử theo khuôn mẫu có thể xem là ứng xử có văn hóa Vì, khuôn mẫu ứng xử là sự khách thể hóa những kiến thức, tư tưởng, tình cảm đã được đạt, mong muốn đạt được và
đã được tiêu chuẩn hóa, hợp thức hóa trong một nền văn hóa nhất định Nói cách khác, khuôn mẫu ứng xử là yếu tố then chốt để làm căn cứ cho sự xếp loại, đánh giá cách ứng xử, và là những tiêu chuẩn trong các mối quan hệ để đảm bảo sự hiện tồn và phát triển của xã hội Vì thực tế, trong đời sống hằng ngày, trên cơ sở các quan hệ vật chất, các cá nhân và các nhóm xã hội phải ứng xử với nhau và ứng xử với tự nhiên theo những quy tắc nào đó để tồn tại
và phát triển Và trong vô số thế ứng xử đó, con người sẽ tổng quát hóa, tuyển chọn, điều chỉnh, bổ sung thành những khuôn mẫu, tức tiêu chuẩn hóa thế ứng
xử phù hợp để trở thành mô hình chung cho toàn xã hội
Như vậy, thế ứng xử của con người chứa đựng và phản ánh trí tuệ, tư duy và lối sống, yếu tố nhân văn được kết tinh trong đó Nó không phải là sự phản xạ tâm sinh lý đơn thuần mà nó có tính xã hội, vì thông qua ứng xử, bản chất văn hóa được bộc lộ Hay nói cách khác, tính chất và ý nghĩa văn hóa -
xã hội trong hành vi ứng xử của con người được hình thành khi văn minh phát triển ở một cấp độ nào đó nhằm diễn đạt cách ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên, xã hội và đối với chính mình
Từ các phân tích nói trên có thể thấy văn hóa ứng xử là một bộ phận cấu thành của văn hóa, là một thành tố của văn hóa tinh thần, thể hiện khía cạnh trí tuệ, triết lý sống và yếu tố nhân văn, phản ánh đời sống tình cảm của cá nhân và cộng đồng trong hoạt động thực tiễn Đó là hệ thống các hành vi nhằm thực hiện những khuôn mẫu kết tinh những giá trị và chuẩn mực mà cá nhân và cộng đồng hướng tới; là phương diện thể hiện nhân cách và bản chất
Trang 21con người trong hoạt động thực tiễn, gắn liền với trình độ văn hóa được tích lũy và kinh nghiệm xử lý các tình huống xảy ra trong thực tiễn xã hội
Như vậy, văn hóa ứng xử theo cách hiểu của chúng tôi là tập hợp các nét đẹp được thừa nhận về thái độ, hành vi ứng xử mang tính khuôn mẫu, thể hiện triết lý sống, lối suy nghĩ và hành động của cá nhân, cộng đồng người trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với
tự nhiên và xã hội được tiêu chuẩn hóa trở thành chuẩn mực phù hợp với đời sống, với đặc trưng của một cộng đồng xã hội Hay nói ngắn gọn, văn hóa
ứng xử là sự hiểu biết để từng bước làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm
chủ bản thân Trong đó, hiểu biết để làm người, hiểu biết xử sự và xử thế là
biểu hiện đẹp nhất của văn hóa ứng xử
1.1.1.3 Đặc điểm của văn hóa ứng xử
Từ cách hiểu về văn hóa ứng xử như trên, chúng ta có thể thấy văn hóa ứng xử có những đặc điểm sau:
- Tính giá trị: văn hóa ứng xử miêu tả những hành vi được chấp nhận hay
không được chấp nhận trong xã hội Tính giá trị để phân biệt giữa giá trị với phi giá trị, là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người.
- Tính cộng đồng xã hội: văn hóa ứng xử không thể tồn tại do chính bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại, củng cố và vun đắp của mọi thành viên trong xã hội Tính xã hội quy định sự phổ quát chung các khuôn mẫu ứng xử mang tính chuẩn mực, được cộng đồng xã hội thừa nhận
và tôn trọng, cung cấp mọi phương diện cần thiết để mỗi cá nhân ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội
- Tính nhân sinh: tính nhân sinh cho phép phân biệt ứng xử như một hiện tượng xã hội với các giá trị tự nhiên Do có tính nhân sinh, văn hóa ứng xử trở thành sợi dây nối liền con người với con người, liên kết các thành viên trong cộng đồng xã hội lại với nhau
Trang 22- Tính địa phương (vùng, miền): văn hóa ứng xử phản ánh nếp suy nghĩ
và cảm nhận của cộng đồng cư dân mỗi vùng, miền mà người thuộc vùng, miền khác không dễ gì thấu hiểu hết được Nhưng tính địa phương không trái với tính dân tộc Dân tộc là một cộng đồng, cố kết với nhau ở giai đoạn dân tộc (quốc gia) được hình thành Những sắc thái địa phương có nét riêng và nét chung đều hợp lại với nhau và nâng lên thành sắc thái dân tộc, bảo lưu cái riêng mà tôn thêm cái chung
- Tính lịch sử: do văn hóa ứng xử là sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ cho nên nó mang tính lịch sử cao và tương đối bền vững Tính lịch sử tạo cho văn hóa ứng xử có bề dày và chiều sâu Chính vì vậy, những quan niệm trong văn hóa ứng xử không dễ gì phá bỏ được trong một sớm một chiều dù cho bối cảnh xã hội có đổi thay
- Tính kế thừa và tiến hóa: văn hóa ứng xử là sản phẩm của một quá trình, được tích lũy qua nhiều thế hệ, mỗi một thế hệ đều kế thừa lại di sản của thế hệ trước, bổ sung thêm cái mới của thế hệ mình để tiếp tục truyền lại cho thế hệ tiếp theo Theo thời gian, những cái mới được bổ sung, những cái
cũ có thể bị điều chỉnh, loại trừ và tạo nên phong cách ứng xử mang tính quảng đại, phù hợp với tình hình mới và trình độ mới
- Tính chủ quan: đặc điểm này thể hiện ở chỗ, ở cùng một sự việc, hiện tượng, cư dân ở mỗi vùng văn hóa khác nhau có cách suy nghĩ và đánh giá khác nhau Có sự việc, hiện tượng được chấp nhận ở nơi này nhưng không được chấp nhận ở xứ khác
- Tính khách quan: văn hóa ứng xử phản ánh nếp suy nghĩ và cảm nhận chủ quan của từng cộng đồng, mỗi dân tộc nhưng lại có cả một quá trình hình thành mang tính lịch sử - xã hội không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Ngay khi con người biết sống thành bầy đàn, tuân theo một kỷ luật nhất định là đã hình thành một tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu)
Trang 23chi phối cách ứng xử và sự giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cộng đồng
ấy có đặc thù riêng Chính vì vậy, các chuẩn mực văn hóa ứng xử tồn tại khách quan ngay cả với những thành viên trong một cộng đồng, chỉ có thể học hỏi, chấp nhận chứ không thể biến đổi chúng theo ý muốn chủ quan
- Tính cụ thể: lịch sử không bao giờ lập lại y như nó đã từng diễn ra Vì vậy, mỗi cách ứng xử chỉ áp dụng cho từng hoàn cảnh, tình huống cụ thể nhất định, không có thế ứng xử nào gọi là vạn năng Do đó, con người ngoài vốn văn hóa có được từ nơi mình sinh ra và lớn lên, còn có thể và phải học hỏi, tiếp thu thêm vốn văn hóa mới từ nơi khác để thích ứng, hợp tác, tồn tại và phát triển
1.1.2 Khái niệm triết lý nhân sinh và nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh
1.1.2.1 Triết lý
Trong Hán Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh, triết lý được hiểu là
“Đạo lý về triết học” [3, tr.863] Trong Từ điển tiếng Việt của Việt Ngôn ngữ học, triết lý được hiểu theo hai nghĩa: một là “Lí luận triết học”; hai là “Quan niệm chung của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội” [94, tr.1069].
Đề cập về triết lý trong bài nghiên cứu “Triết lý nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tác phẩm Bạch vân quốc ngữ thi tập”, PGS.TS Nguyễn Thị
Thọ nêu lại định nghĩa triết lý của GS Hoàng Trinh như sau: “Triết lý là những nguyên lý đầu tiên, những tư tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân, làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày… có những dân tộc đã có những triết lý từ lâu mặc dầu chưa có triết học với hệ thống khái niệm của nó” [84, tr.13] Đồng thời, PGS.TS Nguyễn Thị Thọ cho rằng: “Hầu như, tất cả mọi quốc gia, dân tộc trong tiến trình lịch sử lâu dài của mình thường bao giờ cũng có ít hoặc
Trang 24nhiều những bộ óc thông thái thuộc các lĩnh vực khác nhau đó là nhà văn, nhà thơ, nhà sử học, nhà hoạt động chính trị xã hội,… và cả những trí thức bình dân thông tuệ Ở những giai đoạn phát triển của lịch sử, triết lý là sự suy ngẫm, đúc kết, tổng kết những điều cơ bản nhất về các mối quan hệ trong đời sống thực tế, mọi mặt của cộng đồng, sự chiêm nghiệm rút ra những quy luật khách quan của tự nhiên, phục vụ cho thực tiễn của đời sống” [84, tr.14].
Dân tộc Việt Nam có triết lý, và có cả triết lý bình dân Nền triết lý bình dân ấy không khác về nội dung so với triết bác học của những nhà tư tưởng có
bộ óc thông thái, mà chỉ khác về trình độ và ngôn ngữ (nói đúng hơn là phương thức diễn đạt) Vì sao nói như vậy? Vì triết lý bình dân của dân tộc Việt Nam tìm cái phi thường trong những cái rất bình thường Chỉ bằng chiếc bánh chưng bánh giày rất bình thường và quen thuộc mà người Việt Nam có thể diễn đạt được cả đạo trời, đạo đất, đạo người Đó chính là khả năng diễn đạt cái phi thường bằng những cái rất bình thường mà không cần dùng đến từ ngữ lý luận bác học Đó là giá trị ẩn sâu rất khó để nhận ra nếu chỉ lướt qua,
vì nó là triết lý của sự chiêm nghiệm, thấu hiểu và nhập thế một cách sâu sắc Cũng giống như học triết là việc ai cũng có thể làm được nhưng để diễn đạt kiến thức triết học bằng lời lẽ giản dị, đơn sơ hoặc bằng những hình tượng gần gũi thì rất ít người làm được
Triết lý là hình thức biểu hiện cho sự tư duy có ý thức của con người về các khía cạnh của đời sống xã hội, về các quy luật thường hằng trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội Triết lý được rút ra từ quá trình
tư duy có ý thức đó phản ánh cái bản chất, chân lý và những giá trị cốt lõi trong các mối quan hệ mà con người bắt gặp hàng ngày Đó là những tri thức, quan điểm, tình cảm của con người hình thành một cách trực tiếp trong hoạt động thực tiễn Nó là một hình thái ý thức xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử thì ý thức xã hội nảy sinh
Trang 25từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội, mà triết lý là một hình thái ý thức
xã hội, vậy triết lý được nảy sinh từ tồn tại xã hội và là sự phản ánh tồn tại xã hội của con người Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng khẳng định tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, đồng thời thừa nhận ý thức xã hội có tác động trở lại tồn tại xã hội, có nghĩa là thừa nhận tác dụng tích cực của ý thức xã hội trong đời sống xã hội Như vậy, triết lý với vai trò là một hình thái
ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và có tác động trở lại tồn tại xã hội Tác dụng tích cực của triết lý trong đời sống xã hội là định hướng cho con người
về lối sống, cách sống, cách ứng xử, lối suy nghĩ và hành động để giải quyết một cách đúng đắn các mối quan hệ của hoạt động thực tiễn trong những hoàn cảnh nhất định
Đối với người Việt Nam, triết lý cũng có nghĩa là đạo lý Người Việt thường bảo nhau cái “đạo lý ở đời” là phải như thế này như thế kia, đạo làm
cha, đạo làm con, đạo vợ chồng,… và phải sống sao cho phải đạo Những đạo
lý để khuyên răn, dẫn lối cho con người trong cuộc sống chính là triết lý được đúc kết từ quá trình suy ngẫm, chiêm nghiệm của nhiều thế hệ Những đạo lý
ấy thể hiện quan điểm tư tưởng, tình cảm phổ biến trong cộng đồng xã hội, được chứng minh tính đúng đắn bằng chính thực tiễn đời sống xã hội nên được chấp nhận một cách tự nhiên của đại đa số
Đến đây chúng ta có thể tạm kết luận rằng, triết lý là những quan niệm
cơ bản, cốt lõi nhất về cuộc sống được đúc kết từ sự tư duy, suy ngẫm, chiêm nghiệm trong hoạt động thực tiễn đa dạng của con người trong xã hội, thể hiện quan điểm tư tưởng, tình cảm của một cộng đồng, khẳng định những chân giá trị và có tác dụng định hướng cho cách ứng xử, phương châm sống, suy nghĩ và hành động của con người trong đời sống xã hội.
1.1.2.2 Triết lý nhân sinh
Trong Hán Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh, nhân sinh là “Đời
Trang 26người” [3, tr.532]; nhân sinh quan là “Cái quan niệm của người ta đối với đời người Cái người ta xem đời người ra thế nào” [3, tr.533] Còn trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì nhân sinh là “Cuộc sống của con người” [94, tr.738]; nhân sinh quan là “Quan niệm thành hệ thống về cuộc đời, về ý nghĩa, mục đích cuộc sống của con người” [94, tr.738] Như vậy, triết lý nhân
sinh là triết lý về đời người hay triết lý về cuộc sống của con người
Nói về triết lý nhân sinh, PGS.TS Trần Đăng Sinh cho rằng: “Triết lý nhân sinh là quan điểm, quan niệm của con người về chính con người và cuộc sống của họ, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người, là sự định hướng, phương châm hành xử của con người trong cuộc sống” [70, tr.275] Đồng thời khẳng định: “Những hoạt động của con người mang giá trị văn hóa đều bị chi phối bởi nhân sinh quan” [70, tr.275].
Cùng nói về triết lý nhân sinh, PGS.TS Lê Văn Đoán đưa ra quan điểm:
“Triết lý nhân sinh là quan niệm chung và sâu sắc nhất của con người về cuộc sống, về mối quan hệ và cách ứng xử giữa người với người trong đời sống từ gia đình cho đến ngoài xã hội” [19, tr.321].
PGS.TS Nguyễn Thị Thọ đúc kết về triết lý nhân sinh như sau: “Triết lý nhân sinh là những quan niệm, quan điểm chung của một người, một cộng đồng người trong việc xem xét mọi mặt của cuộc sống, là những quan niệm của con người về cuộc sống, là tâm tư tình cảm, ước mơ, khát vọng, lý tưởng sống của con người” [84, tr.15].
Xem xét những khái niệm về triết lý nhân sinh qua các quan điểm nêu trên có thể nhận thấy, dù cách diễn đạt có khác nhau nhưng nhìn chung đều
khẳng định triết lý nhân sinh là những quan niệm của con người về cuộc sống,
đều nhấn mạnh đến cách ứng xử của con người trong cuộc sống tồn tại các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên và xã hội phải được giải quyết một cách đúng đắn, hài hòa
Trang 27Nếu đã nói triết lý có vai trò định hướng ngược trở lại đối với cuộc sống cũng như trong hoạt động thực tiễn, thì triết lý nhân sinh cũng có vai trò tương tự Cụ thể là vai trò định hướng cho cuộc sống con người tốt hơn, vạch
ra phương châm, lý tưởng sống và lối sống đẹp Bản thân lý tưởng đã là một quan niệm về cái cần phải có, do đó, lý tưởng là hình ảnh về cái hoàn hảo, mặc dù lý tưởng là hình ảnh tưởng tượng có thể không đạt tới mức độ đầy đủ của nó nhưng chức năng của lý tưởng vẫn thể hiện trước hết ở chỗ con người hướng tới nó, coi nó là định hướng, lấy nó làm mục tiêu phấn đấu, và vì thế lý tưởng là khuôn mẫu cho phép tạo lập cuộc sống
Hơn nữa, nếu khẳng định những hoạt động của con người mang giá trị văn hóa đều bị chi phối bởi nhân sinh quan theo quan điểm của PGS.TS Trần Đăng Sinh thì cũng có nghĩa là, để trở thành con người như một thực thể văn
hóa thật sự thì không chỉ dừng lại ở nhận thức mà còn phải sống, phải hiện sinh một cách có tính người nhờ niềm xác tín tinh thần nhân văn của loài người thông qua giáo dục ở gia đình, nhà trường, xã hội Như vậy, triết lý nhân sinh không chỉ đóng vai trò định hướng cuộc sống, xác định phương châm, lý tưởng sống mà còn có chức năng giáo dục tích cực về tinh thần nhân văn của loài người
Tóm tại, triết lý nhân sinh là những quan niệm, quan điểm mang tính định hướng của con người về cuộc sống, về mối quan hệ của con người với gia đình, xã hội và môi trường tự nhiên Triết lý nhân sinh có tác động to lớn
đối với đời sống con người; nó là niềm tin, lý tưởng, phương châm sống của con người, là mục tiêu hướng tới trong mọi hoạt động sống của con người nhằm làm cho bản thân và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn
1.1.2.3 Nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh
Từ những phân tích nói trên cho thấy, những quan niệm về luân lý, đạo đức để định hướng giá trị và định hướng hành động cho con người trong xã
Trang 28hội là nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh, nhằm trả lời cho các câu hỏi:
“Lẽ sống của con người là gì? Mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng?” [19, tr.321].
Con người và mỗi cộng đồng xã hội, nhất là cộng đồng dân tộc, bao giờ cũng sống trong một môi trường thời gian và không gian nhất định, luôn phải tiếp thu, phản ứng lại với các hiện tượng chung quanh Để tồn tại, con người
và cộng đồng dân tộc phải biết xử trí thế nào để thích ứng, sống còn, chiến đấu và phát triển Triết lý nhân sinh là lợi khí trên suốt chặng đường đó, nó thực sự là bộ môn giáo dục không sách vở để rèn luyện con người từ lúc nằm nôi đến khi xuống mộ
Nội dung cơ bản của bộ môn giáo dục ấy là gì? Hẳn nhiên là lẽ sống; là mục đích, ý nghĩa, giá trị cuộc sống của con người Lẽ sống ở đây là lý tưởng làm người; làm người có mục đích, có ý nghĩa, có giá trị
Mọi bậc ông bà, cha mẹ dù có học vấn hay không đều muốn dạy con cháu mình nên người “Người” ở đây là tự biết lao động mà sống, nuôi thân
và cung ứng cho xã hội; là ăn ở hiền lành, có tình nghĩa thủy chung, biết kính trên nhường dưới, biết đùm bọc họ hàng, biết giúp đỡ làng xóm và yêu thương đồng loại “Người” còn phải là khỏe mạnh chân tay để đủ sức ứng phó với thiên nhiên nghiệt ngã; có tinh thần tôn trọng chính nghĩa, phân biệt đúng sai, tốt xấu; và cuối cùng là phải biết yêu mến quê hương, bảo vệ nước nhà khi giặc giã xâm lấn
Chính cái lý tưởng làm người được giáo dục sẽ chỉ đạo mọi suy nghĩ, cách thức hành động, ứng xử của con người trong quá trình sinh tồn và phát triển, giúp con người có được bản lĩnh và những đức tính tốt đẹp để sống cho xứng đáng Tất cả nội dung giáo dục đó, nội dung nền tảng của “đạo làm người” trong cuộc đời, có thể tìm thấy ở triết lý nhân sinh, thứ triết lý chủ trương tìm “đạo” ngay trong đời sống con người, trong những việc thường
Trang 29nhật, gần gũi và cụ thể, mà nội dung của nó biểu hiện nhu cầu, lợi ích, khát vọng, mong ước, hoài bão của con người trong mỗi hoàn cảnh xã hội cụ thể Hay nói ngắn gọn, nội dung cốt yếu của triết lý nhân sinh là quan điểm về đạo làm người trong cuộc đời; quan điểm về lẽ sống, cách sống ở đời
Thật có ý nghĩa khi Édouard Marie Herriod (1872 - 1957), cố Nghị
trưởng, đồng thời là Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Pháp nói rằng: “Văn hóa
là thứ còn lại khi ta quên đi tất cả và là thứ vẫn còn thiếu khi ta đã học tất cả” [39] Nghe qua có vẻ nghịch lý nhưng lại rất xác đáng
Nếu văn hóa là yếu tố cốt lõi hình thành cộng đồng dân tộc thì triết lý nhân sinh là yếu tố cơ bản định hướng tư duy, cách giao tiếp, ứng xử tạo nên
sự tồn tại của cộng đồng dân tộc đó Văn hóa có sức sống, lan tỏa, trường tồn dài lâu và bền bỉ qua thời gian Nó là yếu tố đầu tiên, cơ bản và tối quan trọng làm nên tinh thần của con người, tinh thần dân tộc, và là yếu tố duy nhất ở lại với con người trên bước đường tương lai Con người ta có thể đánh mất nhiều thứ trong đời nhưng còn văn hóa là còn hy vọng Con người ta có thể quên đi nhiều thứ nhưng không thể quên văn hóa dân tộc, cái “gốc” (bản sắc) phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác; là cái nhận dạng chúng ta là ai? Chúng
ta như thế nào? Cũng như cộng đồng người Việt ở nước ngoài không thể quên được nước mắm vậy! Đó chính là cái còn lại sau khi đã quên đi tất cả
Văn hóa là quá trình nhân loại hóa con người Từ thực tiễn cuộc sống, con người được học rất nhiều điều, nhưng vốn văn hóa tri thức và tinh thần của nhân loại luôn là điều con người cảm thấy thiếu hụt và chắc chắn là không bao giờ học hết được Người có văn hóa là người có tri thức và nhân cách Nhân cách là cái quan trọng mà một người dù được nhồi nhét nhiều tri thức chưa chắc đã có được, bởi vậy ở một người, trình độ học vấn không đồng nghĩa với trình độ văn hóa, có những người trình độ học vấn cao nhưng vốn văn hóa làm người lại thấp kém Đó là cái vẫn thiếu khi đã học tất cả Bởi
Trang 30vậy, trong xã hội, địa vị con người có thể phân biệt thấp cao nhưng nhân cách không thể phân biệt sang hèn
Người có văn hóa là người đặt vấn đề xuất hiện ra sao, đối nhân xử thế như thế nào, từ cách giáo tiếp, ứng xử, ăn uống, lao động và sinh hoạt Chính cách đặt vấn đề trước lối sống làm người như vậy là sự khác biệt căn bản nhất giữa con người với cầm thú Văn hóa đã nuôi dưỡng nhân tính và giúp cho nhân tính rời xa thú tính Động vật vô văn hóa vì chúng sống một cách tự nhiên, phó mặc Con người không như vậy, con người sống có lý tưởng, có mục đích và luôn tự hỏi sống sao cho có giá trị, có ích, có phẩm giá để tỏ rõ nhân cách Đến đây, ta thấy có sự tương đồng giữa cách đặt vấn đề của con
người văn hóa với các câu hỏi lẽ sống của con người là gì? Mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng trong nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh
Như vậy, vì lẽ sinh tồn mà con người tạo ra văn hóa Đến lượt mình, văn hóa dạy cách làm người, không có văn hóa con người không được gọi là người Mà đạo làm người là một nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh, thì
con người sống cuộc đời văn hóa chính là đã thực hiện nội dung của triết lý
nhân sinh - triết lý làm người
1.2 Cơ sở thực tiễn - những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ
Có hai yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự hình thành triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ Đó là điều kiện tự nhiên, kinh
tế, văn hóa - xã hội và lối sống Trong hai yếu tố đó, điệu kiện tự nhiên, kinh
tế, văn hóa - xã hội là yếu tố quan trọng hơn cả
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội
Nói điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người
Trang 31dân Nam Bộ, vì xét cho cùng thì triết lý là một hình thái ý thức xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội của con người Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, ý thức xã hội phụ thuộc vào tồn tại xã hội,
do tồn tại xã hội quyết định
Điều đó cũng có nghĩa là, sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, mà ở đây là của người dân Nam Bộ, có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của họ Nói cách khác, sự hình thành triết lý nhân sinh trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ chịu ảnh hưởng mang tính quyết định bởi điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội
1.2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế
Trước hết phải khẳng định rằng, Nam Bộ từ lâu đã là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, được xây dựng và bảo vệ bởi nhiều thế hệ người Việt Nam (trong ý nghĩa của cộng đồng đa dân tộc) suốt hơn 300 năm với biết bao công sức, mồ hôi và cả máu Vì vậy, nói đến Nam Bộ là nói đến vùng đất của những giá trị thiêng liêng
Về vị trí địa lý, Nam Bộ là phần lãnh thổ cực Nam của Tổ quốc Việt
Nam, bao gồm: Đông Nam Bộ với các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh; và Tây Nam
Bộ với các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, thành phố Cần Thơ Vùng đất Nam Bộ nằm trong lưu vực của hai dòng sông Đồng Nai và Cửu Long; có ba mặt Đông, Nam và Tây Nam giáp biển, lại nằm
ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á (khu vực tiếp giáp các tuyến giao thương hàng hải quốc tế sầm uất)
Về điều kiện tự nhiên, vùng đất Nam Bộ là kết quả bồi đắp phù sa của
hai hệ thống sông Đồng Nai và Cửu Long trong nhiều thế kỷ Phần lớn là
Trang 32đồng bằng, ít đồi núi, trừ vùng Tây, Tây Bắc của Đông Nam Bộ và Tây Nam của Tây Nam Bộ có một vài dãy núi, đồi thấp Khí hậu mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều; trong năm chia làm hai mùa mưa - nắng rõ rệt; ít thiên tai, bão lụt so với các vùng miền khác Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, mang lại lưu lượng phù sa lớn; đất đai thoáng rộng, màu mỡ, phì nhiêu Tài nguyên thiên nhiên phong phú, có sông, có núi, có biển, có rừng, có đồng bằng mênh mông; động vật, thực vật vì thế mà đa dạng về chủng loại, dồi dào về sản lượng
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Nam Bộ đã sớm có nền kinh tế nông
nghiệp phát triển Võ Văn Sen đã viết: “Từ cuối thế kỷ XVIII, Nam Bộ đã trở thành vựa lúa lớn của nhiều phủ phía ngoài của xứ Đàng Trong và bắt đầu xuất khẩu lúa gạo sang Philippine, Campuchia, Trung Quốc… Nhiều thương cảng nổi tiếng đã hình thành như Bãi Xàu (Sóc Trăng), Cù lao Phố (Biên Hòa), Hà Tiên, Sài Gòn…” [69, tr.74] Nói thiên nhiên ưu đãi cho Nam Bộ có
được nền nông nghiệp trù phú như vậy là đúng nhưng chưa đủ Thiên nhiên Nam Bộ buổi đầu mới khai phá không phải chỉ toàn thuận lợi, Sơn Nam đã
viết: “Miền Nam là phần đất cay nghiệt, đã từng chôn vùi hoàn toàn hoặc làm ngưng đọng bao nền văn hóa” [57, tr.26] Thực tế thì các tộc người thiểu
số cư trú ở Nam Bộ đã từng bỏ trống đại bộ phận địa bàn trong suốt nhiều thế
kỷ từ sau khi nền văn hóa Óc Eo tàn lụi vào cuối thế kỷ VI Chỉ sau khi lưu dân người Việt nối tiếp nhau tiến vào Nam Bộ, cùng nhau khai khẩn, đào kênh, canh tác, định cư, buôn bán, vùng đất hoang vu rộng lớn này mới dần biến thành những vùng nông nghiệp trù phú
Người Việt, sau hàng ngàn năm khai phá đồng bằng ở Bắc Bộ, Trung
Bộ, họ đã trở thành cư dân nông nghiệp điển hình, rất sở trường trong trong việc hoán cải những đồng bằng châu thổ sình lầy thành ruộng đồng tươi tốt, rất sở trường trong việc lấn biển và khai thác thủy sản gần bờ Chỉ có một cộng đồng cư dân có truyền thống văn minh nông nghiệp như vậy mới có thể
Trang 33tìm thấy trên vùng đất Nam Bộ một sự ưu đãi của thiên nhiên, tìm thấy ở nơi đây môi trường có thể phát triển đến mức tối đa truyền thống nông nghiệp lúa nước mà họ đã khởi tạo ở vùng đất bản quán, cũng như truyền thống ngư nghiệp, lâm nghiệp mà họ đã tiếp biến và sáng tạo ở đồng bằng Nam Trung
Bộ Khai thác điều kiện tự nhiên ở vùng đất Nam Bộ là cả một quá trình, lắm
mồ hôi và cả xương máu
Bên cạnh điều kiện tự nhiên thuận lợi để tạo dựng một nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, Nam Bộ còn có vị trí địa lý đặc biệt để vùng đất này sớm trở thành trung tâm kinh tế với những hoạt động thương mại sầm uất, từ đó sớm hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa Về điều này, Võ Văn Sen
đã viết: “Khác với nhiều vùng khác ở nước ta, ở Nam Bộ đã sớm hình thành
và phát triển nền kinh tế hàng hóa như một động lực hữu hiệu cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa vùng Trước khi người Pháp đến, trong vòng hơn hai thế kỷ (thế kỷ XVII - giữa thế kỷ XIX) những cư dân người Việt hợp cùng các dân tộc khác như Khmer, Hoa, Chăm… đã tạo nên một phức thể văn hóa nông nghiệp ở Nam Bộ với những quan hệ giao lưu, trao đổi hàng hóa khá sớm” [69, tr.73].
Vị trí đặc biệt là ở chỗ, Nam Bộ có sự kết hợp giữa đất liền và biển đảo, lại nằm trên tuyến đường biển quốc tế sầm uất, thuận lợi cho sự giao lưu kinh
tế - văn hóa giữa vùng đất Nam Bộ với các quốc gia, vùng lãnh thổ trong khu
vực cũng như trên thế giới Sơn Nam ghi nhận điều này như sau: “Xưa kia, tại đồng bằng sông Cửu Long đã mọc lên vương quốc Phù Nam Vương quốc này phồn thịnh nhờ làm trung gian thương mãi giữa vài nước Đông Nam Á; còn lưu lại vài đồng tiền vàng La Mã, có thể làm giả thuyết cho sự liên lạc giữa phương Tây và miền Nam từ thế kỷ thứ III, cách đây 1.600 năm”[57;26]
Như vậy, Nam Bộ từ khi bắt đầu có sự sống của con người đã xác lập các mối quan hệ kinh tế và văn hóa với các nước láng giềng trong khu vực Đông Nam
Trang 34Á, rồi mở rộng ra cả phương Đông lẫn phương Tây
Người Việt từ miền Bắc, miền Trung di cư vào Nam Bộ, từ bỏ cuộc sống khép kín sau lũy tre làng mà chấp nhận đối mặt với hiểm nguy để dấn thân vào vùng đất mới xa xôi Đến đây, đứng trước điều kiện tự nhiên rộng mở, họ dồn công sức, mồ hôi để khai phá đất hoang thành đồng ruộng, định cư, lập làng sinh sống; hội tụ, giao lưu, trao đổi kinh tế - văn hóa với những tộc người khác, và với cả nước ngoài đã hình thành nơi họ tư duy và lối sống linh động, vượt ra khỏi cái vòng lẩn quẩn tự cung, tự cấp mà bước sang tư duy sản xuất
hàng hóa Như Võ Văn Sen đã viết: “chưa thể định lượng một cách chính xác mức độ phát triển của kinh tế hàng hóa lúc bấy giờ và những tác động của nó đối với cư dân vùng đất này, nhưng ta có thể nói rằng, trước khi người Pháp đến chính sự phát triển của kinh tế hàng hóa đã mở rộng tầm mắt của người nông dân ra khỏi xóm làng, kích thích họ sản xuất, tăng năng suất, biết gắn sản xuất với thị trường” [69, tr.74].
Như vậy, so với các vùng miền khác trong cả nước, Nam Bộ có vị trí và điều kiện tự nhiên thuận lợi để tạo dựng một nền kinh tế dồi dào, phong phú, nông nghiệp từ lâu đã trở thành vựa lúa lớn, giao lưu thương mại và kinh tế hàng hóa sớm phát triển, Sài Gòn với vị trí thuận lợi cho tàu bè nước ngoài vào cập bến đã sớm trở thành trung tâm thương mại thịnh hành, mang lại lợi ích cho cả vùng đồng bằng rộng lớn Những điều kiện về tự nhiên, kinh tế này vừa phát huy nền văn hóa truyền thống mà các thế hệ lưu dân người Việt mang theo, vừa quy định cách thức mà họ chọn lựa để thích nghi, ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội để tồn tại, phát triển
1.2.1.2 Đặc điểm về văn hóa - xã hội
Để tìm hiểu đặc điểm văn hóa vùng đất Nam Bộ trước hết cần xác định văn hóa vùng là gì Theo Trần Ngọc Thêm, khái niệm văn hóa vùng được
hiểu theo hai nghĩa: “Theo nghĩa rộng, văn hóa vùng là văn hóa của cộng
Trang 35đồng cư dân sinh tồn trên phạm vi một không gian giới hạn bởi tiêu chí hành chính, địa lý, kinh tế, văn hóa hoặc một tiêu chí bất kì nào khác Theo nghĩa hẹp, văn hóa vùng là văn hóa của cộng đồng cư dân sinh tồn trên phạm vi một không gian có sự thống nhất về những đặc trưng văn hóa; nói cách khác, văn hóa vùng là văn hóa của một vùng văn hóa” [79, tr.37].
Như vậy, Nam Bộ là một vùng văn hóa Vùng văn hóa theo Trần Ngọc
Thêm “…thường được định nghĩa như một khu vực địa lý mà trong đó các cộng đồng cư dân khác nhau hoặc các nền văn hóa khác nhau có những đặc trưng văn hóa giống nhau, có cùng một kiểu phương thức hoạt động, hoặc có cùng một định hướng văn hóa chủ đạo như nhau” [79, tr.38].
Giáo sư Trần Quốc Vượng đưa ra luận điểm: “Có con người, có dân là có văn hóa và văn hóa dân gian” [97, tr.453] Nếu kiên trì theo luận điểm này thì
cơ sở văn hóa trên vùng đất Nam Bộ không chỉ dừng lại ở chiều dài hơn 300
năm Tạm cho rằng, Nam Bộ “là vùng đất mới có lịch sử hình thành và phát triển bắt đầu từ đầu thế kỷ XVII với việc lưu dân người Việt ở vùng đất Thuận - Quảng đến xứ Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) khai khẩn đất hoang, lập ra những làng người Việt đầu tiên trên vùng đất Nam Bộ” [25, tr.27]
Song, nền văn hóa bản địa trên vùng đất Nam Bộ ngày nay đã hình trước đó rất nhiều thế kỷ
PGS.TS Trần Thị Mai cho rằng: “Có thể khái quát tiến trình vận động, phát triển của lịch sử Nam Bộ qua các thời kỳ kế tiếp nhau: Thời kỳ tiền sử (khoảng 4 - 5000 năm cách nay đến đầu công nguyên) với đỉnh cao là văn hóa Đồng Nai => Thời kỳ Phù Nam (thế kỷ I - VII) với nền văn hóa Óc Eo phát triển rực rỡ => Thời kỳ bị Chân Lạp đô hộ (thế kỷ VII - XVII), Nam Bộ lâm vào cảnh hoang vu ngự trị => Thời kỳ Đại Việt (thế kỷ XVII - XIX) gắn với công cuộc khẩn hoang và xác lập chủ quyền của người Việt => Thời kỳ cận đại và hiện đại (1858 đến nay) gắn liền với các cuộc chiến tranh giải
Trang 36phóng dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam mới” [44, tr.39-40].
Như vậy, con người đã xuất hiện trên vùng đất Nam Bộ từ rất sớm
“Khảo cổ học đã chứng minh từ cách đây hàng chục vạn năm, trên vùng đất Nam Bộ đã có người sinh sống” [25, tr.13] Mà nếu có con người, có dân là
có văn hóa và văn hóa dân gian, thì nền văn hóa bản địa trên vùng đất Nam
Bộ đã được hình thành từ rất lâu đời
Tuy nhiên, tiến trình lịch sử của vùng đất Nam Bộ có những nét khác
biệt so với những vùng miền khác Như GS Trần Quốc Vượng đã viết: “Nếu như Trung Bộ, Bắc Bộ là những vùng lịch sử phát triển liên tục thì Nam Bộ trong sự phát triển lịch sử, lại trải qua sự đứt gãy Sau sự biến mất của nền văn hóa Óc Eo vào cuối thế kỷ VI, vùng Nam Bộ rơi vào tình trạng hoang vu hiểm trở” [99, tr.267] Từ thế kỷ thứ VII - XVI, “vùng đất Nam Bộ trên danh nghĩa bị đặt dưới quyền kiểm soát của Chân Lạp, nhưng trên thực tế việc cai quản vùng đất này đối với Chân Lạp gặp nhiều khó khăn Trước hết, với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao, dân số còn ít ỏi, người Khmer khi đó khó có khả năng tổ chức khai thác trên quy mô lớn một vùng đồng bằng mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy” [25, tr.23] Từ đầu thế kỷ XVII
trở đi, người Việt vào đất Nam Bộ khai khẩn, lập nghiệp, phát triển ngày một đông qua sự kết thân giữa các vua Chân Lạp và các chúa Nguyễn (khởi đầu là
sự kiện vua Chey Chetta II xin cưới công chúa Ngọc Vạn, con gái của chúa Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên)
Cùng với các lưu dân người Việt, vào nửa sau thế kỷ XVII, có thêm các đợt di dân của người Hoa (di thần phản Thanh phục Minh) cũng tìm đến vùng đất Nam Bộ lập nghiệp, buôn bán Về vấn đề này, Nguyễn Hữu Hiếu cho biết:
“Ở Biên Hòa, Trần Thượng Xuyên tập trung người Hoa thành lập Đại phố châu (tức Cù lao Phố) ở giữa sông Đồng Nai, thu hút người Âu, người Nhật, người Mã Lai,… đến buôn bán kinh doanh ngày một phồn thịnh, trở thành
Trang 37một trung tâm trao đổi mua bán lớn ở Nam Bộ cho đến ngày Tây Sơn vào Còn ở Mỹ Tho, họ tỏa ra nhiều nơi ra sức phá rừng làm ruộng, cất phố, lập chợ thu hút nhiều người Việt, người Khmer, Đồ Bà (Java)… đến kinh doanh, mua bán hình thành Mỹ Tho đại phố” [31, tr.3].
Như vậy, vùng văn hóa Nam Bộ được hình thành và phát triển với điều kiện giao lưu văn hóa hết sức đa dạng Nơi mà người Việt cùng chia sẻ không gian văn hóa với người Chăm, Khmer, Hoa và các tộc người khác; sau đó là tiếp xúc với văn hóa phương Tây và các nước Đông Nam Á, làm cho văn hóa Việt ở Nam Bộ mang sắc thái mới, vừa tương đồng vừa khác biệt với văn hóa Việt ở miền Bắc, miền Trung Nói cách khác, văn hóa Nam Bộ là phần mở rộng của không gian văn hóa Việt trên vùng đất mới Ở đó, chung tay khai phá với người Việt còn có các tộc người khác, nên ngay từ đầu, văn hóa Việt
đã có sự giao lưu mật thiết với văn hóa Chăm, Khmer, Hoa,… Đến thời cận hiện đại, vùng đất Nam Bộ lại chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp, rồi văn hóa
Mỹ Tất cả đã khiến cho Nam Bộ trở thành vùng đất mà giao lưu, tiếp biến văn hóa diễn ra với tốc độ nhanh và mạnh mẽ
Tuy nhiên, trong quá trình giao thoa văn hóa đó, cư dân người Việt không tiếp thu một cách “trọn gói” mà có “chọn lọc” những yếu tố đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần để bổ sung vào hành trang văn hóa mang theo, Việt hóa những yếu tố văn hóa tiếp thu và du nhập vào Nam Bộ Vì vậy
có thể nói rằng, văn hóa Việt trong quá trình giao thoa, tiếp biến vẫn không tự đánh mất mình Đúng hơn là nó vừa tự thân biến đổi để thích ứng với các giá trị văn hóa mới, vừa tái tạo các giá trị văn hóa mới đó theo hướng làm cho chúng thích ứng với văn hóa Việt, với nhu cầu của người Việt trên vùng đất mới Cũng vì vậy mới nói rằng, văn hóa người Việt ở Nam Bộ vừa tương đồng vừa khác biệt với cội nguồn của nó là văn hóa Việt ở Bắc Bộ và Trung
Bộ Như điều mà GS Trần Quốc Vượng đã viết: “Gần như là một quy luật,
Trang 38văn hóa của lưu dân ở vùng đất mới, dù là của tộc người nào, cũng đều là sự kết hợp giữa truyền thống văn hóa trong tiềm thức, trong dòng máu, và điều kiện tự nhiên, lịch sử của vùng đất mới, nó phát triển trong điều kiện cách xa vùng đất mới về không gian và thời gian… Cho nên, nền văn hóa này, vừa có nét giống, lại vừa có nét khác với nền văn hóa ở vùng đất cội nguồn, của cùng một tộc người” [99, tr.271].
Về mặt xã hội, cư dân Nam Bộ có nguồn gốc rất đa dạng, phong phú, gồm người Việt (Kinh), Chăm, Khmer, Hoa, Stiêng… Người Việt vào vùng đất Nam Bộ khai phá đất hoang, sinh cơ lập nghiệp, cùng với các tộc người khác đã nhanh chóng thích nghi, hòa nhập và trở thành bộ phận cư dân chủ đạo trong công cuộc chinh phục vùng đất Nam Bộ Cùng gắn bó với mảnh đất
mà họ coi là quê hương, cư dân các dân tộc luôn sống hòa thuận, đoàn kết, đùm bọc, chia sẻ mọi thuận lợi và khó khăn với nhau, không phân biệt người đến trước, người đến sau, không kỳ thị dân tộc
Cùng với sự đa dạng về tộc người và hệ quả tất yếu của quá trình giao thoa văn hóa, Nam Bộ là vùng đất hết sức đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng,
phong tục, tập quán “Ngoài các tôn giáo lớn ở ngoài du nhập vào như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Nam Bộ còn là quê hương của tôn giáo tín ngưỡng địa phương như Cao đài, Hòa hảo, như các ông đạo, các tín ngưỡng dân gian như thờ Tổ tiên, Thổ thần, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu,…” [99, tr.272-273] Đa tôn giáo nhưng các tôn giáo tồn tại đan xen,
thuận hòa, cởi mở, không mâu thuẫn xung đột mà luôn tôn trọng lẫn nhau Như vậy, Nam Bộ là vùng đất bao gồm nhiều dân tộc (trong đó người Việt là dân tộc chủ đạo) nhiều nền văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau cùng tồn tại Song, cộng đồng dân cư ở đây không tồn tại biệt lập theo từng không gian văn hóa tộc người riêng rẽ mà sống xen kẽ nhau trong cùng một đơn vị hành chính Điều kiện cộng cư này làm cho các dân
Trang 39tộc, trong đó có người Việt, có điều kiện tiếp xúc nhau nhiều hơn, vừa giao lưu, vừa tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhau để làm giàu thêm bản sắc văn hóa vốn có của mình
Với những đặc điểm văn hóa - xã hội như thế, buộc nền văn hóa của các tộc người sinh tụ trên vùng đất Nam Bộ phải tự cấu trúc lại, lược bỏ những giá trị không còn phù hợp với môi trường mới, phát triển và sáng tạo những giá trị mới giúp con người có thể thích ứng, tồn tại và phát triển Điều đó tạo nên nét đặc trưng không dễ trộn lẫn của văn hóa vùng Nam Bộ, như GS Trần
Quốc Vượng đã kết luận: “Nam Bộ có nhiều nét riêng so với các vùng khác Vùng đất vừa có bề dày trong diễn trình lịch sử văn hóa Việt Nam, lại là vùng đất giàu sức trẻ của các tộc người ở đây Vị thế địa chính trị, địa văn hóa của Nam Bộ, khiến nó trở thành trung tâm mà quá trình tiếp biến văn hóa diễn ra nhanh chóng cả về bề mặt lẫn bề sâu, cả về lượng và chất, tạo cho vùng văn hóa Nam Bộ có những đặc thù riêng và trở thành một gương mặt riêng khó lẫn trong diện mạo các vùng văn hóa ở nước ta” [99, tr.277] Những đặc
điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội nói trên là cơ sở tạo nên những nét đặc trưng trong lối sống của người dân Nam Bộ
1.2.2 Lối sống của người dân Nam Bộ
1.2.2.1 Khái quát về lối sống
Thuật ngữ lối sống được nhắc đến và sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ
đời thường, sách báo Lối sống thường được hiểu là một hệ thống những nét căn bản nói lên hoạt động sống của con người (cộng đồng, cá nhân) trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
C Mác và Ph Ăngghen trong Hệ tư tưởng Đức đề cập về lối sống trong mối quan hệ biện chứng với phương thức sản xuất, rằng: “Bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của
Trang 40con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế là con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình Phương thức mà con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình phụ thuộc trước hết vào tính chất của chính những tư liệu sinh hoạt mà con người thấy
có sẵn và phải tái sản xuất ra Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất
ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các
cá nhân Mà hơn thế, nó đã là một hình thức hoạt động nhất định của những
cá nhân ấy, một hình thức nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ Những cá nhân biểu hiện đời sống của họ như thế nào thì họ là như thế ấy; do đó họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách họ sản xuất Do đó, những cá nhân là như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ” [43, tr.269].
Có thể thấy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, con người muốn sống được (muốn tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của mình) trước hết phải sản xuất Phương thức sản xuất là một hình thức hoạt động của con người; thông qua hoạt động đó mà con người biểu hiện đời sống của mình, biểu hiện bản thân mình Phương thức sản xuất là một phương thức sinh sống nhất định của con người, là mặt cơ bản của lối sống Hay nói cách khác, chủ nghĩa Mác xem xét lối sống trong quan hệ biện chứng với phương thức sản xuất vật chất và trong sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố khách quan (điều kiện, phương tiện sống) với nhân tố chủ quan (lẽ sống, niềm tin, tình cảm) của đời sống Như vậy, phương thức sản xuất là điều kiện kinh tế - xã hội của lối sống, là cơ
sở đầu tiên của lối sống
Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa về lối sống như sau:
“Lối sống là toàn bộ những hình thức hoạt động sống của con người trong một xã hội nhất định được xem xét thống nhất với các điều kiện kinh tế - xã