Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị, khắc phu ̣c những ha ̣n chế của triết lý nhân sinh trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La .... Từ những lý do trên,
Trang 1
NGUYỄN HỒNG QUANG
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI THÁI Ở SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2
NGUYỄN HỒNG QUANG
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI THÁI Ở SƠN LA
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ VĂN ĐOÁN
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Văn Đoán
Tất cả những trích dẫn, số liệu, cứ liệu trong luận văn đều mang tính trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được khái quát từ thực tế nghiên cứu và chưa có công trình nghiên cứu liên quan nào trước đây công bố
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Quang
Trang 4Để thực hiện hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Đoán, người đã luôn định hướng, tận tình chỉ bảo, chỉnh sửa, góp ý cho đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Chủ nhiệm Khoa, tập thể giảng viên Khoa Triết học Trường Đại học sư phạm Hà Nội, những người
đã luôn tâm huyết để truyền giảng tri khoa học và thực tiễn sinh động Cảm
ơn Tạp chí Giáo dục, Ban Giám hiệu Trường Trung học Phổ thông Tô Hiệu
và gia đình đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Quang
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
5 Giả thuyết khoa học 6
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 7
8 Phương pháp nghiên cứu 8
9 Cấu trúc luận văn 8
10 Tóm tắt các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả 8
Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI THÁI Ở SƠN LA 10
1.1 Một số khái niệm cơ bản 10
1.1.1 Triết lý 10
1.1.2 Nhân sinh 11
1.1.3 Khái niệm triết lý nhân sinh 13
1.1.4 Khái niệm phong tục, tập quán 15
1.1.5 Vai trò của phong tục, tập quán trong đời sống xã hội 18
1.2 Khái quát về dân tộc Thái và phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La 20
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và người Thái tỉnh Sơn La 20
Trang 61.3 Những yếu tố tác động đến sự hình thành triết lý nhân sinh
trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La 37
1.3.1 Lịch sử thiên di 37
1.3.2 Điều kiện môi trường cư trú 38
1.3.3 Điều kiện về phương thức sản xuất 39
1.3.4 Thực tiễn đòi hỏi của cuộc sống 40
1.4 Những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La 42
1.4.1 Quan niệm về con người và cuộc sống con người 42
1.4.2 Quan niệm về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên của người Thái ở Sơn La 49
1.4.3 Quan niệm về mối quan hệ giữa con người với con người 52
1.4.4 Triết lý nhân sinh trong một số phong tục tập quán tiêu biểu 57
Tiểu kết chương 1 74
Chương 2: GIÁ TRI ̣ VÀ HẠN CHẾ TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI THÁI Ở SƠN LA 75
2.1 Những giá trị của triết lý nhân sinh trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La 75
2.1.1 Giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên 75
2.1.2 Góp phần xây dựng đoàn kết cộng đồng 81
2.1.3 Góp phần ngăn chặn các hành vi tội phạm, khuyến khích hướng thiện 85
2.1.4 Góp phần giáo dục ý thức cần cù, chăm chỉ trong học tập, lao động sản xuất 87
2.1.5 Giáo dục ý thức bảo vệ quê hương đất nước 92
Trang 7trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La 93
2.2.1 Những hạn chế của triết lý nhân sinh trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La 93
2.2.2 Nguyên nhân hạn chế của triết lý nhân sinh trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La 96
2.3 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị, khắc phu ̣c những ha ̣n chế của triết lý nhân sinh trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La 98
2.3.1 Giải pháp về kinh tế xã hội 98
2.3.2 Các giải pháp đối với cơ chế chính sách về văn hóa 100
2.3.3 Các giải pháp đối với người dân Thái 102
Tiểu kết chương 2 103
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã viết: “Bảo tồn và
phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch
sử, văn hóa Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm văn hóa nhân loại” Văn kiện Đại hội X khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” Trong Nghị quyết số 33-
NQ/TW ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Trung ương nêu ra mục tiêu định
hướng xây dựng và phát triển văn hóa ghi rõ: “Hoàn thiện các chuẩn mực văn
hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước,
tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người đối với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng xã hội và đất nước” Trong các đặc trưng về chủ
nghĩa xã hội mà Cương lĩnh năm 2011 do Đảng ta đề ra, đặc trưng thứ tư ghi
rõ: “Có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”
Như vậy việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam đã trở thành một trong những đề tài được nhiều học giả, nhiều công trình khoa học quan tâm
Tỉnh Sơn La có thể được coi là cái nôi cho sự ra đời của các giá trị, phong tục, tập quán của người Thái ở Việt Nam Trong sự phát triển của mình
họ đã hình thành và để lại những phong tục, tập quán mang giá trị nhân sinh sâu sắc Đồng bào Thái có đời sống văn hóa rất đặc sắc, có tiếng nói, chữ viết riêng Trong kho tàng văn hóa, đồng bào Thái có thần thoại, cổ tích, truyền
Trang 9thuyết, truyện thơ, ca dao là vốn văn học cổ truyền nổi tiếng, với các tác phẩm
“Xống chụ xon xao, Khu lú Nàng ủa” Đồng bào Thái rất ưa ca hát, múa xòe, đặc biệt Khắp là lối ngâm thơ, hát theo lời thơ, có đệm đàn và múa Nhiều điệu múa xòe, múa sạp của đồng bào Thái nổi tiếng khắp cả nước và thế giới
Nhưng trong nhịp sống hiện đại và sự bùng nổ của công nghệ, thông tin hội nhập nhanh chóng nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đang trở nên mai một so với ý thức hệ của các thế hệ trẻ về sau
Dân tộc Thái ở Sơn La đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh của khu vực Tây Bắc và cả nước Việc khai thác những giá trị truyền thống có giá trị tích cực qua góc nhìn của triết học, sẽ mang lại hiệu quả hơn trong công tác kế thừa, bảo tồn, phát triển và tuyên truyền, phổ biến những giá trị truyền thống đó của người Thái ở Sơn La Tìm lại giá trị xưa trong những hình mẫu, phong tục cũ của dân tộc mình đã trở thành nhiệm vụ và quyền lợi đặt ra cho thế hệ sau
Việc nghiên cứu và phát hiện ra những vấn đề triết lý nhân sinh ẩn trong các phong tục, tập quán của người Thái sẽ góp phần nói lên vai trò và ý nghĩa của các phong tục truyền thống này Đồng thời góp phần vào sự nghiệp giáo dục cho thế hệ trẻ nhất là người Thái nhận thức được và tiếp tục phát huy các giá trị nhân sinh trong phong tục của dân tộc mình
Từ những lý do trên, nhằm mục đích tìm hiểu và khai thác các giá trị
truyền thống của đồng bào Thái chúng tôi chọn "Triết lý nhân sinh trong
phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La" làm đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về phong tục, tập quán
Phong tục, tập quán là một thành tố quan trọng, góp phần tạo nên hệ giá trị tinh thần, bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam Bởi vậy phong tục, tập quán đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở những
Trang 10góc độ, những khía cạnh khác nhau Vấn đề về văn hóa, phong tục và tập quán
đã có rất nhiều tác giả, công trình khoa học khác nhau nghiên cứu Trong đó, phong tục tập quán của người Thái ở Sơn La cũng đã được nghiên cứu, nhìn nhận ở khía cạnh triết lý nhân sinh, các công trình nghiên cứu cụ thể:
Bùi Xuân Đính (1995), “Lệ làng phép nước”, Nxb Hà Nội [21] Cuốn
sách bước đầu đã giới thiệu một cách tương đối có hệ thống về nguồn gốc, điều kiện xuất hiện hương ước, nội dung cơ bản của hương ước, mối quan hệ giữa pháp luật nhà nước phong kiến với hương ước Chỉ ra những tác động tích cực, tiêu cực, đặt hương ước trong di sản của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội
Bùi Xuân Đính (1998) “Hương ước và quản lý làng, xã”, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội [22], trong phạm vi công trình này, tác giả đã nghiên cứu
có chiều sâu về hương ước của người Việt trong mối quan hệ với quản lý làng, xã
Bùi Quang Thanh (2009) “Nghiên cứu luật tục, phong tục các dân tộc
thiểu số ở Quảng Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội [52], tác giả đã điều
tra, khảo sát thực trạng khai thác, sử dụng luật tục của một số dân tộc ít người: Co, Cơ Tu, Giẻ Triêng và Xơ Đăng, tìm hiểu nhận thức, thái độ và hoạt động thực hành luật tục, làm rõ tác động của luật tục đồng thời đề xuất một số giải pháp để mang tính ứng dụng nhằm phát triển kinh tế, xã hội
Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng (1999), (2003), “Luật tục Thái ở Việt
Nam”, Nxb Văn hóa dân tộc [55] [56] Cuốn sách tập hợp những tài liệu về
luật tục của đồng bào Thái, gồm cả luật tục thành văn và luật tục bất thành văn đã được dịch từ chữ Thái cổ ra tiếng Việt
Phan Đặng Nhật (2007), “Luật tục với đời sống”, Tập 1, Nxb Tư pháp,
Hà Nội [46] Tác giả đã luận giải luật tục các dân tộc Việt Nam và giới thiệu minh chứng nội dung luật tục J'rai trên một số lĩnh vực liên quan của đời sống
xã hội
Trang 11Trương Tiến Hưng (2009) “Vận dụng luật tục dân tộc Chăm trong
quản lý cộng đồng người Chăm của chính quyền cơ sở ở tỉnh Ninh Thuận”,
Luận án Tiến sỹ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [33] Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận vận dụng luật tục dân tộc Chăm, khảo sát thực tiễn vận dụng và đưa ra những giải pháp để tổ chức thực hiện
Bùi Xuân Trường, (1999), “Tác dụng của luật tục đối với việc quản lý
xã hội ở các dân tộc Thái, H’Mông - Tây Bắc Việt Nam”, Nxb Văn hóa dân
tộc [64] Tác giả nghiên cứu và nêu ra những vấn đề liên quan đến quản lý xã hội có tính thời sự dưới dạng khái quát, nghiên cứu chung về quản lý xã hội chưa đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể
Các công trình trên đã đề cập đến phong tục, tập quán, luật tục của một
số dân tộc ở Việt Nam, nghiên cứu vai trò, tác động của luật tục lên đời sống, mối quan hệ giữa luật tục với pháp luật, từ đó đề xuất những giải pháp thực tiễn để vận dụng vào quản lý xã hội
2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về người lịch sử, dân tộc học người Thái
Cầm Trọng (1978), “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội [58] Công trình nghiên cứu về lịch sử, kinh tế, xã hội, tập quán người Thái Tây Bắc Việt Nam;
Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng (1999, 2003), “Luật tục Thái ở Việt Nam”
Nxb Văn hóa dân tộc [55], [56] Cuốn sách này là tập hợp những tài liệu có nội dung về người Thái ở Tây Bắc và về luật tục của đồng bào Thái, gồm cả luật tục thành văn và luật tục bất thành văn đã được dịch từ chữ Thái cổ ra tiếng Việt
Cầm Trọng (2005), “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam”, Nxb
Chính trị Quốc gia Hà Nội [60] Công trình nghiên cứu về lịch sử, các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội, tín ngưỡng tôn giáo của người Thái Việt Nam
Vì Văn Sơn, (2008) “Luật tục Thái trong tự quản của cộng đồng bản
dân tộc Thái tỉnh Nghệ An”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Hà Nội [50] Tác giả
Trang 12chỉ rõ mối tương quan giữa pháp luật và luật tục người Thái, làm rõ giá trị của luật tục Thái trong việc quản lý cộng đồng bản dân cư ở Nghệ An
Vì Văn Sơn, (2015) “Luật tục Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà
nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam”, Luận
án Tiến sỹ Luật học, Hà Nội [51] Trên cơ sở những nhận định về giá trị và hạn chế trong luật tục Thái, tác giả đã nêu ra các giải pháp và yêu cầu về sự cần thiết và tính có thể vận dụng vào trong quản lý nhà nước ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam
Vì Trọng Liên, (2002) "Vài nét về người Thái ở Sơn La", Nxb Văn hóa
Dân tộc, Hà Nội [37] Tác giả chỉ ra những nét văn hóa độc đáo có tính đặc trưng và đặc điểm đời sống của người dân Thái ở Sơn La
Hoàng Lương, "Phong tục trong hôn nhân và gia đình người Thái
Mường Tấc (Phù Yên - Sơn La)" viết trong cuốn Luật tục và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia,
Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội [38] Công trình nghiên cứu hệ thống về phong tục cưới hỏi của người Thái trắng ở Mường Tấc huyện Phù Yên tỉnh Sơn La
Và nhiều bài viết trên các tạp chí: Dân tộc học, nghiên cứu lịch sử Nhìn chung, các công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; văn hóa của dân tộc Thái ở nước ta Những nghiên cứu này chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Thái, nhằm giới thiệu về người Thái; những nét đặc sắc - cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Thái
Một số đề tài, công trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái nhưng mới chỉ đề cập một cách chung chung hoặc đi sâu tìm hiểu một số nét văn hóa cụ thể; đã đề cập đến thực
Trang 13trạng và một số giải pháp cho sự phát triển văn hóa các dân tộc Tây Bắc nhưng cũng chỉ là những giải pháp mang tính định hướng chung cho các dân tộc thiểu số; chủ yếu nghiên cứu về văn hóa dân tộc Thái ở góc độ văn hóa, chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học Đồng thời, cũng chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về triết lý nhân sinh trong phong tục tập quán của người Thái ở Sơn La Chính vì vậy, chúng tôi lựa
chọn đề tài: "Triết lý nhân sinh trong phong tục tập quán của người Thái ở
Sơn La" để nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, tìm tòi phát hiện những giá trị của phong tục tập quán đặc sắc của người Thái ở Sơn La Từ đó làm rõ khía cạnh nhân sinh trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La cũng như giá trị của nó trong sự phát triển văn hóa hiện nay Từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn phát huy những giá trị nhân sinh trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La nói riêng và văn hóa Thái nói chung
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận văn là cộng đồng người Thái ở Sơn La hiện nay
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Triết lý nhân sinh trong phong tục, tập quán đặc sắc của người Thái ở Sơn La
5 Giả thuyết khoa học
Triết lý nhân sinh của người Thái đó là các quan điểm, quan niệm về con người, về cuộc đời con người, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người và với đời sống tâm linh của con người Triết lý nhân sinh của người Thái được hình thành từ chính hoạt động sản
Trang 14xuất và trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của họ Chúng được thể hiện một cách sinh động trong các phong tục, tập quán, đã đi cùng với cộng đồng người Thái qua bao thế hệ, trở thành những chân giá trị mang đậm bản sắc văn hóa của người Thái Giá trị tích cực triết lý nhân sinh phong tục, tập quán trong của người Thái ở Sơn La đã góp phần làm phong phú, đa dạng đời sống tinh thần của người Thái ở Sơn La nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung
Triết lý nhân sinh phong tục, tập quán trong của người Thái ở Sơn La là yếu tố tạo nên bản sắc riêng biệt trong sự đa dạng phong phú của văn hóa Việt Nam Nếu luận chứng được những vấn đề trên sẽ góp phần bổ sung về mặt lý luận cho tính đa dạng, phong phú của triết lý nhân sinh người Việt bởi những giá trị trong phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La tạo ra Đồng thời phát huy được những giá trị đó trong hoạt động thực tiễn góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người Thái nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phát hiện trong phong tục, tập quán dân tộc Thái có các giá trị nhân văn sâu sắc, từ đó nâng cao tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái trong cộng đồng dân tộc Thái nói riêng và 12 dân tộc anh em sống trên địa bàn tỉnh Sơn
La nói chung
Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy bảo tồn, phát triển văn hóa Thái Bên cạnh đó còn giáo dục những giá trị truyền thống mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc cho thế hệ trẻ hiện nay
7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu một số phong tục, tập quán đặc sắc của dân tộc Thái ở Sơn La
Chỉ nghiên cứu phong tục, tập quán Thái và rút ra những giá trị, ý nghĩa triết lý nhân sinh trong một một kho tàng văn hóa đồ sộ của cộng động dân tộc Thái
Trang 158 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Triết học Mác - Lênin, đặc biệt nguyên lý về lý luận nhận thức và lôgíc học, quan điểm của Đảng về giáo dục và những thành tựu của các nhà nghiên cứu trong nước liên quan đến vấn đề nâng cao năng lực tư duy biện chứng, phân tích và tổng hợp, diễn dịch
và quy nạp, lịch sử - lôgíc
Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu: sử dụng các phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa, đọc tài liệu, tổng hợp, đối chiếu, xử lý tài liệu… Phương pháp lịch sử: Để nghiên cứu về trang phục người Thái tỉnh Sơn La dưới góc độ lịch sử
Phương pháp điền dã: phương pháp này được xem là công cụ cơ bản trong thu thập khai thác các thông tin văn hóa, kỹ thuật, mỹ thuật, vật chất tinh thần…
Phương pháp tổng hợp, hệ thống, phân tích Các phương pháp này được áp dụng trong việc xử lý các thông tin được khai thác từ các mẹ, bác, chú để trình bày trong luận văn
Phương pháp khái quát trừu tượng hóa, phương pháp so sánh, đối chiếu, đo đạc, khảo tả Những phương pháp này được áp dụng để xử lý các thông tin nhằm tìm ra khác biệt trong phong tục, tập quán của dân tộc Thái và các dân tộc khác ở Sơn La
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 2 chương và 7 tiết
10 Tóm tắt các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
10.1 Luận điểm cơ bản
- Triết lý nhân sinh của người Thái gắn liền với phong tục, tập quán là một sự thể hiện khát vọng của con người đang hướng đến những cái tốt đẹp, cái thiện
Trang 16- Triết lý nhân sinh của người Thái là sự phản ánh hiện thực cuộc sống, phản ánh mối quan hệ không tách rời giữa con người với con người, giữa con người với thế giới
- Những giá trị tích cực trong phong tục tập quán Thái có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói riêng và toàn thể xã hội nói chung của người Sơn La hiện nay
10.2 Đóng góp mới của luận văn
* Về mặt lý luận
Luận văn góp phần bổ sung, làm rõ những giá trị về triết lý nhân sinh trong phong tục tập quán của người Thái ở Sơn La Từ đó khái quát về mặt lý luận bản sắc và tính hòa đồng của văn hóa người Thái trong văn hóa dân tộc Việt Nam
* Về mặt thực tiễn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong dạy học các môn khoa học xã hội ở các trường phổ thông và cao đẳng, đại học, đặc biệt là ở các trường vùng miền phía người Thái sinh sống
Trang 17Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG PHONG TỤC, TẬP QUÁN
CỦA NGƯỜI THÁI Ở SƠN LA
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Triết lý
Triết lí là những điều được rút ra bởi trải nghiệm, như một quan niệm nền tảng, cốt lõi trên cơ sở nhìn nhận điều gì là nguồn cội tâm thế, giá trị tinh thần, sức mạnh ứng xử, được phát biểu ngắn gọn, súc tích Triết lí như một tín điều, làm kim chỉ nam cho cách xử thế, hành động hay lối sống của một cá nhân hay một cộng đồng
Trong cuốn “Triết lí phát triển ở Việt Nam - Mấy vấn đề cốt yếu”, tác giả Phạm Xuân Nam định nghĩa: “Triết lí là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm
nghiệm và đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản
và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng ấy” [43, tr.31]
Trong cuốn “Triết lí phát triển C Mác, Ph Ăn gghen, V.I Lê nin và
Hồ Chí Minh tác giả có viết: “Triết lí có thể thể hiện bằng một mệnh đề hàm
súc nhưng ý nghĩa về nhân sinh thế thái, về tự nhiên, về xã hội, nó cũng có thể
là một hệ mệnh đề tạo thành một quan niệm, một luận thuyết… Triết lí đúng vào khoa học thì nó sẽ trở thành cơ sở lí luận khoa học cho một hệ thống quan điểm, học thuyết, nó làm công cụ lí thuyết cho hành động hiệu quả của con người” [35, tr.9]
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, so với triết học, triết lý có thể được hiểu ở trình độ thấp hơn, chỉ là cơ sở cho một hệ thống quan điểm, một học
Trang 18thuyết Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng, triết lý là kết quả những kinh nghiệm và lẽ sống của nhiều thế hệ đi trước đúc kết lại, vừa có tính giai cấp vừa có tính lịch sử
Triết lí là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành các
quan điểm, luận điểm, thành những phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội Chúng có vai trò định hướng cho cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng ấy Triết lí có thể thể hiện bằng một mệnh đề hàm súc những ý nghĩa về nhân tình thế thái, về tự nhiên, về xã hội, nó cũng có thể là một hệ mệnh đề tạo thành một quan niệm, một luận thuyết Triết lí đúng sẽ trở thành
cơ sở lý luận khoa học cho một hệ thống quan điểm, học thuyết, định hướng
cho hành động của con người
Trên cơ sở đó, theo chúng tôi: Triết lý có thể là những kết luận được
rút ra, suy ra từ một triết thuyết, một hệ thống các nguyên lý triết học nhất định Đồng thời triết lý còn là những tư tưởng, những quan niệm (thường được thể hiện dưới dạng những câu, những mệnh đề cô đọng, súc tích) phản ánh được bản chất của các mối quan hệ diễn ra trong đời sống sinh động mọi mặt của mỗi cá nhân và của cộng đồng theo hướng khẳng định những niềm tin, giá trị, đạo lý có tác dụng chỉ đạo cho cách ứng xử, phương châm sống, suy nghĩ và hành động của con người trong những hoàn cảnh cụ thể nào đó
1.1.2 Nhân sinh
Nhân sinh có nguồn gốc là tiếng Hán Việt Nhân là người Sinh là cách
thức tồn tại, hoạt động, sinh sống
Về khái niệm nhân sinh, trong “Từ và ngữ Việt Nam” giải nghĩa:
“nhân’’ là người, “sinh” là sự sống, theo nghĩa đó; Nhân sinh là sự sống của
con người Từ điển Lạc Việt cũng giải nghĩa Nhân sinh quan là quan niệm thành hệ thống về cuộc đời, về ý nghĩa và mục đích sống của con người
Trang 19Theo Từ Điển Tiếng Việt [49], nhân sinh quan là quan niệm thành hệ
thống về cuộc đời, về ý nghĩa, mục đích của cuộc sống con người
Từ những lý giải trên, ta có thể thấy rằng, nhân sinh quan là sự xem xét, suy nghĩ của con người về nguồn gốc, về cuộc đời và các mối quan hệ của con người, hay nói khác thì nhân sinh quan là quan niệm của chúng ta về những định luật diễn ra trong đời sống nhân loại và sự sống của con người
Nhân sinh quan là bộ phận của thế giới quan Nhân sinh quan thường trả lời cho những câu hỏi như: Lẽ sống của con người là gì? Ý nghĩa, mục đích sống của con người ra sao? Con người phải sống như thế nào cho xứng đáng? Vai trò và vị trí của con người cũng như tương lai của con người sẽ ra sao?
Nhân sinh quan tức là đạo làm người, phản ánh tồn tại xã hội của con người Nội dung của nó biểu hiện những nhu cầu lợi ích, khát vọng và hoài bão của con người trong mỗi chế độ xã hội cụ thể Trong xã hội có giai cấp, nhân sinh quan cũng mang tính giai cấp Giai cấp đang đi lên trong lịch sử có nhân sinh quan lạc quan, tích cực, cách mạng; nhân sinh quan của giai cấp đang đi xuống thường mang tính bi quan, yếm thế Nhân sinh quan có tác dụng to lớn đến hoạt động của con người; tạo niềm tin, lối sống, tạo ra phương hướng mục tiêu cho hoạt động (lý tưởng sống) Nếu như phản ánh đúng khuynh hướng khách quan cuả lịch sử thì nó là nhân tố mạnh mẽ để cải tạo xã hội một cách hợp lí, nhưng nếu phản ánh không đúng thì nó có tác dụng ngược lại, cản trở xã hội tiến lên
Nghiên cứu Triết lý nhân sinh tức là việc trả lời những câu hỏi: Người ta sinh ra ở đời để làm gì? Muốn cái gì? Sống như thế nào? Bản thân mình có vị trí, vai trò gì trong xã hội? Nói một cách khác, nghiên cứu vấn
đề nhân sinh tức là nghiên cứu về bản chất, mục đích, thái độ và hành vi của đời sống con người
Trang 201.1.3 Khái niệm triết lý nhân sinh
1.1.3.1 Quan niệm về triết lý nhân sinh trong lịch sử triết học
Triết lí nhân sinh gồm những quan niệm về cuộc sống của con người: Con người là gì? Con người từ đâu mà sinh ra? Con người chết rồi sẽ ra sao?
Vị trí của con người trong cuộc đời? Lẽ sống của con người là gì? Mục đích,
ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng? Trả lời những câu hỏi đó là vấn đề nhân sinh quan
Khi quan niệm về nhân sinh trong lịch sử triết học đã có rất nhiều nhà tư tưởng triết học Phương Đông đưa ra nhiều chính kiến và luận giải khác nhau,
nó được thể hiện trong các học thuyết Khổng Tử, Mạnh Tử, Trang Tử, Chu Hy… Dưới lăng kính của các học giả tư sản thì quan niệm về nhân sinh cũng
có nhiều cách luận giải khác nhau Những quan niệm trước đây gồm cả những
tư tưởng phong kiến với tư tưởng an phận, thiếu chí tiến thủ và tư tưởng hoài nghi, độc hại của giai cấp tư sản gieo rắc xung quanh trong thời kì mới
Nhân sinh quan trong thời đại mới được đưa ra nhằm mục đích bóc tách và vạch ra những sai lầm của quan niệm cũ, quan niệm phản tiến bộ và xây dựng một quan niệm mới về cuộc sống Nhân sinh quan là cách nhìn nhận đời sống, công tác, xã hội, lịch sử, dựa theo lợi ích của giai cấp mình Có nhiều loại nhân sinh quan, chẳng hạn như:
Nhân sinh quan cách mạng: Nhân sinh quan của giai cấp công nhân đấu tranh để cải tạo xã hội
Nhân sinh quan cộng sản: Nhân sinh quan của những người cộng sản đấu tranh để thực hiện chủ nghĩa cộng sản, đầy lòng tin tưởng ở tương lai tốt đẹp của loài người và sẵn sàng hi sinh chiến đấu cho tương lai ấy
Nhân sinh quan tôn giáo: Nhân sinh quan của các tôn giáo khác nhau mang đặc điểm nổi bật của tôn giáo đó nhưng cũng chứa đầy tính chất duy tâm chủ quan
Trang 21Nhân sinh quan triết học: Nhân sinh quan của các trường phái triết về những định luật diễn hóa trong đời sống nhân loại và sự sống của con người
Có kẻ thấy người chết thì than vãn: “Ôi! Người ta sinh ra ở đời thật là
tối tăm, không được bằng loài cây cỏ” Những người già cho rằng: Người ta
sinh ra sướng hay khổ, vui hay buồn đều do tám chữ nhà Phật mà ra “Họa
phúc sinh tử, bách bất thất nhân” và cho rằng sự sống hay cái chết đều phụ
thuộc vào số mệnh con người đã được an bàn định sẵn [32, tr.5] Như vậy, nhân sinh quan là gì? Nói vắn tắt, đó là cách người ta nhìn nhận cuộc đời, hay
là cái “đạo” làm người Xã hội có bao nhiêu loại người ta lại thấy có bấy
nhiêu kiểu nhân sinh quan, cùng với đó nảy sinh ra nhiều thứ đạo làm người khác nhau
Nhà đạo đức phong kiến có quan niệm: Sống thác đều có mệnh, giàu
nghèo là tại trời Họ dán lên cửa lớn hai câu đối sau: “An phận thủ kỷ, thuận
thời thích thiên” [32, tr.6] nghĩa là bằng lòng với số phận thuận theo ý trời
Những người theo đạo Phật cho rằng: Người ta sinh ra không thể thoát
khỏi bát khổ: “Sinh, lão, bệnh, tử”; “Thụ biệt li”; “Sở cầu bất đắc”; “Oán
tăng hội”; “Ngũ thụ uẩn” [32, tr.6] Bể khổ mênh mang, quay lại không thấy
bờ, chi bằng lo sửa mình, thoát nơi cuộc đời trần tục về nơi Tây Trúc
Người thanh niên cũng tự đặt ra cho mình quan niệm về lẽ sống cho
riêng mình với chủ trương: “Đã mang tiếng ở trời đất, phải có danh gì với
núi sông” [32, tr.6]
Người nông dân hay người công nhân cũng hô lớn những khẩu hiệu
cách mạng nhấn mạnh được nhiệm vụ vai trò của mình: “Chúng ta như những
chiến sĩ ngoài mặt trận chỉ biết tiến không biết lùi” [32, tr.6]
1.1.3.2 Quan niệm về triết lý nhân sinh trong triết học Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác là khoa học về các quy luật phát triển của lịch sử, chỉ rõ hoạt động của con người có tác dụng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, đó là
Trang 22nhân tố quyết định sự tiến bộ xã hội Vì vậy, sứ mệnh của mỗi người la thúc đẩy những quá trình phát triển xã hội đã chín muồi, những hoạt động lao động lao động sáng tạo và cải tạo xã hội, đem lại một xã hội tốt đẹp tự do, ấm no, hạnh phúc, trên cơ sở đó hoàn thiện năng lực trí tuệ, tình cảm của bản thân mình Nhân sinh quan cách mạng mang tính chất của giai cấp vô sản và của con người mới trong chế độ xã hội chủ nghĩa Để làm cho nhân sinh quan cách mạng chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống xã hội, phải cố gắng về nhiều mặt, trong đó giáo dục chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng
“Thế giới quan là những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới xung quanh, về bản thân và về cuộc sống của con người, về vị trí của con người trong thế giới đó Thế giới quan bao hàm nhân sinh quan, tức là toàn
bộ những quan niệm về cuộc sống của con người” [26, tr.11]
“Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử triết học nhân loại Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì
để giải phóng mình, đạt tới tự do? Đây cũng chính là nội dung cơ bản của nhân sinh quan - một nội dung cấu thành thế giới quan triết học” [26, tr.201]
Sự khác nhau về nhân sinh quan của con người được biểu hiện thông qua các thời kỳ lịch sử, hiện hữu rõ nét nhất trong các hình thái xã hội Nhân sinh quan phản ánh tồn tại xã hội của con người, nội dung của nó biểu hiện ở quan điểm, lẽ sống, khát vọng, nhu cầu của con người trong từng hoàn cảnh
cụ thể Nó không thể tách rời sự phát triển của thời đại do ảnh hưởng của những yếu tố khác nhau Điều đó đòi hỏi chúng ta phải nhận thức rõ thời đại của mình để tìm cách thích ứng
1.1.4 Khái niệm phong tục, tập quán
Trong Hán Việt tân từ điển, Hoàng Thúc Trâm đã đưa ra cách hiểu khái
niệm này như sau: “Phong tục là những khái niệm chỉ những biểu hiện nhất
Trang 23trí về tinh thần của số đông người, trải qua lâu đời đúc thành những khuôn phép nhất định, đủ ràng buộc hành vi và chi phối cuộc đời thực tế của cá nhân” Còn tập quán là “thói quen của cá nhân, phong tục lề thói của một xứ” [2, tr.10]
Tác giả Phan Văn Các lại cho rằng: “Phong tục là thói quen lâu đời
của một địa phương Tập quán là thói quen” Ví dụ: Phong tục tổ chức ăn
mừng trong đám cưới, nhà mới; tập quán ăn cơm bằng đũa [9, tr.20]
Cũng có cách hiểu như tác giả Phan Văn Các, đồng các tác giả trong
cuốn Từ điển Tiếng Việt định nghĩa như sau: “Phong tục là thói quen, tục lễ
đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội Trong sinh hoạt hàng ngày mọi người công nhận và làm theo” [9, tr.230]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bích Hà trong công trình Nghiên cứu văn
học dân gian từ mã văn hóa dân gian thì cho rằng: “Phong có nghĩa là tốt
lành, tục là thói quen Có thể hiểu một cách nôm na phong tục là một thói quen của một xã hội” Phong tục là một khái niệm thường đi liền với tập
quán “Tập có nghĩa là làm đi làm lại (học mà đem thực hành); quen là thói
quen đã được thừa nhận, được lặp đi lặp lại trở nên bền vững” [27, tr.27]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: "Tập quán là phương thức ứng xử
và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng Tập quán gần gũi với thói quen ở chỗ nó mang tính tĩnh tại, lâu bền khó thay đổi Trong tình huống nhất định, tập quán biểu hiện như một hành vi mang tính tự động hóa Tập quán xuất hiện và định hình một cách tự phát hoặc hình thành và ổn định thông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt"
Cũng giống như những cuốn sách, công trình nghiên cứu về văn hóa, thuật ngữ phong tục đi kèm với thuật ngữ tập quán Cho nên, ở luận văn này,
Trang 24tác giả cũng dung khái niệm này như một thuật ngữ khép kín giống như rất nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng chứ không tách riêng ra thành hai thuật ngữ
Phong tục, tập quán là một trong những khía cạnh thể hiện đậm nét bản sắc của một dân tộc Phong tục, tập quán sinh ra do nhu cầu của cuộc sống, phát triển và định hướng theo sự định hình của xã hội tạo nên truyền thống Nhiều tác giả nghiên cứu về phong tục, tập quán đều có những quan điểm tương đồng khi đưa ra các chức năng cơ bản của phong tục, tập quán, đó là:
Thứ nhất, chức năng tạo ra sự thống nhất cho xã hội: Tập quán là
những thói quen được hình thành trong cuộc sống và được mọi người tự giác tuân theo Nên những tập quán (thói quen) không đúng với phong tục sẽ bị loại ra khỏi cộng đồng Còn phong tục là những quy định, quy ước, những lẽ sống của một cộng đồng, lúc đầu không có văn bản, về sau dần dần hình thành văn bản Đúc kết lại, chọn ra như vậy để con người chấp nhận nhau, công nhận nhau, hòa vào nhau, sống hòa thuận, vui vẻ với nhau, không hà hiếp cướp bóc của nhau Quan hệ được với nhau như thế mới gọi là cộng đồng… và trong chừng mực nào đó khi giao tiếp với các cộng đồng khác gồm mình cũng không thấy xa lạ Phong tục đó tạo ra tính thống nhất cho lối sống của cộng đồng và xã hội Con người hiểu phong tục, làm đúng phong tục thì đời sống sẽ được yên ổn
Thứ hai, chức năng xã hội hóa: Bằng việc củng cố, thống nhất lối sống
trong từng làng, bằng sự giữ gìn, tôn trọng lối sống của các làng lân cận, phong tục đã tạo ra sự thống nhất trong xã hội
Xã hội hóa ở đây không chỉ là tôn trọng phong tục của nhau mà còn đồng hóa phong tục của nhau, còn là hội tụ lý trí và cảm xúc với nhau Thông hiểu, tôn trọng phong tục của nhau sẽ tạo ra khả năng thâm nhập vào tận bên trong cá thể và xã hội
Thứ ba, chức năng thỏa mãn đời sống tâm linh: Mối quan hệ hài hòa
giữa con người và xã hội có thể được cân bằng nhờ phong tục, nhưng hơn thế,
Trang 25sự hài hòa trong quan hệ giữa con người và đời sống tâm linh cao gấp hàng trăm lần quan hệ trên cũng được phong tục, tập quán hóa giải Ví dụ phong tục thờ các thần nguyên thủy, thờ thành hoàng làng, thờ hạo khí anh linh, thờ cúng tổ tiên trong gia đình… con người được giải tỏa thỏa mãn phần hồn, yên tâm với người đã khuất
Như vậy, có thể khẳng định, phong tục, tập quán là sự hiểu biết cụ thể của bản sắc dân tộc Nó nằm trong bản thể gương mặt văn hóa thời đại Phong tục, tập quán bộc lộ những tính cách, đường nét, màu sắc dân tộc trên tiến trình phát triển của dân tộc
1.1.5 Vai trò của phong tục, tập quán trong đời sống xã hội
Phong tục, tập quán là những nếp sống, phong tục do những người sống trong xã hội tự đặt ra, nó được áp dụng vào đời sống và phục vụ cho mọi người nhưng không mang tính chất vi phạm phạm luật Phong tục, tập cũng dần phải thay đổi để phù hợp với đời sống qua các thời kì lịch sử
Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng Phong tục không mang tính cố định và bắt buộc như nghi lễ, nghi thức, tuy nhiên nó cũng không tùy tiện, nhất thời như hoạt động sống thường ngày Nó trở thành tập quán xã hội tương đối bề vững Phong tục, tập quán là một bộ phận của văn hóa, có vai trò quan trọng trong việc hình thành truyền thống của một dân tộc, địa phương
Nó ảnh hưởng, thậm chí chế định nhiều ứng xử của cá nhân trong cộng đồng
Phong tục, tập quán còn được tuân thủ theo quy định của luật tục hay hương ước Người vi phạm có thể bị phạt vạ Phong tục, tập quán còn là cơ sở
để hình thành nên pháp luật Nó là công cụ hữu hiệu, quan trọng trong việc điều chỉnh, quản lý các hành vi của con người Chính vì vậy mà phong tục,
Trang 26tập quán có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội Cùng với sự phát triển của xã hội, thì một số phong tục, tập quán không còn phù hợp với thời đại mới cho nên bị đào thải, trong đó lại có những phong tục, tập quán mới lại được hình thành để phù hợp với đời sống xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng thành công các làng - xã văn hóa mà trong đó, mỗi người dân đều có ý thức sống lành mạnh và làm theo pháp luật trên cơ sở thực thi các quy định trong quy ước làng văn hóa đã hình thành nên một nông thôn với môi trường văn hóa - xã hội mới, lành mạnh Để xây dựng đời sống văn hóa - xã hội mới, lành mạnh ấy, chúng ta cần phải cải biến những thói quen, phong tục, tập quán lạc hậu và tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh Phong tục, tập quán, thói quen có thể là những giá trị tốt đẹp song cũng có thể là những yếu tố tiêu cực, lạc hậu Việc cải biến các phong tục tập quán lạc hậu để xây dựng đời sống văn hóa - xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa
to lớn Những việc làm này là một quá trình khó khăn, phức tạp, bởi vì phong tục, tập quán có tính bền vững, nó ăn sâu vào nếp sống, thói quen của đại đa
số nhân dân Nó có thể tồn tại ngay cả khi cơ sở kinh tế - xã hội cho sự tồn tại
của nó đã bị xóa bỏ C Mác đã viết: “Truyền thống của tất cả những thế hệ
đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống” [39, tr.145]
Vì vậy, đây là việc làm lâu dài, thường xuyên, gắn liền với quá trình đổi mới
toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng V.I Lênin đã viết: “Nhiệm vụ
cơ bản của cán bộ công tác giáo dục và của Đảng cộng sản, đội tiên phong trong cuộc đấu tranh, là phải giúp đỡ việc giáo dục và rèn luyện quần chúng lao động để khắc phục những thói quen cũ do chế độ cũ để lại, những thói quen, những tập quán của người tư hữu đã tiêm nhiễm sâu vào quần chúng Không bao giờ được quên nhiệm vụ cơ bản ấy của mọi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa” [36, tr.474]
Trang 27Như vậy, có thể thấy rằng phong tục, tập quán có vai trò vô cùng to lớn trong đời sống xã hội Ở mỗi thời kỳ lịch sử phong tục, tập quán đều có những ảnh hưở5ng tích cự và tiêu cực đến đời sống xã hội và việc phát huy tính tích cực và loại bỏ dần những phong tục, tập quán tiêu cực, lạc hậu là việc làm cực kỳ khó khăn, gian khổ và rất lâu dài
1.2 Khái quát về dân tộc Thái và phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và người Thái tỉnh Sơn La
1.2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Sơn La
Sơn La là tỉnh miền núi cao nằm ở phía Tây Bắc, có diện tích tự nhiên 14.055 km2, chiếm 4,27% diện tích cả nước Giáp với các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Hòa Bình, Phú Thọ, Điện Biên, Thanh Hóa và có 250km đường biên giới với nước CHDCND Lào Tỉnh Sơn La có 11 huyện và 1 Thành phố với
12 dân tộc anh em chung sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 54%, dân tộc Kinh 18%, dân tộc Mông 12%, dân tộc Mường 8,4%, dân tộc Dao 2,5%, còn lại là các dân tộc: Khơ Mú, Xinh Mun; Kháng, La Ha, Lào, Tày và Hoa
Sơn La là địa phương giàu tiềm năng, có sông suối, núi rừng và tài nguyên khoáng sản, đặc biệt nơi đây có công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á sừng sững đứng giữa trời Tây Bắc Vượt qua gian khó của mảnh đất vùng cao, qua hơn 120 năm xây dựng và trưởng thành, Sơn La đã và đang vươn mình phát triển theo hướng bền vững, trở thành trung tâm kinh tế vùng Tây Bắc
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tái cơ cấu lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, Sơn La đã và đang tiếp tục tập trung đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với thực hiện tái
Trang 28cơ cấu một số ngành, lĩnh vực, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế; đẩy mạnh thu hút nguồn lực bên ngoài về vốn, khoa học công nghệ phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế phục vụ nâng cao chất lượng tăng trưởng; tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và an ninh quốc phòng
1.2.1.2 Đặc điểm về người Thái tỉnh Sơn La
* Nguồn gốc lịch sử, tên gọi, địa bàn cư trú
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đều cho rằng người Thái trên thế giới có chung một nguồn gốc Biểu hiện rõ nhất là thông qua ngôn ngữ, văn hóa Đã có công trình nghiên cứu cho rằng, ngôn ngữ Thái trên thế giới nói chung là tương đồng Thông qua nghiên cứu của Giáo sư Phan Đăng Nhật về bộ ba các anh hùng ca Thái: Chương Han (lưu truyền ở Tây Bắc Việt Nam), Thạo Hùng hay Chương (lưu truyền ở Thái Lan và Lào) và Khủn Chưởng (sưu tầm ở miền Tây Nghệ An) có nhiều điểm cơ bản giống nhau về nội dung, nhân vật, cốt truyện
Người Thái ở Việt Nam, xét về góc độ lịch sử tộc người được các nhà khoa học xác định có chung nguồn gốc với người Thái trên thế giới, hay rộng hơn là những người cùng ngữ hệ Thái nói chung
Theo công trình nghiên cứu của Vì Văn Sơn [51] cho rằng tổ tiên của người Tày - Thái phía Tây đã sớm và liên tục có mặt ở Tây Nam Trung Quốc
từ vài thế kỷ trước công nguyên Vùng Tây Nam hoặc chính xác hơn là Vân Nam của Trung Quốc là đất khởi thủy của người Thái và cho đến ngày nay vẫn là nơi tụ cư chính của người Thái ở Trung Quốc Căn cứ vào một số tài liệu và một số truyền thuyết dân gian thì bắt đầu từ thế kỷ thứ VIII sau công nguyên trở về sau, dân tộc Thái ở Tây Nam Trung Quốc bắt đầu diễn ra những đợt thiên di lớn, nhỏ khác nhau, những đợt thiên di này đều liên quan
Trang 29đến một số sự kiện lịch sử Vào thế kỷ thứ VIII, tộc người Thái ở vùng biên giới Vân Nam bị Nam Chiếu (728 - 902) chinh phục, người Nam Chiếu nhiều lần dùng vũ lực chuyển dời một bộ phận người Thái vào sâu trong nội địa Vân Nam Từ thế kỷ X trở đi, do sự phát triển lớn mạnh của kinh tế - xã hội của bản tộc và sự bành trướng của các vương triều Trung Hoa, nhất là thời Nguyên (thế kỷ XIII) đẩy mạnh chính sách dùng vũ lực chinh phục các tộc người phương Nam dẫn đến sự di cư lớn của người Thái ở vùng Tây Nam Trung Quốc xuống phương Nam Về sau, có bộ phận gặp được những điều kiện địa lý và lịch sử thuận lợi đã thành lập được các vương quốc trên lưu vực sông Mê Công, Tây Lào, Bắc Băng Gan, Thái Lan Cũng có bộ phận gặp điều kiện ít thuận lợi hơn, chỉ thành lập được các tiểu nhóm cát cứ, do những lãnh chúa phong kiến đứng đầu
Trong cuốn “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái” do Đặng
Nghiên Vạn chủ biên và một số cộng sự thực hiện [65] cuốn sách đã cho chúng ta định hình những nét cơ bản về lịch sử của dân tộc Thái Cuốn Truyện kể bản mường của người Thái Đen, ghi những sự kiện lịch sử diễn ra trong từng mường do một chúa đất cai quản, đời này ghi tiếp đời kia từ lúc tạo Ngần, tạo Xuông dẫn dắt người Thái theo dọc sông Hồng đến khai phá đất Mường Lò (Nghĩa Lộ, Yên Bái ngày nay) sau khi bản mường đông đúc người con là Lạng Chượng đem quân đi chinh phạt các dân tộc cư trú ở vùng Tây Bắc từ Mường Lò, Sơn La đến Điện Biên cho đến thời kỳ thực dân Pháp xâm lược Việt Nam
Một nhánh người Thái khác đến Việt Nam vào Bắc Trung bộ (vùng Thanh Hóa, Nghệ An) thuộc nhánh từ sông Mê Công Thái Lan tới, nhánh này
di cư sang Việt Nam rồi tiến về phía Mộc Châu, Yên Châu sau đó theo sông
Mã di cư về miền Tây Nghệ An Thời điểm người Thái di cư đến vùng đất này cũng chưa có ý kiến thống nhất, có thể sớm hơn thế kỷ XI hoặc không thể sớm
Trang 30hơn thế kỷ XII; theo các nguồn tài liệu thông sử cho rằng người Thái có mặt tại đây rõ nét nhất là thời Trần và thời thuộc Minh, từ thế kỷ XIII - XV
Người Thái ở Việt Nam bao gồm nhiều ngành: Ở Tây Bắc có những nhóm: Thái Đen, cư trú chủ yếu ở Sơn La, Yên Bái, Điện Biên; Thái Trắng cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, có một nhóm Thái Trắng đã chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Tày, như ở Sa Pa, Bắc Hà - Lào Cai Cộng đồng người Thái chia thành hai ngành Thái Trắng (Tay Đón) chủ yếu cư trú ở Quỳnh Nhai, Phù Yên, Thái Đen (Tay Đăm) tập trung ở tỉnh Điện Biên và các huyện Thận Châu, Mai Sơn, Sông Mã của Sơn La Đặc điểm chung nổi bật về cách gọi tên của người Thái ở vùng này là gọi theo các mường, nơi họ đang sinh sống (mường là thiết chế truyền thống của người Thái, tồn tại trước năm 1945) Cách gọi như vậy cho đến nay vẫn còn phổ biến ở người Thái Tây Bắc: Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Mụak (Mai Sơn), Mường Quài (Tuần Giáo), Mường Vạt (Yên Châu), Mường Tấc (Phù Yên), Mường Sang (Mộc Châu), Mường Lò (Yên Bái)…
Ở Nghệ An có các nhóm Tày Mường, Tày Thanh, Tày Mười và vấn đề tên gọi của các nhóm này phức tạp hơn Các nhóm Tày Mường còn có tên gọi
là Hàng Tổng và nhóm Tày Thanh còn gọi là Man Thanh Hàng Tổng là một
từ thuần Việt dùng để chỉ dân gốc của địa phương, còn Man Thanh cũng có ý nghĩa gần như Tày Thanh, cách gọi tên như vậy đã trở thành thói quen được duy trì đến ngày nay
Dù sự phân biệt thành các ngành Thái Trắng, Thái Đen ở miền núi của các tỉnh Bắc Trung Bộ không rõ ràng, nhưng nếu được hỏi thì người dân vẫn
có thể tự xác định mình thuộc ngành nào Bộ phận tự gọi là Tày Do ở Thanh Hóa và Tày Mường ở Nghệ An chỉ là một và họ tự nhận mình là người Thái Trắng Các nhóm Tày, Tày Mường ở Thanh Hóa gần gũi với nhóm Tày Thanh, Tày Mười ở Nghệ An và tự coi là người Thái Đen
Trang 31Cho đến nay, địa bàn cư trú của người Thái ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở hai vùng Tây Bắc và Bắc Trung bộ; vùng Tây Bắc gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình; vùng Bắc Trung Bộ gồm miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Ngoài ra ở một số tỉnh miền Trung Tây Nguyên cũng các cộng đồng dân tộc Thái cư trú tập trung thành xã, thành bản hoặc cư trú xen kẽ cùng với các dân tộc khác
Ở tỉnh Sơn La, người Thái đến đây theo quá trình đi chinh phục của
người thủ lĩnh Lạng Chượng Điều này được nhắc đến trong văn bản "Luật lệ
bản mường ở Mai Sơn" trong phần "Truyện kể mường": Ông Lạng Chượng
đưa quan từ Mường Lò lên đánh chiếm Mường Muổi, nhiều lần đánh không chiếm được ông liền rút quân đánh chiếm Mai Sơn Đánh chiếm xong Mai Sơn ông lại đưa quân lên đánh đất Mường Theng (Điện Biên) rồi lấy vợ, sinh
con ở đó Về sau hậu duệ của ông là Tạo Thâng khẳm khép may lương chuyển
hướng về Mường Muổi và Mường La đã đánh chiếm Mường Huak, Mường Quài (Tuần Giáo) sau về chiếm Mường Muổi và tư đây người Thái phát triển đi cư trú ở nhiều nơi của Sơn La [55, tr.184-186]
Họ của người Thái: Bạc, Bế, Bua, Bum, Cà (Hà, Kha, Mài, Sa), Cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Điều, Điêu, Hà, Hoàng, Khằm, Leo, Lèo, Lềm (Lâm, Lịm)
Lý, Lò (Lô, La), Lộc (Lục), Lự, Lường, (Lương), Manh, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngưu, Nho, Nhật, Panh, Pha, Phia, Quàng (Hoàng, Vàng), Quảng, Sầm, Tạ, Tày, Tao (Đào), Tạo, Tòng (Toòng), Vang, Vi (Vì) Xa (Sa), Xin
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội người Thái có những đặc điểm cơ bản
* Một số đặc trưng cơ bản của người Thái ở Sơn La
Với tính cách là một dân tộc tộc người, người Thái ở Sơn La cũng mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của người Thái Việt Nam:
Một là, Người Thái có tấm lòng thương người như thể thương thân, sẵn
sàng chia sẻ gánh nặng, khó khăn với người khác Tinh thần đó của người
Trang 32Thái góp phần hình thành nên truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng, có tinh thần tương thân tương ái Người Thái có ý thức mình là một dân tộc trong Quốc gia Việt Nam đã có từ bao đời, đồng bào tự nhận mình là người Thái của người Việt Nam hay là người Việt Đến Việt Nam và không phát triển lên thành một quốc gia độc lập, ngay từ ngày xưa người Thái đã sơm nhận thức cộng đồng dân tộc mình là một bộ phận không thể tách rời của nhà nước Việt Nam, nên người Thái ở Sơn La hình thành nên tình cảm sâu sắc với
tổ quốc “yêu bản, mến mường” (hặc bản, peng mường)
Hai là, người Thái sử dụng tiếng nói và chữ viết chung, thống nhất Hai
ngành Thái Trắng và Thái Đen, hay các nhóm Thái địa phương (Tày Thanh, Tày Mường, Tày Hàng Tổng ) trong ngôn từ có thể có sự khác nhau về âm điệu, do tác động của lịch sử định cư cùng với các dân tộc khác Nhưng cơ bản đều đồng nhất về ngôn ngữ Khi so sánh ngôn ngữ Thái với ngôn ngữ của một dân tộc cùng nhóm ngữ hệ như Tày, Nùng, Lào, Lự, Giấy thì có thể kết luận đó
là những ngôn ngữ có chung một cội nguồn Ngôn ngữ Thái, nhất là Thái cổ có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc hình thành ngôn ngữ Việt cổ Ngôn ngữ này có mấy đặc trưng cơ bản: Tiếng nói đơn âm, có thanh điệu (độ cao, thấp của từ có phân biệt ý nghĩa) và cấu tạo theo thứ tự chủ ngữ - vị ngữ - các thành phần khác, trừ những câu thuộc mệnh lệnh thức, ít có trường hợp ngược thứ tự này Văn tự Thái bắt nguồn từ bộ chữ Phạn Đặc điểm của cách cấu tạo chữ Thái rất thống nhất, đó là chữ ghép vần, có hệ thống phụ âm, nguyên âm để ghép lại thành tiếng, nếu so sánh chữ viết của người Thái về toàn bộ bảng chữ chỉ khác nhau 4 phụ âm (chữ Thái Sơn La gọi là ký tự đặc biệt)
Ba là, người Thái có chung đặc điểm về đời sống văn hóa và các nghi
lễ trong sinh hoạt đời sống thường nhật
Phương thức canh tác chủ yếu và phổ biến của người Thái là cách dẫn thủy nhập điền (Mương, Phai, Lái, Lin) dẫn nước vào các thửa ruộng bậc
Trang 33thang, sử dụng các công cụ sản xuất thành thạo; có tập quán trồng lúa nếp và dùng lúa nếp làm lương thực chủ yếu bằng cách đồ xôi để ăn
Về ẩm thực, người Thái có nhiều món ăn đặc trưng, trong đó phải kể đến như: món chẳm chéo (nước chấm), cơm lam, lạp, pịa, cỏi (một hình thức làm gỏi sống), pa pỉnh tộp (cá mổ dọc sống lưng và cho gia vị, rau thơm, gấp
cá lại và nướng), pa giảng (cá mổ ở sống lưng, lấy que xâu lại, gác bếp cho khô, sau đó hông lên để dùng); ceng bon (nấu canh bằng cây mùng ngọt)
Người Thái ở đâu cũng đều có tập quán ở nhà sàn Về nhà ở cơ bản kết cấu, sử dụng trong ngôi nhà có sự tương đồng: dựng cột, nhà có hai bên phân
biệt là quản (bên gian thờ) và chan (bên gần bếp núc), không phân buồng độc
lập mà để thông cả không gian nhà
Về mặc, phụ nữ mặc váy đen hoặc váy có thêu hoa văn thổ cẩm được cuốn bằng thắt lưng, có khăn piêu đội đầu, mặc áo cóm (áo ngắn, xẻ ngực, có đính cúc nhỏ hình cầu hoặc cúc bạc hình bướm, nhện, ve sầu, hoa (Tiếng Thái gọi là “xửa cỏm”); lúc trời rét hoặc nghi lễ có áo dài màu đen, xẻ nách hoặc kiểu áo chui đầu Nam giới xưa mặc quần đen hoặc quần trắng, không có túi, không dải rút mà dùng thắt lưng, mặc áo xẻ ngực, màu sắc thường màu đen, hoa văn kẻ hoặc màu gạch non, cúc áo bằng đồng hoặc tết bằng dây vải,
áo có hai túi ở vạt trước hoặc có thể có một túi ngực; mùa rét hoặc ngày lễ thì mặc áo dài đen xẻ nách, đầu quấn khăn
Người Thái ở đâu cũng cần cù, chăm chỉ, dũng cảm trong lao động và đấu tranh, tính tình thật thà, chất phác, giản dị, dung hòa, không thích tranh giành, ưa cuộc sống gắn với thiên nhiên Họ thích tự do phóng khoáng, ít tính toán trong sinh hoạt Người Thái rất mến khách, nên thường có tính rộng lượng, không chấp vặt, thích hòa giải các mâu thuân bằng đối thoại, tình cảm chứ ghét kiện tụng Sinh hoạt gia đình đầm ấm, vợ chồng ít có cãi cọ, mắng chửi nhau, hoặc cha mẹ cũng ít mắng chửi con cái Đàn ông thì xốc vác, chăm
Trang 34chỉ; đàn bà thì trung hậu, đảm đang, thương chồng, con Tình cảm của đồng tộc được thể hiện rõ rệt, biểu hiện ở trong tập tục, sinh hoạt gắn bó của người người trong bản, trong mường
Người Thái có đời sống tín ngưỡng phong phú, họ rất coi trọng phần hồn Người Thái quan niệm vạn vật hữu linh, riêng con người còn sống có đến 80 cái vía (xam xíp tang nả, hả xíp tang lăng), hồn vía người còn sống gọi là “phi
khuôn”, hồn vía người đã khuất gọi là “phi tai”, hồn vía của bố, mẹ đã quá cố gọi là “phi hươn”, linh hồn của tổ tiên gọi là “lắm pang” Do vậy, theo tục lệ,
người sống thì có tục gọi vía hoặc làm vía (hịak khuôn, peg khuôn), như một hình thức động viên tinh thần Đối với những người đã khuất theo tục lệ thì cúng ma nhà (xơ phi hườn, lắm pang), một hình thức như báo ơn tổ tiên Như vậy, kể cả người sống, người đã mất đều được ứng xử về mặt tâm linh gần như ngang nhau Đối với vạn vật xung quanh, như đất đai, rừng núi, sông ngòi, cây cối, vật nuôi người Thái luôn ứng xử một cách phù hợp, hài hòa, không gây hại mà có ý thức vun đắp để vạn vật luôn tồn tại, phát triển và đồng hành với cuộc sống của mình
Bốn là, người Thái có chung đặc điểm về thiết chế xã hội Đó là loại
hình tổ chức xã hội theo chế độ phìa tạo cai quản các mường, bản Xã hội
đó phân chia địa hạt hành chính thành từng châu mường Mỗi một châu mường (tương đương như một huyện ngày nay) đã hình thành một bộ máy thống trị của một dòng quí tộc thế tập Khác với thiết chế phong kiến nhà nước, xã hội Thái dù đã phát triển đến giai đoạn phong kiến sơ kỳ, nhưng duy trì chế độ sở hữu cộng đồng đối với tài sản như đất đai, rừng núi, sông, suối đất, ruộng được mang danh nghĩa toàn mường, mọi người tùy theo thân phận và địa vị có quyền sử dụng ruộng đất, theo lệ: ai gánh nhiều việc mường thì được nhiều đất, ai gánh ít thì được ít, ai không lĩnh đất ruộng thì không phải lo việc mường
Trang 351.2.2 Những đặc trưng cơ bản của phong tục, tập quán của người Thái ở Sơn La
Phong tục tập quán của dân tộc cũng đồng thời hàm chứa trong nó những giá trị văn hóa truyền thống Theo quy luật của sự phát triển, những phong tục lạc hậu đã tất yếu bị loại bỏ, thay thế hoặc biến đổi cho phù hợp với
xu thế và đòi hỏi của nhu cầu thực tiễn
Văn hóa dưới góc nhìn của văn hóa học là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong lịch sử, trong quá trình tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Theo đó khi nói
về đặc trưng của phong tục tập quán của người Thái cũng chính là nói về đặc trưng văn hóa của dân tộc này
1.2.2.1 Phong tục, tập quán Thái theo kiểu nền “Văn hóa thung lũng”
Trước hết, nói đến văn hóa của dân tộc Thái là phải nói đến một loại
hình văn hóa thung lũng Bởi lẽ, những nơi người Thái định cư thường là
những nơi gắn với các thung lũng, nơi gần có nguồn nước chảy tới được, đế canh tác trồng lúa nước Với những đặc điểm đặc thù về điều kiện tự nhiên của miền Tây Bắc đã hình thành nên một nền văn hóa tương ứng, đó là loại hình văn hóa thung lũng
Nói đến văn hóa thung lũng, chúng ta có thể hình dung được bức tranh toàn cảnh về đặc điểm cư trú và mối quan hệ giữa tộc người Thái với môi trường sinh sống là thung lũng lòng chảo Điều này cũng nói lên khả năng thích nghi của con người với tự nhiên bằng văn hóa của mình Văn hóa thung lũng của dân tộc Thái có các đặc trưng sau:
Cảnh quan địa lý là những thung lũng lòng chảo lọt vào vùng núi cao, rừng sâu, dầy khe, vực, sông suối cắt xẻ địa hình
Vùng sườn dốc nằm ở vành đai của các lòng chảo thì làm nương theo các phương pháp phát, đốt, chọc lỗ, tra hạt, có tác dụng bổ sung vào hệ thống
Trang 36trồng trọt Đây là đặc trưng chủ yếu nhất trong toàn bộ hệ thống văn hóa thung lũng của dân tộc
Các nóc nhà cư trú thành từng cụm gọi là bản từ khoảng 30 đến 50 nóc nhà (tuy nhiên bây giờ có những bản lên đến hàng trăm hộ) được tự do khai thác tự nhiên Ngoài việc chính làm ruộng và làm nương, mỗi một hộ gia đình đều tiến hành nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá, làm các nghề thủ công, trong đó nổi lên là nghề trồng bông dệt vải và tiến hành hái lượm, săn, thu bắt thủy sản
1.2.2.2 Tập quán sản xuất mang tính chất nền sản xuất tiền công nghiệp
Do điều kiện môi trường sống có nhiều điểm đặc thù cho nên định hướng tác động trong khai thác tự nhiên của truyền thống Thái là đồng ruộng thung lũng lòng chảo và nương rẫy bên sườn núi Đồng bào có truyền thống chính là làm ruộng, làm nương Ngoài ra, các gia đình nông dân Thái đều chăn nuôi: gà, vịt, bò, dê, trâu, lợn Các gia đình Thái còn tiến hành làm các nghề phụ, trong đó đàn ông thì đan lát và đan chài, đàn bà thì dệt vải và thêu thùa Sản phẩm là những tấm thổ cẩm nhiều màu sắc văn hoa khá đẹp mắt Nhu cầu về vải ở người Thái rất cao nên người phụ nữ phải suốt đời gắn với
nghề dệt mà hình thành quan niệm “Báu mi ngân tham ải, báu mi phải tham
êm” (không có tiền hỏi bố, không có vải hỏi mẹ) Xưa, ở một số nơi như
Mường Chanh còn tiến hành làm đồ gốm
Trang 37Người Thái tập trung ở các vùng đồi núi, len dưới các lòng chảo, gắn
bó với thiên nhiên, do đặc điểm địa hình vùng cao nên thời tiết vùng người Thái định cư có hai mùa rõ rệt: mùa mưa (mùa nóng) bắt đầu từ tháng 5,6 đến tháng 10,11 dương lịch, tương ứng với lịch Thái là từ tháng 10 đến tháng 3; mùa hanh khô bắt đầu từ tháng 10,11 đến tháng 4,5 dương lịch, tương ứng với lịch Thái là tháng 4,5 đến tháng 9,10 Dựa vào đó, đồng bào hướng việc sản xuất phù hợp với tự nhiên để đảm bảo cuộc sống Trình độ lực lượng sản xuất chậm phát triển, kinh tế chủ đạo quyết định sự tồn tại của xã hội cổ truyền Thái là trồng trọt và chăn nuôi Đồng bào trồng nhiều loại cây nhưng chủ yếu
là cây lúa Nông nghiệp của đồng bào Thái mang tính độc canh rõ rệt, mọi hoạt động sản xuất đều xoay quanh việc làm ra thóc gạo Nếu như người Kinh
có câu “quý hồ nhiều lúa là tiên” thì người Thái có câu “thóc lúa ngồi trên,
tiền bạc ngồi dưới” (khảu nặm năng nưa, ngân căm năng tạư) Đối tượng lao
động chủ yếu của đồng bào Thái là ruộng và nương Người Thái gọi tầng lớp
lao động của mình là “ông nương - bà ruộng” (po hay - me na)
Bình nguyên thung lũng thông thường được tạo bởi một hay nhiều dòng suối, con sông và các chi lưu của nó Bám trụ trong điều kiện tự nhiên
như thế, dân tộc Thái đã tạo ra được đồng ruộng trồng lúa (na, tông na) với biện pháp dẫn thủy nhập điền thông qua hệ thống mương, phai, lái, lin để dẫn
nước vào các thửa ruộng bậc thang Đó chính là bốn cách biến dòng chảy tự nhiên thành nguồn nước tưới và tiêu nước cho toàn bộ đồng ruộng mà ta có thể tóm tắt như sau:
Mương: Là đường khai thông để dẫn nước vào ruộng, với việc đào
mương có thể dễ thấy người Thái đã đạt được những thành tựu đáng kể
Phai: Là một loại đập ngăn trên con sông hoặc suối do người Thái
dựng bằng gỗ, tre, nứa để dâng nước đổ vào mương rồi dẫn tới ruộng Phai quyết định lưu lượng nước trong mương Phai vững thì mương có nước tưới
Trang 38cho ruộng và mùa màng thu hoạch tốt Ngược lại, phai vỡ thì mương, ruộng khô, mùa màng thất bát
Lái: Bao gồm những phai của hệ thống cọn nước Hệ thống cọn nước
tiếng Thái được gọi là “lốc” và “cọn” Lái bao gồm những phai phụ của phai
chính dùng để ngăn nước ở những đoạn mương bị vỡ, dẫn nước mương chảy qua những chướng ngại vật lớn như tảng đá, cây cối lái cũng là những đoạn phai ngăn đắp ở phần suối nước trên bờ lở để tránh nước xói mòn vùng bờ
ruộng hoặc xói vào các điểm tựa của “mẹ nặm cát” (me con xai) của phai
Lin: Là hệ thống máng dẫn nước vào ruộng Hệ thống này thường được
làm bằng các loại cây có dóng như: tre, nứa, bương, vầu, thân gỗ đục hoặc vỏ cứng của cây báng, cây móc Máng cũng có nhiều loại và mỗi loại có tên gọi
khác nhau Máng ngắn dẫn nước từ mương vào ruộng gọi là “to” hay “lay”, máng dài gọi là “lin”
Những biện pháp thủy lợi thủ công này đã xuất hiện cùng với việc ổn định nơi cư trú, lập bản dựng mường của người Thái Dân tộc Thái đã sớm biết sử dụng sức kéo của gia súc trong canh tác, phổ biến là sức trâu, bò
Người Thái bên cạnh làm ruộng lúa còn kết hợp làm nương, chủ yếu trồng lúa, ngô, sắn là chính Nương lúa cùng ruộng lúa có tác dụng cung ứng
về thóc gạo, nương ngô giúp thêm cái ăn cho con người và gia súc Nương còn cung cấp các loại thức ăn có bột khác như khoai sọ, khoai lang, sắn ; những cây có dầu như lạc, vừng ; đặc biệt là cây bông để làm nguyên liệu dệt Người Thái làm nương theo phương pháp chặt, phát cây, đốt, chọc lỗ, tra hạt Nương chỉ làm được ba vụ rồi phải bỏ hoang hóa theo chu kỳ khép kín (Ngày xưa không có phân bón, chỉ dựa vào độ màu mỡ của đất, nên sau canh tác khoảng ba vụ là người Thái bỏ hoang, sau vài năm mới quay lại tòng tiếp) Cách sản xuất dựa vào nương rẫy này đã lỗi thời, cần bỏ vì việc chặt phá rừng gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường sống Thay vào đó là việc phát triển
Trang 39các loại cây có giá trị hàng hóa cao để tăng thu nhập, đồng thời trồng rừng và phục hồi rừng dưới sự lãnh đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương Trong cấu trúc văn hóa mưu sinh, hình thức canh tác nương rẫy chiếm phần quan trọng sau làm ruộng, nằm trong lãnh thổ bản
Như vậy, có thể khẳng định người Thái có phương thức canh tác chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, với hai loại hình là ruộng nước và nương rẫy, công cụ sản xuất thủ công và thô sơ
1.2.2.3 Tổ chức xã hội Thái theo tập quán quần cư với các thiết chế gia đình, bản, mường
* Gia đình: Người Thái gọi gia đình là hươn và được phân thành hai
loại hình:
- Tiểu gia đình phụ hệ - Chỉ một đơn vị tế bào xã hội, được hợp bởi một
cặp vợ chồng có thể đã, chưa hoặc không có con Nếu có thì chúng cũng chưa trưởng thành, chưa đủ các điều kiện để lập gia đình riêng Tiểu gia đình phụ
hệ Thái, đến nay vẫn giữ những tập quán của mối quan hệ thân thuộc trong họ hàng Khi hai cá thể nam, nữ đã thiết lập thành một tổ hợp gia đình, thì lập tức
mỗi cá thể ấy sẽ hình thành cho mình một tập quán quan hệ ba chiều là: ải
nọng- lung ta- nhinh xao (mối quan hệ này được tác giả thể hiện rõ trong luận
văn từ trang 49 - 51)
Từ lâu gia đình hạt nhân đã trở thành tế bào kinh tế - xã hội Thái, là mô hình gia đình phổ biến nhất trong xã hội Thái từ trước tới nay, nó tồn tại trong phong tục tập quán, nếp sống và tư duy về mối quan hệ thân thuộc được gọi là
ba họ Là người Thái, bất cứ cá nhân và hạt nhân gia đình nào không giữ được
nề nếp, vô tình hay hữu ý làm trái các quy định phong tục tập quán: ải nọng - lung ta - nhinh xao chắc chắn sẽ bị xã hội lên án, chê trách
- Đại gia đình phụ hệ: là đơn vị kinh tế - xã hội tổ hợp bởi ít nhất có hai
gia đình hạt nhân Trong đó, những người chồng cùng chung hệ dòng cha nên
Trang 40gọi là đại gia đình phụ hệ Mô hình gia đình này không phổ biến, ta có thể hình dung nó như dấu ấn còn xót lại của lối sống thời tiền sử Hiện nay, mô hình gia đình này còn rất ít theo nghĩa trọn vẹn của nó Nó có những đặc điểm
cơ bản đó là: Các gia đình nhỏ trong đại gia đình bao gồm tất cả các nhóm
"ải nọng" tức anh em trong cùng một ông tổ sinh ra, vẫn ở chung trong một
nóc nhà gọi là chua hươn Ông tổ ấy chính là người mang cái tên thuật ngữ hệ thống thân tộc là Pấn Người đứng đầu gia đình lớn mang tên là Chưởng cốc hay Phủ cốc có nghĩa "người làm gốc của họ" Từ đời cha trở lên thế hệ khác,
hễ ai còn sống thuộc chi trên là anh thì người đó mặc nhiên là Chưởng cốc
Đây là tập quán bất di bất dịch và không có ngoại lệ Trong gia đình lớn như vậy, các gia đình chỉ là thành viên không phải là một đơn vị kinh tế - xã hội riêng biệt mà thống nhất Mọi tài sản có trong gia đình đều là của chung, mọi nhu cầu tiêu dùng trong gia đình đều dùng của chung, mọi vấn đề của gia đình nhỏ đều coi như việc chung của cả gia đình Các gia đình hạt nhân phải có trách nhiệm giúp đỡ việc thực hiện tiêu dùng cho thật tốt
* Bản mường: Trong tiếng Thái bản là cụm từ chỉ hai đơn vị hành
chính là bản và mường, trong đó:
- Bản: là một đơn vị tổ chức cư dân ổn định, có ranh giới đất đai rõ rệt,
ranh giới đất đai giữa các bản của người Thái không được cắm mốc, mà chủ
yếu dựa vào quan niệm “giọt nước phân đôi” (chỗ nào nước ngả về hai phía
sườn dốc thì đó là danh giới giữa các bản Trong mỗi bản Thái cư trú một nhóm đồng tộc, ít khi người Thái ở cùng với nhóm tộc người khác Thường thì các nóc nhà trong một bản đều nằm trong mối quan hệ thân thuộc chặt chẽ,
do đường dây sinh thành và hôn nhân tạo ra Bản lớn thường ở gần chợ hoặc bến nước thường là trung tâm của một mường Vùng đất bản hoàn chỉnh phải
có hàng chục gia đình trở lên, bao gồm các vùng tự nhiên như: những thung lũng lòng chảo lớn, những phạm vi đất núi rừng, những đoạn sông khúc suối, khe lạch Bản còn là một đơn vị cư dân có tổ chức nên từ lâu đã là tổ hợp