Nguyễn Công Hoan tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm lâm học và phân bố tự nhiên cây xoan đào Pygeum arboreum Endl tại xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn ’’ T
Trang 1HOÀNG VĂN PHONG
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC VÀ PHÂN BỐ TỰ NHIÊN
CÂY XOAN ĐÀO (PYGEUM ARBOREUM ENDL)
TẠI XÃ BÌNH TRUNG, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2012 – 2016
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2HOÀNG VĂN PHONG
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC VÀ PHÂN BỐ TỰ NHIÊN
CÂY XOAN ĐÀO (PYGEUM ARBOREUM ENDL)
TẠI XÃ BÌNH TRUNG, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Lâm nghiệp Lớp : K44 - LN Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2012 – 2016 Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Trần Quốc Hưng
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
XÁC NHẬN CỦA GVHD
Đồng ý cho bảo vệ kết quả Người viết cam đoan
trước Hội đồng khoa học!
Trần Quốc Hưng Hoàng Văn Phong
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, thực tập là giai đoạn sinh viên tiếp xúc với thực tế, đây là thời gian để sinh viên làm quen với công tác điều tra nghiên cứu Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TS Trần Quốc
Hưng và thầy giáo Ths Nguyễn Công Hoan tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm lâm học và phân bố tự nhiên cây xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn ’’
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa cùng với sự phối hợp giúp đỡ của các cán bộ, lãnh đạo các cơ quan ban ngành của UBND huyện Na rì, các xã trong huyện
và các hộ gia đình trong thôn đã tạo mọi điều kiện cho tôi thu thập thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp
Do trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế do vậy khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Hoàng Văn Phong
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Ký hiệu độ nhiều (độ dầy rậm) thảm tươi 31
Bảng 4.1: Các pha vật hậu của loài Xoan đào tại xã Bình Trung 37
Bảng 4.2 Đặc điểm đất tại nơi Xoan đào phân bố theo chân, sườn, đỉnh 40
Bảng 4.3: Đặc điểm cấu trúc tổ thành trạng thái IIA vị trí Chân 41
Bảng 4.4: Công thức tổ thành rừng nơi có loài Xoan đào 42
Bảng 4.5: Đặc điểm cấu trúc tổ thành trạng thái IIA vị trí Sườn 42
Bảng 4.6: Công thức tổ thành rừng nơi có loài Xoan đào 43
Bảng 4.7: Đặc điểm cấu trúc tổ thành trạng thái IIA vị trí Đỉnh: 43
Bảng 4.8: Công thức tổ thành rừng nơi có loài Xoan đào 44
Bảng 4.9: Chiều cao của lâm phần và Xoan đào tại khu vực nghiên cứu 44
Bảng 4.10: Mật độ tầng cây cao và mật độ Xoan đào 44
Bảng 4.11: Cấu trúc tổ thành, mật độ tầng cây tái sinh 45
Bảng 4.12: Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao của lâm phần và Xoan đào 47
Bảng 4.13 Số lượng và tỷ lệ cây Xoan đào tái sinh theo nguồn gốc 48
Bảng 4.14: Chất lượng và tỉ lệ cây Xoan đào tái sinh trong lâm phần 48
Bảng 4.15 Tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng trong OTC 49
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu của đề tài 22 Hình 4.1: Hình thái thân cây Xoan đào tại xã Bình Trung 34 Hình 4.2: Hình thái lá cây Xoan đào tại xã Bình Trung 35
Trang 7CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Từ, cụm từ viết tắt Giải thích
OTC Ô tiêu chuẩn
UBND Ủy ban nhân dân
Stt Số thứ tự
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Phần 1.MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
2.1.1 Trên Thế giới 4
2.1.2 Ở Việt Nam 8
2.1.3 Những nghiên cứu về cây Xoan đào 13
2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu 15
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 17
2.2.3 Nhận xét, đánh giá chung thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tới loài Xoan đào 19
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Nội dung 21
3.2.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây cao có cây xoan đào phân bố 21
3.2.3 Đặc điểm cấu trúc tầng tái sinh 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.3.1 Cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu 22
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu chung 22
3.3.3 Phương pháp điều tra cụ thể 23
3.3.4 Phương pháp luận 26
3.3.5 Phương pháp thu thập số liệu 26
Trang 93.3.6 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng 28
3.3.7 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng 31
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu của Xoan đào tại Bình Trung 34
4.1.1 Đặc điểm hình thái thân, cành, lá cây Xoan đào 34
4.1.2 Đặc điểm hình thái hoa, quả cây Xoan đào 36
4.2 Đặc điểm vật hậu cây Xoan đào 36
4.3 Đặc điểm sinh thái nơi Xoan đào phân bố 39
4.3.1 Điều kiện khí hậu nơi Xoan đào phân bố 39
4.3.2 Đặc điểm đất nơi Xoan đào phân bố được thể hiện ở bảng 4.2 40
4.4 Đặc điểm cấu trúc tầng cây cao 41
4.4.1 Cấu trúc tổ thành 41
4.4.2 Cấu trúc tầng thứ được thể hiện qua bảng 4.9 44
4.4.3 Cấu trúc mật độ toàn rừng và mật độ Xoan đào 44
4.5 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh 45
4.5.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh được thể hiện ở bảng 4.10 45
4.5.2 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao 47
4.5.4 Số lượng cây tái sinh theo nguồn gốc 48
PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Tồn tại 53
5.3 Khuyến nghị 53
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng
Họ thực vật hoa hồng (Rosaceae), là một họ thực vật điển hình của rừng nhiệt đới Đông Nam Á, Có phân bố rộng trải suốt khu vực từ Ấn Độ đến Philippin, gồm 13 chi và 470 loài Trung tâm phân bố của các loài cây họ thực vật hoa hồng còn có cả ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam, Myanmar và Trung Quốc (Thái Văn Trừng, 1978 [27]) Hệ sinh thái của các loài cây họ thực vật hoa hồng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng chịu tác động rất mãnh liệt bởi các nhân tố phát sinh Tác động này không chỉ chi phối phạm vi phân bố mà còn tạo nên sự đa dạng về kiểu rừng, về tổ hợp cây ưu thế tạo thành nhiều trạng thái rừng khác nhau
Hệ sinh thái rừng cây họ thực vật hoa hồng ở khu vực phía Bắc chủ yếu là các kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới mà tổ thành là các loài cây lá rộng họ 3 mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Dẻ (Fabaceae), Họ Xoan (Meliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đậu (Fabaceae) Các loài cây họ thực vật hoa hồng cây Xoan đào, Táu mật ,Táu muối, chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong cấu trúc tổ thành rừng tự nhiên lá rộng thường xanh (Thái Văn Trừng, 1983 [27]
Trang 11Cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl), mới được nghiên cứu ở nước
ta vào những năm 1965 với công trình nghiên cứu của Lê Viết Lộc về “Bước đầu điều tra thảm thực vật rừng Cúc Phương” Công trình đã tiến hành điều tra
47 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000 m2 và 2000 m2 và đã xây dựng được bản đồ phân bố của 11 loại hình ưu thế trong vùng nghiên cứu cho thấy ở Cúc phương Xoan đào là cây ưu thế lập quần trong loại hình ưu thế: Sâng – Sấu – Xoan đào - Đinh hương (Lê Viết Lộc, 1964 [19])
Xoan đào mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và là loài cây tiềm năng có thể ứng dụng trong lâm nghiệp đô thị, trồng rừng hay có thể phát triển nghiên cứu, nhưng sự phân bố của loài này tại khu còn ít được biết đến
Từ thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học và phân bố tự nhiên cây xoan đào tại xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” Nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hướng giải
pháp và phát triển loài cây có triển vọng và hiếm này tại xã Bình Trung
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định được phân bố tự nhiên và đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Xoan đào tại xã Bình Trung, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được phân bố, đặc điểm lâm học, đặc điểm sinh thái cây
Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại khu vực nghiên cứu phục vụ công tác
bảo toàn loài
- Xác định được những đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Xoan đào
- Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển
Trang 121.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Thực hiện đề tài củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên và giúp cho sinh viên có cơ hội thực hành bài học ngoài thực địa, củng
cố các kiến thức đã học, vận dụng các lí thuyết vào thực tế, nâng cao khả năng thu thập, tích lũy, phân tích, xử lí thông tin hiệu quả, đồng thời củng cố kĩ năng giao tiếp, tiếp cận và làm việc với cộng đồng, người dân
- Ý nghĩa trong thực tiễn
Nghiên cứu loài Xoan Đào làm cơ sở đề xuất hướng bảo tồn và phát triển loài tại xã Bình Trung
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1.1 Trên Thế giới
2.1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống hoà thuận trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường sinh thái Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards, P W (1952) [20], Baur, G N (1964) [22], Odum, E P (1971) [20], … tiến hành
Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Baur, G N (1964) [22],, đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó
đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu sử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động sử lý lâm sinh cải thiện rừng
Odum, P (1971) [20] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên
cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (Ecosystem) của Tansley (1935) Khái niệm sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học
Trang 14Richards, P W (1959, 1968, 1970) [21] đã phân biệt tổ thành rừng mưa nhiệt đới làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây
Schumarcher, F X và Coil, T X (1960) [25] đã sử dụng hàm Weibull
để mô hình hoá cấu trúc đường kính loài Bên cạnh đó các hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Peason, Poisson cũng đã được nhiều tác giả sử dụng để
mô hình hoá cấu trúc rừng
Việc định lượng các đặc điểm cấu trúc rừng đã được tác giả trên thế giới sử dụng trong quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái rừng tự nhiên, kể cả các hệ sinh thái rừng tự nhiên vùng nhiệt đới (Weidelt 1968, Brun 1969, H Lamprecht 1969)
Phương pháp phân tích lâm sinh đã được Lamprecht, H (1969) [24] mô
tả chi tiết Các tác giả nghiên cứu rừng tự nhiên vùng nhiệt đới sau đó đã vận dụng phương pháp này và mở rộng thêm những chỉ tiêu định lượng mới cho phân tích cấu trúc rừng tự nhiên như Kammesheidt (1994) [23]
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng 2.1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Như chúng ta đã biết tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như: Dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây tái sinh là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ
Trang 15Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1952; Baur G N, 1964; Rollet, 1969) Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng tự nhiên vô cùng phức tạp và còn ít được quan tâm nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng ít nhiều đã bị biến đổi Van Steenis, J (1965) [26] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưu sáng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu qủa các cách sử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Công trình của Walton, A B Bernard, R C - Wyatt Smith (1950) với phương thức rừng đồng tuổi ở Mã Lai ; Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng ở Nijêria và Gana Nội dung hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh
đã được Baur, G N (1976) tổng kết trong tác phẩm cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W (1952), Bernard Rollet (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m; 1 x 1,5m) cây tái sinh tự nhiên
có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson Ở Châu Phi trên cơ sở các
Trang 16số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [2]
Lamprecht, H (1969) [24] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sinh sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Tác giả Baur, G N (1976) [19] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây
có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ
và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh
Trang 17không đáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân
tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [11]
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1]
Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy
từ 1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981-1992) đã cho biết chỉ số đa dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy
bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có
60 họ, 134 chi, 167 loài (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1]
Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững
2.1.2 Ở Việt Nam
2.1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả tập trung vào các đặc điểm cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên, rừng trồng nhằm phục vụ cho việc
Trang 18kinh doanh rừng lâu dài và ổn định, nhiều tác giả đã đi sâu vào mô phỏng các cấu trúc rừng từ đơn giản đến phức tạp bằng các mô hình
Trần Ngũ Phương (1970) [8] đã đề cập tới một hệ thống phân loại, trong đó rất chú ý tới việc nghiên cứu quy luật diễn thế rừng
Ngày nay, hệ thống phân loại thảm thực vật UNESCO (1973) [27] được coi là khung phân loại chung cho TTV trên trái đất Hệ thống phân loại này dựa vào cấu trúc ngoại mạo với sự bổ sung của các thông tin chung về sinh thái, địa lý Thảm thực vật chia thành 5 lớp quần hệ: 1 Lớp quần hệ rừng kín; 2 Lớp quần hệ rừng thưa; 3 Lớp quần hệ cây bụi; 4 Lớp quần hệ cây bụi lùn và các quần xã gần gũi; 5 Lớp quần hệ cây thảo Trong lớp quần hệ cây bụi chia ra thành 2 phân lớp: phân lớp quần hệ cây bụi chủ yếu thường xanh và phân lớp quần hệ cây bụi chủ yếu rụng lá Trong mỗi phân lớp này được chia thành nhiều nhóm quần hệ và quần hệ thảm cây bụi
Thái Văn Trừng (1978)[15] khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nước ta đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết
Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000)[16] dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi
là 14 quần hệ) Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung thêm nhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của GS Thái Văn Trừng từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Khi nghiên cứu cấu trúc, việc mô hình hoá quy luật phân bố số cây theo đường kính và theo chiều cao được chú ý nhiều hơn Đây là quy luật cơ bản nhất trong các quy luật kết cấu lâm phần Biết được quy luật phân bố, có thể xác định được số cây tương ứng từng cỡ kính hay từng cỡ chiều cao, làm cơ
sở xác định trữ lượng lâm phần
Trang 19Nguyễn Văn Trương (1983) [14] khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài
đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, Vũ Đình Phương và cộng sự (1987) [10] đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng có sự phân tầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng đã phát triển ổn định mới sử dụng phương pháp định lượng để xác định giới hạn của các tầng cây
Nguyễn Anh Dũng (2000) [4] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ cho hai trạng thái rừng là IIA và IIIA1 ở lâm trường Sông
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [12], thống kê thành phần loài của Vườn Quốc Gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 loài cây có ích ở Tam Đảo thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành Dương xỉ, ngành Hạt trần và ngành Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Trong các loài trên có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần
được bảo tồn như: Hoàng thảo tam đảo (Dendrobium daoensis), Trà hoa dài (Camellia longicaudata), Trà hoa vàng tam đảo (Camellia petelotii), Hoa tiên (Asarum petelotii), Trọng lâu kim tiền (Paris delavayi)
Đặng Kim Vui (2002) [17], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng
ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ
Trang 201 - 2 tuổi (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ
và họ Hoà thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất 10 loài, sau đó đến họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Misaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) mỗi họ có 4 loài Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số cá thể trong ô tiêu chuẩn cao nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ che phủ thấp nhất 75-80%, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi
Như vậy, có nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài đều cho rằng việc phân chia loại hình rừng ở Việt Nam là rất cần thiết đối với nghiên cứu cũng như trong sản xuất Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các đặc điểm của đối tượng cần quan tâm
2.1.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Vấn đề tái sinh đã được Viện điều tra quy hoạch rừng tiến hành nghiên cứu từ những năm 60 (thế kỷ XX) tại địa bàn một số tỉnh Quảng Ninh, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), Quảng Bình các kết quả nghiên cứu bước đầu đã được Nguyễn Vạn Thường (1991) [13] tổng kết và kết luận về tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng miền Bắc Việt Nam, hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chất chu kỳ Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều,
số cây mạ có h<20cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp kích thước khác Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loài cây gỗ cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên
Trang 21Trần Ngũ Phương (1970) [8] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”
Vũ Tiến Hinh (1991) [5] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng, hệ
số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan chặt chẽ với nhau Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thì hệ số
tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy
Thái Văn Trừng (2000) [16] khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam, đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng Nếu các điều kiện khác của môi trường như: đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì
tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường
Trần Ngũ Phương (2000) [9] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và
sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này
Trang 22sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”
2.1.3 Những nghiên cứu về cây Xoan đào
2.1.3.1 Trên Thế giới
a, Phân loại và thực vật học
Xoan đào có tên khoa học là (Pygeum arboreum Endl) tên đồng nghĩa
(Prunus arborea), tên khác theo tiếng Thái Lan - Lào May Mactec, thuộc họ
Rosaceae Trên thế giới Xoan đào phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới (Việt Nam, Lào, Campuchia, Ấn độ, Pakistan, Chine, Myanmar, Thailand )
Xoan đào là cây gỗ lớn trong điều kiện tự nhiên cây có thể cao tới 40m đường kính 75cm ).Thân cây hình trụ, thẳng, vỏ mỏng, nhẵn màu xám bạc, bên ngoài vỏ màu xanh lá cây, dác gỗ màu trắng Cành non được bao phủ bởi lông mịn dày đặc màu nâu, lá đơn nguyên hình trứng hoặc elip rộng 2-7cm, dài khoảng 15cm, 2 mặt
lá đều có lông Hoa chùm màu vàng trắng mọc ở nách lá hình chuông chia làm nhiều thùy Quả hạch, hình cầu, có lông, đường kính khoảng 0,5cm màu xanh lá cây sau đó màu đỏ hoặc đen
b, Đặc điểm sinh thái
Xoan đào là loài cây mọc phân tán (ít khi mọc thành cụm) trong các rừng nguyên sinh và thứ sinh Là loài cây ưa sáng khi trưởng thành, sinh trưởng tương đối nhanh, dễ gây trồng, có thể trồng thuần loài hoặc hỗn giao với nhiều loài cây khác Ở giai đoạn cây tái sinh thường chịu bóng, sinh trưởng mạnh khi vượt qua tầng cây bụi thảm tươi trong các loại rừng thứ sinh
Xoan đào có biên độ sinh thái rộng và gây trồng trên nhiều loại đất, nhiều loại lập địa khác nhau Song những nơi còn tính chất đất rừng cây sinh trưởng và tái sinh mạnh hơn
c, Giá trị sử dụng
Gỗ Xoan đào được xếp ở nhóm VI, gỗ bền đẹp có đặc tính cơ lý rất tốt, trọng
Trang 23lượng gỗ trung bình, bề mặt gỗ có màu đỏ nhạt dễ gia công dùng để đóng đồ nội
thất và cao cấp trong gia đình
2.1.3.2 Ở Việt Nam
* Phân loại, tên gọi, mô tả hình thái
- Tên thường gọi: Xoan đào hay Mạy thoong (theo dân tộc Tày)
- Tên khoa học là Pygeum arboreum Endl
- Họ thực vật: Hoa hồng (Rosaceae)
a Đặc điểm hình thái
Cây gỗ lớn cao 20-25m, thân thẳng tròn,đường kính 40-60cm Vỏ nhẵn màu tro bạc, cành non phủ đầy lông mịn màu rỉ sắt, có nhiều bì khổng tròn, màu nâu nhạt Toàn thân có mùi hôi bọ xít
Lá đơn nguyên, phiến lá dày, hơi nhọn Hoa chùm mọc ở nách lá, màu trắng vàng, đài hình chuông chia làm nhiều thùy Cánh hóa nhỏ, phủ nhiều lông
Xoan đào ra hoa tháng 8-9 quả chín tháng 11-12, khi chín chuyển từ màu xanh sang màu nâu nhạt Quả hạch, hình thận, đường kính 2cm Hạt có màu nâu nhạt, có nhiều dầu thơm
b Đặc tính sinh thái
Theo nghiên cứu của Vũ Văn Thông (1993, 2001) Xoan đào là cây bản địaphân bố rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh, có mặt hầu hết ở các tỉnh miền Bắc, sinh trưởng tốt và đây là loài cây khôi phục diện tích rừng bị suy thoái
Nguyễn Thị Nhung (2009) [7] Xoan đào là cây ưa sáng, sinh trưởng tương đối nhanh, chu kỳ kinh doanh không quá dài tùy theo mục đích kinh doanh song 10-15 năm cây có thể khai thác gỗ để đóng đồ gia dụng, Xoan đào
dễ gây trồng, có thể trồng hỗn giao với nhiều loài cây khác Cây tái sinh mạnh trong các loại rừng thứ sinh có độ tàn che từ 0,3-0,5 Cây Xoan đào có biên
độ sinh thái rộng nên có thể gây trồng ở các tỉnh miền Bắc những nơi có
Trang 24lượng mưa bình quân 1500-2500mm/năm, nhiệt độ bình quân 20-27°C Có thể trồng ở các loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất là những nơi còn tính chất đất rừng hoặc trên là đất Feralit sâu dày, ẩm mát, thoát nước
c, Giá trị sử dụng
Xoan đào có gỗ giác màu hồng nhạt hơi vàng, lõi màu đỏ nâu nhạt Vòng năm có thể thấy trên mặt cắt ngang, gỗ có màu sẫm, tia nhỏ mật độ cao, mạch to trung bình Nhu mô quanh mạch hẹp Gỗ bền, tỷ trọng: 0,518, lực kéo ngang thớ 26 kg/cm2 Nén dọc thớ 368 kg/cm2, oằn 0,865 kg/cm2, dùng xây dựng đóng đồ gia đình Gỗ Xoan đào xếp nhóm VI, dùng trong xây dựng, đóng đồ, công vụ nông nghiệp Hạt ép dầu ăn hoặc để đốt, tỷ lệ dầu trong hạt 40-45% Hạt giã nhỏ sao với rượu đắp vào chỗ gãy xương làm vết thương chóng lành
2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
2.2.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Xã nằm về phía nam huyện Chợ Đồn cách trung tâm huyện 30km giáp với các xã sau:
Phía bắc giáp xã Nghĩa Tá, Phong Huân
Phía đông giáp xã Yên Nhuận
Phía nam giáp xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
Phía tây giáp xã Trung Minh, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Trang 25Những nhóm loại đất chính có trong khu vực gồm:
Đất feralit vàng nhạt trên núi trung bình (13.38%)
Đất feralit điển hình trên núi thấp, đất có pha mùn (71.62%), thích hợp phát triển cây lâm nghiệp
Đất dốc tụ và phù sa ở ven sông suối, thung lũng và các bãi chân núi (7.9%), là loại đất tốt, thích hợp với việc canh tác nông nghiệp Đất có tầng dày, màu mỡ
Đất feralit trên đá vôi (7.43%)
Chế độ nhiệt:
Trong khu vực xã Bình Trung nhiệt độ trung bình năm khoảng từ 25 - 35°C Mùa đông rét đậm, nhiệt độ xuống 4-5oC Gió khô và nóng thường xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm Ngày nóng nhiệt độ lên đến 35-38o
C Chế độ mưa:
Lượng mưa trung bình năm: 1700mm Mùa mưa rừ tháng5 đến tháng10, lượng mưa chiếm 75-80% lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng7 và tháng8 Số ngày mưa trong năm vào khoảng: 150-179 ngày/năm
Trang 26triển nhiều loại cây trồng Tuy nhiên yếu tố bất lợi do khí hậu đem lại cũng có những ảnh hưởng nhất định đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
2.2.1.5 Hiện trạng rừng và sử dụng đất
2.2.1.6 Tài nguyên nước
Tại xã Bình Trung, phần lớn các thôn bản được sự hỗ trợ của các chương trình đầu tư đã xây dựng hệ thống kênh mương, nước sạch đảm bảo tưới tiêu và sinh hoạt
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Tổng diện tích đất nông nghiệp 6161,89ha chiếm 94,26% diện tích đất
tự nhiên Đã góp phần vào phát triển kinh tế xã hội nói chung và thu nhâp của người dân trong địa bàn xã nói riêng Đất trồng cây hàng năm chủ yếu là trồng cây lúa nước tuy nhiên do thời tiết khắc nghiệt nên năng suất không được cao nên hầu hết người dân tâp trung đầu tư vào trồng cây lâm nghiệp
- Chăn nuôi:
Ngành chăn nuôi trên địa bàn xã có quy mô không lớn, có nhiều biến động và hiệu quả kinh tế chưa cao Nhìn chung trong những năm gần đây tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp.đồng thời giá cả biến động khá lớn làm cho ngành chăn nuôi của xã phát triển không được như mong muốn
Trang 27tham gia bảo vệ rừng thì hiện tượng khai thác gỗ và săn bắt thú rừng bừa bãi không còn xảy ra thường xuyên, công khai
Công tác bảo vệ rừng, xây dựng phương án phòng chống cháy rừng, bảo vệ rừng tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân qua các buổi họp thôn và sinh hoạt các chi hội đoàn thể, trong năm không xảy ra cháy rừng, thường xuyên kiểm tra việc khai thác rừng tận thu lâm sản từ xử lý thực bì, trồng rừng
2.2.2.4 Thực trạng cơ sở hạ tầng
- Giao thông:
- Tổng chiều dài đường giao thông trên địa bàn xã là 69,5km, trong đó: + Đường dải nhựa lien xã 15km
+ Đường đất liên thôn chiều dài 15km
+ Đường đất nội thôn khoảng 75km đường hẹp và lầy lội vào mùa mưa
- Y tế: Chú trọng công tác phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực
phẩm, khám chữa bệnh Triển khai các chương trình Y tế Quốc gia theo kế hoạch, tổ chức tiêm chủng cho trẻ theo kế hoạch, tổ chức tiêm chủng cho trẻ
em trong độ tuổi đầy đủ kịp thời, các dịch bệnh lớn không xảy ra do làm tốt công tác phòng bệnh
- Giáo dục:
Đội ngũ giáo viên ổn định và tân tâm với nghề, chất lượng dạy và học từng bước được nâng lên, tỷ lệ trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%, tỷ lệ học sinh thi tốt nghiệp tiểu học hàng năm đều đạt 100% công tác xóa mù chữ hoàn
Trang 28thành khoảng 90% tổng số dân phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và hoàn thành phổ cập trung học cơ sở
- Đời sống văn hóa xã hội:
Thường xuyên chăm lo đời sống cho các đối tượng gia đình chính sách,
hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Thực hiện tốt công tác giảm nghèo, các chính sách liên quan đến hộ nghèo như huy động vốn cho hộ nghèo, cận nghèo, vay vốn phát triển sản xuất có thu nhập ổn định cuộc sống vươn lên thoát nghèo bền vững
Xã Bình Trung hầu hết các cộng đồng dân cư là dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông Cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số ở đây vẫn giữ gìn tốt bản sắc văn hoá của dân tộc mình, thể hiện trong trang phục, lối sống, các hoạt động sản xuất, dệt vải, thêu thùa và làm đồ thủ công mỹ nghệ Đây là tiềm năng lớn trong du lịch sinh thái, nhân văn Những đóng góp của khu rừng đặc dụng vào việc phòng hộ, duy trì cảnh quan thiên nhiên, cân bằng sinh thái và giữ gìn bản sắc văn hoá, nhân văn là rất to lớn trong công cuộc
phát triển kinh tế xã hội của khu vực
2.2.3 Nhận xét, đánh giá chung thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tới loài Xoan đào
* Thuận lợi
- Nhìn chung, thực hiện chỉ tiêu kinh tế - xã hội có nhiều thuận lợi song
cũng nhiều khó khăn Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tiếp tục phát triển
- Lực lượng lao động dồi dào, rừng là nguồn sống chủ yếu của cộng đồng nên việc phát triển rừng là nhiệm vụ chung của cộng đồng
- Xoan đào tại khu vực xã Bình Trung là một trong những loài cây quý, mặt khác tài nguyên rừng của khu vực xã Bình Trung phong phú, đa dạng, nhiều loài động thực vật quý hiếm có giá trị bảo tồn cao nên thu hút được sự quan tâm của các cấp các ngành, chính quyền địa phương cũng như các nhà
khoa học
Trang 29* Khó khăn
- Rừng là nguồn sống quan trọng đối với người dân nên tình trạng xâm lấn, khai thác trái phép rừng vẫn xảy ra
- Khu vực có địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, nằm trong địa
bàn dân cư kinh tế, văn hóa còn nhiều hạn chế
- Còn nhiều khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển kinh
tế xã hội
- Nguồn lao động hạn chế cả về mặt năng lực, trang thiết bị và ngân
sách để thực hiện hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng
- Phong tục tập quán thả rông gia súc của người dân vẫn còn là tình trạng phổ biến ở các thôn bản, xã Bình Trung
Trang 30PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung
Nội dung đặc điểm lâm học và phân bố tự nhiên cây xoan đào
(Pygeum arboretum Endl) Tại xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 3.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố loài cây xoan đào tại khu vực phân bố
- Đặc điểm cấu trúc quần xã nơi có loài xoan đào phân bố
- Một số đặc điểm về hoàn cảnh rừng (khí hậu, đất đai) nơi có loài xoan đào phân bố
3.2.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây cao có cây xoan đào phân bố
- Xác định cấu trúc tổ thành và mật độ
- Đánh giá sự đa dạng về loài
3.2.3 Đặc điểm cấu trúc tầng tái sinh
- Cấu trúc tổ thành và mật độ
- Chất lượng, nguồn gốc và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng
- Phân bố cấy tái sinh theo chiều cao
Trang 313.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu
Hình 3.1: Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu của đề tài
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu chung
- Sử dụng phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có
về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu, về lược sử phân loại của cây Xoan
đào (Pygeum arboreum Endl) hay một số các nghiên cứu tương tự về đặc
điểm sinh học và sinh thái loài
Tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả NC
Thu thập, kế thừa các tài liệu, số liệu đã có
Điều tra, thu thập số liệu tại
hiện trường
Hình thái vật hậu, ra hoa, kết quả, quả chín
Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp
tầng cao
Mật độ, chất lượng, phân bố tầng cây cao
Trang 32- Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát ngoài thực địa: Khảo sát theo các tuyến điều tra, lập các OTC điển hình tạm thời, thu thập các số liệu/tài liệu liên quan đến các nội dung của đề tài
- Ứng dụng các phần mềm xử lý thống kê chuyên dụng EXCEL, WORD để tổng hợp và đánh giá kết quả điều tra
3.3.3 Phương pháp điều tra cụ thể
3.3.3.1 Điều tra sơ thám
Tiến hành xác định trên bản đồ khu vực cần điều tra, điều tra sơ thám nhằm:
- Xác định được khu vực nghiên cứu nơi có loài xoan đào phân bố
- Xác định sơ bộ và mở rộng tuyến điều tra sao cho đảm bảo đi qua các trạng thái rừng đại diện, nơi có loài cây nghiên cứu phân bố
3.3.3.2 Điều tra chi tiết
a) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái:
Sử dụng phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng lựa chọn đại diện kết hợp với phương pháp đối chiếu, so sánh với các tài liệu đã có Đây là phương pháp thông dụng được dùng trong nghiên cứu thực vật học (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007) Cụ thể như sau:
+ Quan sát, mô tả hình thái và xác định kích thước của các bộ phận: thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa, quả, hạt và rễ của cây Xoan Đào (cây được quan sát phải đạt độ trưởng thành nhất định, hiện đang tồn tại trong rừng
tự nhiên) Kết quả ghi vào phiếu mô tả cây tương ứng
Trang 33PHIẾU MÔ TẢ CÂY
- Số hiệu:………Ngày thu hái:……… Người thu hái:……