Nghiên cứu về cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NÔNG TUẤN TÚ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC VÀ PHÂN BỐ TỰ NHIÊN CÂY
XOAN ĐÀO (PYGEUM ARBOREUM ENDL) TẠI XÃ YÊN NHUẬN,
HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Giảng viên hướng dẫn : PGS Trần Quốc Hưng
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NÔNG TUẤN TÚ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC VÀ PHÂN BỐ TỰ NHIÊN CÂY
XOAN ĐÀO (PYGEUM ARBOREUM ENDL) TẠI XÃ YÊN NHUẬN,
HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Giảng viên hướng dẫn : PGS Trần Quốc Hưng
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực, không sao chép và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn
đã được chỉ rõ nguồn gốc
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2016
XÁC NHẬN CỦA GIẢO VIÊN HƯỚNG DẪN Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng khoa học
TRẦN QUỐC HƯNG NÔNG TUẤN TÚ
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học, ngoài
sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân trong và ngoài trường Sau thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, đến nay tôi đã hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp cùng các thầy cô trong trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong quá trình học tập tại trường
Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo Trần Quốc Hưng, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các bác, các cô, các chú và các anh các chị đang công tác tại UBND xã Yên Nhuận đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc hướng dẫn, cung cấp các thông tin, tài liệu và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài của mình trong thời gian qua
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2016
Sinh viên
NÔNG TUẤN TÚ
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai ở xã Yên Nhuận 18
Bảng 4.1 Phân loại trạng thái rừng nơi có cây Xoan đào phân bố 33
Bảng 4.2 Số liệu khí tượng huyện Chợ Đồn năm 2015 36
Bảng 4.3 Đặc điểm đất tại vị trí chân có OTC nơi cây Xoan đào phân bố 37
Bảng 4.4 Đặc điểm đất tại vị trí sườn có OTC nơi cây Xoan đào phân bố 38
Bảng 4.5 Đặc điểm đất tại vị trí đỉnh có OTC nơi cây Xoan đào phân bố 39
Bảng 4.6 Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC tại vị trí chân nơi có loài Xoan đào phân bố theo IV% 40
Bảng 4.7 Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC tại vị trí sườn nơi có loài Xoan đào phân bố theo IV% 42
Bảng 4.8 Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC tại vị trí đỉnh 43
Bảng 4.9 Chiều cao của lâm phần và Xoan đào tại OTC ở vị trí chân 45
Bảng 4.10 Chiều cao của lâm phần và Xoan đào tại OTC ở vị trí sườn 45
Bảng 4.11 Chiều cao của lâm phần và Xoan đào tại OTC ở vị trí đỉnh 46
Bảng 4.12 Cấu trúc tầng thứ của lâm phần tại vị trí chân 47
Bảng 4.13 Cấu trúc tầng thứ của lâm phần tại vị trí sườn 47
Bảng 4.14 Cấu trúc tầng thứ của lâm phần tại vị trí đỉnh 48
Bảng 4.15 Mật độ tầng cây cao và mật độ Xoan đào tại vị trí chân 49
Bảng 4.16 Mật độ tầng cây cao và mật độ Xoan đào tại vị trí sườn 49
Bảng 4.17 Mật độ tầng cây cao và mật độ Xoan đào tại vị trí đỉnh 50
Bảng 4.18 Cấu trúc tổ thành, mật độ tầng cây tái sinh tại vị trí chân 51
Bảng 4.19 Cấu trúc tổ thành, mật độ tầng cây tái sinh tại vị trí sườn 52
Bảng 4.20 Cấu trúc tổ thành, mật độ tầng cây tái sinh tại vị trí đỉnh 53
Bảng 4.21 Mật độ cây tái sinh Xoan đào tại vị trí chân 54
Bảng 4.22 Mật độ cây tái sinh Xoan đào tại vị trí sườn 54
Trang 7Bảng 4.23 Mật độ cây tái sinh Xoan đào tại vị trí đỉnh 55
Bảng 4.24 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao của lâm phần 56
Bảng 4.25 Số lượng và tỷ lệ cây tái sinh theo nguồn gốc 57
Bảng 4.26 Chất lượng cây tái sinh toàn lâm phần và Xoan đào 57
Bảng 4.27 Tần suất xuất hiện Xoan đào tái sinh xung quanh gốc cây mẹ ở vị trí chân khu vực nghiên cứu 58
Bảng 4.28 Tần suất xuất hiện Xoan đào tái sinh xung quanh gốc cây mẹ ở vị trí sườn khu vực nghiên cứu 59
Bảng 4.29 Tần suất xuất hiện Xoan đào tái sinh xung quanh gốc cây mẹ ở vị trí Đỉnh khu vực nghiên cứu 59
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Hình thái cây Xoan đào tại khu vực xã Yên Nhuận 34
Hình 4.2 Hình lá cây Xoan đào tại khu vực xã Yên Nhuận 35
Hình 4.3 Tổng số loài và số loài tham gia vào công thức tổ thành 44
Hình 4.4 Mật độ lâm phần và mật độ Xoan đào tại ba vị trí 50
Trang 9MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Ý nghĩa đề tài 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 5
2.1.1 Trên thế giới 5
2.1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 5
2.1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây 7
2.1.1.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây 8
2.1.2 Ở Việt Nam 9
2.1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 9
2.1.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây 10
2.1.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây 13
2.1.2.4 Nghiên cứu về cây Xoan đào 14
2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 16
2.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 16
2.2.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính 16
2.2.1.2 Địa hình - địa mạo 16
2.2.1.3 Khí hậu thủy văn 16
2.2.1.4 Hiện trạng sử dụng đất 17
2.2.1.5 Các nguồn tài nguyên 19
2.2.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 20
Trang 102.2.2.1 Dân tộc, dân số và lao động 20
2.2.2.2 Thực trạng kinh tế 20
2.2.2.3 Ngành nông nghiệp 21
2.2.2.4 Ngành kinh tế dịch vụ 22
2.2.2.5 Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn 22
2.2.2.6 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 22
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 25
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 25
3.2 Nội dung nghiên cứu 25
3.2.1 Phân loại trạng thái rừng có cây Xoan đào phân bố 25
3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái cây Xoan đào 25
3.2.3 Mô tả đặc điểm đất nơi Xoan đào phân bố 25
3.2.4 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao 25
3.2.5 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh 25
3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
3.3.1 Phương pháp luận 25
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 26
3.3.2.1 Tính kế thừa 26
3.3.2.2 Thu thập số liệu 26
3.3.2.3 Xử lý số liệu 28
3.3.2.4 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng 31
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4.1 Phân loại trạng thái rừng có cây Xoan đào phân bố 33
4.2 Đặc điểm hình thái Xoan đào 34
4.2.1 Đặc điểm hình thái thân cây 34
4.2.2 Đặc điểm hình thái lá cây 35
Trang 114.3 Đặc điểm sinh thái nơi Xoan đào phân bố 35
4.3.1 Điều kiện khí hậu nơi Xoan đào phân bố 35
4.3.2 Đặc điểm đất nơi Xoan đào phân bố 37
4.4 Đặc điểm cấu trúc tầng cây cao 40
4.4.1 Cấu trúc tổ thành 40
4.4.2.1 Chiều cao lâm phần và loài Xoan đào 45
4.4.2.2 Cấu trúc tầng thứ 46
4.4.3 Cấu trúc mật độ toàn rừng và mật độ Xoan đào 49
4.5.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh 51
4.5.2 Mật độ cây tái sinh của loài Xoan đào 54
4.5.3 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao 55
4.5.4 Tỷ lệ cây tái sinh theo nguồn gốc 56
4.5.5 Tỷ lệ cây tái sinh theo chất lượng 57
4.5.6 Phân bố tần suất cây tái sinh của Xoan đào 58
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 12PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam được xem là một trong những nước tại Đông Nam Á giàu về
đa dạng sinh học và được xếp thứ 16 trong số các quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới Các hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, biển, núi đá vôi, v.v… Những nét đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài hoãng dã đặc hữu, có giá trị, trong đó có những loài không tìm thấy bất cứ nơi nào trên thế giới Việt Nam được biết đến với nhiều nguồn gen hoang dã, đặc biệt là cây thuốc, các loài hoa, cây cảnh nhiệt đới, v.v…
Đa dạng sinh học ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện khác nhau về sinh thái, kinh tế và xã hội Giá trị sinh thái và môi trường thể hiện ở sự đa dạng sinh học giúp bảo vệ tài nguyên đất và nước, điều hòa khí hậu, phân hủy chất thải và hấp thụ CO2 Giá trị kinh tế thể hiện rõ ở sự đóng góp của các ngành liên hệ mật thiết đến đa dạng sinh học đối với nền kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và du lịch Giá trị nhân văn của đa dạng sinh học là góp phần giáo dục con người, tạo công ăn việc làm, ổn định trật tự xã hội
Tuy là một nước đa dạng sinh học cao nhưng cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng về hệ sinh thái nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động của con người gây ra: Việc chuyển đổi từ đất rừng sang đất trồng cây công nghiệp, lương thực vẫn diễn ra hàng năm Việc xây dựng cơ sở hạ tầng như: Đường, đập, thủy điện, các khu công nghiệp đã gây ra suy thoái rừng nghiêm trọng, chia cắt, hình thành rào cản sự
di cư và làm mất đi sinh cảnh tự nhiên Việc khai thác gỗ trái phép, lâm sản
Trang 13ngoài gỗ, đặc biệt là săn bắt, buôn bán các loài động vật hoang dã cũng như đánh bắt các loài thủy sản bằng phương pháp hủy diệt,…vẫn tồn tại và nó trở thành thách thức đối với các nhà quản lý bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm đối với sự phát triển trên toàn thế giới Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn yếu kém đã và đang làm cho đa dạng sinh học bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng Sự mất mát về đa dạng sinh học hiện nay là đáng lo ngại, nhiều loài động thực vật bị đe dọa và có nguy cơ bị tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý Do đó, việc quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học là thực sự cần thiết và cấp bách Nhận thức được giá trị to lớn và tầm quan trọng của đa dạng sinh học, năm 1993 Việt Nam đã phê chuẩn công ước quốc tế về đa dạng sinh học Năm 1995, Chính phủ đã phê duyệt và ban hành “Kế hoạch hành động đa dạng sinh học ở Việt Nam” Năm
2007, Kế hoạch hành động đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” được xây dựng và phê duyệt triển khai
Ở Việt Nam, Xoan đào sinh trưởng ở độ cao từ 700 đến 1000m so với mặt nước biển Phân bố rải rác ở các tỉnh vùng núi phía Bắc như Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Ninh… và một số khu vực khác của Tây Nguyên Tại Kom Tum, Xoan đào phát triển tốt ở một số huyện như: Sa Thầy, Kon Rẫy, Kon Plong Xoan đào còn rất ít cá thể ở khu vực rừng miền Đông Nam Bộ
Xoan đào sinh trưởng nhanh, tăng trưởng bình quân năm đạt đường kính
2 - 2,5cm và đạt chiều cao 1,2 - 2m Gỗ Xoan đào được dùng làm ván lạng, ván bóc và các đồ nội thất gia đình như cửa gỗ, bàn ghế, tủ bếp… Đặc biệt hiện nay gỗ Xoan đào được dùng làm ván lạng cho veneer rất phổ biến, loại
gỗ này đang rất được ưa chuộng trên thị trường Chất liệu veneer Xoan đào
Trang 14đang trở thành xu hướng và sự lựa chọn của rất nhiều gia đình Việt Lá non và
vỏ cây có thể dùng để chiết xuất tinh dầu
Là loại gỗ có độ bền và độ ổn định cao, thiết kế được nhiều kiểu dáng, mẫu mã hiện đại, sau khi đã được xử lý kỹ thuật thì độ chịu ẩm và khả năng kháng mối mọt tốt hơn Sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu Việt Nam năm
2012 đạt 3,8 tỷ USD - đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 châu Á, thứ Nhất Đông Nam
Á - trong đó các mặt hàng chế biến từ gỗ Xoan đào khá lớn Xoan đào cho giá trị kinh tế rất cao
Trong lĩnh vực nông lâm nghiệp đang bị thiếu hụt trầm trọng nguyên liệu
gỗ phục vụ xây dựng phát triển đô thị, khu công nghiệp, dân dụng
Xoan đào cũng thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), nên có tính chịu hạn cao, thích hợp với vùng đất nghèo dinh dưỡng, khô hạn Nhiều diện tích rừng do một số nguyên nhân khác nhau nên sự phân bố Xoan đào ngày càng bị thu hẹp nhanh chóng Người dân còn nghèo đói, trình độ dân trí thấp nên chưa thực sự thấy được tầm quan trọng của việc bảo vệ và gây trồng loài cây này Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm lâm học và phân bố tự nhiên cây Xoan đào (Pygeum
arboreum Endl) tại xã Yên Nhuận - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn”, nhằm
góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hướng giải pháp và phát triển loài cây có triển vọng và hiếm này tại xã Yên Nhuận
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định được phân bố tự nhiên và đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Xoan đào tại xã Yên Nhuận, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Trang 151.2.2 Mục tiêu cụ thể
Phân bố tự nhiên:
Xác định được những đặc điểm hình thái của loài Xoan đào
Xác định được một số đặc điểm sinh thái của loài Xoan đào tại khu vực nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa đề tài
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết các thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân
Bổ sung các thông tin khoa học và là cơ sở khoa học cho các nhà quản lý
Ý nghĩa trong thực tiễn:
Nghiên cứu loài Xoan đào (Pygeum arboreum Endl), làm cơ sở đề xuất
hướng bảo tồn và phát triển loài tại xã Yên Nhuận
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1.1 Trên thế giới
2.1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi
Richards (1968) [14] cho rằng “quần xã thực vật gồm những loài cây có hình dạng khác nhau, dạng sống khác nhau nhưng tạo ra một hoàn cảnh sinh thái nhất định và có một cấu trúc bên ngoài và được sắp xếp một cách tự nhiên và hợp lý trong không gian” Theo ông cách sắp xếp được xem xét theo hướng thẳng đứng và hướng nằm ngang Từ cách sắp xếp này có thể phân biệt các quần xã thực vật khác và có thể mô tả bằng các biểu đồ Phương pháp này
có thể nhận diện nhanh một kiểu rừng qua các biểu đồ mặt cắt Trên cơ sở này, các nhà lâm sinh có thể lựa chọn các biện pháp kỹ thuật để điều chỉnh mật độ cây rừng nhằm đưa rừng phát triển ổn định
Theo G N Baur (1962) [1], rừng mưa là một quần xã kín tán, bao gồm những cây gỗ về căn bản là ưa ẩm, thường xanh, có lá rộng, với hai tầng cây
gỗ và cây bụi hoặc nhiều hơn nữa, cùng các tầng phiến có dạng sống khác nhau - cây bò leo và thực vật phụ sinh (Vương Tấn Nhi dịch) Điều này nói
Trang 17lên rừng mưa nhiệt đới có những đặc trưng nhất định về loài cây gỗ chịu ẩm, nhiều tầng tán và các dạng sống khác rất phức tạp trong một kiểu rừng
Phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) [29] để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó
Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1 Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
2 Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
3 Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn
4 Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
5 Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm
Với kiểu phân chia dạng sống này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt được các kiểu thảm thực vật ở vùng ôn đới, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên Tuy nhiên đối với rừng nhiệt đới rất khó áp dụng
Khi đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng Kraft (1884), đã chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp sinh trưởng hoặc cấp “ưu thế” và cấp “chèn ép” Các chỉ tiêu Kraft sử dụng là: Vị trí tán cây trong tán rừng (chiều cao), độ lớn và hình dạng tán lá, khả năng ra hoa, tình trạng sinh lực…Mỗi chỉ tiêu có một hệ thống tiêu chuẩn để nhận biết và đánh giá (Stephen và ctv, 1986) [31] Phương pháp này phản ánh được tình hình phân hóa cây rừng rõ ràng trong các lớp không gian, chiều cao của các cấp so với chiều cao trung bình Nhưng giải pháp này chỉ áp dụng cho rừng trồng đồng tuổi có sự cạnh tranh về không
Trang 18gian dinh dưỡng ở cùng loài cây, cùng tuổi Rừng tự nhiên có cấu trúc phức tạp có nhiều thế hệ tuổi khác nhau nên khó áp dụng Như vậy, các nhà lâm học nêu trên khi mô tả, nhận xét, đánh giá cấu trúc rừng đều mang tính định tính để nhận biết về kiểu rừng Từ đó, khuyến cáo các nhà lâm học điều có biện pháp tác động thích hợp để nâng cao năng xuất rừng
2.1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới Đây là bước đầu tiên, làm tiền
đề cho các môn khoa học khác liên quan Có rất nhiêu công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài… Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc
và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 - 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 - 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 - 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập) [17] [22] Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khác nhau
Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công các chọn tạo giống Các công trình như nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài
Họ Hoa hồng (Rosaceae) là một họ lớn trong thực vật, với khoảng 4.000 loài trong khoảng 90-120 chi, tùy theo hệ thống phân loại Hiện tại hệ
Trang 192.000-thống APG II công nhận 2.520 loài trong 90 chi Theo truyền 2.000-thống nó được chia thành 4 phân họ: Rosoideae, Spiraeoideae, Maloideae, Amygdaloideae Các phân họ này được miêu tả đặc trưng chủ yếu theo cấu trúc của quả, mặc
dù cách tiếp cận này không phải là được tuân theo một cách rộng khắp Các công trình gần đây đã xác nhận rằng kiểu phân chia truyền thống 4 phân họ như vậy không phải đều có tính đơn ngành, vì thế cấu trúc của họ này vẫn phải chờ giải pháp hoàn thiện và tổng thể hơn
2.1.1.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây
Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó
Theo Odum E.P (1971) [28] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái,
trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935) Ông đã
phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý
Theo Ly Meng Seang (2008) [27] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng Tếch trồng ở Kampong Cham Campuchia, đã kết luận: ở các độ tuổi khác nhau: Phân bố N - D1,3 ở các tuổi đều có dạng một đỉnh lệch trái và nhọn, phân bố N - H thường có đỉnh lệch phải và nhọn, phân bố N - Dt đều có đỉnh lệch trái và tù Giữa D1,3 hoặc Hvn so với tuổi cây hay lâm phần luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ theo mô hình Schumacher Ngoài ra, tác giả cũng đề nghị trong khoảng 18 năm đầu sau khi trồng rừng Tếch nên chặt nuôi dưỡng 3 lần theo phương pháp cơ giới, với kỳ dãn cách là 6 năm 1 lần
Trang 20Theo Khamleck (2004) [26], họ Dẻ có phân bố khá rộng, khoảng 900 loài chúng được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, song chưa có tài liệu nào công bố chúng ở vùng nhiệt đới Châu Phi Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt là Việt Nam có tới 216 loài
và ít nhất là Châu Phi và Vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài
Cấu trúc của thảm thực vật là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng, thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật
và theo trật tự của quần xã Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards P W (1952) [14], Baur G N (1964) [25], Odum E P (1971) [28] tiến hành Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung Đó là cơ sở để lựa chọn cho hướng nghiên cứu trong luận văn
2.1.2 Ở Việt Nam
2.1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt nam cũng đã được rất nhiều tác giả
đề cập tới nhằm đưa ra giải pháp lâm sinh phù hợp, song tiêu biểu phải kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Theo Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) [19] [20] đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như: Tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C) Ông đã vận dụng và cải tiến
Trang 21bổ sung phương pháp biểu đồ, mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỉ lệ nhỏ hơn và có ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó, ông còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam Đó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá Với những quan điểm trên, Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật Rừng Việt Nam thành 14 kiểu Rõ ràng các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể
Về đa dạng tầng cây gỗ đã có nhiều tác giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu về đa dạng sinh học, đặc biệt là đa dạng hệ thực vật, đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1963, 1978) [20] Tác giả đã tổng kết và công bố công trình nghiên cứu của mình với 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 189 họ ở Việt Nam Ông đã nhấn mạnh sự ưu thế của ngành thực vật hạt kín (Angiospermae) trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài chiếm 90,9%, 1727 chi chiếm 93,5% và
239 họ chiếm 82,7% trong tổng số taxon mỗi bậc Tiếp theo là công trình “Bước đầu nghiên cứu rừng Miền Bắc” của Trần Ngũ Phương (1970) [13] Tác giả chia rừng miền Bắc Việt Nam thành 3 đai với 8 kiểu
2.1.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Ngoài những tác phẩm cổ điển về thực vật như “Flora Cochinchinensis” của Loureiro (1790) và “Flore Forestière de la Cochinchine” của Pierre (1879-1907), thì từ đầu những năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc nghiên cứu về hình thái phân loại thực vật, đó là Bộ thực vật chí Đông Dương do H Lecomte chủ biên (1907-1952) Trong công
Trang 22trình này, các tác giả người pháp đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, trong đó hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ
Đối với mỗi miền có những tác phẩm lớn khác nhau như ở miền Nam Việt Nam có công trình thảm thực vật Nam Trung Bộ của Schmid (1974) [30], trong đó tác giả đã chỉ rõ những tiêu chuẩn để phân biệt các quần xã khác nhau là sự phân hóa khí hậu, chế độ thoát nước khác nhau Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm
6 tập do Lê Khả Kế chủ biên và ở miền Nam Phạm Hoàng Độ (1970-1972) cũng cho ra đời công trình đồ sộ 2 tập về “Cây cỏ miền Nam Việt Nam”, trong đó giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài rêu, còn lại là
5246 loài thực vật có mạch, và sau này là “Cây cỏ Việt Nam” [5]
Ngoài ra, còn rất nhiều các bộ sách chuyên khảo khác đã góp phần vào việc nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật chung, như các bộ về Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra qui hoạch, 1971-1988) [24], Cây thuốc Việt Nam (Viện dược liệu, 1990) [23], Cây tài nguyên (Trần Đình lý và cs, 1993) [9], Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần Hợp & Nguyễn Bội Quỳnh, 1993) [6], 100 loài cây bản địa (Trần Hợp & Hoàng Quảng Hà, 1997) [7], Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999) [4] v.v Gần đây Viện sinh thái
và tài nguyên sinh vật cũng đã xây dựng và biên soạn được 11 tập chuyên khảo đến họ riêng biệt Đây là những tài liệu vô cùng quý giá góp phần vào việc nghiên cứu về thực vật của Việt Nam
Theo Lê Phương Triều (2003) [18] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một
số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài ra tác giả còn kết luận là: có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân
bố N-D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H-D1,3, Dt-D1,3
Trang 23Hoa hồng (Rose) có tên khoa học là Rosa sp có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới vùng Bắc bán cầu, được xếp vào lớp Song tử diệp (Dicotyledones),
bộ Hồng (Rosales), họ Hồng (Rosaceae) Ở Việt Nam hoa hồng được nhập trồng từ lâu trên khắp mọi miền Nam Bắc Hoa hồng là loại hoa chủ lực chiếm 30% - 35% diện tích trồng hoa cắt cành của nước ta Những vùng trồng hoa tập trung là Lâm Đồng, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… Trần Minh Tuấn (1997) [13] đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc gia Ba
Vì - Hà Nội, ngoài những kết quả về đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này
Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) [21] trong công trình nghiên cứu “Bảo tồn nguồn gen cây rừng”; có đề cập đến Mun như là loài cây cần được quan tâm trong công tác bảo tồn nguồn gen Với các mô tả về hình thái, phân bố của loài đã được tác giả mô tả cũng như một vài đặc điểm về tái sinh tự nhiên của loài
Kết quả nghiên cứu về loài cây Căm xe (Vương Hữu Nhị, 2004) [12]; Cây Giáng hương (Hà Thị Mừng, 2004) [10]; Cây Vối thuốc (Đoàn Đình Tam, 2012) [15]… Các tác giả đã tập trung làm rõ, hình thái, sinh thái, thu hái chế biến, bảo quản hạt giống, sản xuất cây con, trồng rừng và sinh trưởng của một số loài cây nghiên cứu
Vũ Văn Cần (1997) [2] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, ngoài những kết luận về đặc điểm phân bố, hình thái, vật hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần,… tác giả cũng đưa ra kỹ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài Chò đãi
Trang 242.1.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây
Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của các loài cây bản địa chưa nhiều, tản mạn, có thể tổng hợp một số thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:
Theo Nguyễn Bá Chất (1996) [3] đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu
về các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa
Theo Nguyễn Toàn Thắng (2008) [16] đã nghiên cứu một số đặc điểm
lâm học của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng Tác giả đã
có những kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử dụng, về tổ thành tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 đến 41 loài, với các loài ưu thế là Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa, Du sam,
Lê Viết Lộc (1964) [8] về “Bước đầu điều tra thảm thực vật rừng Cúc Phương” Công trình đã tiến hành điều tra 47 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000 m2 và 2000 m2 và đã xây dựng được bản đồ phân bố của 11 loại hình ưu thế trong vùng nghiên cứu cho thấy ở Cúc phương Chò chỉ (Parashorea chinensis
Wang Hsie) là cây ưu thế lập quần trong loại hình ưu thế: Sâng - Sấu - Chò chỉ - Đinh hương (Lê Viết Lộc, 1964, Các thảm thực vật rừng ở Cúc Phương) Thái Văn Trừng (1978, 1999) phân chia thảm thực vật trong một vùng thành hai nhóm lớn: nhóm các quần thể thực vật theo độ vĩ và nhóm các quần thể thực vật theo độ cao Vành đai cao từ 700m - 1.600m (ở miền Bắc) và từ 1.000m - 1.800m (ở miền Nam) là vành đai độ cao á nhiệt đới núi thấp tầng dưới Nhiệt độtrung bình hàng năm từ15 - 200
C, nhiệt độtối thấp tuyệt đối có khi xuống đến
00C, xuất hiện sương muối Tổ thành thực vật ở vùng núi phía bắc có những họ thực vật á nhiệt đới chiếm ưu thế rõ rệt như họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae),
Trang 25họ Chè (Theaceae), họ Du (Ulmaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Óc chó (Juglandaceae), họ Hoa hồng (Rosaceae) v.v…
Thái Văn Trừng (1978, 1999) [20] đã căn cứ vào quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thực vật để phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Tư tưởng học thuật của quan điểm này là trong một môi trường sinh thái cụ thể chỉ có thể xuất hiện một kiểu thảm thực vật nguyên sinh nhất định Trong môi trường sinh thái đó, có 5 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh ảnh hưởng quyết định đến tổ thành loài cây rừng, hình thái, cấu trúc và hình thành nên những kiểu thảm thực vật rừng tương ứng
Tóm lại, với những kết quả của những công trình nghiên cứu như trên, là cơ
sở để đề tài lựa chọn những nội dung thích hợp để tham khảo vận dụng trong đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài Xoan đào tại xã Yên Nhuận
2.1.2.4 Nghiên cứu về cây Xoan đào
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu, tài liệu về loài Xoan đào
(Pygeum arboreum Endl) rất hiếm và hầu như chưa có công trình nghiên cứu
nào cụ thể và chi tiết nào về loài cây này Sau đây là một số tài liệu liên quan đến loài Xoan đào Tuy nhiên, các nghiên cứu về loài Xoan đào mới chỉ là bước đầu, chưa đồng bộ và chưa dủ cơ sở để phục vụ cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật gieo ươm và gây trồng trên diện tích lớn
“Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Xoan đào bản địa (Pygeum arboreum Endl) phục vụ trồng rừng kinh doanh gỗ lớn tại tỉnh
Lào Cai” (2013) do Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng thực hiện Địa điểm triển khai thực hiện tại huyện Văn Bàn Mục tiêu nghiên cứu cơ bản của đề tài, nhằm xác định được các đặc tính sinh học, vật hậu học và xây dựng được hướng dẫn kỹ thuật nhân giống, trồng mô hình cây Xoan đào để gia tăng số lượng, giảm nguy cơ tuyệt chủng Kết quả bước đầu: Cơ quan thực hiện đã xác định được vị trí phân bố của 50 cây trội để theo dõi nghiên cứu một số
Trang 26đặc điểm lâm học, sinh thái; vật hậu học và thu hái, bảo quản hạt giống Gieo ươm được 7 vạn cây giống, cây cao bình quân khoảng 60 - 80 cm sinh trưởng
và phát triển tốt Hiện đang tiếp tục theo dõi chăm sóc cây giống tại vườn ươm thuộc xã Võ Lao, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
Kỹ thuật trồng cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã nêu lên các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái, giống và tạo cây con Ngoài ra còn cho biết về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng, khai thác và sử dụng
Qua khảo sát Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại địa phương xã
Hiếu, huyện Kon Plong tỉnh Kon Tum cho thấy loài cây ưa sáng hoàn toàn, ngoài ra việc khảo sát còn nghiên cứu về vấn đề hình thái vật hậu, tái sinh, mật độ, giá trị kinh tế, biện pháp kỹ thuật trong gieo ươm cây Xoan đào từ hạt
và các biện pháp lâm sinh trồng và chăm sóc loài này
Quyết định của bộ lâm nghiệp số 2198/CNR ngày 26 tháng 11 năm 1977 ban hành bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong cả
nước của bộ trưởng bộ lâm nghiệp thì Xoan đào (Pygeum arboreum Endl)
thuộc gỗ nhóm VI
Xoan đào có một số ưu điểm như thân thẳng, cây lớn, sinh trưởng tương đối nhanh, gỗ tốt và có giá trị kinh tế và môi trường cao nên Xoan đào đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu về loài Xoan đào mới chỉ là bước đầu, chưa đồng bộ và chưa dủ cơ sở để phục vụ cho việc
đề xuất các biện pháp kỹ thuật gieo ươm và gây trồng trên diện tích lớn Chính
vì vậy mà việc nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái một loài cây gỗ lớn
có giá trị cao như Xoan đào là hết sức cần thiết nhằm phục vụ cho mục tiêu gây trồng và Bảo tồn loài cây này và nâng cao chất lượng của rừng trồng tại vùng phòng hộ đầu nguồn hiện nay
Trang 272.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
2.2.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Xã Yên Nhuận là một xã vùng cao của huyện Chợ Đồn, thuộc phía nam của huyện, có tổng diện tích tự nhiên 2.915,3 ha, với dân số 2.188 nhân khẩu được phân chia thành 12 thôn bản
Xã có ranh giới tiếp giáp như sau:
Phía bắc giáp xã Phong Huân và xã Yên Mỹ
Phía nam giáp huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Phía đông giáp xã Yên Mỹ
Phía tây giáp xã Bình Trung
2.2.1.2 Địa hình - địa mạo
Xã Yên Nhuận có địa hình đồi núi xem kẽ là những cánh đồng bằng phẳng, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Do đặc điểm kiến tạo địa chất, hình thành nhiều dạng địa hình đặc trưng vùng núi, mức độ chia cắt mạnh Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, đất dốc dưới 25° chiếm tỷ lệ thấp, nên ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình khai thác sử dụng đất
2.2.1.3 Khí hậu thủy văn
1 Khí hậu
Khí hậu được chia thành 2 mùa rõ rệt
Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Nhiệt độ trung bình năm 20,8°C
Lượng mưa bình quân năm khoảng 2000mm Hệ số ẩm ướt cao phù hợp cho nhiều loại cây trồng sinh trưởng phát triển Lượng mưa phân bố
Trang 28không đều theo không gian và thời gian Về mùa mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa trong năm Lượng bốc hơi trung bình năm khoảng 1000mm
Độ ẩm không khí cao trung bình 78% - 86%, trung bình năm khoảng 82% Chênh lệch độ ẩm giữa mùa khô và mùa mưa lớn Về ùa khô do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc độ ẩm thấp từ 76% - 86%, mùa mưa độ ẩm khá cao từ 81% - 86%
2 Thủy văn
Xã có hệ thống các khe suối nhiều, sông Phó Đáy là con sông chảy qua địa bàn xã, lưu lượng nước và tốc độ dòng chảy trung bình, chịu ảnh hưởng của lượn mưa, nhưng lượng nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt có nhiều thuận lợi Nguồn nước sinh hoạt của nhân dân lấy từ các nguồn: nước giếng khơi, nước mưa và nước khe nên phần nào đảm bảo vệ sinh
2.2.1.4 Hiện trạng sử dụng đất
Theo số liệu thống kê đất đai, tổng diện tích tự nhiên xã Yên Nhuận là 2.915,32 ha Trong đó:
Đất nông nghiệp: 2.029,62 ha chiếm 69,62% diện tích tự nhiên
Đất phi nông nghiệp: 123,27 ha chiếm 4,23% diện tích tự nhiên
Đất chưa sử dụng: 762,43 chiếm 26.15% diện tích tự nhiên
Như vậy, tính đến nay diện tích đã được đua vào sử dụng là 2.125,89 ha, chiếm 73,85% tổng diện tích tự nhiên
Trang 29Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai ở xã Yên Nhuận
Diện tích năm 2010 (ha)
Cơ cấu (%)
1.2 Đất trồng cây hàng năm còn lại HNC 23.52 0.81
2.1 Đất có rừng tự nhiên sản xuất RSN 824.9 28.30 2.2 Đất có rừng trồng sản xuất RST 596.98 20.48 2.3 Đất khoanh nuôi phục hồi rừng sx RSK 413.18 14.17
Nguồn: UBND xã Yên Nhuận
Trang 302.2.1.5 Các nguồn tài nguyên
Đất ruộng: là đất feralit do biến đổi trồng lúa, thành phần cơ giới nhẹ nên dễ bị bào mòn, rửa trôi khia gặp mýa lớn, tầng canh tác dày, tỷ lệ mùn thấp, các chất dinh dýỡng từ trung bình đến nghèo, đất chua Đặc điểm của độ phì nhiêu như vậy, kết hợp với chế dộ nước không thuận lợi nên năng suất cây trồng không cao, số diện tích đất ruộng chủ yếu để cấy lúa, một số trồng ngô và cây hoa màu khác
2 Tài nguyên nước
Xã có 55,86 ha đất sông suối và mặt nước chuyên dùng và diện tích đất mặt nước nuôi trồng thủy sản là 11,54 ha bao gồm nhiều hệ thống khe suối thượng lưu bắt nguồn từ trên núi, chất lượng nước tương đối sạch Đây chính
là những nguồn nước mặt rất phong phú cung cấp cho sản xuất nông nghiệp
Nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt: Hầu như các hộ trong xã đã được dung nước sạch phục vụ cho sinh hoạt do họ tự đào giếng và các công trình nước sạch, chất lượng nước đảm bảo vệ sinh
3 Tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê năm 2010, xã có 1.835,06 ha đất lâm nghiệp Trong đó đất rừng tự nhiên sản xuất có 591,84 ha, chiếm 32,25% diện tích đất
Trang 31lâm nghiệp; đất rừng trồng sản xuất có 165,73 ha, chiếm 9,03% diện tích đất lâm nghiệp; đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất có 398,17 ha, chiếm 37,02% diện tích đất lâm nghiệp
Rừng ở đây trữ lượng gỗ trung bình, hầu hết những cây gỗ quý đã bị khai thác cạn kiệt Số diện tích rừng trồng của xã hiện nay cây đang ở độ tuổi khép tán nên trữ lượng gỗ chưa cao
2.2.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
2.2.2.1 Dân tộc, dân số và lao động
Dân số: Năm 2010 dân số xã Yên Nhuận có 2188 người với tổng số hộ
là 524 hộ, trong đó có tới 282 hộ nghèo chiếm tỷ lệ khá cao 53% tổng số hộ dân Mật độ dân số trung bình là 76 người/km2 Tỷ lệ gia tăng tự nhiên tương đối ổn định ở dưới mức 1%
Lao động: Năm 2010 số lao động trên địa bàn xã là 1353 lao động chiếm 61,85% tổng số dân
Dân tộc: Cộng đồng dân cư xã Yên Nhuận gồm 3 dân tộc sinh sống, gồm Kinh, Tày, Sán chí, trong đó dân tộc Tày chiếm đa số
2.2.2.2 Thực trạng kinh tế
Nền kinh tế của xã Yên Nhuận chủ yếu là sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp, hoạt động chủ yếu là trồng cây lương thực, cây lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền đã vận động nhân dân đổi mới cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cây trồng vật nuôi, thâm canh tăng vụ, phát triển chăn nuôi, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa và dịch vụ Chính vì thế, năng suất cây trồng và vật nuôi đã được tăng lên đáng kể, cải thiện đời sống của nhân dân
Trang 322.2.2.3 Ngành nông nghiệp
1 Trồng trọt:
Từ năm 2006 tới nay, sản xuất nông- lâm nghiệp của xã tiếp tục phát triển ổn định, trong sản xuất nông nghiệp các hộ dân đã tập trung cấy lúa nước, chú trọng đến các giống mới có năng suất cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, sử dụng hợp lý các sản phẩm phân bón, thuốc trừ sâu Vì vậy, năng suất, sản lượng lương thực đều tăng Tổng sản lượng lương thực năm 2010 đạt 1.272,5 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 570 kg/người/năm
2 Chăn nuôi:
Ngành chăn nuôi có phát triển nhưng chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế vốn có Sane xuất hang hóa chủ yếu là thịt lợn, chăn nuôi trâu bò chủ yếu
là lấy sức kéo phục vụ cho sản xuất là chính, tính đến đầu tháng 12/2010 tổng
số trâu bò của xã hiện có 356 con, bò có 41 con, lợn có 1.955 con, gia cầm 5.178 và 64 con ngựa
3 Lâm nghiệp:
Yên Nhuận có tiềm năng và thế mạnh trong phát triển kinh tế lâm nghiệp Diện tích trồng rừng năm 2010 thực hiện được 78,78 ha trong đo theo
dự án 147 là 38,78 ha, nhân dân tự đầu tư trồng 40ha
Tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép giảm so với trước, không xảy ra hỏa hoạn, cháy rừng trên địa bàn Công tác quản lý bảo vệ rừng luôn được chú trọng thực hiện tốt quy trình khai thác, chế biến lâm sản đảm bảo đúng quy định của pháp luật
4 Nuôi trồng thủy sản:
Chủ yếu là nuôi cá ao và thả cả ruộng, toàn xã có 54 ha diện tích mặt nước là ao để nuôi cá chưa kể số diện tích ruộng có thể thực hiện trồng lúa và
Trang 33thả cá Đó là một tiềm năng lâu nay nhưng chưa được khai thác một cách hợp
lý và còn nhiều hạn chế về kỹ thuật nuôi trồng
2.2.2.4 Ngành kinh tế dịch vụ
Tại khu vực đã hình thành các loại dịch vụ thương mại, chợ của xã được hoạt động thường xuyên, hàng hóa phong phú, đa dạng cơ bản đáp ứng nhu cầu của người dân Mọi hoạt động thương mại đều được chấp hành tốt các quy định pháp luật, tuy nhiên một số mặt hàng thiết yếu có biến động nhưng không ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân
2.2.2.5 Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn
Xã Yên Nhuận có 524 hộ phân bố ở 12 thôn bản, bình quân 4,18 người/hộ, diện tích đất ở tính đến năm 2010 là 31,33 ha, bình quân khoảng
597 m2/hộ
Do địa hình đồi núi, các điểm dân cư phân bố rải rác, có quy mô nhỏ, gần nguồn nước, trên sườn đồi, ven đường đi, ven chân núi và gần các khu ruộng Cơ sở hạ tầng của các khu dân cư còn hạn chế, giao thông đi lại còn khó khăn Các công trình điện nước, y tế, giáo dục, thể thao… vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân Nhà ở của một số thôn, bản vẫn là nhà tạm Môi trường sinh thái trong các khu dân cư bị ảnh hưởng do tập quán chăn thả gia súc, gia cầm…
2.2.2.6 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
1 Giao thông
Hệ thống giao thông của xã chủ yếu là đường bộ, đường tỉnh lộ 254B là tuyến đường giao thông đối ngoại quan trọng Tuyến đường Yên Nhuận - Phong Huân đã nâng cấp và hoàn thành, đã đưa vào sử dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt giao thương vận chuyển hàng hóa giữa các địa phương và các vùng miền thuận tiện nâng cao đời sống của các đông bào dân tộc trong vùng Tuy nhiên vẫn còn một số tuyến nền đường hẹp, chất lượng mặt đường thấp, đa phần là đường đất, đường mòn gây khó khăn cho việc đi lại nhất là vào mùa mưa lũ
Trang 34Nhìn chung, cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân các dân tộc địa phương, được cấp Ủy Đảng luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện dựa vào sự hỗ trợ của nhà nước và nội lực của địa phương, đã từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
2 Thủy lợi và nước sinh hoạt
Hệ thống thủy lợi của xã đã phần nào phục vụ cho sản xuất, nhưng do sông Phó Đáy và các khe suối có độ chênh lệch khá lớn nên khó khai thác nước phục vụ cho sản xuất Trong những năm tới cần có biện phá khắc phục, tạo điều kiện tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp
3 Giáo dục - đào tạo
Công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn xã nhìn chung có nhiều tiến bộ; công tác xã hội hóa giáo dục được quân tâm thực hiện Đội ngũ cán bộ giáo viên không ngừng được đào tạo nâng cao trình độ đạt chuẩn hóa, từng bước nâng cao chất lượng dạy và học, duy trì đạt phổ cập giáo dục ở 2 cấp: tiểu học
và trung học cơ sở
4 Y tế
Cơ sở vật chất phục vụ chuyên môn chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được đảm bảo, đội ngũ cán bộ y tế có nhiều cố gắng, nhiệt tình và yên tâm công tác, được đào tạo và nâng cao chuyên môn Thực hiện kịp thời công tác thăm khám và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, cấp phát thuốc đúng quy định Thực hiện tốt các Chương trình y tế quốc gia, phối hợp
tổ chức các buổi tập huấn công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, tổ chức kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm các cơ sở kinh doanh trên địa bàn
5 Văn hóa thông tin - thể dục thể thao
Hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao trên địa bàn xã những năm qua được thực hiện tổ chức vào các ngày lễ, tết, tạo được không khí vui tươi phấn khởi động viên được cán bộ và nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất
Trang 35Triển khai tuyên truyền vận động nhân dân đăng ký xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, đơn vị văn hóa, khu dân cư tiên tiến Tính đến năm
2010 kết quả đăng ký gia đình văn hóa đã có 398/524 hộ, 3 thôn đạt danh hiệu
“Làng văn hóa”, 5 thôn đạt danh hiệu “Khu dân cư tiên tiến”, ¾ đơn vị đạt
“Đơn vị văn hóa”
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, nhu cầu về liên lạc của người dân đang phát triển khá mạnh, cơ sở vật chất của ngành viễn thông tăng lên đáng kể,
xã có 1 bưu điện xã, hệ thống loa thanh phủ rộng khắp 12/12 thôn bản
Trang 36PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được phân bố, đặc điểm lâm học cây Xoan đào (Pygeum
arboreum Endl) tại khu vực nghiên cứu phục vụ công tác bảo tồn loài
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Phân loại trạng thái rừng có cây Xoan đào phân bố
3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái cây Xoan đào
- Xác định đặc điểm hình thái thân cây Xoan đào
- Xác định đặc điểm hình thái lá cây Xoan đào
3.2.3 Mô tả đặc điểm đất nơi Xoan đào phân bố
3.2.4 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao
- Đặc điểm cấu trúc tổ thành
- Đặc điểm cấu trúc tầng thứ
- Đặc điểm cấu trúc mật độ
- Đánh giá chỉ số đa dạng về loài
3.2.5 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh
Trang 37Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn đại diện ở các trạng thái thảm thực vật rừng có loài Xoan đào xuất hiện, số liệu đảm bảo tính đại diện, khách quan và chính xác
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.3.2.1 Tính kế thừa
Đề tài có kế thừa một số tư liệu:
- Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng
- Tư liệu về điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội
- Sử dụng các kết quả nghiên cứu đã có về cây Xoan đào ở trong và ngoài
nước (về đặc điểm sinh thái, phân bố, cấu trúc và điều kiện lập địa …)
3.3.2.2 Thu thập số liệu
Để thu thập số liệu ngoài hiện trường, đề tài áp dụng phương pháp điều tra thực nghiệm sinh thái thông qua hệ thống ô tiêu chuẩn tạm thời và bán định vị được bố trí trên các điều kiện lập địa khác nhau để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc
tổ thành lâm phần có loài Xoan đào phân bố tự nhiên Lập 9 ô tiêu chuẩn có kích thước 1.000m2
(20x50m) trên điều kiện địa hình khác nhau (chân, sườn và đỉnh) Trong ô tiêu chuẩn tiến hành điều tra đặc điểm sinh thái, lâm học và tái sinh Các nội dung được thực hiện như sau:
A, Điều tra tầng cây gỗ
Trên mỗi ô tiêu chuẩn tạm thời, tiến hành điều tra tầng cây gỗ gồm các nội dung sau: (1) Xác định tên loài cho tất cả các cây có đường kính 6cm trở lên; (2) Đo đường kính ngang ngực (D1,3) những cây có D ≥ 6cm bằng cách
đo chu vi sau đó quy đổi ra đường kính thân cây; (3) Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước sào có chia vạch đến 20cm, sai
số đo cao ± 10cm; (4) Đo đường kính hình chiếu tán (Dt) bằng thước dây theo
Trang 38hướng ĐT, NB, sau đó lấy giá trị bình quân với sai số là ± 10cm; (5) Phân cấp phẩm chất cây (tốt, trung bình, xấu), sau đó được ghi vào mẫu biểu 01
B, Điều tra cây tái sinh
Trên mỗi ô tiêu chuẩn điều tra tầng cây gỗ lớn, tiến hành lập một 5 ô dạng bản có kích thước 25m2 (5x5m) trong đó 4 góc ở ô tiêu chuẩn và 1 ô ở trung tâm ô tiêu chuẩn Với từng ô dạng bản đã thiết lập, thực hiện các nội dung điều tra sau: (1) Xác định tên loài; (2) Xác định nguồn gốc (chồi, hạt); (3) Chất lượng cây tái sinh (tốt, trung bình, xấu); (4) Đo chiều cao cây tái sinh; (5) Xác định độ tàn che cho ô dạng bản Tổng số ô dạng bản là 45 ô, sau đó được ghi vào mẫu biểu 02
Ngoài ra, để điều tra cây Xoan đào tái sinh xung quanh gốc cây mẹ (cây trội), tiến hành lập các ô dạng bản có kích thước 25m2 (5x5m), 4 ô trong tán,
4 ô ngoài tán cây mẹ, tổng số 8 ô/1 cây trội Tại khu vực nghiên cứu điều tra xung quanh 9 gốc cây trội, như vậy số ô dạng bản là 72 ODB, sau đó được ghi vào mẫu biểu 05
C, Điều tra cây bụi thảm tươi
Xác định thành phần loài lớp cây bụi, dây leo và thảm tươi Xác định tên, xác định chiều cao cho cây bụi Độ che phủ của cây bụi thảm tươi (tính theo % độ che phủ mặt đất) và được đánh giá cho toàn ô tiêu chuẩn Được đo theo 2 đường chéo của ô thứ cấp (25m2
), sau đó được ghi vào mẫu biểu 04
D, Điều tra về đất
Tại khu vực nghiên cứu đào 3 phẫu diện có kích thước (1,2x0,8x1,0m)
gần nơi có cây Xoan đào phân bố và mô tả theo hướng dẫn trong “Sổ tay
điều tra quy hoạch rừng” (1995) gồm: loại đất, độ dày tầng đất, tỷ lệ đá
lẫn, thành phần cơ giới, độ ẩm… sau đó được ghi vào mẫu biểu 03
Trang 393.3.2.3 Xử lý số liệu
a, Xác định trạng thái rừng cho đối tƣợng nghiên cứu: Để xác định
các trạng thái rừng cho khu vực nghiên cứu đã dựa vào tiêu chuẩn phân loại
của Loeschau Tiêu chuẩn phân loại như sau:
- Kiểu I: Đất không có rừng, có thể có cây bụi hoặc cây tái sinh mọc rải rác
+ Kiểu Ia: Đất trống và trảng cỏ
+ Kiểu Ib: Trảng cỏ và cây bụi
+ Kiểu Ic: Trảng cỏ và cây bụi đã xuất hiện một số loài cây tái sinh
- Kiểu II: Là rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác hoặc sau nương rẫy, bao gồm các cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh và rừng đang tiếp tục phát triển
+ Kiểu IIA: Là trạng thái rừng phục hồi rừng còn non, bao gồm những cây tiên phong ưu sáng hoặc có D 1.3 ≤ 10cm và ∑G >10 m2
+ Kiểu IIIA: ∑G < 21m 2 /ha
- Kiểu IIIA1: Rừng nghèo kiệt, kết cấu bị phá vỡ hoàn toàn, tầng trên còn một số cây mẹ kém phẩm chất, cong queo sâu bệnh, tầng dưới chủ yếu là dây leo, bụi rậm, tre nứa xen lẫn và có độ tàn che < 0,3 ∑G < 10 m2/ha Tổng tiết diện ngang của những cây có D1.3 ≥ 40cm là ≤ 2 m2/ha
- Kiểu IIIA2: Là rừng bị khai thác kiệt nhưng đã có thời gian phục hồi nên đã hình thành tầng cây tương lai, có độ tàn che 0,3 - 0,5 Tổng tiết diện ngang từ 10 - 16m2/ha Tổng tiết diện ngang của những cây có D1.3 ≥ 40cm
là ≤ 2 m2
/ha
Trang 40- Kiểu IIIA3: Là rừng bị khai thác mạnh, cấu trúc rừng ít nhiều đã bị phá
vỡ, rừng có 2 tầng trở lên, rừng còn chất lượng khai thác, có độ tàn che 0,7 Tổng tiết diện ngang từ 16-21 m2/ha
0,5-+ Kiểu IIIB: Là trạng thái rừng bị tác động rất ít, cấu trúc rừng chưa bị
phá vỡ, rừng có 2 tầng trở lên, rừng còn giàu về trữ lượng, có độ tàn che>0,7 Tiết diện ngang > 21m2/ha, tổng tiết diện ngang của những cây có D1.3 ≥ 40cm là 2-5 m2/ha
- Kiểu IV: Là trạng thái rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh phục hồi đã phát triển đến giai đoạn ổn định