Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề Tài :
HỢP ĐỒNG ĐIỀU ĐÌNH TRONG GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Sinh viên : Lê Văn Luân
Chuyên ngành : Luật Kinh tế Lao động - K51
Giảng viên hướng dẫn : TS.Ngô Huy Cương
Trang 2Hà Nội, tháng 5 năm 2010.
LỜI MỞ ĐẦU.
1 Khái quát về tranh chấp thương mại 4
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỀU
1.3.1 Hợp đồng điều đình vô hiệu và các trường hợp hợp đồng vô hiệu 29
1.4.2 Cách thức thực hiện hợp đồng
Trang 3371.5 Sửa đổi, chấm dứt và huỷ bỏ hợp đồng điều đình 38
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Khái quát về tranh chấp thương mại.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, quan hệ kinh doanh trở nên sống động, đa dạng và phức tạp Mục đích nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trở thành động lực trực tiếp của các bên tham gia quan hệ kinh doanh Trong điều kiện như vậy, tranh chấp kinh doanh, thương mại không những là một vấn đề khó tránh khỏi, mà còn sẽ là một vấn đề lớn đòi hỏi phải có sự quan tâm giải quyết một cách thoả đáng
Tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới Khái niệm này mới được
sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta trong mấy năm gần đây cùng với sự nhường bước của khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc của
cơ chế kế hoạch hoá đã ăn sâu trong tiềm thức và tư duy pháp lý của người Việt Nam
Hệ thống pháp luật Việt Vam đã từng tồn tại những khái niệm khác nhau
để biểu đạt loại tranh chấp này Mặc dù không xây dựng được một khái niệm chuẩn mực về tranh chấp kinh tế nhưng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/3/1994 và Nghị định số 116/1994/NĐ-CP ngày 5/9/1994 cũng đã liệt kê các tranh chấp được coi là tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án kinh tế và Trọng tài kinh tế Theo các văn bản pháp luật này, các tranh chấp kinh tế bao gồm :
- Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh;
- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty;
- Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu;
Trang 5- Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Với hàm ý tiếp cận này, khái niệm “tranh chấp kinh tế” đã không lột tả hết được chân dung thực của nó Thực chất, “tranh chấp kinh tế” là một khái niệm
có nội hàm rộng, bao gồm tất cả các tranh chấp có nội dung kinh tế chứ không chỉ bao gồm các tranh chấp kinh tế nêu trên Các tranh chấp trên mơớ chỉ là nhóm tranh chấp điển hình có nội dung kinh tế Bởi vậy, việc sử dụng khái niệm
“tranh chấp kinh tế” để gắn cho các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh hay thương mại đã tạo ra sự bất tương thích giữa nội hàm của khái niệm với hàm ý được tiếp cận
Khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được đề cập trong Luật thương mại ngày 10/5/1997 song theo Luật thương mại, tranh chấp thương mại
là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại – xem điều 238 LTM 1997
Ngoài ra khái niệm “hoạt động thương mại” theo quy định của Luật thương mại năm 1997 lại có nội hàm rất hẹp so với quan niệm phổ biến của các nước trên thế giới về thương mại
Quan niệm về tranh chấp thương mại và hoạt động thương mại theo Luật thương mại 1997 đã loại bỏ nhiều tranh chấp không dược coi là tranh chấp thương mại, mặc dù xét về bản chất hoàn toàn có thể coi là các tranh chấp thương mại trong ngữ cảnh đương đại Điều này đã tạo ra những xung đột pháp luật, giữa luật quốc gia với luật quốc tế, trong đó có cả những công ước quốc tế quan trọng mà Việt Nam đã là thành viên (Công ước New York năm 1958), gây không ít những trở ngại, rắc rối trong thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập
Pháp lệnh trọng tài thương mại ngày 25/02/2003 không trực tiếp đưa ra định nghĩa về tranh chấp thương mại song với sự hiện diện của khái niệm “hoạt động thương mại” theo nghĩa rộng đã tạo ra sự tương đồng trong quan niệm về
Trang 6“thương mại” và “tranh chấp thương mại” của pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của pháp luật và thông lệ quốc tế.
Theo pháp lệnh trọng tài thương mại, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức, kinh doanh bao gồm : mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật - khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh trọng tài thương mại
Với quy định này, khái niệm thương mại theo pháp luật Việt Nam đã được
mở rộng, phù hợp với khái niệm thương mại trong Luật mẫu của Liên hợp quốc
về trọng tài thương mại (UNCITRAL Model Law), Hiệp định thương mại Việt -
Mỹ và WTO Vấn đề này vừa có ý nghĩa trong việc bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể hoạt động thương mại tham gia vào việc giải quyết tranh chấp
Luật thương mại được Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005 định nghĩa khái niệm hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm : mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác - khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005
Theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại cũng đã được
mở rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục dích sinh lợi Hướng tiếp cận này của Luật thương mại 2005 cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã được mở rộng tươgn đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật doanh nghiệp 2005 : Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi - khoản 2 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005
Trang 7Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 cũng đã liệt kê các tranh chấp về kinh doanh, thương mại Mặc dù không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp thương mại” mà sử dụng thuật ngữ “tranh chấp về kinh doanh, thương mại” nhưng nội dung của các tranh chấp về kinh doanh, thương mại được liệt kê tại Điều 29, thực chất là các tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật thương mại
2005 Tuy có sự khác nhau về cách thức biểu đạt và ngôn ngữ sử dụng nhưng nhìn chung quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại được thể hiện qua các quy định trong các văn bản pháp luật thời gian gần đây là khá nhất quán
Từ những nội dung xem xét nêu trên, có thể hiểu : Tranh chấp thương mại
là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại
2 Tính cấp thiết của đề tài.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, tính
đa dạng và phức tạp trong quan hệ kinh doanh làm cho tranh chấp kinh doanh cũng trở nên phức tạp về nội dung, gay gắt về mức độ tranh chấp, và phong phú
về nhiều chủng loại Bởi vậy, yêu cầu khách quan đặt ra là phải áp dụng các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, có hiệu quả để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, ổn định các quan hệ kinh doanh của nền kinh tế, tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội Vì thế, xuất phát từ lợi ích kinh tế của mỗi bên tranh chấp, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh trong điều kiện hiện nay phải đảm bảo các yêu cầu sau :
- Nhanh và thuận lợi, hạn chế đến mức tối đa sự gián đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh
- Đảm bảo dân chủ trong quá trình giải quyết tranh chấp
Trang 8- Bảo vệ uy tín của các bên trên thương trường.
- Đảm bảo các yếu tố bí mật trong kinh doanh
- Đạt hiệu quả thi hành cao nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợp pháp của các bên
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tồn tại bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại cơ bản, bao gồm :
Trang 9và kéo dài việc giải quyết tranh chấp nhằm hết thời hiệu khởi kiện vụ tranh chấp
ra Toà án hay Trọng tài Thương mại Tuy nhiên, thực tế Pháp luật của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận dàn xếp là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại mà không có bất kỳ quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng dàn xếp ngoài Toà án hay có một công cụ pháp lý nào bảo đảm cho việc thi hành kết quả của dàn xếp Đó là một khiếm khuyết lớn của pháp luật chúng ta, vì có thể nói kết quả của việc dàn xếp thực chất là một hợp đồng – nên cần được các bên tôn trọng thực thi nghiêm túc, và cần được đảm bảo bằng pháp luật để xác nhận sự tồn tại và tính hiệu lực của kết quả của việc dàn xếp Vì vậy đó là lý do em chọn đề tài này, nhằm đưa ra một số khía cạnh pháp lý về hợp đồng điều đình (hay hợp đồng dàn xếp) cần được quy định cụ thể, rõ ràng trong các văn bản pháp luật, nhằm tạo điều kiện môi trường pháp lý thuận lợi cho các bên tham gia giải quyết tranh chấp mà các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên vẫn được đảm bảo
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS.Ngô Huy Cương đã hướng dẫn để
em hoàn thành đề tài này, và em cũng chân thành cảm ơn các thầy, cô đã giảng dậy cho em kiến thức trong suốt quá trình học tập tại trường Do kiến thức và vốn hiểu biết có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót trong đề tài của mình,
vì vậy em kính mong các thầy, cô chỉ ra và góp ý để em có thể hoàn thiện một cách toàn diện và tốt nhất đề tài này Em xin chân thành cảm ơn
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỀU ĐÌNH.
1.1 Hợp đồng điều đình.
1.1.1 Khái niệm.
Giả sử hai bên đã ký kết với nhau một hợp đồng nào đó, khi thực hiện hợp đồng thì xảy ra tranh chấp, và các bên chọn cách thức là điều đình, dàn xếp để giải quyết Nếu các bên dàn xếp không thành các bất đồng, mâu thuẫn đang xảy
ra thì có thể lựa chọn một cách giải quyết khác – đó là khởi kiện ra Trọng tài hoặc Toà án Còn nếu các bên dàn xếp thành, nghĩa là đi đến được những giải pháp để tháo gỡ những mâu thuẫn, bất đồng thì những giải pháp đó cần được hiểu là “những thoả thuận mà các bên đã đạt được sau khi dàn xếp”, nó có tính ràng buộc, có hiệu lực với các bên tranh chấp, nên kết quả của những thoả thuận
đó chính là “luật của các bên”, như vậy kết quả của việc điều đình, dàn xếp được gọi là hợp đồng điều đình (hay hợp đồng dàn xếp) Nhưng đó chỉ là “luật của các bên” chứ không phải “luật” mà Nhà nước ban hành nên không có sự đảm bảo pháp lý về hiệu lực của nó, vì thế mà không đảm bảo sự thực thi nó trên thực tế,
vì không có chế tài nào cho việc không thi hành, thi hành không đúng, không đầy đủ kết quả của việc dàn xếp đó
Ở đây, chúng ta chỉ quan tâm đến kết quả mà các bên đã đạt được sau khi dàn xếp, đó là những thoả thuận mà các bên cùng thống nhất với nhau về những phương án giải quyết tranh chấp – có thể chỉ đạt được kết quả đối với một phần
tranh chấp hoặc có thể toàn bộ vụ tranh chấp - vì vậy hợp đồng điều đình ở đây
được hiểu là hợp đồng mà trong đó ghi nhận kết quả của việc dàn xếp tranh chấp giữa các bên trong phạm vi những gì mà các bên thoả thuận Đối tượng của hợp đồng điều đình là những thoả thuận đạt được về phương án tháo gỡ những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh trên cơ sở một hợp đồng trước đó mà các bên hướng tới để giải quyết
Trang 11Với cách hiểu như trên ta có thể đưa ra khái niệm cụ thể cho loại hợp đồng này như sau : Hợp đồng điều đình là sự thỏa thuận của các bên, trong đó ghi nhận kết quả đạt được của việc dàn xếp trong phạm vi những gì mà các bên đã thoả thuận khi dàn xếp các tranh chấp phát sinh trên cơ sở một hợp đồng trước đó.
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của hợp đồng điều đình.
Thông qua việc phân tích để đưa ra khái niệm mang tính bản chất của hợp đồng điều đình ở trên, chúng ta có thể thấy được những đặc trưng cơ bản của hợp đồng này, cụ thể như sau :
- Thứ nhất, phương thức giải quyết tranh chấp bằng dàn xếp được thực hiện bởi cơ chế tự giải quyết thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức này là sự thể hiện quyền tự do thoả thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp Chính vì thế mà hợp đồng điều đình – là kết
quả của việc điều đình, dàn xếp - không đương nhiên có hiệu lực pháp lý và có
tính bắt buộc thi hành đối với các bên tranh chấp, kể cả các bên dàn xếp trong thủ tục tố tụng “mang tính luật” thì kết quả này cũng không đương nhiên có hiệu lực pháp lý mà phải có “quyết định công nhận sự thoả thuận của các bên” của Toà án hay Trọng tài thì kết quả này (tức là hợp đồng điều đình) mới có hiệu lực pháp lý và được đảm bảo thi hành trên thực tế
- Thứ hai, Khi việc dàn xếp diễn ra ngoài thủ tục tố tụng luật định (ngoài Toà án, Trọng tài), khi đạt được kết quả việc thì việc thi hành kết quả của dàn xếp - tức là hợp đồng điều đình – hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện, thiện chí của bên có nghĩa vụ thi hành mà không hề có bất kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối với kết quả đó
Trang 12- Thứ ba, hợp đồng điều đình chỉ có hiệu lực đối với các bên và có hiệu lực đối với những gì mà các bên đã dàn xếp Và hợp đồng điều đình là “kết quả giải quyết” có tính chung thẩm, nghĩa là sẽ được thi hành ngay Trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004, tại các Điều 180 đến Điều 188 có nói đến việc hoà giải trong thủ tục tố tụng, và nếu các bên đạt được thoả thuận thì sẽ được lập thành biên bản, Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các bên và quyết định này
có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị trừ trường hợp có dấu hiệu bị đe doạ, lừa dối, trái pháp luật và đạo đức xã hội hay tại Điều 37 Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 cũng quy định về việc hoà giải trong thủ tục tố tụng trọng tài và nếu hoà giải thành thì Hội đồng trọng tài ra quyết định công nhận hoà giải thành và quyết định này là chung thẩm Như vậy kết quả dàn xếp này giữa các bên tại Toà án hay Hội đồng Trọng tài có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực thi hành Vì trong trường hợp này hợp đồng điều đình được xác lập trong thủ tục tố tụng do luật định khi giải quyết tranh chấp (tại Toà án hoặc Trọng tài)
- Thứ tư, đối tượng của hợp đồng điều đình chính là những thoả thuận
mà các bên thống nhất để giải quyết tranh chấp, nên việc giao kết chỉ được thực hiện sau khi các bên đã có các giải pháp cụ thể - là kết quả của việc dàn xếp
1.1.3 Ý nghĩa, vai trò của hợp đồng điều đình.
Ưu điểm nổi bật của phương thức giải quyết tranh chấp bằng dàn xếp là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém Mặt khác, giải quyết tranh chấp bằng dàn xếp còn bảo vệ được uy tín cho các bên tranh chấp cũng như bí mật trong kinh doanh của các nhà kinh doanh Các nhà kinh doanh hơn ai hết tự biết bảo vệ quyền lợi của bản thân mình, hiểu rõ những bất đồng và nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên quá trình đàm phán, thương lượng dễ hiểu và cảm thông với nhau hơn để có thể thoả thuận được các giải
Trang 13pháp tối ưu theo đúng nguyện vọng của mỗi bên mà không phải cơ quan tài phán nào cũng có thể làm được Bởi vậy, nếu dàn xếp thành công - nghĩa là đi đến kết quả của việc dàn xếp (là hợp đồng điều đình) - không những các bên đã loại bỏ được những bất đồng đã phát sinh mà mức độ phương hại đến mối quan hệ kinh doanh giữa các bên cũng thấp, tăng cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau trong tương lai
Vì vậy ta có thể thấy được những ý nghĩa, vai trò thực tiễn của hợp đồng điều đình như sau :
- Dàn xếp xuất phát từ sự tự nguyện có điều kiện của các bên, nên khi đạt được phương án giải quyết (tức là hợp đồng điều đình), các bên thường nghiêm túc thực hiện
- Các bên đạt được thoả thuận, nghĩa là hợp đồng điều đình được xác lập thì tranh chấp đã được giải quyết mà vẫn đảm bảo được uy tín của các bên, giữ được bí quyết kinh doanh và mối quan hệ làm ăn, mà đồng thời giảm tải được cho Toà án cũng như trọng tài cho việc giải quyết tranh chấp
1.2 Giao kết.
1.2.1 Nguyên lý và các nguyên tắc của hợp đồng điều đình.
Trước khi các bên ngồi lại với nhau để “dàn xếp” về tranh chấp nào đó phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại thì điều đầu tiên là phải xem
có tranh chấp phát sinh trên cơ sở hợp đồng nào trước đó giữa các bên hay không Điều này có thể được hiểu đơn giản hơn nếu ta lật ngược lại vấn đề : nếu không có hợp đồng nào giữa các bên thì dẫn đến việc là không thể có tranh chấp nào được phát sinh, nên không có đối tượng để các bên cùng dàn xếp hay tháo
gỡ - đã không có tranh chấp thì không có dàn xếp, đã không có dàn xếp thì cũng không có “hợp đồng điều đình” (là kết quả của dàn xếp)
Trang 14Khi có tranh chấp xảy ra trên cơ sở một hợp đồng nào đó giữa các bên và các bên lựa chọn phương thức giải quyết bằng dàn xếp thì cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau trong quá trình dàn xếp :
- Tự do thoả thuận nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội;
- Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.Những đòi hỏi này là điều kiện tiên quyết mà các bên phải tuân theo nhằm đảm bảo cho kết quả dàn xếp của các bên có giá trị pháp lý, bởi vì dù chúng ta tôn trọng quyền tự do ý chí, tự do định đoạt trong việc thoả thuận giữa các bên nhưng không có nghĩa là các bên được tự do quá một giới hạn cho phép mà ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng như của toàn xã hội Bởi kết quả của điều đình là một “hợp đồng” nên các nguyên tắc này cũng chính
là các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 389 BLDS 2005
Ngoài hai nguyên tắc quan trọng của giao kết hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự thì Luật Thương mại còn đề cập đến một số nguyên tắc áp dụng cho hoạt động trương mại như sau :
Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại : theo đó, các
bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác
Ví dụ, A và B là đối tác làm ăn của nhau và thường xuyên giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá Các bên thoả thuận với nhau rằng “nếu xảy ra tranh chấp và hai bên dàn xếp được thì hai việc này được lập thành văn bản và được thi hành sau 10 ngày” Đây là thoả thuận ngoài hợp đồng giữa A và B Sau nhiều năm thì
nó đã thành thói quen giữa hai bên được mặc nhiên thừa nhận
Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại : trường hợp pháp luật không có quy định, các bên không có thoả thuận và không có thói quen
Trang 15đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Luật Thương mại và trong Bộ luật Dân sự Trong mối quan hệ với hợp đồng, tập quán được áp dụng theo nguyên tắc : nếu pháp luật không có quy định, đồng thời các bên cũng không có thoả thuận và không có thói quen được thiết lập giữa các bên thì tập quán được
áp dụng nhưng không trái với các nguyên tắc chung của pháp luật Việt Nam Bởi
vì pháp luật của nước ta không có một quy định nào về vấn đề giải quyết tranh chấp bằng dàn xếp nên tập quán thương mại sẽ là một nguồn luật rất quan trọng
để giải quyết những bất đồng khi xảy ra tranh chấp
Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng : khi thương
nhân thực hiện hoạt động thương mại thì họ có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó Đồng thời thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh Điều này có nghĩa là trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa thương nhân và người tiêu dùng và nếu các bên dàn xếp để giải quyết mâu thuẫn thì kết quả của dàn xếp làm sao phải đảm bảo lợi ịch chính đáng cho người tiêu dùng (mà đáng ra họ được hưởng) Hoặc chẳng hạn, nếu hai thương nhân dàn xếp với nhau về giá bán của sản phẩm sẽ bán ra thị trường : trước đây bán thấp hơn giá thị trường là 5% thì nay do nhu cầu và các chi phí phát sinh nên bên sản xuất cho ra hàng loạt sản phẩm trong thời gian ngắn mà chất lượng không được kiểm định nhưng vẫn nói với bên nhận bán là đảm bảo chất lượng tốt Bên nhận bán qua kiểm tra đã biết chất lượng không đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn muốn tăng giá và cao hơn 150% giá thị trường cùng thời điểm, nhưng sau khi dàn xếp thì hai bên đồng ý với giá cao hơn 100% giá thị trường Do vậy việc dàn xếp này là bất hợp pháp vì đã vi phạm vào nguyên tắc trung thực khi giao kết và xâm phạm đến lợi ích chính đáng của
Trang 16người tiêu dùng Do vậy hợp đồng dàn xếp giữa hai thương nhân trên sẽ không
1.2.2 Đề nghị giao kết.
Khi một người muốn thiết lập một hợp đồng thì ý muốn đó phải thể hiện
ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định Chỉ có như vậy, phía đối tác mới
có thể nhận biết được ý muốn của họ và từ đó mới có thể đi đến việc giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể - Khoản 1 Điều 390 BLDS 2005
Để người mình muốn giao kết hợp đồng với họ có thể hình dung được hợp đồng đó như thế nào, người đề nghị phải đưa ra những điều khoản chủ yếu của hợp đồng một cách cụ thể và rõ ràng Như vậy, lời đề nghị mặc dù chưa phải là một hợp đồng nhưng ít nhiều đã có tính chất ràng buộc đối với người đề nghị Thời điểm có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 391 BLDS 2005
Tuy nhiên, bên đề nghị vẫn có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong các trường hợp sau :
- Bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị
Trang 17- Bên đề nghị có nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị và điều kiện đó đã đến
Ngoài ra, đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt khi bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc chậm trả lời chấp nhận
Nhưng do đặc thù của hợp đồng dàn xếp nên về nguyên tắc, đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có thể được đưa ra sau khi đã có tranh chấp phát sinh trên cơ sở một hợp đồng trước đó và các bên đã thương lượng, hoà giải đi đến kết quả
Như đã phân tích ở trên về hợp đồng điều đình, thì “hợp đồng điều đình là kết quả của việc dàn xếp” nên chỉ khi các bên đã đưa ra được những phương án
cụ thể để giải quyết tranh chấp, thì lúc này “đề nghị giao kết hợp đồng điều đình” - với những điều khoản nội dung chủ yếu là “những thoả thuận đạt được
mà các bên cùng thống nhất sau khi dàn xếp tranh chấp” - mới được đưa ra, từ
đó nếu đồng ý với những “nội dung chủ yếu” đó thì các bên sẽ đi đến giao kết hợp đồng điều đình Có thể hiểu rõ hơn vấn đề này khi các bên hoà giải tại Toà
án, nếu các bên hòa giải thành, thì kết quả này được lập thành văn bản và được gửi cho các bên tranh chấp, nếu trong vòng 7 ngày mà các bên không có phản đối gì thì Toà án sẽ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các bên và kết quả dàn xếp này có hiệu lực pháp lý Như vậy, 7 ngày là thời hạn để các bên suy nghĩ
để đưa ra quyết định có “giao kết hợp đồng điều đình” với “đề nghị giao kết hợp đồng” có nội dung chủ yếu như thế hay không
1.2.3 Chấp nhận giao kết hợp đồng.
Là việc bên được đề nghị nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với người đã đề nghị Về nguyên tắc, bên được đề nghị phải trả lời ngay về việc có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không Trong những trường hợp, cần phải có thời gian để bên được đề nghị cân nhắc, suy nghĩ mà các bên đã
ấn định thời hạn trả lời thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời hạn đó Nếu
Trang 18sau thời hạn nói trên, bên được đề nghị mới trả lời về việc chấp nhận giao kết hợp đồng thì lời chấp nhận đó được coi như một lời đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Người được đề nghị có thể chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị, cũng có thể chỉ chấp nhận một phần trong nội dung đó hoặc có thể chỉ chấp nhận việc giao kết hợp đồng nhưng không đồng ý với nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra Nghĩa là trong những trường hợp này, người được đề nghị muốn sửa đổi hoặc thay dổi nội dung mà người đề nghị đã đưa ra Vì vậy, họ sẽ trở thành người đề nghị mới và người đã đề nghị trước đó lại trở thành người được đề nghị Người
đề nghị mới cũng chịu sự ràng buộc của mình về những nội dung đã đề nghị Sự hoán vị này có thể xảy ra nhiều lần cho đến khi nào các bên thống nhất thoả thuận được với nhau toàn bộ nội dung của hợp đồng thì sẽ đi đến chính thức giao kết hợp đồng
1.2.4 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng điều đình.
Bên cạnh nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thoả thuận của các bên trong hợp đồng, thì pháp luật cũng đặt ra một số những yêu cầu tối thiểu bắt buộc các chủ thể phải tuân thủ theo – đó là các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Chỉ những hợp đồng hợp pháp thì mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia hợp đồng Mọi cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên và được pháp luật bảo hộ Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chính là các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều
Trang 19- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật
Dựa vào cách hiểu và nhằm tổng quát các điều kiện nêu trên chúng ta có thể phân ra thành các điều kiện về :
Người tham gia hợp đồng phải có năng lực hành vi :
Năng lực hành vi được hiểu là khả năng của chủ thể bằng chính hành vi của mình xác lập và thực hiện được các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 : Đối với cá nhân, năng lực hành vi bắt đầu hình thành khi cá nhân được 6 tuổi cùng với khả năng trí tuệ Nhưng để
có được năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì cá nhân phải từ đủ 18 tuổi trở lên
Trang 20kèm theo trí tuệ bình thường Do đó, có thể hiểu rằng khi giao kết hợp đồng thì thì cá nhân trực tiếp giao kết phải có đầy đủ năng lực hành vi Trường hợp người
từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện hợp đồng thì phải được người đại diện theo pháp luật của họ dồng ý (trừ các giao dịch có giá trị nhỏ phục vụ cho nhu cầu hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác) Nhưng đối với cá nhân từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi mà có tài sản riêng
để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thì họ có thể tự xác lập, thực hiện hợp đồng mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hơp pháp luật có quy định khác (Điều 20 BLDS 2005)
Thực ra, trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, chủ thể tham gia hợp đồng chủ yếu là các thương nhân cho nên khái niệm “người tham gia hợp đồng phải có năng lực hành vi” cần thiết phải hiểu thêm ở góc độ khác đó là :
Thứ nhất, đối với một số quan hệ hợp đồng đòi hỏi các thương nhân phải
đáp ứng điều kiện có đăng ký kinh doanh hợp pháp để thực hiện công việc thoả thuận trong hợp đồng thì các bên phải tuân theo quy định đó Chẳng hạn, đối với hợp đồng nhập khẩu hàng hoá nếu thương nhân Việt Nam không có đăng ký kinh doanh ngành, nghề nhập khẩu hàng hoá theo luật định thì không thể nhập khẩu hàng hoá đó Hoặc trường hợp nếu thương nhân không dăng ký kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản thì cũng không được ký hợp đồng môi giới bất động sản đối với bên được môi giới theo quy định tại Luật Kinh doanh Bất động sản 2006 Vì vậy, nếu có tranh chấp hợp đồng phát sinh và các bên giải quyết tranh chấp bằng dàn xếp, thì do hợp đồng trước đó đã vô hiệu bởi vượt quá
“năng lực cho phép” (thường xảy ra với tổ chức, pháp nhân) nên hợp đồng dàn xếp (kết quả dàn xếp) cũng vì thế không có giá trị pháp lý, vì được dàn xếp trên
cơ sở một hợp đồng không hợp pháp
Thứ hai, đại diện của các bên khi giao kết hợp đồng phải đúng thẩm quyền
: Người đại diện trực tiếp ký vào hợp đồng có thể là người đại diện theo pháp
Trang 21luật hoặc đại diện theo uỷ quyền của các bên phù hợp với với quy định của pháp luật Khi người không có quyền đại diện giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng
sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với bên được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hợp pháp của bên được đại diện chấp nhận Người đã giao kết hợp đồng với người không có quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời trong thời hạn ấn định, nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì hợp đồng đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, nhưng người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao kết hợp đồng với mình, trừ trường hợp người đã giao kết biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện
Ví dụ, Loanh Quanh do bận công tác ở xa nên đã uỷ quyền cho Vòng Vo (Vòng Vo có quyền giải quyết các công việc trong thời gian Loanh Quanh đi công tác - uỷ quyền lần 1) ký hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng thuê tài sản với công ty TNHH Phân Vân, với hai hợp đồng như sau :
- Hợp đồng 1 : Mua các thiết bị nội thất ôtô
- Hợp đồng 2 : Vòng Vo thuê 1 chiếc ôtô Camry 3.0 với giá 2.000$/tháng trong thời hạn 6 tháng
Hai bên đã ký kết hợp đồng và trong quá trình thực hiện xảy ra tranh chấp đối với cả 2 hợp đồng trên, hai bên đã chọn dàn xếp là cách thức để giải quyết mâu thuẫn Loanh Quanh viết giấy uỷ quyền cho Vòng Vo giải quyết đối với hợp đồng 1 (uỷ quyền lần 2), còn Loanh Quanh tự giải quyết hợp đồng 2 Vì công việc đột xuất Loanh Quanh phải đi công tác ở nước ngoài nên việc dàn xếp để giải quyết hợp đồng 2 chưa được thực hiện Và Vòng Vo khi đàm phán với Phân Vân đã khéo đưa cả việc tranh chấp đối với hợp đồng 2 để giải quyết trong một lần (khi Phân Vân yêu cầu xác minh việc uỷ quyền là hợp pháp thì Vòng Vo chỉ đưa ra giấy uỷ quyền lần 1), và kết quả là hai bên đã thống nhất được phương án giải quyết – Vòng Vo và Phân Vân ký vào văn bản xác nhận việc dàn xếp thành
Trang 22Khi Loanh Quanh về nước và đề nghị được thương lượng với Phân Vân về vấn
đề giải quyết tranh chấp hợp đồng 2 thì Phân Vân đưa ra văn bản kết quả dàn xếp giữa Phân Vân và Vòng Vo Loanh Quanh phản đối vì nói rằng chỉ uỷ quyền cho Vòng Vo giải quyết hợp đồng 1 và đưa ra giấy uỷ quyền giữa Vòng Vo và Loanh Quanh Như vậy trong trường hợp này thì kết quả dàn xếp với Phân Vân của Vòng Vo chỉ có hiệu lực với Hợp đồng 1 (Loanh Quanh phải thi hành), còn phần thoả thuận về giải quyết tranh chấp với hợp đồng 2 không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với Loanh Quanh vì Vòng Vo đã vượt quá thẩm quyền đại diện (Vòng Vo phải thi hành về phần vượt quá này)
Người đã giao kết hợp đồng với người không có quyền đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn giao kết hợp đồng (Điều 145 BLDS 2005) - đối với trường hợp trên thì Phân Vân có quyền huỷ bỏ hợp đồng dàn xếp giữa Vòng Vo
và Phân Vân đã xác lập trước đó đối với cả hai hợp đồng
Nếu hợp đồng do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần hợp đồng được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối, nếu không được sự đồng ý thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao kết hợp đồng với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện - trong tình huống trên thì Loanh Quanh đã có giấy uỷ quyền lần 2 cho Vòng Vo và chỉ uỷ quyền cho Vòng
Vo giải quyết đối với hợp đồng 1 nên phần dàn xếp với hợp đồng 2 thì Vòng Vo phải tự chịu trách nhiệm thi hành
Người đã giao kết hợp đồng với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ hợp đồng đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp
Trang 23người đó biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao kết hợp đồng – như vậy trong ví dụ trên thì Phân Vân có thể huỷ bỏ không chỉ những thoả thuận đã dàn xếp đối với hợp đồng 2 mà còn có thể huỷ bỏ đối với toàn bộ nội dung thoả thuận phương án giải quyết tranh chấp đối với cả 2 hợp đồng, và trong trường hợp thiệt hại thì cả Loanh Quanh và Vòng Vo đều phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường.
Trong trường hợp người đại diện và người giao kết hợp đồng với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện hợp đồng vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại
Như vậy ở đây còn đề cập đến cả năng lực pháp luật của chủ thể tham gia hợp đồng
Người tham gia hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện :
Một trong những nguyên tắc mà nhà nước đặt ra khi giao kết hợp đồng là phải có sự tự nguyện của các bên tham gia hợp đồng Bản chất của hợp đồng là
sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí, cho nên tự nguyện bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí Không có tự do ý chí và bày tỏ ý chí không thể có tự nguyện, nếu một trong hai yếu tố này không có hoặc không thống nhất cũng không thể có tự nguyện Sự tự nguyện của các bên trong một hợp đồng là một trong các nguyên tắc được quy định tại Điều 4 BLDS 2005 : tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận Vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là vi phạm pháp luật Vì vậy, hợp đồng thiếu sự tự nguyện không làm phát sinh hậu quả pháp lý
Bộ luật dân sự quy định một số trường hợp giao dịch xác lập không có sự tự nguyện sẽ bị vô hiệu Đó là các trường hợp vô hiệu do giả tạo, do nhầm lẫn, do
bị lừa dối, bị đe doạ, do xác lập tại thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
Trang 24Xét ví dụ sau : Lum Loa đe dọa Ngô Nghê phải ký hợp đồng bán toàn bộ
số hàng hoá cho mình với giá = 3/4 giá thị trường cùng với một số cổ vật có giá trị Nhưng Lum Loa mới trả 2/3 tổng số tiền phải thanh toán Đến khi quá thời hạn trả nốt số tiền còn lại 1 tháng (sau khi Ngô Nghê đã đòi nhiều lần) thì Lum Loa đã “thương lượng” với Ngô Nghê về giá trị của số hàng hoá cùng cổ vật đã mua, hai bên nhất trí với việc Lum Loa chỉ phải trả thêm 1/2 số tiền còn nợ Trong tình huống này thì có những vấn đề pháp lý được hiểu như sau :
1 Có 3 hợp đồng tồn tại, đó là : hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng mua bán cổ vật và hợp đồng dàn xếp giữa Lum Loa và Ngô Nghê
2 Khi giao kết hợp đồng thì Ngô Nghê đã bị Lum Loa đe doạ, nhưng sau
đó Lum Loa và Ngô Nghê đã ngồi lại với nhau cùng dàn xếp và đi đến thống nhất các vấn đề còn “bất đồng” khi hai bên ký kết (về giá cả và việc thanh toán) nên hợp đồng mua bán hàng hoá trước đó dù đã vi phạm nguyên tắc “tôn trọng sự tự nguyện của các bên khi giao kết hợp đồng” nhưng vẫn có hiệu lực pháp luật vì sau đó các bên đã ngồi lại cùng “dàn xếp” – nghĩa là yếu tố “đe doạ” lúc này đã được chuyển thành sự “tự nguyện”
3 Đối với việc mua cổ vật : do cổ vật là đối tượng bị nhà nước cấm kinh doanh, mua bán nên hợp đồng mua bán cổ vật giữa Lum Loa và Ngô Nghê bị vô hiệu tuyệt đối, nên việc dàn xếp cũng vì thế mà không có hiệu lực pháp luật
1.2.4.2 Mục đích và nội dung của hợp đồng.
Mục đích và nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội Để hợp đồng điều đình có hiệu lực pháp luật thì trước hết đối tượng của hợp đồng mà các bên ký kết trước đó (và phát sinh tranh chấp dẫn đến việc giải quyết bằng điều đình) phải là những hàng hoá, dịch vụ nhà nước không cấm kinh
Trang 25doanh theo quy định của pháp luật, không trái với các chuẩn mực đạo đức chung của xã hội Mục đích của hợp đồng là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập hợp đồng đó (mục đích thực tế) Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thoả thuận trong hợp đồng Những điều khoản này xác định quyền, nghĩa vụ của các bên phát sinh từ hợp đồng Mục đích và nội dung của hợp đồng có quan hệ chặt chẽ với nhau Con người xác lập, thực hiện hợp đồng luôn nhằm đạt được mục đích nhất định Muốn đạt được mục đích đó họ phải cam kết, thoả thuận về nội dung và ngược lại những cam kết, thoả thuận về nội dung của họ là để đạt được mục đích của giao dịch Tuy nhiên trong thực tiễn không phải bao giờ các chủ thể cũng có cùng mục đích và không phải mục đích nào cũng hợp pháp và không trái đạo đức
xã hội Ví dụ, Công ty C dàn xếp với Công ty D là C không đòi D khoản nợ 2tỷ đồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ khi phá sản, D đồng ý
và sẽ được nhận 5% từ việc này Như vậy, C có mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả
nợ (còn D lại có mục đích là muốn kiếm lợi từ việc đó) Mục đích này là trái pháp luật nên kết quả dàn xếp này giữa C và D bị vô hiệu
Như ở ví dụ về Lum Loa và Ngô Nghê thì hợp đồng mua cổ vật giữa hai bên bị vô hiệu tuyệt đối nên kết quả dàn xếp giữa Lum Loa và Ngô Nghê cũng vì thế mà vô hiệu tuyệt đối - bởi cổ vật là đối tượng bị nhà nước cấm kinh doanh, buôn bán
Vì vậy không những mục đích và nội dung của hợp đồng điều đình không được trái pháp luật và đạo đức xã hội, mà bản thân nó muốn có hiệu lực pháp luật thì còn cần điều kiện nữa là hợp đồng trước đó giữa các bên không rơi vào trường hợp vô hiệu tuyệt đối, vì nếu hợp đồng đó vô hiệu tuyệt đối thì kéo theo
hệ quả là kết quả dàn xếp tranh chấp giữa các bên phát sinh trên cơ sở hợp đồng
đó cũng vô hiệu tuyệt đối
Trang 261.2.4.3 Hình thức.
Đối với hợp đồng điều đình, dù là một hợp đồng rất phổ biến nhưng lại không có bất cứ quy định nào chi phối đến loại hợp đồng này Với những hợp đồng đã được Bộ luật Dân Sự, Luật Thương mại và những Luật chuyên ngành khác quy định thì hình thức của hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật Hình thức của hợp đồng cũng được coi là một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ví dụ, trong trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản (hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng thuê tài chính…), phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký, hoặc xin phép (mua bán nhà, hợp đồng thuê tài chính, hợp đồng thuê nhà từ 6 tháng trở lên…) thì phải tuân theo quy định đó, nếu không tuân thủ thì hợp đồng không có giá trị pháp lý để thực hiện
Như đã biết thì có ba loại hình thức của hợp đồng, đó là : Hình thức miệng, hình thức văn bản (có thể có chứng thực, công chứng) và hình thức bằng hành vi Và đối với hợp đồng điều đình, thiết nghĩ không cần đòi hỏi phải tuân theo một hình thức nào đó Bởi vì, chỉ cần bằng một cách nào đó chứng minh được là đã có một “hợp đồng dàn xếp” giữa các bên là đủ, vì nếu quy định bắt buộc với một hình thức nào đó đối với loại hợp đồng này thì luật lại mang tính cứng nhắc mà không còn mang đúng ý nghĩa của luật tư là hỗ trợ, tôn trọng quyền lựa chọn của các bên trong quan hệ pháp lý - là đưa ra sự lựa chọn mang tính mềm dẻo và linh hoạt Trong khi đó, việc dàn xếp là cách giải quyết “nội bộ” giữa các bên, nên không cần biết kết quả dàn xếp giữa các bên được biểu hiện dưới hình thức nào mà chỉ cần quan tâm đến việc các bên nếu đạt được thoả thuận thì đòi hỏi phải thực hiện nghiêm túc nếu không sẽ chịu chế tài – đây mới
là lúc cần “luật” can thiệp Vì vậy, nếu các bên đã dàn xếp xong vụ tranh chấp
mà một bên không thi hành hoặc thi hành không đúng thì khi khởi kiện ra Toà án thì chỉ cần là làm sao chứng minh được đã có hợp đồng dàn xếp giữa các bên
Trang 27Cũng giống như Luật mẫu của ULCITRAL về mua bán hàng hóa quốc tế cũng
có quy định rằng chỉ cần bằng một cách nào đó mà các bên chứng minh được là
đã có hợp đồng giữa các bên chứ không đòi hỏi các bên giao kết hợp đồng phải tuân theo một hình thức cụ thể nào
Xét ví dụ sau : Long Đong đã vay của Lô Tô một khoản tiền để mua 2 chiếc ôtô : một xe tải và một xe con tương đương nhau về giá trị, đồng thời đã thế chấp cho Lô Tô theo một hợp đồng nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Long Đong, hợp đồng này được lập thành văn bản Long Đong có 2 con là Long và Đong, cả hai đều đã có gia đình Sau khi Long Đong chết để lại tài sản là hai chiếc ôtô cho Long và Đong, trong đó : Long được chiếc xe tải còn Đong được chiếc xe con Vì nhà Long nghèo nên Lô Tô đã xoá nợ cho Long, việc này các bên thoả thuận miệng với nhau Sau khi làm ăn thua lỗ, Lô Tô đã đòi xử lý tài sản thế chấp là 2 chiếc ôtô của Long và Đong, và đòi Long vẫn phải trả cho mình khoản nợ đã tiếp nhận từ cha mình là Long Đong Như vậy, việc dàn xếp giữa Long và Lô Tô được thực hiện bằng lời nói, nhưng khi thấy Lô Tô quay sang đòi lại khoản nợ mà chính Lô Tô đã xoá trước đó nên Long đã đưa ra bản ghi âm cuộc dàn xếp giữa 2 người do chính Long đã thực hiện trong khi hai bên dàn xếp Và đó là bằng chứng xác thực chứng minh rằng đã có hợp đồng dàn xếp giữa hai bên Qua ví dụ trên cho thấy không cần điều kiện về hình thức để hợp đồng dàn xếp có hiệu lực Vì việc lựa chọn hình thức nào đó khi các bên giao kết hợp đồng là quyền tự do định đoạt của họ, và các bên nên biết cách tự bảo vệ lợi ích của mình bằng cách làm sao chọn lựa hình thức nào mà có thể làm bằng chứng xác thực và có giá trị chứng minh nhất nếu có xảy ra tranh chấp Và bởi một lẽ, nếu các bên đã dàn xếp xong và đã thực hiện toàn bộ theo sự dàn xếp hoàn toàn hợp pháp thì không cớ gì lại tuyên rằng hợp đồng vô hiệu vì “không tuân thủ theo hình thức” mà pháp luật quy định, như vậy luật đã cản trở thực tế, cản trở các quan hệ pháp lý
Trang 281.2.5 Phạm vi và tính chung thẩm của Hợp đồng điều đình.
Đối tượng của hợp đồng điều đình là kết quả dàn xếp những tranh chấp phát sinh trên cơ sở một hợp đồng nào đó giữa các bên Khi xảy ra tranh chấp, nếu các bên thống nhất chọn cách thức là cùng nhau ngồi lại bàn bạc, dàn xếp những xung đột thì các bên có thể thoả thuận dàn xếp về toàn bộ hoặc một phần những xung đột ấy Nếu các bên đạt được kết quả thì kết quả của việc dàn xếp chỉ có hiệu lực với những gì mà các bên đã thoả thuận dàn xếp, và chỉ có hiệu lực với các bên dàn xếp mà thôi Ở ví dụ về Long Đong và Lô Tô, việc Lô Tô đã xoá nợ cho Long thì thỏa thuận đó của Long và Lô Tô chỉ có hiệu lực với Long
và Lô Tô, đồng thời chỉ có hiệu lực với việc chấm dứt trái quyền (là quyền đòi
nợ của Lô Tô) mà thôi, còn Lô Tô vẫn có quyền xử lý đối với tài sản thế chấp là hai chiếc ôtô – vì đây là vật quyền Nên trong hợp đồng dàn xếp các bên tranh chấp dàn xếp vấn đề gì thì chỉ có hiệu lực đối với vấn đề đó
Khi các bên dàn xếp thì có thể thành hoặc không thành, nếu không thành các bên có thể dàn xếp tiếp đến khi đạt được kết quả hoặc có thể lựa chọn một phương án giải quyết vụ tranh chấp bằng cách khác Nếu các bên đi đến được sự thống nhất và đạt được thoả thuận thì kết quả đó có hiệu lực, đòi hỏi các bên tự nguyện thực hiện một cách nghiêm túc Và kết quả của dàn xếp mang tính chung thẩm, nghĩa là khi đạt được sự thống nhất trong dàn xếp thì kết quả đó sẽ được thi hành mà không còn bất cứ sự “phản đối” nào nữa, nó là “quyết định cuối cùng” Điều này cũng có nghĩa rằng, khi hợp đồng dàn xếp giữa các bên không
vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng - và vì thế nó có giá trị pháp lý - thì nếu một bên khởi kiện ra Toà án thì Toà án cũng không xem xét giải quyết vụ tranh chấp mà chỉ ra quyết định là hợp đồng dàn xếp có hiệu lực và yêu cầu các bên thi hành nghiêm túc theo những gì đã thoả thuận, bởi vì bản chất của hợp đồng là “luật của các bên”, nên khi các bên đã đạt được sự thống nhất ý chí trong
Trang 29phương án giải quyết thì có hiệu lực đối với cả 2 và đòi hỏi phải được thi hành đúng “luật” đó.
1.3 Hợp đồng điều đình vô hiệu và hậu quả pháp lý.
1.3.1 Khái niệm hợp đồng vô hiệu và các trường hợp hợp đồng vô hiệu.
Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng được ký kết không đáp ứng các điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng cho nên nó không có giá trị pháp lý để thực hiện trên thực tế Hay nói cách khác hợp đồng vô hiệu là hợp đồng được ký kết vi phạm các quy định pháp luật nên những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà các bên thoả thuận trong hợp đồng không được nhà nước thừa nhận và bảo vệ
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 thì hợp đồng bị coi là vô hiệu nếu
nó thuộc một trong các trường hợp sau :
Vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội : Điều
cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Còn đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Biểu hiện cụ thể của vi phạm điều cấm pháp luật trong hợp đồng là các bên thoả thuận với nhau để thực hiện như : sản xuất, tiêu thụ hàng giả; mua bán, vận chuyển hàng cấm; cung cấp dịch vụ bị cấm theo quy định pháp luật, vận chuyển hàng hoá thuộc danh mục hàng hoá bị cấm lưu thông…Nên không những mục đích và nội dung của hợp đồng điều đình không vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội mà còn đòi hỏi cả mục đích và nội dung của hợp đồng các bên giao kết trước đó - dẫn đến phát sinh tranh chấp mà các bên dàn xếp - cũng không được trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
Đối với các giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì thời hiệu để các bên yêu cầu Toà án tuyên bố vô hiệu các giao dịch đó không bị hạn chế theo quy định tại Bộ luật Dân sự Nên thời
Trang 30hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng điều đình vô hiệu trong trường hợp này cũng được áp dụng về thời hiệu như đối với các hợp đồng đã được quy định trong BLDS 2005.
Hợp đồng vô hiệu do giả tạo : khi các bên xác lập hợp đồng một cách giả
tạo nhằm che giấu một hợp đồng khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn hợp đồng bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng đó cũng vô hiệu theo quy định của pháp luật Chẳng hạn, các bên ký kết hợp đồng mua bán nhà, nhưng bên bán đã thoả thuận với bên mua là hai bên sẽ ký kết hợp đồng tặng cho nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, trong trường hợp này kết quả dàn xếp không
Bộ luật Dân sự về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiên : Khi hợp
đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Toà án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật hợp đồng này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện
Đòi hỏi về thời hiệu để yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng dàn xếp vô hiệu
do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự ký kết là 2 năm kể từ ngày hợp đồng được xác lập
Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn : Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên
kia nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng mà xác lập hợp đồng thì bên bị nhầm lẫn
có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của hợp đồng đó, nếu bên kia không
Trang 31chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng thì được giải quyết giống như trường hợp hợp đồng vô hiệu
do bị lừa dối
Đối với hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn thì thời hiệu để yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu cũng là 2 năm, kể từ ngày hợp đồng được xác lập
Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ : Khi một bên tham gia hợp đồng
do bị lừa dối hoặc bị đe doạ thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng đó
là vô hiệu
Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng nên đã xác lập hợp đồng đó Còn đe doạ trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện hợp đồng nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của những người có liên quan như cha, mẹ, vợ, chồng, con…
Thời hiệu để yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng điều đình vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ cũng là 2 năm kể từ ngày hợp đồng được xác lập – như quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 về giao dịch vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ
Hợp đồng do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình : Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập hợp đồng vào đúng
thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu Chẳng hạn, Ma Men ưống rượu say, lợi dụng lúc Ma Men đang say thì Tỉ Tê đã đề nghị được thương lượng về vấn đề tranh chấp trước đó chưa được giải quyết, và hợp đồng dàn xếp đã được ký kết nhanh chóng với những nội dung do Tỉ Tê sắp đặt trước Trong trường hợp này