1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Hoa Kỳ và những kinh nghiệm cho Việt Nam

145 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng chuyển nhượng gồm 3 yếu tố: quyền sở hữu và quyền sử dụng các dấu hiệu tập hợp khách hàng biển hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại, logo…, việc sử dụng kinh nghiệm hay bí quyết kin

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ LỆ HẰNG

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI HOA KỲ VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CHO

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ LỆ HẰNG

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI HOA KỲ VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CHO

VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Quốc tế

Mã số : 60 38 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐOÀN NĂNG

Hà nội – 2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 7

1.1 Tổng quan về nhượng quyền thương mại 7

1.1.1 Khái niệm về nhượng quyền thương mại 7

1.1.2 Nguồn gốc, lịch sử hình thành và phát triển của nhượng quyền thương mại 16

1.1.3 Nhượng quyền thương mại với li-xăng quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và đại lý thương mại 21

1.2 Một số vấn đề pháp lý cơ bản về Hợp đồng nhượng quyền thương mại 25

1.2.1 Khái niệm Hợp đồng nhượng quyền thương mại 25

1.2.2 Chủ thể Hợp đồng nhượng quyền thương mại 28

1.2.3 Đối tượng của Hợp đồng nhượng quyền thương mại 28

1.2.4 Hình thức của Hợp đồng nhượng quyền thương mại 29

1.2.5 Nội dung chính của Hợp đồng nhượng quyền thương mại 29

1.3 Mối quan hệ giữa bên nhận quyền và bên nhượng quyền 31

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 34

2.1 Pháp luật Hoa Kỳ về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại 34

2.1.1 Pháp luật Hoa kỳ về Tài liệu công bố nhượng quyền thương mại 34

2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thowng mại theo pháp luật Hoa Kỳ 38

Trang 4

2.2 Pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng

NQTM 66

2.2.1 Pháp luật Việt Nam về nhượng quyền thương mại 66

2.2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về Bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại: 70

2.2.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam 73

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 86

3.1 Thực tiễn hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam: 86

3.1.1 Hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam 86

3.1.2 Xu hướng phát triển của nhượng quyền thương mại ở Việt Nam: 92

3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại: 100

3.2.1 Một số quan điểm về hoàn thiện quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại và Bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại 101

3.2.2 Một số khuyến nghị hoàn thiện quy định pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các bên trong nhượng quyền thương mại 103

KẾT LUẬN 108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 115

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CGCN Chuyển giao công nghệ

FDD Franchise Disclosure Document – Tài liệu công bố NQTM

FDD Franchise Disclosure Document – Tài liệu công bố NQTM

FTC the US Federal Trade Commission - Uỷ ban Thương mại Liên

bang Hoa Kỳ EEC Hiệp ước thành lập Cộng đồng kinh tế chung châu Âu

NQTM Nhượng quyền thương mại

SHTT Sở hữu trí tuệ

UFOC uniform franchise offering circular – Bản giới thiệu về NQTM

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hoạt động NQTM – một vấn đề mới nhưng đang ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam hiện nay NQTM không chỉ đơn thuần là việc mua bán thông thường mà nó là sự mua bán quyền kinh doanh Việc mua bán này liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau, đòi hỏi các bên tham gia cũng như các nhà nghiên cứu phải tìm hiểu không chỉ các vấn đề thương mại đơn thuần

mà còn phải nghiên cứu các vấn đề về thị trường, về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ … Nghiên cứu về NQTM sẽ mang đến một kiến thức tổng hợp

1.2 NQTM ra đời từ thế kỷ 17-18 tại Châu Âu và đến thế kỷ 19, loại hình này được du nhập vào Hoa Kỳ và phát triển mạnh mẽ từ sau năm 1945 Loại hình kinh doanh này cũng chỉ du nhập vào Việt Nam cách đây khoảng vài chục năm nhưng vẫn có thể coi là mới mẻ

Mặc dù còn tương đối mới mẻ, nhưng tại Việt Nam, NQTM đang ngày càng phát triển mạnh mẽ Các thương hiệu trong nước như Phở 24, Kinh

Đô, Cà phê Trung Nguyên, cùng với các thương hiệu quốc tế như hệ thống siêu thị Parkson, BBQ, KFC, McDonald’s, Loterria, các cửa hàng bán lẻ 7 – Eleven, hệ thống khách sạn của InterContinetal Hotels Group, hệ thống siêu thị Metro,…không còn xa lạ và có thể coi là thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam hiện nay Mô hình kinh doanh của các thương hiệu này đang làm cho thị trường Việt Nam trở nên phong phú và ngày càng hấp dẫn hơn

Theo thông tin từ Bộ Công thương, năm 2009, Việt Nam đã có khoảng 90 thương hiệu quốc tế và nội địa đã được NQTM với hơn 800 cửa hàng đang hoạt động Trong số gần 30 thương hiệu nước ngoài thì hầu hết đều

là thương hiệu của các doanh nghiệp lớn của Anh, Mỹ, Thụy Sĩ, Ý, Australia [25] Với sự phát triển mạnh mẽ của loại hình doanh nghiệp này,

Trang 7

rất nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng hoạt động NQTM sẽ bùng nổ tại Việt Nam trong tương lai không xa

Mặc dù loại hình kinh doanh này đang trở nên ngày càng phát triển, nhưng quan hệ NQTM liên quan đến nhiều lĩnh vực phức tạp, trong đó sở hữu trí tuệ và cạnh tranh là các lĩnh vực có liên quan mật thiết đến hoạt động này Tính chất độc lập về vốn cũng như hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền

đã làm cho bên nhận quyền luôn có xu hướng muốn được thực hiện các hoạt động thương mại một cách độc lập, thoát ly khỏi sự kiểm soát của bên nhượng quyền Trong khi đó, để duy trì sự vận hành ổn định của hệ thống nhượng quyền và bảo vệ tối đa các quyền sở hữu trí tuệ của mình, bên nhượng quyền luôn phải thực hiện việc giám sát chặt chẽ đối với toàn hệ thống nhượng quyền mà cụ thể là các bên nhận quyền Chính vì vậy, mối quan hệ hợp tác giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền là mối quan hệ chứa đựng nhiều khả năng phát sinh tranh chấp do các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc hạn chế cạnh tranh

Để giảm thiểu những rủi ro và nhưng tranh chấp có khả năng phát sinh, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động nhượng quyền cần phải được quy định chặt chẽ trong hợp đồng và đòi hỏi các bên cân nhắc kỹ quyền lợi của mình trước khi ký kết

1.3 Hành lang pháp lý về NQTM nói chung và các quy định về quyền

và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng NQTM nói riêng chưa thực sự tạo tiền đề đảm bảo cho hoạt động NQTM cũng như đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể tham gia

Mặc dù Bộ luật dân sự 2005, Luật thương mại 2005 và Nghị định 35/NĐ-CP/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động NQTM có

đề cập đến NQTM nhưng các quy định này còn rất chung chung mà chưa đề cập đến những quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể của các bên cũng như là những quy định này còn chưa thống nhất giữa các văn bản khác nhau

Trang 8

Chính vì thế, cần thiết phải có hành lang pháp lý thuận lợi và thống nhất để đảm bảo quyền lợi của các bên trong hợp đồng NQTM

1.4 Kinh nghiệm thực tiễn từ Hoa Kỳ, là nơi mà hoạt động NQTM được phổ biến rộng khắp cho thấy, việc tham gia ký kết hợp đồng NQTM tương đối thuận lợi với một văn bản hướng dẫn chi tiết cho ―Bản Giới thiệu chi tiết chuẩn về nhượng quyền‖ Theo văn bản này, chi tiết về quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như các điều kiện khác được thể hiện cụ thể mà các bên tham gia hợp đồng có thể xem xét trước khi soạn thảo và ký kết hợp đồng

Xuất phát từ thực tế nêu trên, trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu đánh giá có hệ thống và toàn diện quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng NQTM đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn của Hoa Kỳ sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về NQTM cũng như là góp phần đảm bảo quyền lợi, tránh rủi ro của các bên khi tham gia hợp đồng này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến thời điểm hiện tại, NQTM được nghiên cứu tương đối nhiều ở Việt Nam Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu đứng dưới góc độ kinh

tế, xã hội, hoặc nghiên cứu chung về hợp đồng NQTM mà chưa đi sâu vào những quy định của pháp luật cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Đồng thời, các nghiên cứu này cũng chưa tiếp cận được hoạt động thực tiễn về nhượng quyền tại các quốc gia có nền tảng vững mạnh về NQTM

Từ việc đánh giá tình hình nghiên cứu những quy định liên quan đến hợp đồng NQTM ở Việt Nam và tính thời sự của hoạt động này cũng như là bảo đảm quyền lợi, tạo tiền đề vững chắc cho các bên tham gia hợp đồng thực

hiện tốt hợp đồng đã ký, có thể khẳng định đề tài ―Quyền và nghĩa vụ của các

bên trong hợp đồng NQTM tại Hoa Kỳ và những kinh nghiệm cho Việt Nam‖

Trang 9

sẽ cho chúng ta hiểu rõ hơn thực tiễn hợp đồng NQTM tại Hoa Kỳ về quyền

và nghĩa vụ của các bên, từ đó đưa ra những kinh nghiệm cho các bên tham gia hoạt động NQTM tại Việt Nam cũng như góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu của luận văn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số quy định về NQTM tại Hoa Kỳ nói chung và các quy định về quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng NQTM nói riêng

- Phân tích những mặt thuận lợi, những điểm tiến bộ tích cực của các thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng NQTM tại Hoa

Kỳ

- Phân tích nội dung cơ bản của các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng NQTM

- Phân tích những xu hướng về NQTM tại Việt Nam

- Đưa ra những kinh nghiệm cho Việt Nam từ thực tiễn tại Hoa Kỳ

- Đóng góp một số ý kiến hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng NQTM

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Trang 10

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực tiễn quyền của các bên tham gia hợp đồng NQTM tại Hoa Kỳ; thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật liên quan trong quá trình soạn thảo ký kết hợp đồng tại Việt Nam và kinh nghiệm cho Việt Nam khi tham gia hoạt động nhượng quyền cũng như là hoàn thiện một số quy phạm pháp luật về NQTM ở Việt Nam

3.4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng NQTM tại Hoa Kỳ và những kinh nghiệm cho Việt dựa trên các nội dung cơ bản bao gồm:

- Một số quy định về NQTM ở Hoa Kỳ nói riêng và một số quy định

cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hợp đồng nhượng quyền tại Hoa Kỳ

- Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng nhượng quyền theo pháp luật Việt Nam;

- Xu hướng NQTM tại Việt Nam

- Nghiên cứu những quan điểm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của các bên trong Hợp đồng NQTM

4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp và phân tích; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh và đối chiếu; kết hợp nghiên cứu lý luận

và thực tiễn,… Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện trên nền tảng của phương pháp luận duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên

cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

Trang 11

Luận văn có những đóng góp sau đây:

v) Đề xuất sửa đổi một số quy định của Việt Nam liên quan đến quyền

và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng NQTM cũng như một số văn bản pháp lý liên quan mật thiết đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong NQTM như bản giới thiệu về NQTM, hợp đồng NQTM

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương sau đây:

Chương 1: Tổng quan về NQTM và hợp đồng NQTM

Chương 2: Quy định của pháp luật Hoa Kỳ và pháp luật Việt Nam về

quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng NQTM

Chương 3: Thực tiễn hoạt động NQTM tại Việt Nam và phương

hướng hoàn thiện Pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng NQTM

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ

HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về nhượng quyền thương mại

1.1.1 Khái niệm về nhượng quyền thương mại

1.1.1.1 Định nghĩa

Với tư cách là một hình thức kinh doanh phổ biến và hiệu quả trên thế giới, nhiều định nghĩa về NQTM đã được đưa ra nhằm giải thích bản chất của hình thức kinh doanh này và nhằm hướng dẫn các đối tượng quan tâm, đặc biệt là các chủ thể kinh doanh có thể thực hiện hoạt động kinh doanh dưới hình thức này đạt hiệu quả cao nhất

Hiểu một cách ngắn gọn nhất thì ―NQTM là cho phép ai đó chính thức được bán hàng hóa hay sử dụng dịch vụ của một công ty ở một khu vực cụ thể nào đó‖ (Từ điển Anh Việt của Viện Ngôn ngữ) NQTM cũng có thể được hiểu ―là một đặc quyền được trao cho một người để phân phối hay bán sản phẩm của chủ thương hiệu‖ (theo từ điển Webster của Anh) Tuy nhiên, những định nghĩa này chỉ đơn giản đưa ra một cái nhìn dễ hiểu nhất về NQTM mà chưa thể hiện được hết nội dung và bản chất của NQTM

Một số học giả cũng đưa ra định nghĩa về NQTM như Awalan Abdul Aziz: ―NQTM là một phương thức tiếp thị và phân phối sản phẩm hay dịch vụ dựa trên mối quan hệ giữa hai đối tác: một bên được gọi là Bên nhượng quyền (Bên bán NQTM) và một bên gọi là Bên nhận quyền (Bên mua NQTM) Bên mua NQTM được cấp phép sử dụng thương hiệu của bên bán quyền thương mại để kinh doanh tại một địa điểm hay khu vực nhất định, trong một khoản thời gian nhất định‖ Theo giáo sư Andrew Terry, ―NQTM là một hệ thống huy động được sự sáng tạo, năng động và ngày càng trở thành một phương thức kinh doanh phổ biến đối với các doanh nghiệp đang tồn tại và mới hình thành Trong hệ thống NQTM, bên nhượng quyền phải phát triển được những khái niệm kinh doanh đã thành công và đã được công nhận và xây dựng xung

Trang 13

quanh những người nhận quyền hệ thống đã được thừa nhận, những li-xăng

để người nhận quyền sử dụng khái niệm và hệ thống của họ theo một phương thức kiểm soát tại một địa điểm xác định và vào một thời điểm nhất định tại

cơ sở kinh doanh của người nhận quyền hoặc tại những cơ sở khác‖ [14]

Tuy nhiên, để hiểu đầy đủ hơn về bản chất và nội dung của NQTM thông qua định nghĩa NQTM, chúng ta có thể xem xét đến định nghĩa về NQTM của một số tổ chức và một số nước sau:

Theo Hiệp hội NQTM Pháp, ―NQTM là một phương thức hợp tác giữa

một bên là một doanh nghiệp (bên chuyển nhượng) và một bên khác là một hay nhiều doanh nghiệp (bên nhận quyền) để khai thác một đối tượng của NQTM do người chuyển nhượng triển khai Đối tượng chuyển nhượng gồm 3 yếu tố: quyền sở hữu và quyền sử dụng các dấu hiệu tập hợp khách hàng (biển hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại, logo…), việc sử dụng kinh nghiệm hay bí quyết kinh doanh, một tập hợp các sản phẩm và/hoặc dịch vụ và/hoặc công nghệ‖ [35]

Uỷ ban (hay còn gọi là hội đồng) Thương mại Liên bang Hoa Kỳ đưa ra

định nghĩa như sau: ―Một hợp đồng NQTM là hợp đồng theo đó Bên giao: hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận; li-xăng (cấp quyền sử dụng) nhãn hiệu cho Bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của Bên giao và yêu cầu Bên nhận thanh toán cho Bên giao một khoản phí tối thiểu‖ [33] Định nghĩa này cũng phần nào thể hiện nghĩa vụ của các bên, đặc biệt là nghĩa vụ của Bên giao với việc nhấn mạnh tới việc Bên giao quyền hỗ trợ và kiểm soát bên nhận quyền trong hoạt động kinh doanh

Liên minh Châu Âu EU định nghĩa ―NQTM là một tập hợp những

quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền

Trang 14

tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng"[35] Định nghĩa của liên minh Châu

Âu nhấn mạnh quyền của bên nhận quyền khi sử dụng tập hợp các quyền sở hữu trí tuệ như thương hiệu, hệ thống, bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền

Khái niệm NQTM của Mêhicô: Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô có

hiệu lực từ 6/1991 quy định: "NQTM tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc

hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành, các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu thiết lập, với chất lượng, danh tiếng, hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó‖ [35] Định nghĩa này đề cập tới lợi ích của việc NQTM và nhấn mạnh tới việc chuyển giao ―kiến thức công nghệ‖ để bán sản phẩm, dịch vụ đồng bộ

Chương 54, Bộ luật dân sự Nga định nghĩa bản chất pháp lý của sự

NQTM như sau: "Theo Hợp đồng NQTM, một bên (bên có quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên

sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, quyền đối với bí mật kinh doanh, và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hoá , nhãn hiệu dịch vụ " [35] Như vậy, tương tự như định nghĩa của

EU, định nghĩa của Nga nhấn mạnh tới việc Bên giao chuyển giao một số quyền sở hữu trí tuệ độc quyền cho Bên nhận để đổi lấy những khoản phí nhất định

Australia định nghĩa NQTM như sau: ―NQTM là một thỏa thuận một

bên (bên nhượng quyền) cấp cho bên khác (bên nhận quyền) quyền thực hiện

Trang 15

hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng, cung cấp hoặc phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ trong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà

cơ bản được xác định kiểm soát hoặc đề xuất bởi bên nhượng quyền, theo đó: Việc tiến hành hoạt động kinh doanh được chủ yếu gắn liền với thương hiệu, hoạt động quảng cáo hoặc biểu tượng thương mại của bên nhượng quyền Trước khi bắt đầu kinh doanh và trong quá trình kinh doanh, bên nhận quyền phải thanh toán cho bên nhượng quyền một khoản phí NQTM‖ Australia đưa

ra định nghĩa khá toàn diện về NQTM, ngoài việc chỉ ra các đặc điểm đặc trưng khái quát lên bản chất của NQTM còn chỉ ra được một quy trình khá chi tiết và đầy đủ của hoạt động NQTM

Theo quan điểm của nhóm nghiêm cứu trường Đại học Ngoại thương

Hà Nội, NQTM gọi là chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu ―là một

hoạt động thương mại trong đó, bên chuyển nhượng cho phép bên nhận chuyển nhượng quyền độc lập phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ cùng với quyền được sử dụng một tập hợp các dấu hiệu liên kết khách hàng gắn liền với hệ thống kinh doanh như bí quyết kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa và dịch

vụ trong một khoảng thời gian và phạm vi địa lý nhất định, theo phương thức

và hệ thống kinh doanh được bên chuyển nhượng xây dựng và với sự trợ giúp đáng kể, thường xuyên của bên chuyển nhượng‖ [4]

Theo Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (hiệp hội lớn nhất

nước Mỹ và thế giới), NQTM được định nghĩa như sau: "NQTM là mối quan

hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh

do Bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu

tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình" Theo định nghĩa này, vai trò đầu tư vốn và điều hành doanh nghiệp của Bên nhận quyền

Trang 16

kinh doanh được nhấn mạnh hơn so với trách nhiệm của bên giao quyền Định nghĩa này phần nào thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, khái niệm NQTM được đề cập

trong Luật thương mại 2005 (Điều 284.8):

―NQTM là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép

và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

(i) Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo

cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

(ii) Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận

quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”

Như vậy, qua các định nghĩa về NQTM nêu trên, mặc dù quan điểm của các quốc gia về NQTM khác nhau nhưng hầu hết đều ít nhiều thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Cụ thể:

- Bên nhận quyền phân phối sản phẩm, cung ứng dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và theo quy trình

kỹ thuật do bên nhượng quyền xây dựng và sở hữu

- Bên nhận quyền phải trả một khoản phí và chấp nhận các điều kiện

do bên nhượng quyền quy định (các quy định về tiêu chuẩn hàng hoá, giá sản phẩm, cách bài trí cửa hàng, cung cách phục vụ của nhân viên )

1.1.1.2 Đặc điểm cơ bản:

Trang 17

NQTM là phương thức kinh doanh đặc biệt, mặc dù rất giống với xăng (cấp quyền kinh doanh), đại lý thương mại và chuyển giao công nghệ nhưng nó không phải là một trong các phương thức đó, chúng ta có thể nhận biết NQTM qua một số đặc điểm cơ bản của nó như:

li-Thứ nhất, chủ thể tham gia hoạt động NQTM gồm bên nhượng quyền

và bên nhận quyền là các pháp nhân độc lập và hoàn toàn không phụ thuộc với nhau về mặt pháp lý cũng như tài chính Bên nhận quyền mặc dù kinh doanh dưới thương hiệu của bên nhượng quyền nhưng lại hoàn toàn chủ động trong việc kinh doanh của mình, việc có lãi hay chịu lỗ không liên quan trực tiếp đến bên nhượng quyền Mặt khác, các chủ thể hoạt động NQTM đều là những doanh nghiệp hoàn toàn độc lập về mặt trách nhiệm đối với khách hàng và các đối tác khác trong kinh doanh, vì vậy nó sẽ có địa vị pháp lý ngang nhau khi kinh doanh NQTM

Thứ hai, đối tượng của hoạt động NQTM là vô hình – chính là quyền thương mại, đó là một thể thống nhất tạo bởi rất nhiều các quyền tài sản khác nhau như quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, bí quyết kỹ thuật ), quyền kinh doanh theo hệ thống vận hành với phương thức quản lý, tiếp thị, đào tạo của bên nhượng quyền NQTM là một hoạt động thương mại trong đó

có việc sử dụng chung thương hiệu cũng như các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp khác

Thứ ba là mối quan hệ hỗ trợ mật thiết giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền Bên nhận quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kinh doanh của bên nhận quyền để sản xuất, phân phối hàng hóa và cung ứng dịch

vụ, đồng thời còn nhận được sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật, đào tạo của bên nhượng quyền trong quá trình kinh doanh theo hợp đồng NQTM Chính vì vậy, bên nhượng quyền luôn có quyền kiểm soát đối với hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền để đảm bảo tính đồng bộ cho toàn hệ thống

Trang 18

nhượng quyền Ngược lại, bên nhận quyền khi tham gia vào mạng lưới kinh doanh nhượng quyền sẽ phải trả cho bên nhượng quyền các khoản tiền cho việc sử dụng đối tượng NQTM để kinh doanh cũng như các khoản tiền cho các công việc đào tạo, hỗ trợ mà mình nhận được

Thứ tư là sự độc lập về tài chính và địa vị pháp lý giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng Mặc dù bên nhượng quyền có quyền và nghĩa vụ kiểm soát và hỗ trợ đáng kể cho bên nhận nhận quyền và có mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng theo pháp luật của các nước cũng như của Việt Nam, bên nhận quyền là các cá nhân hoặc pháp nhân độc lập về mặt tổ chức lẫn tài chính, không phụ thuộc vào bên nhượng quyền

Trên đây chỉ là một số đặc điểm cơ bản của NQTM, tùy theo từng hình thức nhượng quyền cụ thể mà quan hệ NQTM còn có thể có các đặc điểm khác

1.1.1.3 Phân loại:

Tùy thuộc vào phạm vi, tính chất và lĩnh vực kinh doanh của quan hệ nhượng quyền, và tùy từng quan điểm, NQTM có thể được chia thành nhiều hình thức khác nhau

Căn cứ vào hình thức hoạt động của lĩnh vực, NQTM có thể chia ra thành:

(i) hai hình thức: nhượng quyền phân phối sản phẩm và nhượng

quyền sử dụng công thức kinh doanh;

(ii) ba hình thức : nhượng quyền sản xuất, nhượng quyền phân phối

sản phẩm và nhượng quyền phương pháp kinh doanh; hoặc (iii) bốn hình thức: nhượng quyền kinh doanh sản xuất, nhượng

quyền phân phối sản phẩm, nhượng quyền cung cấp dịch vụ và nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh

Trang 19

Nhượng quyền sản xuất hay nhượng quyền kinh doanh sản xuất: Đây là loại hình NQTM theo đó bên nhận được sử dụng các nguyên liệu đặc thù và

có thể là bí quyết kinh doanh để thực hiện việc sản xuất và bán/phân phối sản phẩm dưới tên thương mại và nhãn hiệu của bên giao Bên giao quyền chỉ cung cấp các nguyên liệu đặc thù, các bí quyết kỹ thuật và cấp li-xăng quyền

sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ cho bên nhận để tiến hành kinh doanh

Nhượng quyền phân phối hay nhượng quyền phân phối sản phẩm: Đây

là loại hình NQTM đơn giản nhất, mà mối quan hệ giữa hai bên chủ thể (bên giao và bên nhận quyền) thực chất là quan hệ giữa nhà cung cấp và nhà phân phối Theo đó bên nhận quyền chỉ được thực hiện phân phối các sản phẩm do bên giao quyền sản xuất, cung cấp dưới thương hiệu của bên giao quyền mà không nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ nào từ phía bên giao quyền như các hình thức nhượng quyền kinh doanh khác Có chăng chỉ là việc bên nhận quyền được sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ thuộc sở hữu của bên giao quyền như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, biển hiệu cửa hàng để kinh doanh Chính

vì vậy, bên nhận quyền cũng tự do hơn trong việc kinh doanh của mình, ít chịu sự kiểm tra, giám sát của bên giao quyền trong quá trình kinh doanh Hình thức nhượng quyền này được áp dụng rộng rãi vào thời kì trước chiến tranh thế giới thứ 2 và đến nay vẫn còn phổ biến ở các nước phương tây trong các lĩnh vực như kinh doanh trong các trạm xăng dầu, đại lý bán ô tô, các công ty nước giải khát (như Coca-Cola hay Pepsi)

Nhượng quyền cung cấp dịch vụ: là hình thức chuyển nhượng bí quyết cung cấp dịch vụ - hay bí quyết kinh doanh hoàn chỉnh cho phép bên nhận quyền có thể cung cấp cho khách hàng dịch vụ đặc thù của hệ thống Mục đích của hệ thống chuyển nhượng này là cung cấp dịch vụ tới khách hàng của

hệ thống Các lĩnh vực của hình thức kinh doanh này rất đa dạng như NQTM trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, thẩm mỹ, giáo dục

Trang 20

Nhượng quyền phương pháp kinh doanh (nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh): Đây là hình thức nhượng quyền phổ biến nhất hiện nay, nó

là hình thức kinh doanh hội tụ tất cả các đặc trưng của phương thức NQTM Nhượng quyền kinh doanh không đơn thuần là việc bên giao quyền cho phép bên nhận quyền sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại và bí quyết kinh doanh của mình để sản xuất và kinh doanh mà nó còn gồm cả việc chuyển giao kỹ thuật kinh doanh và công thức điều hành quản lý Bên nhận quyền được phép

sử dụng tất cả các quyền đối với đối tượng kinh doanh của bên giao quyền, đó

là các quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh

để kinh doanh Trong hình thức này, bên giao quyền không thực hiện việc sản xuất và cung cấp sản phẩm cho bên nhận quyền mà thay vào đó là chuyển giao bí quyết kỹ thuật, các trang thiết bị, nguyên liệu đặc thù cho bên nhận quyền để sản xuất, kinh doanh dưới thương hiệu của bên nhượng quyền Không những vậy, bên nhận quyền còn nhận được sự trợ giúp, hỗ trợ của bên nhượng quyền trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh Đổi lại bên nhận quyền phải trả cho bên nhượng quyền khoản phí nhượng quyền và các khoản lợi tức được tính hàng năm trong quá trình hợp đồng NQTM có hiệu lực Mặt khác bên nhận quyền còn phải tuân thủ tuyệt đối các quy định kỹ thuât, chuẩn mực do bên giao quyền đặt ra Hình thức nhượng quyền kinh doanh được áp dụng nhiều trong các lĩnh vực khách sạn, nhà hàng ăn uống

Căn cứ vào tiêu chí lãnh thổ, NQTM được chia ra thành:

(i) Nhượng quyền từ nước ngoài vào trong nước: là hình thức mà

chủ thương hiệu là các thương hiệu nước ngoài đầu tư vào trong nước theo hình thức NQTM Có thể kể đến các thương hiệu nước ngoài nhượng quyền ở Việt Nam như: KFC, McDonald’s, Jollibee…

(ii) Nhượng quyền từ trong nước ra nước ngoài: là hình thức mà các

thương hiệu trong nước đầu tư ra nước ngoài bằng cách nhượng

Trang 21

quyền Trung Nguyên, Phở 24 là hai trong các thương hiệu nổi tiếng ở Việt Nam đã nhượng quyền một cách thành công ra nước ngoài Phở 24 đã nhượng quyền thành công tại Jakarta- Indonesia Trung Nguyên – thương hiệu cà phê hàng đầu ở Việt Nam thì đã nhượng quyền ở rất nhiều nước như: Singapore, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Mỹ, Đức, Australia

(iii) Nhượng quyền trong nước: là hình thức nhượng quyền mà các

thương hiệu trong nước được nhượng quyền cho chính các bên nhận quyền trong nước Hiện nay, các thương hiệu Việt Nam nhượng quyền trong nước đã bắt đầu phát triển Chúng ta có thể thấy Kinh Đô, một thương hiệu bánh kẹo nổi tiếng với chuỗi các cửa hàng bánh kẹo nhượng quyền Ngoài ra còn có Phở 24, Cà phê Trung nguyên, Foci, Ninomax

Ngoài ra, nếu căn cứ vào tiêu chí hình thức phát triển hoạt động NQTM, người ta cũng có thể phân loại NQTM thành độc quyền và thứ cấp hoặc NQTM vùng, NQTM phát triển khu vực hay liên doanh

Đây là những hình thức nhượng quyền cơ bản nhất, từ đây có thể phát triển thành nhiều hình thức nhượng quyền (các biến thể) khác Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mình mà các bên chọn ra hình thức NQTM phù hợp

Trang 22

Một số quan điểm cho rằng, NQTM có nguồn gốc từ Trung Quốc với hình thức có 2 – 3 điểm bán lẻ cùng hình thành tại một số địa điểm khác nhau cùng kinh doanh Cũng có một số quan điểm cho rằng, NQTM khởi nguồn tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ thứ 19 khi lần đầu tiên trên thế giới, nhà sản xuất máy khâu Singer ký Hợp đồng NQTM cho một đối tác khác

Tuy nhiên, nhiều quan điểm cho rằng, NQTM là hình thức kinh doanh xuất hiện đầu tiên tại Châu Âu Từ thời phong kiến ở các nước Châu Âu, quyền thương mại được nhượng là một đặc ân được vua chúa ban cho Trong thời kì này, NQTM có bản chất là nhà vua cấp cho một ai đó quyền được kinh doanh độc quyền một loại hình hoạt động thương mại nhất định Đây có thể được coi là tiền thân của hình thức nhượng quyền kinh doanh hiện tại, là một loại hình nhượng quyền sơ khai và đơn giản

Sau nhiều năm và trải qua những giai đoạn phát triển của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là những thành tựu kinh tế nổi bật của Châu Âu, NQTM đã dần phát triển và bản chất của NQTM cũng thay đổi nhiều so với hình thức sơ khai ban đầu Vào những năm 1800, những nhà ủ rượu lớn tại Đức đã cấp quyền thương mại cho các quán rượu nhất định, cho phép các quán rượu này bán rượu của mình Đây chính là hình thức NQTM có bản chất giống với hình thức NQTM hiện đại mà chúng ta biết ngày nay Sau đó, loại hình kinh doanh nhượng quyền này mới bắt đầu được du nhập vào Hoa Kỳ vào năm 1850 với

vụ nhượng quyền đầu tiên của nhà sản xuất máy khâu Singer Chính tại Hoa

Kỳ, NQTM một cách có hệ thống được hình thành với việc Singer thiết lập một mạng lưới bán buôn bán lẻ các sản phẩm của mình nhằm thúc đẩy bán hàng, tiêu thụ sản phẩm Các nhà phân phối của Singer trong một khu vực nhất định đã phải trả một khoản tiền cho Singer theo những hợp đồng cho công ty này soạn ra Vào cuối những năm 1880, hình thức kinh doanh này bắt đầu lan rộng ở Hoa Kỳ với việc cấp quyền độc quyền đối với dịch vụ ô tô và

cá ngành công cộng phục vụ nước sạch, nước thải, dầu lửa, gas và điện

Trang 23

Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, luật Chống độc quyền cấm người sản xuất sở hữu các điểm bán hàng, không cho phép họ bán trực tiếp ô tô cho người tiêu dùng Chính điều đó đã thúc đẩy hình thành một hệ thống phân phối mới Genera Motor (GM) đã tìm ra một các thức liên kết với các nhà bán

lẻ độc quyền bằng hợp đồng độc quyền Công ty nào muốn kinh doanh sản phẩm của GM phải tự tìm mua đất và xây dựng cơ sở, sau đó bán ô tô và được hưởng khoản chênh lệch từ nhà sản xuất Nhìn chung, trong thời gian này nhượng quyền chỉ tồn tại dưới hình thức phân phối sản phẩm mà chưa hình thành hình thức nhượng quyền công thức kinh doanh

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, NQTM đã phát triển sang nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt là lĩnh vực bán thức ăn nhanh và bán lẻ Một loạt các thương hiệu đồ ăn nhanh và nhà hàng xuất hiện trong lĩnh vực bán lẻ như: Ben Franklin, A&W Root Beer, Howard Jonhson Hình thức này đã thực sự phát triển rất mạnh mẽ trong thời gian này Sự bùng nổ dân số sau chiến tranh cùng với sự phát triển, gia tăng quảng cáo và sự mở rộng đường cao tốc quốc gia đã kéo theo sự tăng vọt nhu cầu về các loại sản phẩm và dịch vụ và lúc này, nhượng quyền đã trở thành mô hình kinh doanh thích hợp để phát triển nhanh chóng trong ngành công nghiệp thức ăn nhanh, nhà hàng và khách sạn Vào thập niên 60-70 của thế kỷ 20, nhượng quyền bùng nổ và phát triển mạnh

ở Mỹ, Anh và một số nước khác Những thương hiệu tiêu biểu đã vô cùng thành công trong thời gian này phải kể đến KFC, McDonald’s Chính việc mở rộng hình thức kinh doanh này đã làm cho thương hiệu ngày càng lớn mạnh

và chủ sở hữu thương hiệu đó có một công cụ cạnh tranh với các thương hiệu khác Trong những năm 1970, các hệ thống NQTM tại Hoa Kỳ bắt đầu mở rộng hoạt động sang các quốc gia phát triển khác Đến năm 1980, tại nhiền nước khác trên thế giới, hệ thống cửa hàng NQTM sử dụng thương hiệu nội địa bắt đầu hình thành Và đến năm 1990, NQTM được phát triển trên phạm

vi toàn thế giới, cả ở các nước phát triển và đang phát triển và phát triển trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ khách sạn, nhà hàng, đến giáo dục

Trang 24

Đến nay, hình thức nhượng quyền thương mại càng phát huy vai trò của nó trên toàn thế giới Theo các nghiên cứu mới nhất, trên thế giới, cứ 12 phút lại có một hệ thống nhượng quyền mới ra đời Ở Mỹ, 90% công ty kinh doanh theo hình thức NQTM tiếp tục hoạt động sau 10 năm trong khi 82% công ty độc lập phải đóng cửa và cũng chỉ có 5% công ty theo hợp đồng thương hiệu thất bại trong năm đầu tiên so với 38% công ty độc lập Doanh

thu từ hoạt động kinh doanh nhượng quyền trên toàn thế giới năm 2000 đạt

1.000 tỷ USD với khoảng 320.000 doanh nghiệp từ 75 ngành khác nhau Tại

Mỹ, hoạt động nhượng quyền chiếm trên 40% tổng mức bán lẻ, thu hút được trên 8 triệu người lao động tức là 1/7 tổng lao động ở Mỹ và có hơn 550.000 cửa hàng nhượng quyền và cứ 8 phút lại có một cửa hàng nhượng quyền mới

ra đời Điều đó cho thấy sự bùng nổ hình thức này trên thế giới là điều tất yếu [33]

Biểu hiện cụ thể là sự phát triển mạnh mẽ của loại hình kinh doanh này tại Châu Âu có 4.000 hệ thống NQTM với 167.500 cửa hàng NQTM, doanh thu đạt khoảng 100 tỉ Euro, tạo ra hơn 1.5 triệu việc làm; tại Úc, tổng cửa hàng NQTM khoảng 54.000, đóng góp 12% vào GDP và tạo hàng trăm ngàn việc làm cho người lao động; tại Châu Á, NQTM đã tạo doanh thu hơn 500 tỷ USD mỗi năm [33] với những quốc gia điển hình đóng góp vào sự phát triển của loại hình kinh doanh này như: Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore và Maylaysia

Theo điều tra của công ty PricewaterhouseCoopers năm 2004 do Ủy

Ban NQTM thế giới công bố, Hoa Kỳ đang là nước dẫn đầu với hơn 3.000 hệ thống NQTM Hoạt động này đóng một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động bán lẻ của Mỹ với khoảng 1.53 nghìn tỷ doanh thu, theo Hiệp hội NQTM thế giới, có khoảng 760.000 cửa hàng nhượng quyền mang lại việc làm cho khoảng 18 triệu người, tạo ra 3.000 nghìn việc làm mới hàng năm Theo website www.franchisetochina.com, Trung Quốc đứng vị trí thứ 2 với

Trang 25

khoảng 2.000 hệ thống nhượng quyền (cuối năm 2004), hơn 120.000 cửa hàng nhượng quyền tạo ra khoảng 1,8 triệu việc làm cho người lao động và hơn 300 công ty nước ngoài đang chờ để đầu tư vào Trung Quốc theo hình thức nhượng quyền Các nhãn hiệu nổi tiếng hầu như đã có mặt ở Trung Quốc như KFC (1.000 cửa hàng), McDonald's (560 cửa hàng), Pizza Hut (110 cửa hàng), Starbucks (70 cửa hàng), Dairy Queen, 7-Eleven, Days Inn, Sign-A-Rama Đứng thứ 3 là Nhật 1.100 hệ thống NQTM tạo ra gần 150 tỷ USD mỗi năm với mức tăng trưởng 7%/năm (theo Hội Đồng Nhượng Quyền Thế Giới) Có khoảng 4.000 hệ thống ở Châu Âu, trong đó Đức, Anh, Ý và Tây Ban Nha chiếm hơn một nửa Còn Úc, xếp thứ 9 trong danh sách này với 720 nhà nhượng quyền và đến nay vẫn là nước có tỉ lệ chuyển nhượng thương hiệu cao nhất thế giới (tính theo đầu người) [32]

NQTM đã thực sự có chỗ đứng quan trọng trong nền kinh tế thế giới

Từ thế kỷ 19, thế kỷ 20 và thế kỷ 21 đã, đang và sẽ còn chứng kiến sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống này Tính ưu việt của hình thức NQTM sẽ còn được áp dụng ở nhiều lĩnh vực, nhiều công ty, nhiều khu vực và nhiều quốc gia trên thế giới NQTM trong lịch sử đã thể hiện tính ưu việt của nó, trong hiện tại đã thể hiện sức mạnh của hệ thống và chắc rằng trong tương lai

sẽ là một trong những hình thức để tiến hành hoạt động kinh doanh ưu việt của các công ty, các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nơi mà nguồn vốn, kinh nghiệm quản lý, thương hiệu thành công luôn là đòn bẩy cho

sự phát triển của một đất nước

1.1.2.2 Lịch sử hình thành NQTM tại Việt Nam

`Ở Việt Nam, NQTM được xuất hiện từ khá lâu nhưng kể từ sau khi giành được độc lập và mở cửa thị trường, NQTM đã quay trở lại vào những năm 90 với sự có mặt của Trung Nguyên Trong thời gian này, khái niệm NQTM tương đối xa lạ và chưa được luật hóa Mãi đến năm 1998, lần đầu tiên, thông tư 12544/BKHCN/1998 hướng dẫn Nghị định 45/CP/1998 về

Trang 26

chuyển giao công nghệ, tại mục 4.1.1 đã nhắc đến cụm từ ―hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh – tiếng Anh gọi là Franchise ‖

Tháng 2/2005, Chính phủ ban hành Nghị định 11/2005/NĐ-CP về chuyển giao công nghệ có đề cập đến việc cấp phép đặc quyền kinh doanh và chịu sự điều chỉnh của luật này (đối tượng của chuyển giao công nghệ)

Điều 755 Bộ luật dân sự 2005 quy định hành vi cấp phép đặc quyền kinh doanh là một trong các đối tượng chuyển giao công nghệ

Đến khi Luật thương mại ra đời, hoạt động NQTM chính thức được công nhận và luật hóa

1.1.3 Nhượng quyền thương mại với li-xăng quyền sử dụng đối tượng sở hữu

trí tuệ, chuyển giao công nghệ và đại lý thương mại

1.1.3.1 Nhượng quyền thương mại với li-xăng quyền sử dụng đối tượng sở

hữu trí tuệ

Li-xăng quyền sử dụng đối với đối tượng sở hữu trí tuệ (Li-xăng SHTT) là việc chủ sở hữu đối tượng SHTT (hoặc người được chủ sở hữu đối tượng SHTT chuyển giao độc quyền quyền sử dụng đối tượng SHTT) chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng đối tượng SHTT của mình cho cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác, qua đó bên chuyển giao Li-xăng SHTT thu được một khoản tiền

Có thể thấy NQTM và Li-xăng giống nhau ở điểm cả hai đều có hoạt động chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng SHTT, tuy nhiên đây là hai hoạt động kinh doanh hoàn toàn khác nhau, mà dựa vào một số tiêu chí sau ta

có thể phân biệt chúng:

Thứ nhất, đối tượng hợp đồng NQTM rộng hơn so với hợp đồng

Li-xăng, ngoài các đối tượng quyền SHTT nó còn gồm các đối tượng khác như phương pháp kinh doanh, chỉ dẫn, quy tắc, tiêu chuẩn về chất lượng và kỹ thuật

Trang 27

Thứ hai, về mối quan hệ giữa các chủ thể: trong hoạt động NQTM, nếu

như sự hỗ trợ giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền là đương nhiên và liên tục, thì điều đó lại không có trong hoạt động li-xăng Sự hỗ trợ trong hoạt động li-xăng nếu chỉ là sự hỗ trợ ban đầu khi chuyển giao các đối tượng SHCN Bên giao li-xăng không có được quyền kiểm soát đương nhiên và sâu sát như Bên nhượng quyền trong nhượng quyền thương mại Bên chuyển giao trong hoạt động li-xăng chỉ có được quyền kiểm soát trong trường hợp cần thiết và trong phạm vi hẹp (vì đối tượng của hợp đồng li-xăng hẹp hơn đối tượng của nhượng quyền thương mại)

Thứ ba, về vấn đề phí: phí trong hợp đồng Li-xăng là phí trả cho từng

đối tượng Li-xăng cụ thể, còn phí trong hợp đồng NQTM chính là khoản tiền trả cho việc sử dụng tổng hợp mọi quyền SHTT được giao bởi bên nhượng quyền

Về mục đích của quá trình chuyển giao: trong hoạt động li-xăng, mục

đích mà bên nhận li-xăng hướng tới là nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích nhằm xác định hình thức, nội dung sản phẩm, còn trong NQTM, mục tiêu mà bên nhượng quyền và bên nhận quyền hướng tới là phát triển một hệ thống kinh doanh, trong đó nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp chỉ là một bộ phận

Điểm khác biệt nữa là trong hợp đồng NQTM bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo những cách thức của bên nhượng quyền để sản xuất, kinh doanh Nhưng với hợp đồng Li-xăng bên nhận chuyển giao chỉ được quyền sử dụng các đối tượng SHTT để tiến hành kinh doanh và không nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào từ bên chuyển giao Li-xăng

1.1.3.2 Nhượng quyền thương mại với chuyển giao công nghệ

Chuyển giao công nghệ (CGCN) là việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền

Trang 28

chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ Như vậy giữa NQTM và CGCN có đặc điểm chung chính là ở nội dung chuyển giao quy trình kỹ thuật

và bí quyết kinh doanh, vì thế giữa hai phương thức này nhiều khi vẫn có sự

nhầm lẫn, Tuy nhiên, đây là hai hình thức kinh doanh khác nhau về bản chất,

trong chuyển giao công nghệ, bên có quyển chuyển giao có thể chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ, nhưng trong hợp đồng NQTM, đối tượng chuyển giao chỉ có thể là quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ Mặt khác, khi tham gia quan hệ chuyển giao công nghệ, bên nhận chuyển

giao chỉ nhằm mục đích ứng dụng nó vào quá trình sản xuất để tăng năng

suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm; còn mục đích tham gia quan hệ nhượng quyền của bên nhận quyền là việc tìm kiếm lợi nhuận bằng cách khai thác giá trị thương hiệu đã thành công của bên nhượng quyền

Về phạm vi quyền lợi: sau khi được chuyển giao công nghệ, bên nhận

chuyển giao có thể sử dụng theo bất kỳ tên thương mại, kiểu dáng, thương hiệu nào mà họ muốn Ngược lại, bên nhận quyền chỉ được sử dụng công nghệ mà mình nhận được để sản xuất hàng hoá và cung ứng các loại dịch vụ

có cùng chất lượng, hình thức, dưới nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại của bên nhượng quyền

Về phạm vi đối tượng chuyển giao: đối tượng của chuyển giao công

nghệ là ―chuyển giao các kiến thức tổng hợp của công nghệ hoặc cung cấp các máy móc, thiết bị, dịch vụ, đào tạo…kèm theo các kiến thức công nghệ cho bên mua‖ Đối tượng chuyển giao của NQTM là ―quyền thương mại‖, bao gồm các quy trình, cách thức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định, quy trình quản lý, huấn luyện nhân viên, thiết kế địa điểm kinh doanh…

Về vấn đề kiểm soát/hỗ trợ: Trong hoạt động chuyển giao công nghệ,

về nguyên tắc, sau khi chuyển giao công nghệ xong, bên chuyển giao sẽ không còn nghĩa vụ hỗ trợ/hoặc kiểm soát thêm đối với bên nhận chuyển giao (trừ khi các bên thỏa thuận thêm những điều khoản phụ: thời hạn bảo hành,

Trang 29

nhiệm vụ huấn luyện nhân viên sử dụng công nghệ chuyển giao) Trong NQTM, bên nhượng quyền vừa có quyền kiểm soát toàn diện và chi tiết, vừa

có nghĩa vụ hỗ trợ đối với bên nhận quyền, nhằm đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống nhượng quyền

Ngoài ra, mối quan hệ giữa các chủ thể trong hai hình thức kinh doanh này cũng khác nhau Nếu như trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, giữa các bên không có quan hệ gì sau khi công nghệ được chuyển giao thì ngược lại, quan hệ giữa các chủ thể trong hợp đồng NQTM rất chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nhau

1.1.3.3 Nhượng quyền thương mại với đại lý thương mại

―Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó, bên giao đại lý

và bên đại lý thỏa thuận về việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao‖ (Điều 166.4 Luật thương mại) Từ đó có thể

thấy, về phí, đại lý thương mại đại diện cho doanh nghiệp trong việc mua bán

hàng hóa với mức giá quy định và được hưởng chênh lệch giá nếu bên giao đại lý không ấn định mức giá Bên đại lý không phải trả phí cho bên giao đại

lý và trong thời gian hoạt động với tư cách là đại lý, bên nhận đại lý được hưởng thù lao từ bên giao đại lý Trong khi bên nhận quyền trong NQTM sẽ phải trả phí cho bên NQTM và còn phải trả phí hàng tháng hay hàng năm trong quá trình hoạt động của mình cho bên nhượng quyền

Trong quan hệ đại lý thương mại, quyền sở hữu đối với hàng hóa hoặc tiền bán hàng thuộc về bên giao đại lý, bên đại lý chỉ bán sản phẩm để hưởng thù lao (làm vai trò trung gian giữa bên giao đại lý và bên thứ ba), tuy hợp đồng cung ứng sản phẩm, dịch vụ được ký kết giữa đại lý và bên thứ ba, nhưng quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng này lại ràng buộc bên giao đại lý

Trang 30

Đối với NQTM, thì tính chất mối quan hệ giữa các chủ thể hoàn toàn khác, quyền sở hữu hàng hóa dịch vụ thuộc bên nhận quyền, bên nhận quyền

có quyền nhân danh chính mình cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho bên thứ ba Bên nhận quyền cũng là người trực tiếp xác lập quan hệ thương mại với khách hàng, chịu trách nhiệm về các vấn đề phát sinh từ sản phẩm, dịch vụ do mình cung cấp

Về trách nhiệm: trách nhiệm của các bên trong NQTM là độc lập trong

khi của đại lý là liên đới

Một điểm phân biệt khá quan trọng giữa NQTM và đại lý thương mại chính là cách bài trí cửa hàng Đối với các cửa hàng nhượng quyền bên nhận quyền bắt buộc phải bố trí thiết kế cửa hàng theo đúng quy định của bên nhượng quyền Nhưng với các cửa hàng đại lý, bên nhận đại lý được toàn quyền quyết định việc bài trí cửa hàng, không chịu bất kỳ sức ép nào từ bên

giao đại lý

1.2 Một số vấn đề pháp lý cơ bản về Hợp đồng nhượng quyền thương

mại

1.2.1 Khái niệm Hợp đồng nhượng quyền thương mại

Cũng giống như các loại hợp đồng thông thường khác, Hợp đồng NQTM là sự thoả thuận của các bên trong quan hệ NQTM về những vấn đề chính trong nội dung của quan hệ này Cũng như các loại hợp đồng khác, Hợp đồng NQTM là cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền và cũng là cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng

Theo Hiệp ước thiết lập cộng đồng kinh tế châu Âu (Hiệp ước EEC),

―Hợp đồng NQTM là một thoả thuận trong đó, một bên là bên nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền khả năng được khai thác một

―quyền thương mại‖ nhằm mục đích xúc tiến thương mại đối với một loại sản

Trang 31

phẩm hoặc dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực tiếp hay gián tiếp một khoản tiền nhất định Hợp đồng này phải quy định những nghĩa vụ tối thiểu của các bên, liên quan đến: việc sử dụng tên thông thường hoặc dấu hiệu của cửa hàng hoặc một cách thức chung; việc trao đổi công nghệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền; việc tiếp tục thực hiện của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong việc trợ giúp, hỗ trợ thương mại cũng như kỹ thuật trong suốt thời gian hợp đồng NQTM còn hiệu lực‖

Có thể nói, ―hợp đồng NQTM là một loại hợp đồng chứa đựng những đặc điểm tổng hợp của rất nhiều loại hợp đồng khác nhau Hợp đồng NQTM

có chứa đựng những yếu tố của hợp đồng li -xăng, đó là sự hướng tới việc sử dụng một số đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp Bên cạnh đó, hợp đồng này cũng có những điểm tương đồng với hợp đồng chuyển giao công nghệ khi mà trong nội dung của hợp đồng luôn xác định rõ việc bên nhượng quyền phải chuyển giao, cung cấp, hướng dẫn cho bên nhận quyền các công nghệ đi kèm và các tài liệu hướng dẫn vận hành công nghệ đó Không những thế, bóng dáng của các hợp đồng cung ứng, hợp đồng đại lý phân phối cũng hiện hữu trong hợp đồng NQTM ‖ [14]

Mặc dù ở hầu hết các nước đều đưa ra những định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về NQTM, về hoạt động nhượng quyền nhưng pháp luật các nước lại không đề cập đến khái niệm hợp đồng NQTM Ví dụ như theo quan điểm của Đức, hợp đồng NQTM chỉ là một loại hợp đồng hợp tác để phân phối sản phẩm và chỉ được nhận biết thông qua sự so sánh chúng với các hợp đồng phân phối hàng hoá, dịch vụ với các đặc tính: thứ nhất, trong hợp đồng nhượng quyền, quan hệ cung ứng hàng hoá, dịch vụ từ phía bên nhượng quyền cho bên nhận quyền không nhất thiết phải tồn tại với lý do bên nhận quyền có thể tự mình sản xuất ra sản phẩm; thứ hai, bên nhượng quyền trao toàn bộ ―quyền thương mại‖ dưới một thể thống nhất cho bên nhận quyền;

Trang 32

thứ ba, bên nhận quyền vẫn có tên thương mại của mình trong con mắt pháp luật, mặc dù dịch vụ hoặc hàng hóa mà bên này cung cấp trên thị trường lại không mang tên thương mại đó đăng ký với nhà nước Pháp cũng không có luật riêng về NQTM mà hoạt động NQTM tại Pháp được điều chỉnh chủ yếu bởi các án lệ và các quy định của Hiệp hội NQTM Pháp Không phải quốc gia nào cũng có khái niệm riêng biệt để nhận biết hợp đồng NQTM Tuy nhiên, bằng cách này hay cách khác, loại hợp đồng này vẫn được phân biệt với các loại hợp đồng khác như hợp đồng li -xăng hay hợp đồng đại lý phân phối sản phẩm

Cũng giống như các nước nêu trên, pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa về hợp đồng NQTM mà chỉ quy định về hình thức của loại hợp đồng này tại Điều 285 Luật Thương mại năm 2005 Như vậy, có thể hiểu, hợp đồng NQTM là một loại hợp đồng được các thương nhân ký kết trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại, mà cụ thể ở đây chính là thực hiện hoạt động NQTM Do đó, hợp đồng này cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng được quy định ở chương VI của Bộ luật Dân sự năm 2005 và đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật dân sự đặt ra dưới góc độ của một loại giao dịch dân sự Ngoài ra, hợp đồng NQTM còn thể hiện được bản chất của giao dịch NQTM đó được định nghĩa tại Điều 284 Luật Thương mại năm 2005

Mặc dù không đưa ra định nghĩa cụ thể về hợp đồng NQTM nói chung, nhưng Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động NQTM lại nêu định nghĩa về các dạng đặc biệt của hợp đồng NQTM như: ―hợp đồng phát triển quyền thương mại‖ (Khoản 8 Điều 3) hoặc ―hợp đồng NQTM thứ cấp‖ (Khoản 10 Điều 3) Đây là các dạng biến thể của hợp đồng NQTM, những loại hợp đồng NQTM đặc biệt thể hiện sự đa dạng về hình thức và phương thức NQTM nên việc đưa ra định nghĩa cụ thể về những loại hợp đồng này trong luật là rất đúng đắn

Trang 33

Như vậy, hợp đồng NQTM là một tập hợp các thoả thuận của các bên chủ thể, trong đó các bên phải đề cập đến ít nhất một số vấn đề chủ yếu liên quan đến: thứ nhất, sự chuyển giao các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp,

sở hữu trí tuệ từ bên nhượng quyền sang bên nhận quyền nhằm khai thác thu lợi nhuận; thứ hai, sự hỗ trợ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng; thứ ba, nghĩa vụ tài chính cũng như các nghĩa vụ đối ứng khác của bên nhận quyền đối với bên nhượng quyền Với khái niệm này, hợp đồng NQTM đó thể hiện được đúng bản chất pháp lý của hoạt động NQTM, giúp cho công chúng có thể dễ dàng phân biệt được loại hợp đồng thương mại đặc biệt này với một số loại hợp đồng khác có cùng một hoặc một số tính chất nhất định

1.2.2 Chủ thể Hợp đồng nhượng quyền thương mại

Chủ thể hợp đồng NQTM chính là các bên tham gia hợp đồng gồm bên nhượng quyền và bên nhận quyền, tuy nhiên trong nhiều trường hợp nếu được bên nhượng quyền chấp nhận thì bên nhận quyền có thể chuyển NQTM cho bên thứ ba, khi đó bên nhận quyền trở thành bên nhượng quyền và bên thứ ba trở thành bên nhận quyền trong quan hệ nhượng quyền mới nay (gọi là nhượng quyền thứ cấp), bên thứ ba sẽ có các quyền và nghĩa vụ như bên nhận quyền ban đầu

Muốn trở thành chủ thể hợp đồng NQTM, các bên phải đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật Các quốc gia trên trên thế giới có quy định khác nhau về vấn này tuy nhiên hầu hết đều có quy định chung là chủ thể hợp đồng NQTM phải là thương nhân, có đăng kí kinh doanh Ngoài các điều kiện chung pháp luật một số nước còn có các quy định khác như thời gian hoạt động tối thiểu, khả năng tài chính các bên

NQTM là mô hình kinh doanh theo hệ thống đồng bộ, vì vậy giữa các chủ thể trong hợp đồng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau

Trang 34

Đối tượng của hợp đồng NQTM là quyền sở hữu trí tuệ của bên nhượng quyền, uy tín và bí quyết của bên nhượng quyền Tất cả những đối tượng là những tài sản vô hình Vì vậy rất khó kiểm tra chất lượng cũng như giá trị của những tài sản đó Có thể yêu cầu bên nhượng quyền cung cấp thông tin để bên nhận quyền đánh giá, song cũng không có cách gì kiểm soát được hành vi của bên nhượng quyền hay các bên nhận quyền khác sau khi ký hợp đồng NQTM khi những hành vi này ảnh hưởng đến uy tín của cả hệ thống nhượng quyền Việc nhượng quyền thành công hay không phụ thuộc vào việc bên nhượng quyền có quảng cáo hay phát triển hệ thống nhượng

quyền hay không

1.2.4 Hình thức của Hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trong hợp đồng NQTM, điều quan trọng nằm ở nội dung hợp đồng, đó

là căn cứ để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ và cũng là cơ sở giải quyết tranh chấp, vì vậy nó phải được thể hiện dưới hình thức khoa học, dễ hiểu nhất Về vấn đề này, các quốc gia trên thế giới có quy định khác nhau, theo một số nước có nền kinh tế phát triển thì hợp đồng NQTM có thể thể hiện dưới nhiều hình thức như bằng văn bản, lời nói hoặc một thỏa thuận ngầm nhất định Quy định như vậy nhằm đảm bảo tối đa quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể trong hợp đồng Tuy nhiên các nước đang phát triển lại có quan điểm khác, theo họ hợp đồng NQTM bắt buộc phải thể hiện dưới hình thức văn bản, vì như vậy mới có thể ghi nhận quyền và nghĩa vụ các bên và đảm bảo khả năng quản lý của nhà nước với hoạt động NQTM

1.2.5 Nội dung chính của Hợp đồng nhượng quyền thương mại

Hợp đồng NQTM thường có các nội dung chính sau đây:

- Tên và hình thức của quyền thương mại được chuyển giao (sơ cấp, thứ

cấp, độc quyền hay không độc quyền);

- Nội dung, phạm vi của NQTM;

Trang 35

- Trách nhiệm của các bên đối với chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung

cấp cho người tiêu dùng;

- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng Thời hạn hợp đồng do các bên thoả

thuận nhưng không quá 5 năm kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực Các bên có thể thoả thuận việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn quy định hoặc gia hạn sau khi chấm dứt hợp đồng;

- Quyền sở hữu của các cơ sở nhượng quyền và các tài sản liên quan đến

việc thực hiện hợp đồng;

- Giá cả, các chi phí, các khoản thuế và phương thức thanh toán;

- Quyền hạn, trách nhiệm của các Bên;

- Kế hoạch, tiến độ, thời hạn, địa điểm và phương thức thực hiện;

- Tuyển dụng nhân viên;

- Cam kết của bên nhượng quyền chịu trách nhiệm về tính trung thực của

các thông tin cung cấp cho bên nhận quyền theo Phụ lục đi kèm;

- Chấm dứt hợp đồng, thanh lý tài sản liên quan đến nhượng quyền và

giải quyết tranh chấp

Một số điều khoản không được đưa vào hợp đồng theo quy định về pháp luật cạnh tranh Đó là:

- Cấm bên nhận quyền bán sản phẩm hay dịch vụ tương đương với sản

phẩm của bên nhượng quyền tại cơ sở kinh doanh nhượng quyền, trừ trường hợp điều đó vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của bên nhượng quyền

- Cấm bên nhận quyền tiếp tục sử dụng các kiến thức thu được từ họat

động kinh doanh nhượng quyền sau khi chấm dứt hợp đồng, trừ trường hợp các kiến thức này là bí mật kinh doanh theo qui định của pháp luật

Trang 36

Mục đích của các điều khoản này nhằm tránh cho bên nhượng quyền lạm dụng nhượng quyền, khiến các thành quả đầu tư của bên nhận quyền sẽ bị uổng phí khi hợp đồng chấm dứt

1.3 Mối quan hệ giữa bên nhận quyền và bên nhượng quyền

Trong hoạt động NQTM, giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền luôn tồn tại một mối quan hệ hỗ trợ mật thiết Đây chính là sự khác biệt cơ bản của NQTM với các hoạt động thương mại khác Nếu không có mối quan

hệ này, tức là đã thiếu đi một điều kiện tiên quyết để xác định hoạt động đấy

có phải là nhượng quyền thương mại hay không

Mục đích và cũng là yêu cầu của NQTM là việc nhân rộng một mô hình kinh doanh đã thành công trên thương trường Chính vì vậy, đối với NQTM thì cần phải bảo đảm được tính đồng nhất về các yếu tố liên quan trực tiếp đến quy trình kinh doanh đó như: chất lượng hàng hoá, dịch vụ; phương thức phục vụ; cách thức bài trí cơ sở kinh doanh (từ hình ảnh bên ngoài cho đến khu vực bên trong của cơ sở); việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, biểu tượng kinh doanh, tên thương mại của Bên nhượng quyền; hoạt động quảng

bá, khuyến mại; đồng phục của nhân viên; các ấn phẩm của cơ sở kinh doanh…Tính đồng nhất trong các mắt xích của một hệ thống NQTM chỉ có thể được bảo đảm khi giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền luôn duy trì mối quan hệ mật thiết với nhau trong suốt thời gian tồn tại quan hệ nhượng quyền thương mại

Tính mật thiết của mối quan hệ giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền thể hiện từ ngay sau khi các bên hình thành nên quan hệ NQTM Kể từ thời điểm đó, Bên nhượng quyền phải tiến hành việc cung cấp tài liệu, đào tạo nhân viên của Bên nhận quyền Không chỉ vậy, mà cùng với sự lớn mạnh và phát triển theo thời gian của hệ thống, Bên nhượng quyền phải thường xuyên trợ giúp kỹ thuật, đào tạo nhân viên của Bên nhận quyền đối với những ứng dụng mới áp dụng chung cho cả hệ thống [2]

Trang 37

Mối quan hệ mật thiết giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền còn thể hiện ở hoạt động ―kiểm soát, giám sát‖ Bên nhượng quyền có thể định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra việc thực hiện các quyền thương mại của Bên nhận quyền Sự hỗ trợ của Bên nhượng quyền đối với Bên nhận quyền như đã nói ở trên sẽ trở nên vô nghĩa và thiếu đi tính thực tế nếu như Bên nhượng quyền không có quyền năng kiểm soát hoạt động điều hành kinh doanh của Bên nhận quyền Quyền năng này của Bên nhượng quyền đã thực sự tạo nên chất kết dính quan trọng trong việc xây dựng tính thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và sự ổn định về chất lượng hàng hoá và dịch vụ

Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, lợi thế thường nghiêng về bên nhượng quyền, điều này được hầu hết các quốc gia quy định bởi lẽ bên nhượng quyền là chủ thương hiệu, là người xây dựng và phát triển thương hiệu thành công, vì vậy bên nhượng quyền thường có quyền đưa ra các yêu cầu về giá, các tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bên nhận quyền Trên thực tế thì hầu hết các hợp đồng NQTM đều do bên nhượng quyền soạn thảo và luôn có khuynh hướng bảo vệ lợi ích tối đa cho mình

Bên nhận quyền kinh doanh NQTM với mục đích lớn nhất là tìm kiếm lợi nhuận trên thương hiệu, uy tín của bên nhượng quyền, bởi vậy họ luôn chấp nhận ở thế yếu và phải tuân theo các điều kiện do bên nhượng quyền đặt

ra Tuy nhiên, không phải vì thế mà có thể kết luận hợp đồng NQTM không bình đẳng, tự nguyện bởi bên nhượng quyền và bên nhận quyền là hai pháp nhân độc lập, có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau khi tham gia quan hệ này, mặt khác khi bên nhận quyền chấp nhận các quy định, điều kiện của bên nhượng quyền thì coi như đã thỏa mãn về mặt ý chí, họ chấp nhận một cách

tự nguyện và không chịu sự ép buộc từ bất kỳ ai Như vậy nếu xét về góc độ pháp lý thì hợp đồng này là hợp pháp, nó đảm bảo các yếu tố cần có của một hợp đồng

Trang 38

Mặc dù bên nhượng quyền chiếm ưu thế nhưng trong nhiều trường hợp bên nhận quyền cũng có thể yêu cầu bên nhượng quyền bỏ đi hoặc sửa đổi các quy định trong hợp đồng để phù hợp với phong tục tập quán, hoàn cảnh địa phương nơi mình kinh doanh để nâng cao hiệu quả kinh doanh của cửa hàng

Hợp đồng NQTM về cơ bản là bình đẳng, tự nguyện Tuy nhiên trên thực tế, để đạt được sự bình đẳng này cũng như để đảm bảo quyền lợi của mình, bên nhận quyền thường phải ―khôn ngoan‖ trong quá trình đàm phán

ký kết hợp đồng, đặc biệt là đàm phán để thêm vào những điều khoản có lợi cho bên nhận quyền

Trang 39

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP

ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 2.1 Pháp luật Hoa Kỳ về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp

đồng nhượng quyền thương mại

Trong NQTM, trước khi đàm phán ký kết hợp đồng, theo quy định pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới và của Hoa Kỳ, bên nhượng quyền phải cung cấp cho bên nhận quyền một tài liệu giới thiệu về hệ thống NQTM, các quy định trong việc nhượng quyền và hầu như toàn bộ các điều khoản của một hợp đồng NQTM Tài liệu này vô cùng quan trọng và không thể thiếu trước khi tham gia ký kết hợp đồng nên có thể coi đây là một loại tiền hợp đồng mà các bên ngầm thỏa thuận trước để có thể tiếp tục ký kết hợp đồng chính thức Theo pháp luật Hoa Kỳ, tài liệu này được gọi là Tài liệu công bố NQTM (tài liệu này còn được gọi là Bản giới thiệu chi tiết chuẩn về NQTM hay Bản giới thiệu về NQTM) Do đó, trước khi tìm hiểu quy định của Hoa Kỳ về quyền và nghĩa vụ của các bên trong Hợp đồng NQTM, cần thiết tìm hiểu một số quy định của Hoa Kỳ về Tài liệu công bố NQTM

2.1.1 Pháp luật Hoa kỳ về Tài liệu công bố nhượng quyền thương mại

Tài liệu công bố NQTM (sau đây gọi là ―FDD‖ - Franchise Disclosure Documents), trước năm 2007 được gọi là Bản giới thiệu chi tiết chuẩn về NQTM hay Bản giới thiệu về NQTM (sau đây gọi là ―UFOC‖ - Uniform Franchise Offering Circular)

Pháp luật các nước trên thế giới nhìn chung có xu hướng bảo vệ người nhận quyền Hay nói cách khác, nghĩa vụ của bên nhượng quyền thường được quy định chặt chẽ hơn Trong các nghĩa vụ cơ bản của bên nhượng quyền thì nghĩa vụ quan trọng nhất là phải cung cấp cho bên nhận quyền Tài liệu công

bố NQTM trước khi ký hợp đồng NQTM Theo tài liệu này, bên nhượng quyền phải công bố, cung cấp cho bên nhận quyền đầy đủ và chi tiết thông tin

Trang 40

về công ty, sản phẩm, mô hình kinh doanh, tình hình kinh doanh, các quy định trong việc nhượng quyền, các điều khoản chính của hợp đồng

Tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới, pháp luật quy định bên nhượng quyền bắt buộc phải cung cấp tài liệu này trước khi ký kết hợp đồng NQTM Cụ thể, tại Hoa Kỳ, Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (sau đây

gọi là ―FTC‖ - the US Federal Trade Commission) và mười lăm bang yêu cầu

phải công bố thông tin về việc mua bán NQTM trước khi bán, theo một mẫu gọi là FDD (hay UFOC), là tài liệu chỉ ra hạng mục chi tiết mà bên nhượng quyền phải cung cấp cho đối tác mua tiềm năng (bên nhận quyền) và phải được trao cho đối tác trước khi ký kết hợp đồng nhượng quyền Vì FDD được thừa nhận ở các bang và ở FTC, Hướng dẫn về FDD cũng đã trở thành tài liệu chuẩn về bộc lộ NQTM quốc gia FTC yêu cầu bên nhượng quyền phải cung cấp tài liệu FDD (hay UFOC) tại cuộc họp trực tiếp đầu tiên hoặc chậm nhất sau 10 ngày trước khi bất kỳ thỏa thuận nào được ký kết hoặc phí đầu tư cho hoạt động nhượng quyền đã được thanh toán Nếu không thực hiện, bên nhượng quyền có thể bị khởi kiện bởi người nhận quyền của mình Không chỉ

có Hoa Kỳ, pháp luật của Úc, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Indonesia,

Ý, Nhật, Malaysia, Mexico, Nam Phi, Hàn Quốc, Tây Ban Nha cũng yêu cầu bên nhượng quyền phải cung cấp FDD (hay UFOC) cho bên nhận quyền

để nghiên cứu trước khi bên nhận quyền quyết định ký hợp đồng NQTM

Tại Hoa Kỳ, Theo pháp luật liên bang: Đạo luật về các yêu cầu Công

bố và những điều cấm liên quan đến NQTM (Disclosure Requirements and Prohibitions Concerning Franchising) sửa đổi năm 2007 của Ủy ban Thương mại Liên bang có hiệu lực và được áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2008 cũng như là Đạo luật về các yêu cầu công bố và những điều cấm liên quan đến NQTM và cơ hội kinh doanh (Rule on Disclosure Requirements and Prohibitions Concerning Franchising and Business Opportunity Ventures) năm 1979 của FTC đều quy định về thông tin mà bên nhượng quyền được yêu

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w