Thôngthường, tập quán, tập quán thương mại quốc tế trở thành luật áp dụngchung đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi các bên lựa chọn.Một trong những tập quán thông dụng trong th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐỀ ÁN MÔN HỌC LUẬT THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI ĐỀ ÁN : QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO LUẬT THƯƠNG MẠI
2005 VÀ CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN HỢP TOÀN SINH VIÊN THỰC HIỆN : TÔ THỊ HẠNH NGUYÊN
MÃ SỐ SINH VIÊN : CQ482057 LỚP LUẬT KINH DOANH K48
KHOA LUẬT
HÀ NỘI, NGÀY 28 THÁNG 10 NĂM 2009
Trang 2Liên tiếp trong những năm gần đây, những công ty đa quốc gia, tập đoànkinh tế khổng lồ sát nhập, những khối thị trường chung như Liên minh châu
Âu (EU), Khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và gần đây nhất là Khốimậu dịch tự do châu Á (AFTA) ra đời để có một qui mô lớn hơn, một sứcmạnh bao trùm hơn, khả năng chi phối thị trường lớn hơn, một năng lực pháttriển mạnh mẽ hơn, chứng tỏ một khuynh hướng ngày càng rõ nét và lanrộng trong kinh tế thế giới - khuynh hướng hội nhập để phát triển Là mộtnước đang phát triên với GDP bình quân chỉ khoảng 500 đôla Mỹ trên đầungười, Việt Nam không thể đứng ngoài xu thể chung, cũng là cơ hội pháttriển rất lớn này
Tuy nhiên, cơ hội lớn bao nhiêu, thách thức lớn bấy nhiêu, sự mạo hiểm
và thậm chí là cả nguy cơ thất bại, thua thiệt nếu chúng ta nhập cuộc màkhông được trang bị đủ kiến thức, non nớt về kinh nghiệm, vốn liếng mọimặt không có nhiều Các doanh nhân Việt Nam đã đi những bước đầu tiêntrong hành trình hội nhập kinh tế toàn cầu với cả thành công và thất bại.Thực tế cho thấy còn rất nhiều doanh nhân Việt Nam còn chưa có điều kiệnnghiên cứu kỹ lưỡng cả những giáo trình ngoại thương cơ bản, chưa nắmvững những khái niệm FOB, CIF,… nên không thể tránh khỏi những thất bạikhông đáng có Đề tài “ Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng muabán hàng hoá theo luật thương mại 2005 và Công ước Viên 1980 về mua bánhàng hóa quốc tế” đề cập tới một trong những vấn đề cơ bản đầu tiên củahoạt động ngoại thương mà bất cứ doanh nhân nào cũng phải hiểu rõ khitham gia hoạt động thương mại quốc tế Nhằm mục đích giúp các doanhnhân Việt Nam hiểu rõ quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình khi thiết lậpcác hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Đề tài bao gồm 3 phần :
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
II. PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
III. Liªn hÖ thùc tiÔn
Em xin cảm ơn TS Nguyễn Hợp Toàn đã hướng dẫn em trong suốt thờigian làm đề án này
Do kiến thức thực tế không nhiều, đề tài của em không tránh khỏi nhữngthiếu sót Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo để em có thểhoàn thiện hơn kiến thức của mình!
Trang 3Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá Bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và sở hữu hàng hóa đó như thỏa thuận.
Hoạt động thương mại quốc tế hiện nay không còn bị giới hạn trong việctrao đổi hàng hóa mà được mở rộng sang cả các lĩnh vực khác nhưthương mại dịch vụ, thương mại đầu tư, thương mại liên quan đến quyền
sở hữu trí tuệ Công cụ pháp lý được sử dụng trong việc trao đổi hànghóa chính là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hay còn gọi là hợp đồngmua bán hàng hóa ngoại thương
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa cóyếu tố quốc tế hay tính quốc tế Mặc dù loại hợp đồng này đã được sửdụng trong thực tiễn thương mại ở nước ta, nhưng việc đưa ra một kháiniệm rõ ràng, chính xác cho hợp đồng này chưa được quan tâm thíchđáng trong khoa học pháp lý Việt Nam Điều này cũng có thể là do ViệtNam mới tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế và trong thực tiễnchưa có vụ tranh chấp nào liên quan đến việc xác định luật áp dụng căn
cứ vào tính quốc tế của hợp đồng
Các văn bản pháp luật của Việt Nam không sử dụng thuật ngữ “Hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “Hợp đồngmua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài” Dưới góc độ pháp lý,hai thuật ngữ “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” và “Hợp đồng muabán hàng hóa với thương nhân nước ngoài” đều chỉ loại hợp đồng cócùng đặc điểm là có sự tham gia của thương nhân nước ngoài hay nóicách khác hợp đồng có yếu tố quốc tế
Xác định một hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế tức là xác định tính quốc tế của hợp đồng đó Việc xác địnhtính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa có ý nghĩa pháp lý và thựctiễn hết sức quan trọng bởi nó gắn liền với việc xác định luật để điềuchỉnh quan hệ của các bên trong hợp đồng Nếu hợp đồng là hợp đồngmua bán hàng hóa thông thường (hợp đồng nội địa) thì quyền và nghĩa vụcủa các bên xuất phát từ hợp đồng đó sẽ được pháp luật trong nước điềuchỉnh, ví dụ, pháp luật Việt Nam Nếu là hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế thì nó sẽ được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn: pháp luậtcủa các quốc gia khác nhau, các điều ước quốc tế liên quan và trongnhiều trường hợp cả tập quán thương mại quốc tế, và trong trường hợp
Trang 4không có sự lựa chọn của các bên thì cần phải chọn luật của quốc gia nàotheo các quy tắc của tư pháp quốc tế.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một hình thức pháp lý của quan
hệ thương mại quốc tế, chính vì vậy nó bị sự điều chỉnh bởi nguồn luậtthương mại quốc tế, bao gồm các điều ước về mua bán hàng hóa quốc tế,các tập quán quốc tế về thương mại, tiền lệ pháp và pháp luật quốc gia.
Hợp đồng mua bán quốc tế còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc hợpđồng mua bán ngoại thương là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sởkinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu(Bên bán) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi làbên nhập khẩu (Bên mua) một tài sản nhất định, gọi là hàng hoá; bên mua
có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa cácthương nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau, theo đómột bên gọi là Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sởhữu hàng hoá cho một bên khác gọi là Bên nhập khẩu và nhận thanhtoán; và Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán cho Bên xuất khẩu, nhậnhàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng song vụ: mỗi bên kýkết hợp đồng đều có nghĩa vụ đối với nhau Bên xuất khẩu có nghĩa vụgiao hàng cho Bên nhập khẩu còn Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toáncho Bên xuất khẩu
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng có đền bù: bên có nghĩa
vụ thì cũng có quyền lợi và ngược lại Bên nhập khẩu được hưởng quyềnlợi nhận hàng và đổi lại phải có nghĩa vụ trả tiền cân xứng với giá trị đãđược giao Ngược lại, Bên xuất khẩu nhận được tiền phải có nghĩa vụgiao hàng
Bản chất của hợp đồng này là sự thoả thuận của các bên ký kết (cácbên đương sự)
Chủ thể của hợp đồng là Bên bán (bên xuất khẩu) và bên mua (bênnhập khẩu) Họ có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau Bên bán giaomột giá trị nhất định, và để đổi lại, bên mua phải trả một đối giá (Countervalue) cân xứng với giá trị đã được giao (Contract with consideration)
Trang 5 Ðối tượng của hợp đồng này là tài sản; do được đem ra mua bán tàisản này biến thành hàng hoá Hàng hoá này có thể là hàng đặc tính(Specific goods) và cũng có thể là hàng đồng loại (Generic goods)
Khách thể của hợp đồng này là sự di chuyển quyền sở hữu hàng hoá(chuyển chủ hàng hoá) Ðây là sự khác biệt so với hợp đồng thuê mướn(vì hợp đồng thêu mướn không tạo ra sự chuyển chủ), so với hợp đồngtặng biếu (vì hợp đồng tặng biếu không có sự cân xứng giữa nghĩa vụ vàquyền lợi)
Ðiều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán quốc tế:
Theo điều 81 của Bộ luật Thương mại Việt Nam Hợp đồng mua bánquốc tế có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
(a) Chủ thể của hợp đồng là bên mua và bên bán phải có đủ tư cách pháp
(d) Hình thức của hợp đồng phải là văn bản
Dưới đây chúng ta phân tích bốn (04) điều kiện nói trên
Về điều kiện (a): Chủ thể của hợp đồng mua bán quốc tế Về phía ViệtNam, theo nghị định 57/1998/NÐ - CP ngày 31/7/1998, phải là doanhnghiệp đã có đăng ký kinh doanh (theo thủ tục thành lập doanh nghiệp)
và đã đăng ký mã số kinh doanh XNK tại cục hải Quan tỉnh, thành phố Doanh nghiệp không được phép xuất nhập khẩu những mặt hàng cấmxuất nhập khẩu Ðối với mặt hàng được phép NK, XK có điều kiện, họphải xin được hạn ngạch (trường hợp hàng thuộc nhà nước quản lý bằnghạn ngạch) hoặc được giâý phép (trường hợp hàng thuộc diện nhà nướcquản lý bằng giấy phép kinh doanh XNK)
Về điều kiện (b) đối tượng hợp đồng phải là hàng được phép xuất nhậpkhẩu theo các văn bản pháp luật hiện hành
Về điều kiện (c) nội dung của hợp đồng bao gồm những điều khoản, màtheo điều 50 của Luật thương mại, buộc phải có Ðó là:
Tên hàng
Số lượng;
Quy cách chất lượng;
Giá cả;
Phương thức thanh toán;
Ðịa điểm và thời gian giao nhận hàng
Trang 6Ngoài ra các bên có thể thoả thuận thêm những nội dung, những điềukhoản cho hợp đồng
Về điều kiện (d) hình thức hợp đồng phải là hình thức văn bản Ðó có thể
là bản hợp đồng (hoặc bản thoả thuận ) có chữ ký của hai bên, cũng cóthể là những thư từ, điện tín, điện chữ, thư điện tử bao gồm:
Chào hàng + Chấp nhận chào hàng = Hợp đồng đã giao kết
Hoặc
Ðặt hàng + Xác nhận đặt hàng = Hợp đồng đã giao kết
Nội dung chủ yếu của một hợp đồng mua bán quốc tế
Một hợp đồng mua bán quốc tế thường gồm có hai phần: Những điềutrình bày (representations) và các điều khoản và điều kiện (terms andconditions)
Trong phần những điều trình bày, người ta ghi rõ:
c Tên và địa chỉ của các đương sự
d Những định nghĩa dùng trong hợp đồng Những định nghĩa này có thểrất nhiều, ví dụ hàng hoá có nghĩa là thiết kế có nghĩa là Chí ít, người tacũng đưa ra định nghĩa sau đây:
“ABC company, address…, Tel … represented by Mr … herein-afterreferred to as the Seller (or the Buyer)”
e Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng Ðây có thể là hiệp định chính phủ
ký kết ngày tháng , cũng có thể là Nghị định thư ký kết giữa Bộ nước vớiBộ nước Chí ít, người ta cũng nêu ra sự tự nguyện của hai bên khi kýkết hợp đồng
Ví dụ: “It has been mutually agreed that the Seller commits to sell andthe Buyer commits to buy the undermentioned goods on the followingterms and conditions”
*Trong phần các điều khoản và điều kiện người ta ghi rõ các điều khoảnthương phẩm (như tên hàng, số lượng, phẩm chất, bao bì); Các điềukhoản tài chính (như giá cả và cơ sở của giá cả, thanh toán, trả tiền hàng,
Trang 7chứng từ thanh toán); Các điều khoản vận tải (như: điều kiện giao hàng,thời gian và địa điểm giao hàng); Các điều khoản pháp lý (như: Luật ápdụng vào hợp đồng, khiếu nại, trường hợp bất khả kháng, trọng tài)
HÓA
Điều ước quốc tế về thương mại là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa cácquốc gia và các chủ thể của luật quốc tế, trên cơ sở tự nguyện và bìnhđẳng, nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của cácbên trong quan hệ thương mại quốc tế Căn cứ vào chủ thể, điều ướcquốc tế được phân thành hai loại là điều ước quốc tế song phương và điềuước quốc tế đa phương Hiện nay, một số điều ước sau được áp dụng choviệc mua bán hàng hóa quốc tế là: Công ước Viên về mua bán hàng hóaquốc tế (còn gọi là Công ước CISG - United Nations Convention onContracts for the International Sales of Goods) được ký ngày 11/4/1980tại Viên, cho đến nay đã có hơn 60 nước phê chuẩn Tuy nhiên, Việt Namchưa tham gia công ước Viên 1980, nên về nguyên tắc Công ước không
có hiệu lực ràng buộc đối với các chủ thể là thương nhân Việt Nam trongquan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài; Côngước Lahay ngày 15/6/1955 về luật áp dụng đối với hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế Theo Công ước này, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế phải tuân thủ theo luật mà các bên lựa chọn Nếu không có sự thỏathuận thống nhất của các bên về luật áp dụng thì luật của nước nơi ngườibán thường trú sẽ được áp dụng trừ một số trường hợp ngoại lệ; Côngước Rome ngày 19/6/1980 về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ phát sinh
từ hợp đồng Công ước này được ký kết bởi 9 nước thành viên châu Âu,sau đó có sự tham gia của 6 nước châu Âu khác Các quy định của Côngước được áp dụng đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng liên quanđến trường hợp lựa chọn luật của các nước khác nhau; Các hiệp định
Trang 8thương mại song phương giữa Việt Nam với các nước mà điển hình làHiệp định về quan hệ thương mại với Hoa Kỳ ngày 16/10/2001 Hiệpđịnh buôn bán hàng dệt may Việt Nam - EU và gần 100 hiệp định thươngmại song phương mà Việt Nam đã ký với các nước khác.
Tập quán thương mại (lex mercatoria) là các thói quen thương mại đượchình thành từ lâu đời, có nội dung rõ ràng, được áp dụng liên tục trongthương mại quốc tế, được chấp nhận có giá trị pháp lý bắt buộc Thôngthường, tập quán, tập quán thương mại quốc tế trở thành luật áp dụngchung đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi các bên lựa chọn.Một trong những tập quán thông dụng trong thương mại quốc tế hiện nay
là các điều kiện thương mại quốc tế - Incoterms (InternationalCommercial Terms) do Phòng thương mại quốc tế - ICC ban hành năm
1936, được sửa đổi bổ sung năm 1953, 1967, 1980, 1990 và gần đây nhất
là năm 2000; Quy tắc chung về tập quán và thực hành tín dụng chứng từ(UCP 500); Bộ nguyên tắc của UNIDROIT; Luật mẫu của trọng tàiUNCITRAL ban hành năm 1985; Công ước New York năm 1958…
Tiền lệ pháp (án lệ) về thương mại là các quy tắc pháp luật hình thành từthực tiễn xét xử của Tòa án được gọi là tiền lệ pháp và chủ yếu được ápdụng tại các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ (Anglo Saxon), tại đâycác Tòa án thường sử dụng một hoặc một số phán quyết của Tòa án đãđược công bố để làm khuôn mẫu áp dụng cho việc giải quyết tranh chấptương tự
Pháp luật quốc gia với tư cách là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng muabán hàng hóa của quốc gia đó Luật quốc gia trở thành luật áp dụng chohợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong các trường hợp sau: Khi cácbên ký kết hợp đồng thỏa thuận trong điều khoản luật áp dụng của hợp
Trang 9đồng về việc chọn luật của một bên hoặc bên thứ ba để điều chỉnh hợpđồng; Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế được quy định trong các điều ước quốc tế liên quan, luật quốc giađương nhiên trở thành luật áp dụng; Khi có quy định của pháp luật quốcgia Theo pháp luật Việt Nam thì tư cách pháp lý của mỗi bên tham giahợp đồng và hình thức của hợp đồng được quy định tại Bộ luật dân sự
2005 (BLDS) và Luật thương mại 2005 (LTM)
Trong quá trình đàm phán ký hết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,các chủ thể có quyền tự do lựa chọn luật áp dụng để điều chỉnh các quan
hệ trong hợp đồng (lex voluntaties) Việc này sẽ tạo điều kiện thuận lợicho các bên trong việc chọn luật để điều chỉnh phù hợp với ý chí củamình khi có tranh chấp xảy ra Đây là nguyên tắc lựa chọn luật áp dụngđược luật quốc tế và luật của nhiều quốc gia thừa nhận Trong pháp luậtViệt Nam, nguyên tắc tự do xác định luật được áp dụng tại Điều 759BLDS và Khoản 2 Điều 5 LTM Bên cạnh đó, nguyên tắc xác định luật
áp dụng trên cơ sở mối quan hệ gắn bó cũng được sử dụng cho hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế Theo đó, nguyên tắc này được áp dụng khicác bên không có sự thỏa thuận chọn luật áp dụng khi ký kết hợp đồng(trong hợp đồng không có điều khoản hay nội dung nào về việc chọn luật
áp dụng)
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc xác định luật áp dụng chohợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định tại BLDS; LTM; Bộluật hàng hải năm 2005 (BLHH); Luật hàng không dân dụng Việt Nam
1992 (LHKDD), được sửa đổi, bổ sung năm 1995; Pháp lệnh trọng tàiThương mại 2003 (PLTTTM) Theo đó, Điều 758 BLDS quy định quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong cácbên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia làcông dân, tổ chức Việt Nam, nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứtquan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài
Trang 10sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài Điều 4 và Điều 5 LTM quyđịnh về các loại nguồn pháp luật có thể áp dụng cho hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế Điều 3 BLHH quy định về pháp luật áp dụng cho quan
hệ hợp đồng hàng hải trong thương mại Điều 4 LHKDD quy định tổchức, cá nhân Việt Nam có thể thỏa thuận với tổ chức, cá nhân nướcngoài về việc áp dụng pháp luật nước ngoài khi ký kết hợp đồng vậnchuyển, dịch vụ hàng không với điều kiện không vi phạm điều cấm củapháp luật và phong tục tập quán Việt Nam Điều 5 quy định về việc xácđịnh pháp luật áp dụng khi có xung đột pháp luật Điều 7 PLTTTM quyđịnh các bên trong quan hệ hợp đồng thương mại có quyền tự do thỏathuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng và cơ quan trọngtài sẽ áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp phátsinh từ hợp đồng Tuy nhiên, quyền tự do lựa chọn luật của các bên bịhạn chế Ngoài ra, khoản 5 Điều 49 của PLTTTM còn quy định ngoàiquyền tự do lựa chọn và áp dụng pháp luật nước ngoài, các bên còn cóquyền thỏa thuận chọn tập quán thương mại quốc tế để điều chỉnh quan
hệ tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài
III CÁC CHỦ THỂ CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG
HÓA
1 THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005
a NGƯỜI BÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
a.1 Quyền của người bán
- Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác địnhthời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳthời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua
- Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hànghoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết
về những khiếm khuyết đó;
- Nếu hợp đồng chỉ quy định thời hạn giao hàng và không xác định thờiđiểm giao hàng cụ thể mà bên bán giao hàng trước khi hết thời hạn giaohàng và giao thiếu hàng hoặc giao hàng không phù hợp với hợp đồng thìbên bán vẫn có thể giao phần hàng còn thiếu hoặc thay thế hàng hoá chophù hợp với hợp đồng hoặc khắc phục sự không phù hợp của hàng hoátrong thời hạn còn lại
- Bên bán không phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hànghoá mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã biết hoặc phải biết nhưng
Trang 11không thông báo cho bên bán trong thời hạn hợp lý sau khi kiểm tra hànghoá.
a.2 Nghĩa vụ của người bán
- Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về sốlượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định kháctrong hợp đồng Trường hợp không có thỏa thuận cụ thể, bên bán cónghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan theo quy định của Luật thươngmại
- Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm đã thoả thuận
Trường hợp không có thoả thuận về địa điểm giao hàng thì địa điểm giaohàng được xác định như sau:
a) Trường hợp hàng hoá là vật gắn liền với đất đai thì bên bán phải giaohàng tại nơi có hàng hoá đó;
b) Trường hợp trong hợp đồng có quy định về vận chuyển hàng hoá thìbên bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên;
c) Trường hợp trong hợp đồng không có quy định về vận chuyển hànghoá, nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng, các bên biết được địa điểmkho chứa hàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hoá thìbên bán phải giao hàng tại địa điểm đó;
d) Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinhdoanh của bên bán, nếu không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàngtại nơi cư trú của bên bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồngmua bán
- Bên bán phải thông báo cho bên mua về việc đã giao hàng cho ngườivận chuyển và phải xác định rõ tên và cách thức nhận biết hàng hoá đượcvận chuyển trong trường hợp hàng hóa được giao cho người vận chuyểnnhưng không được xác định rõ bằng ký mã hiệu trên hàng hóa, chứng từvận chuyển hoặc cách thức khác
- Trường hợp bên bán có nghĩa vụ thu xếp việc chuyên chở hàng hoá thìbên bán phải ký kết các hợp đồng cần thiết để việc chuyên chở được thựchiện tới đích bằng các phương tiện chuyên chở thích hợp với hoàn cảnh
cụ thể và theo các điều kiện thông thường đối với phương thức chuyênchở đó
- Trường hợp bên bán không có nghĩa vụ mua bảo hiểm cho hàng hoátrong quá trình vận chuyển, nếu bên mua có yêu cầu thì bên bán phảicung cấp cho bên mua những thông tin cần thiết liên quan đến hàng hoá
và việc vận chuyển hàng hoá để tạo điều kiện cho bên mua mua bảo hiểmcho hàng hoá đó
- Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuậntrong hợp đồng Nếu bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì
Trang 12bên mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu các bên không cóthoả thuận khác.
- Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phát sinhsau thời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán vi phạmhợp đồng
- Bên bán có nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hoá cho bên muatrong thời hạn, tại địa điểm và bằng phương thức đã thỏa thuận
- Bên bán phải giao chứng từ liên quan đến hàng hoá cho bên mua trongthời hạn và tại địa điểm hợp lý để bên mua có thể nhận hàng nếu không
có thỏa thuận về thời hạn, địa điểm giao chứng từ liên quan đến hàng hoácho bên mua
- Bên bán phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá màbên mua hoặc đại diện của bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyếtcủa hàng hoá không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằngbiện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếmkhuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua
- Bên bán phải bảo đảm:
Quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranhchấp bởi bên thứ ba;
Hàng hóa đó phải hợp pháp;
Việc chuyển giao hàng hoá là hợp pháp
- Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá
- Trường hợp hàng hoá được bán là đối tượng của biện pháp bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dân sự thì bên bán phải thông báo cho bên mua vềbiện pháp bảo đảm và phải được sự đồng ý của bên nhận bảo đảm về việcbán hàng hóa đó
- Nghĩa vụ bảo hành hàng hoá
Trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu tráchnhiệm bảo hành hàng hoá đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận Bên bán phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất màhoàn cảnh thực tế cho phép
Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thoảthuận khác
b NGƯỜI MUA TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
b.1 Quyền của người mua
- Bên mua có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hoá không phù hợp vớihợp đồng theo quy định tại khoản 1 điều 39 luật thương mại 2005
Trang 13- Trường hợp bên bán giao thừa hàng thì bên mua có quyền từ chối hoặc chấp nhận số hàng thừa đó.
- Bên mua có quyền tạm ngừng việc thanh toán nếu có bằng chứng vềviệc bên bán lừa dối
- Bên mua có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đãđược giải quyết, bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đốitượng bị tranh chấp
- Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợpvới hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đãkhắc phục sự không phù hợp đó
- Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏathuận
- Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việcthanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của phápluật
- Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hoámất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bênmua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra
- Bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hànghoặc giao chứng từ liên quan đến hàng hoá;
- Bên mua không có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi có thể kiểm traxong hàng hoá trong trường hợp có thỏa thuận
- Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thoả thuận và thực hiện nhữngcông việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng
2 THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
HÀNG HÓA QUỐC TẾ
a.1 Quyền của người bán
- Trong trường hợp giao hàng trước thời hạn, người bán có quyền, cho tớitrước khi hết hạn giao hàng, giao một phần hay một số lượng thiếu, hoặcgiao hàng mới thay cho hàng đã giao không phù hợp với hợp đồng, hoặckhắc phục mọi sự không phù hợp của hàng hóa đã giao với điều kiện làviệc làm đó của người bán không gây cho người mua một trở ngại hayphí tổn vô lý nào Tuy nhiên người mua có quyền đòi hỏi bồi thường thiệthại chiếu theo Công ước này
Trang 14- Người bán có thể yêu cầu người mua trả tiền, nhận hàng hay thực hiện
các nghĩa vụ khác của người mua, trừ phi họ sử dụng một biện pháp bảo
hộ pháp lý khác không thích hợp với các yêu cầu đó
- Người bán có thể chấp nhận cho người mua một thời hạn bổ sung hợp
lý để thực hiện nghĩa vụ của mình
Trừ phi nhận được thông báo của người mua cho biết sẽ không thực hiệnnghĩa vụ trong thời gian ấy, người bán, trước khi mãn hạn, không thểviện dẫn bất cứ một biện pháp bảo hộ pháp lý nào mà họ được sử dụngtrong trường hợp người mua vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, do sự việcnày, người bán không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại vì người muachậm thực hiện nghĩa vụ
- Người bán có thể tuyên bố hủy hợp đồng:
Nếu sự kiện người mua không thi hành nghĩa vụ nào đó của họ theohợp đồng hay Công ước hay cấu thành một sự vi phạm chủ yếu hợpđồng, hoặc
Nếu người mua không thi hành nghĩa vụ trả tiền hoặc không nhận hàngtrong thời hạn bổ sung mà người bán chấp nhận cho họ chiếu theo khoản
1 điều 63 hay nếu họ tuyên bố sẽ không làm việc đó trong thời hạn ấy
- Nếu theo hợp đồng người mua phải xác định hình dáng, kích thước haynhững đặc điểm khác đặc trưng của hàng hóa và nếu người mua khônglàm điều ấy vào thời hạn đã thỏa thuận hay trong một thời hạn hợp lý kể
từ lúc nhận được yêu cầu của người bán, thì người bán có thể tự mình xácđịnh hàng hóa chiếu theo nhu cầu của người mua mà họ có thể biết màkhông làm hại đến các quyền lợi khác
- Nếu chính người bán tự mình thực hiện việc xác định hàng hóa, họ phải
báo chi tiết cho người mua biết nội dung việc xác định và cho người muamột thời hạn hợp lý để người này có thể xác định khác Nếu, sau khi nhậnđược thông báo của người bán mà người mua không sử dụng khả năngnày trong thời hạn nói trên, thì sự xác định hàng hóa do người bán thựchiện có tính chất bắt buộc
a.2 Nghĩa vụ của người bán
- Người bán có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ liên quan đến hàng hoá
và chuyển giao quyền sở hữu về hàng hoá theo đúng quy định của hợpđồng và của Công ước
Nếu hợp đồng mua bán quy định cả việc vận chuyển hàng hoá thì ngườibán phải giao hàng cho người chuyên chở đầu tiên để chuyển giao chongười mua
Nếu trong những trường hợp không dự liệu bởi điểm nói trên, mà đốitượng của hợp đồng mua bán là hàng đặc định hoặc là hàng đồng loạiphải được trích ra từ một khối lượng dự trữ xác định hoặc phải được chế
Trang 15tạo hay sản xuất ra và vào lúc ký kết hợp đồng, các bên đã biết rằng hàng
đã có hay đã phải được chế tạo hoặc sản xuất ra tại một nơi nào đó thìngười bán phải có nghĩa vụ đặt hàng dưới quyền định đoạt của ngườimua tại nơi đó
Trong các trường hợp khác, người bán có nghĩa vụ đặt hàng dưới quyềnđịnh đoạt của người mua tại nơi nào mà người bán có trụ sở thương mạivào thời điểm ký kết hợp đồng
- Nếu chiếu theo hợp đồng hay công ước này, người bán giao hàng chomột người chuyên chở, và nếu hàng không được cá biệt hoá một cách rõràng dành cho mục đích của hợp đồng bằng cách ghi ký mã hiệu trênhàng hoá, bằng các chứng từ chuyên chở hay bằng một cách khác, thìngười bán phải thông báo cho người mua biết về việc họ đã gửi hàng kèmtheo chỉ dẫn về hàng hoá
- Nếu người bán không có nghĩa vụ phải bảo hiểm hàng hoá trong quátrình hàng chuyên chở, thì họ phải cung cấp cho người mua, nếu ngườinày yêu cầu, mọi thông tin cần thiết mà họ có thể giúp người mau ký kếthợp đồng bảo hiểm
- Nếu người bán phải có nghĩa vụ phải giao các chứng từ liên quan đếnhàng hoá thì họ phải thi hành nghĩa vụ này đúng thời hạn, đúng địa điểm
và đúng hình thức như quy định trong hợp đồng
- Người bán chịu trách nhiệm chiếu theo hợp đồng và Công ước này, vềmọi sự không phù hợp nào của hàng hóa mà sự không phù hợp đó vàolúc chuyển giao quyền rủi ro sang người mua, ngay cả khi sự không phùhợp của hàng hóa chỉ được phát hiện sau đó
- Người bán cũng chịu trách nhiệm về mọi sự không phù hợp của hànghóa xảy ra sau thời điểm đã nói ở điểm trên và là hậu quả của việc ngườibán vi phạm bất cứ một nghĩa vụ nào của mình, kể cả việc không thểhoàn toàn đảm bảo rằng trong một thời hạn nào đó, hàng hóa vẫn thíchhợp cho mục đích sử dụng thông thường hay mục đích cụ thể hoặc vẫnduy trì được những tính chất hay đặc tính đã quy định
- Người bán phải giao những hàng hóa không bị ràng buộc bởi bất cứquyền hạn hay yêu sách nào của người thứ ba trừ trường hợp người muađồng ý nhận loại hàng bị ràng buộc vào quyền hạn và yêu sách như vậy
- Người bán phải giao những hàng hóa không bị ràng buộc bởi bất cứ
quyền hạn hay yêu sách nào của người thứ ba trên cơ sở sở hữu trí tuệkhác mà người bán đã biết hoặc không biết vào thời điểm ký kết hợpđồng, với điều kiện nếu các quyền và yêu sách nói trên được hình thànhtrên cơ sở sở hữu công nghiệp hoặc sở hữu trí tuệ khác
Trang 16- Người bán phải gánh chịu mọi sự gia tăng phí tổn để thực hiện việcthanh toán do sự thay đổi địa điểm của trụ sở thương mại của mình saukhi hợp đồng được ký kết.
HÀNG HÓA QUỐC TẾ
b.1 Quyền của người mua
- Trong trường hợp người bán giao chứng từ trước kỳ hạn, thì họ có thể,trước khi hết thời hạn quy định sẽ giao chứng từ, loại bỏ bất kỳ điểm nàokhông phù hợp với chứng từ với điều kiện là việc làm này không gây chongười mua một trở ngại hay phí tổn vô lý nào Tuy nhiên, người mua vẫn
có quyền đòi người bán bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này
- Quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp hợp đồng nếu ngườimua thông báo cho người bán những tin tức về việc không phù hợp đótrong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã phát hiện ra sự khôngphù hợp đó
- Người mua có quyền đòi bồi thường thiệt hại khi người bán đã khôngthực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng mua bán hayCông ước này
- Người mua có thể cho người bán thêm một thời hạn bổ sung hợp lý đểngười bán thực hiện nghĩa vụ
hoặc nếu người bán tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời gian được giahạn này
- Người mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng:
Nếu việc người bán không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phátsinh từ hợp đồng hay từ Công ước này cấu thành một vi phạm chủ yếuđến hợp đồng, hoặc:
Trong trường hợp không giao hàng: Nếu người bán không giao hàngtrong thời gian đã được người mua gia hạn thêm cho họ
- Nếu người bán giao hàng trước thời hạn quy định thì người mua đượcquyền lựa chọn hoặc chấp nhận hoặc từ chối việc giao hàng đó
- Nếu người bán giao một số lượng nhiều hơn số lượng quy định tronghợp đồng, thì người mua có thể chấp nhận hay từ chối việc giao số lượngphụ trội, nếu người mua chấp nhận toàn bộ hoặc một phần số lượng phụtrội nói trên thì người mua phải trả tiền hàng phụ trội Nếu người muachấp nhận toàn bộ hoặc một phần số lượng phụ trội nói trên thì ngườimua phải trả tiền hàng phụ trội theo giá hợp đồng quy định
b.2 Nghĩa vụ của người mua
Trang 17Người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy địnhcủa hợp đồng và của Công ước này.
- Người mua phải kiểm tra hàng hóa hoặc bảo đảm đã có sự kiểm tra
hàng hóa trong một thời hạn ngắn nhất mà thực tế có thể làm được tuỳtình huống cụ thể
- Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của người mua bao gồm các việc áp dụng
các biện pháp tuân thủ các thủ tục mà hợp đồng hoặc luật lệ đòi hỏi để cóthể thực hiện được thanh toán tiền hàng
- Trong những trường hợp, nếu hợp đồng đã được ký kết một cách hợp
pháp, nhưng trong hợp đồng không quy định giá cả một cách trực tiếphoặc gián tiếp, hoặc không quy định cách xác định giá thì được phép suyđoán rằng, các bên, trừ phi có quy định trái ngược, đã có ngụ ý dựa vàogiá đã được ấn định cho loại hàng hóa như vậy khi hàng hóa này đượcđem bán trong những điều kiện tương tự của ngành buôn bán hữu quan
- Nếu người mua không có nghĩa vụ phải thanh toán tiền hàng tại một địa
điểm quy định nào đó thì họ phải trả tiền cho người bán:
Tại nơi có trụ sở thương mại của người bán hoặc:
Tại nơi giao hàng hoặc chứng từ nếu việc trả tiền phải được làm cùng lúcvới việc giao hàng hoặc chứng từ
Nếu người mua không có nghĩa vụ phải trả tiền vào một thời hạn cụ thểnào nhất định, thì họ phải trả khi, chiếu theo hợp đồng và Công ước này,người bán đặt dưới quyền định đoạt của người mua, hoặc hàng hóa hoặccác chứng từ nhận hàng Người bán có thể đặt điều kiện phải thanh toánnhư vậy để đổi lại việc họ giao hàng hoặc chứng từ
Người mua không có nghĩa vụ phải thanh toán tiền hàng trước khi họ cóthể kiểm tra hàng hóa, trừ những trường hợp mà có thể thức giao hànghay trả tiền do các bên thỏa thuận không cho phép làm việc đó
Người mua phải trả tiền vào ngày thanh toán đã quy định hoặc có thểđược xác định theo hợp đồng và Công ước này, mà không cần có một lờiyêu cầu hay việc thực hiện một thủ tục nào khác về phía người bán
- Nghĩa vụ nhận hàng của người mua gồm:
Thực hiện mọi hành vi mà người ta có quyền chờ đợi ở họ một cách hợp
lý để cho phép người bán thực hiện việc giao hàng và
Tiếp nhận hàng hóa
Trang 18III LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Trong thực tiễn, khi quyền và nghĩa vụ của các bên bị xâm hại, hoặc mộttrong số các bên thực hiện không đúng điều khoản đã thỏa thuận tronghợp đồng, tất yếu sẽ dẫn tới tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bênchủ thể của quan hệ mua bán hàng hóa Để hiểu rõ hơn những kiến thức
cơ bản về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hànghóa, ta cùng tìm hiểu những vụ việc xảy ra trong thực tiễn giao kết hợpđồng giữa các bên chủ thể :
Tranh chấp về nghĩa vụ vận chuyển trong hợp đồng C&F
Các bên:
Nguyên đơn: Công ty Bỉ
Bị đơn: Công ty Bỉ là thành viên của một tập đoàn Nhật Bản
Các vấn đề được đề cập:
Bán C&F: Thời điểm chuyển giao rủi ro, Lỗi của người vận chuyển
Thiệt hại: Đánh giá thiệt hại, Nghĩa vụ giảm thiểu thiệt hại
Thời điểm bắt đầu tính lãi
Đồng tiền trong tài khoản và Đồng tiền thanh toán
Không may là chiếc tàu được người trung gian vận chuyển của bị đơnthuê đã không tới được Karachi Chuyến tàu này xuất phát từ Anvers với
số thép bán cho nguyên đơn, dừng lại ở Rotterdam vài ngày rồi đếnDunkerque để dỡ khoảng 12.000 tấn đường chở trên tàu Tuy nhiên, tàu