Vấn đề chuyển giao quyền sở hữu trí trong pháp luật nhượng quyền thương mại của Việt Nam.
Trang 1KHOA LUẬT - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC KINH DOANH
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Quế Anh Sinh viên thực hiện : Nguyễn Phương Bằng Lớp: k51 LKD
Hà Nội – 2010
Trang 2Mục lục
Lời nói đầu 4
Danh mục các từ viết tắt 8
Chương I Khái quát chung về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại 9
1.1 Khái quát chung về nhượng quyền thương mại 9
1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại 9
1.1.2 Sự hình thành và phát triển của nhượng quyền thương mại 12
1.1.3 Phân loại các hình thức nhượng quyền thương mại 16
1.1.4 Đặc điểm của nhượng quyền thương mại 22
1.1.5 Phân biệt nhượng quyền thương mại với một số hoạt động thương mại khác 24
1.2 Khái quát chung về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại 29
1.2.1 Chuyển giao nhãn hiệu trong nhượng quyền thương mại 30
1.3.2 Chuyển giao tên thương mại trong nhượng quyền thương mại .35 1.3.3 Chuyển giao bí mật kinh doanh trong nhượng quyền thương mại. .37
1.3 Sự hình thành các quy định của Việt Nam về nhượng quyền thương mại và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại. .40
Chương II Những quy định của pháp luật Việt Nam chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại 44
2.1 Những quy định cơ bản về nhượng quyền thương mại theo luật thương mại 44
2.1.1 Điều kiện nhượng quyền thương mại 44
Trang 32.1.2 Chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại 49 2.1.3 Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại 51 2.1.4 Đăng ký hợp đồng nhượng quyền thương mại 55
2.2 Những quy định về chuyển giao nhãn hiệu, tên thương mại, Bí mật kinh doanh 57
2.2.1 Điều kiện chuyển giao 57 2.2.2 Hình thức thức chuyển giao: hợp đồng li –xăng 58
2.3 Những vướng mắc trong luật điều chỉnh về nhượng quyền thương mại.
Trang 4Lời nói đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
So với các quốc gia hùng mạnh về NQTM như Mỹ, Australia, Nhật Bản,Trung Quốc… thì Việt Nam chỉ đang chập chững những bước chân đầu tiên vàomảnh đất màu mỡ và đầy hứa hẹn này Nhượng quyền thương mại bắt đầu manhnha ở Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ trước và phát triển khá nhanh trongkhoảng 5 năm gần đây (sau khi NQTM chính thức được ghi nhận trong LuậtThương mại 2005) Tính đến nay, Việt Nam có khoảng 70 hệ thống NQTM -với 39 nhà NQTM đến từ các nước và NQTM được giới quan sát tin là sẽ tiếptục bùng nổ trong những năm tới
Việt Nam hiện là một trong 33 quốc gia trên thế giới có hệ thống quyphạm pháp luật riêng biệt để điều chỉnh hoạt động NQTM3 Các quy định phápluật riêng biệt về NQTM hiện hành (sau đây gọi tắt là luật riêng về NQTM)được ghi nhận tại Luật Thương mại 2005 (Mục 8 Chương VI), Nghị định35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thươngmại về hoạt động NQTM (sau đây gọi tắt là Nghị định 35), Thông tư 09/2006/TT-BTM ngày 25/5/2006 của Bộ Thương mại hướng dẫn đăng ký hoạt độngNQTM (sau đây gọi tắt là Thông tư 09) và Quyết định 106/2008/QĐ-BTCngày 17/11/2008 của Bộ Tài chính về việc quy định mức thu, nộp, quản lý và
sử dụng lệ phí đăng ký hoạt động NQTM
Trong hoạt động nhượng quyền thương mại, đối tượng được chuyểngiao ở đây là các quyền thương mại Quyền thương mại này gắn với một hệ
Trang 5thống đi kèm với các quyền sở hữu trí tuệ Bởi thế, một trong những vấn đềquan trong nhượng quyền thương mại chính là chuyển giao các đối tượng củaquyền sở hữu trí tuệ Nhưng các đối tượng này lại chịu sự điều chỉnh của luật
sở hữu trí tuệ, Luật chuyển giao công nghệ Chính việc chịu sự điều chinhe củanhiều ngành luật mà vấn đề chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượngquyền thương mại gây ra không ít rắc rối cho các doanh nghiệp nhượng quyền
Bởi thế, lựa chọn đề tài “chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượngquyền thương mại” góp phần tìm hiểu thêm các quy định pháp luật trong lĩnhvực này
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều nghiên cứu về nhượng quyền thương mại, nhưng hầu hết cácnghiên cứu đều hướng đến những vấn đề về hợp đồng nhượng quyền thươngmại, điề kiện nhượng quyền thương mại, hay cách thức nhượng quyền thươngmại thành công … Cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu riêng biệtnào về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:Vấn đề chuyển giao quyền sở hữu trí trong pháp luật
nhượng quyền thương mại của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về thực trạng nhượng quyền thương mại và
chuyển giao quyền SHTT trong NQTM theo pháp luật Việt Nam
4 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ trong hoạtđộng nhượng quyền thương mại, góp phần hiểu sâu hơn các quy định củapháo luật về vấn đề nay Đồng thời đưa ra một ssos ý kiến góp phần hoàn
Trang 6thiện hệ thống pháp luật về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượngquyền thương mại.
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với cácphương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: phương pháp thống kê, phân tích,
so sánh, đối chiếu, tổng hợp
6 Kết cấu của khóa luận
Chương I Khái quát chung về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại
1.1 Khái quát chung về nhượng quyền thương mại
1.2 Khái quát chung về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượngquyền thương mại
1.3 Sự hình thành các quy định của Việt Nam về nhượng quyền thươngmại và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong NQTM
Chương II Những quy định của pháp luật Việt Nam chuyển giao quyền
sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại
2.1 Những quy đinh cơ bản về nhượng quyền thương mại theo luậtthương mại
2.2 Những quy định về chuyển giao nhãn hiệu, tên thương mại, bí mậtkinh doanh
2.3 Những vướng mắc trong luật điều chỉnh về nhượng quyền thươngmại
Trang 7Chương III Thực trạng pháp luật nhượng quyền thương mại ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
3.1 Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hoạt động nhượng quyền
Kết luận
Trang 8Danh mục các từ viết tắt
Trang 9Chương I Khái quát chung về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại
1.1 Khái quát chung về nhượng quyền thương mại
1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại.
Nhượng quyền thương mại – franchise có nguồn gốc từ tiếng Pháp là
“franc” có nghĩa là tự do Trong từ điển Wedmas năm 1993, đã định nghĩa “
Franchise is: 1 a privilege or right granted a person or a group by government, state or sovereign 2 Authorization granted by a manufacture to a distributor or dealer to sell his products.[18] - Franchise là một đặc quyền được nhà sản xuất trao cho một người hoặc một nhóm người để phan phối hoặc bán sản phẩm của chủ thương hiệu” Còn trong từ điển Anh – Việt của viện
ngôn ngữ học xuất bản năm 1993: “Franchise có nghĩa là nhượng quyền kinh
doanh hay cho phép ai đó chính thức được bán hàng hóa hay dịch vụ của một công ty ở một khu vực nhất định”.[14]
Hiện nay, nhượng quyền thương mại trở thành một phương thức kinhdoanh rất phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, do sự khác biệt về chính trị xã hộicũng như văn hóa, ở mỗi quốc gia có định nghĩa về khái niệm nhượng quyềnthương mại khác nhau
Theo Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế ( The InternationnalFranchise Association – IFA) - hiệp hội lớn nhất ở Mỹ cũng như trên thế giới về
nhượng quyền thương mại: “Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo
hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh (know-how), đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên
Trang 10giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”[27] Định nghĩa này
nhấn mạnh tới quyền sở hữu các đối tượng nhượng quyền của bên nhượngquyền, còn với bên nhận quyền nhấn mạnh sự đầu tư vốn của chính hộ vào côngviệc kinh doanh
Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC) không định nghĩa trực tiếpNQTM là gì, chỉ đưa ra cách hiểu nhượng quyền thương mại thông qua định
nghĩa hợp đồng NQTM: “Hợp đồng NQTM là hợp đồng theo đó Bên giao hỗ
trợ đáng kể cho Bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận Li-xăng nhãn hiệu cho Bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của Bên giao và yêu cầu Bên nhận thanh toán cho Bên giao một khoản phí tối thiểu” [ 27].
Còn theo định nghĩa của Liên minh châu Âu – EU: Nhượng quyền thương
mại có nghĩa là việc chuyển nhượng quyền kinh doanh được hiểu là một “tập hợp những quyền SHCN và SHTT liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, TTM, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người
sử dụng cuối cùng”[27] Có thể thấy EU định nghĩa nhượng quyền thương mại
theo hướng nhấn mạnh các quyền sở hữu trí tuệ thuộc sở hữu của bên nhượngquyền
Luật Mêhicô đề cập tới lợi ích của việc nhượng quyền kinh doanh về mặthỗ trợ kỹ thuật (technical assistance) và nhấn mạnh tới việc chuyển giao "kiếnthức kỹ thuật" (technical knowledge) để bán sản phẩm, hoặc dịch vụ đồng bộ vàcó chất lượng Luật SHCN của Mêhicô có hiệu lực từ 6/1991 quy định:
“Nhượng quyền thương mại tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một
Trang 11thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative methods), các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu (brand owner) thiết lập, với chất lượng (quality), danh tiếng (prestige), hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó” Định nghĩa này có thể cho thấy
Mêhicô đang là nước có nhu cầu lớn về nhập khẩu công nghệ và bí quyết kinhdoanh từ nước ngoài
Định nghĩa này phản ánh một phần quan điểm của Mêhicô là một nướcđang phát triển có nhu cầu rất lớn trong việc nhập khẩu công nghệ và bí quyếtkinh doanh từ nước ngoài
Ở Nga, thỏa thuận nhượng quyền kinh doanh được định nghĩa là "SựNQTM" (commercial concession) Chương 54, Bộ luật dân sự Nga định nghĩa
bản chất pháp lý của "sự NQTM" như sau: "Theo Hợp đồng NQTM, một bên
(bên có quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, quyền đối với BMKD, và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hoá , nhãn hiệu dịch vụ "[27].
Tương tự như định nghĩa của EU, định nghĩa của Nga nhấn mạnh tới việcBên giao chuyển giao một số quyền SHTT độc quyền cho Bên nhận để đổi lấynhững khoản phí nhất định, mà không đề cập tới việc kiểm soát hay hỗ trợ kinhdoanh của bên nhượng quyền cũng như nghĩa vụ của bên nhận quyền Địnhnghĩa này có phần giống với định nghĩa về chuyển giao công nghệ của ViệtNam
Trang 12Pháp luật Việt Nam định nghĩa “ Nhượng quyền thương mại là hoạt động
thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
1 Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách
thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, TTM, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
2 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.”[1]
Như vậy có thể hiểu nhượng quyền thương mại là bán quyền thương mạicủa nhượng quyền với điều kiện có thu phí và được quyền kiểm soát hoạt độngkinh doanh của bên nhận quyền Bên nhận quyền tự mình kinh doanh – khai tháccác “quyền thương mại” của bên nhượng quyền, thông thường là bán hàng hóa,dịch vụ gắn với một nhãn hiệu đã nổi tiếng, được đông đảo người tiêu dùngchấp nhận Bên nhận quyền tự mình kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ theophương thức do bên nhượng quyền quy định, không được phép thay đổi phươngthức kinh doanh theo ý tưởng sáng tạo của riêng mình Bên nhận quyền kinhdoanh là một mắt xích trong hệ thống nhượng quyền kinh doanh Sự phát triểncủa hệ thống ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của người nhận quyền
1.1.2 Sự hình thành và phát triển của nhượng quyền thương mại
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, hình thức sơ khai của lối kinh doanhnhượng quyền đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ 17-18 tại Châu Âu Tuy nhiên,hoạt động nhượng quyền kinh doanh (hay NQTM) được chính thức thừa nhậnkhởi nguồn, phát triển là tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19, khi mà Nhà máy Singer
Trang 13(sản xuất máy khâu) ký kết hợp đồng nhượng quyền kinh doanh đầu tiên cho đốitác của minh [29]
Franchise thực sự phát triển mạnh, bùng phát kể từ sau năm 1945 (khiThế Chiến II kết thúc), với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn
và các hệ thống kinh doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất về cơ
sở hạ tầng, thương hiệu, sự phục vụ là đặc trưng cơ bản để nhận dạng những hệthống kinh doanh theo phương thức này Từ những năm 60, franchise trở thànhphương thức kinh doanh thịnh hành, thành công không chỉ tại Hoa Kỳ mà còn ởnhững nước phát triển khác như Anh, Pháp Sự lớn mạnh của những tập đoànxuyên quốc gia của Hoa Kỳ và một số nước Châu Âu trong lĩnh vực kinh doanhthức ăn nhanh, khách sạn-nhà hàng đã góp phần “truyền bá” và phát triểnfranchise trên khắp thế giới
Ngày nay, franchise đã có mặt tại hơn 150 nước trên thế giới, riêng tạiChâu Âu có khoảng 200 ngàn cửa hàng kinh doanh theo phương thức nhượngquyền Riêng ở Anh, nhượng quyền thương mại là một trong những hoạt độngtăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế với khoảng 32.000 DN nhượng quyền,doanh thu mỗi năm 8,9 tỷ bảng Anh, thu hút một lượng lao động khỏang317.000 lao động và chiếm trên 29% thị phần bán lẻ [29]
Tại Úc, tổng cửa hàng nhượng quyền thương mại khoảng 54.000, đónggóp 12% vào GDP và tạo hàng trăm ngàn việc làm cho người lao động
Tại Thái Lan, số hợp đồng nhượng quyền đang tăng rất nhanh, trong đócó tới 67% thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, với số vốn ban đầu cho mỗihợp đồng 20.000-65.000 USD Năm 2004, nhượng quyền thương mại ở TháiLan đạt doanh số 25 triệu Baht, năm 2005 tăng 10% và tăng rất nhanh cho cácnăm tiếp theo Tại Nhật Bản, nhượng quyền thương mại phát triển mạnh từ năm
1996, đến năm 2004 đã có 1.074 hệ thống nhượng quyền thương mại và 220.710
Trang 14cửa hàng kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại, doanh thu từ hệthống này vào khoảng 150 tỉ USD, tăng trưởng hàng năm 7%.
Một số kết quả thực sự ấn tượng của hệ thống này mang lại trên thế giới :Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhượng quyền trên toàn thế giới năm 2000đạt 1.000 tỷ USD với khoảng 320.000 doanh nghiệp từ 75 ngành khác nhau.Nếu so sánh với GDP của Việt Nam cùng năm thì hệ thống này gấp trên 28 lần
và còn có dấu hiệu vượt hơn nữa trong những năm gần đây Tại Mỹ, hoạt độngnhượng quyền chiếm trên 40% tổng mức bán lẻ, thu hút được trên 8 triệu ngườilao động tức là 1/7 tổng lao động ở Mỹ và có hơn 550.000 cửa hàng nhượngquyền và cứ 8 phút lại có một cửa hàng nhượng quyền mới ra đời [28]
Nhận thấy lợi ích, hiệu quả của phương thức kinh doanh này, nhiều quốcgia đã có các chính sách khuyến khích phát triển franchise Hoa Kỳ là quốc giađầu tiên luật hoá franchise và có các chính sách ưu đãi cho những cá nhân,doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức franchise Chính phủ các nước pháttriển khác như Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ý cũng noi gương Hoa Kỳ, ban hànhcác chính sách thúc đẩy, phát triển hoạt động franchise, khuyến khích và hỗ trợcho doanh nghiệp trong việc bán franchise ra nước ngoài Nhiều trung tâm họcthuật, nghiên cứu chính sách về franchise của các chính phủ, tư nhân lần lượt rađời, các đại học cũng có riêng chuyên ngành về franchise để đào tạo, đáp ứngnhu cầu mới của nền kinh tế
Riêng tại Đông Nam Á, kể từ thập niên 90, các quốc gia đã nhận thấy tácđộng của franchise đến việc phát triển nền kinh tế quốc dân là quan trọng và là
xu thế tất yếu của toàn cầu hóa, vì vậy nhiều chính sách, giải pháp phát triểnkinh tế liên quan đến franchise đã được nghiên cứu, ứng dụng và khuyến khíchphát triển Năm 1992, Chính phủ Malaysia đã bắt đầu triển khai chính sách pháttriển hoạt động kinh doanh nhượng quyền (Franchise development program) với
Trang 15mục tiêu gia tăng số lượng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh theo phươngthức nhượng quyền, thúc đẩy và phát triển việc bán franchise ra bên ngoài quốcgia Singapore, quốc gia láng giềng của Malaysia, cũng có các chính sách tươngtự nhằm thúc đẩy, phát triển hoạt động nhượng quyền trong lĩnh vực cung cấpdịch vụ như đào tạo, y tế, du lịch, khách sạn-nhà hàng Gần đây nhất, kể từ thờiđiểm năm 2000, Chính phủ Thái Lan cũng đã có các chính sách khuyến khích,quảng bá, hỗ trợ việc nhượng quyền của các doanh nghiệp Thái Lan tại thịtrường nội địa và quốc tế
Trung Quốc đang trở thành thị trường tiềm năng của các thương hiệunước ngoài như: Mc Donald's, KFC, Hard Rock Cafe, Chilli's đồng thời đây là
cứ địa đầu tiên để các tập đoàn này bán franchise ra khắp Châu Á Thông quađó, hoạt động franchise của Trung Quốc trở nên ngày càng phát triển, Chính phủTrung Quốc đã thay đổi thái độ từ e dè chuyển sang khuyến khích, nhiều thươnghiệu đang được “đánh bóng” trên thị trường quốc tế thông qua các cuộc muabán, sáp nhập nhằm chuẩn bị cho kế hoạch đẩy mạnh hoạt động nhượng quyền
ra bên ngoài, được xem là một trong những động thái quan trọng để phát triểnnền kinh tế vốn đang rất nóng của Trung Quốc
Ngày nay, nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển, hỗtrợ và quảng bá hoạt động franchise đã được thành lập Điển hình là Hội đồngNhượng quyền thương mại Thế giới (World Franchise Council), ra đời vào năm
1994, có thành viên là các hiệp hội franchise của nhiều quốc gia Ngoài ra, một
tổ chức uy tín và lâu đời nhất là Hiệp hội NQTM Quốc tế (InternationalFranchise Association) được thành lập năm 1960, có khoảng 30.000 thành viênbao gồm các doanh nghiệp bán, mua franchise Thông qua các tổ chức này,nhiều hoạt động có ích cho doanh nghiệp, cho các nền kinh tế quốc gia đã đượcthực hiện như:
Trang 16- Tổ chức các hội chợ franchise quốc tế
- Xây dựng niên giám franchise khu vực, và trên toàn thế giới
- Hợp tác xuất bản các ấn phẩm chuyên ngành, các website để cung cấpthông tin cho mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đến franchise
- Tư vấn, hỗ trợ, hợp tác và phát triển phương thức kinh doanh franchise
1.1.3 Phân loại các hình thức nhượng quyền thương mại
Dựa trên những tiêu chí khác nhau, có nhiều cách thức phân loại các hìnhthức nhượng quyền thương mại Dưới đấy xin trình bày một số cách thức phânloại nhượng quyền thương mại dựa trên mức độ hợp tác giữa bên nhượng quyền
và bên nhận quyền, hình thức kinh doanh nhượng quyền thương mại và ngànhnghề kinh doanh hoạt động nhượng quyền thương mại
1.1.3.1 Theo mức độ hợp tác
Có 4 loại hình nhượng quyền thương (franchise) cơ bản, phản ánh mức
độ hợp tác và cam kết khác nhau giữa bên nhượng quyền (franchisor) và bênnhận quyền (franchisee):
1 Nhượng quyền mô hình kinh doanh toàn diện (full business format franchise)
Mô hình franchise này được cấu trúc chặt chẽ & hoàn chỉnh nhất trongcác mô hình nhượng quyền, thể hiện mức độ hợp tác và cam kết cao nhất giữacác bên, có thời hạn hợp đồng từ trung hạn (5 năm) đến dài hạn (20 hay 30năm) như các chuỗi thức ăn nhanh quốc tế như KFC, Subway, McDonald’s,Starbucks, hoặc Phở 24 của Việt Nam Bên nhượng quyền chia xẻ và chuyểnnhượng ít nhất 4 loại “sản phẩm” cơ bản, bao gồm:
Trang 17 hệ thống (chiến lược, mô hình, quy trình vận hàng đượcchuẩn hóa, chính sách quản lý, cẩm nang điều hành, huấn lyện, tư vấn &hỗ trợ khai trương, kiểm soát, hỗ trợ tiếp thị, quảng cáo);
bí quyết công nghệ sản xuất/kinh doanh;
hệ thống thương hiệu;
sản phẩm/dịch vụ
Bên nhận quyền có trách nhiệm thanh toán cho bên nhượng quyền 2khoản phí cơ bản là phí nhượng quyền ban đầu (up-front fee) và phí hoạt động(royalty fee), thường được tính theo doanh số bán định kỳ
Ngoài ta bên nhượng quyền có thể trả thêm các khoản chi phí khác như chi phí thiết kế & trang trí cửa hàng, mua trang thiết bị, chi phí tiếp thị, quảngcáo, các khoản chênh lệch do mua nguyên vật liệu, chi phí tư vấn …
2 Nhượng quyền mô hình kinh doanh không toàn diện (non-business format franchise):
Việc chuyển nhượng một số yếu tố nhất định của mô hình nhượng quyềnhoàn chỉnh theo nguyên tắc quản lý “lỏng lẻo” hơn, bao gồm các trường hợpsau:
- Nhượng quyền phân phối sản phẩm/dịch vụ (product distributionfranchise) như sơ mi cao cấp Pierre Cardin cho An Phước, Foci, chuỗi
cà phê Trung Nguyên;
- Nhượng quyền công thức sản xuất sản phẩm & tiếp thị (marketingfranchise) như Coca Cola;
Trang 18- Cấp phép sử dụng thương hiệu (brand franchise/trademark license)như Crysler, Pepsi nhượng quyền sử dụng các thương hiệu Jeep và Pepsi chosản phẩm thời trang may mặc ở Châu Á; nhượng quyền thương hiệu Hallmark(sản phẩm chính là thiệp) để sản xuất các sản phẩm gia dụng như ra giường,nệm gối; nhượng quyền sử dụng các biểu tượng & hình ảnh của Disney trên cácsản phẩm đồ chơi, thực phẩm, đồ da dụng…
- Nhượng quyền “lỏng lẻo” theo kiểu các nhóm dùng chung tên hiệu(banner grouping hoặc voluntary chains), thường hay gặp ở các công cung cấpdịch vụ chuyên nghiệp (professional service) loại tư vấn kinh doanh/tư vấn pháp
lý như KPMG, Ernst & Young, Grant Thornton…
Nhìn chung đối với mô hình nhượng quyền không toàn diện này, bênnhượng quyền là chủ thể sở hữu thương hiệu/sản phẩm/dịch vụ thường khôngnỗ lực kiểm soát chặt chẽ hoạt động của bên nhận quyền và thu nhập của bênnhượng quyền chủ yếu từ việc bán sản phẩm hay dịch vụ Bên nhượng quyềnthường có ý định mở rộng nhanh chóng hệ thống phân phối nhằm gia tăng độbao phủ thị trường, doanh thu & đi trước đối thủ như trường hợp cà phê TrungNguyên hoặc G7 Mart
Đặc biệt, nhượng quyền thương hiệu (brand licensing) trở thành ngànhkinh doanh hấp dẫn và mang lại nhiều lợi nhuận to lớn cho bên nhượng quyềnvới tư cách là chủ thể sở hữu thương hiệu mạnh (như Pepsi) và bên nhận quyềnkhi tiếp nhận & kinh doanh sản phẩm gắn liền với thương hiệu đó (trường hợpthời trang Pepsi không có liên hệ gì với sản phẩm “lõi” nước giải khát Pepsimang cùng thương hiệu) nhờ sử dụng lợi thế giá trị tài sản thương hiệu (brandequity) đã được phát triển qua nhiều năm
3 Nhượng quyền có tham gia quản lý (management franchise):
Trang 19Hình thức nhượng quyền phổ biến hay gặp ở các chuỗi khách sạn lớnnhư Holiday Inc, Marriott, trong đó bên nhượng quyền hỗ trợ cung cấp ngườiquản lý & điều hành doanh nghiệp ngoài việc chuyển nhượng quyền sử dụngthương hiệu và mô hình/công thức kinh doanh.
4 Nhượng quyền có tham gia đầu tư vốn (equity franchise):
Người nhượng quyến tham gia vốn đầu tư với tỷ lệ nhỏ dưới dạng liêndoanh, như trường hợp của Five Star Chicken (Mỹ) ở Việt Nam để trực tiếptham gia kiểm soát hệ thống Bên nhượng quyền có thể tham gia Hội đồng quảntrị công ty mặc dù vốn tham gia đóng góp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ Tùy theo nănglực quản lý, sức mạnh thương hiệu, đặc trưng ngành hàng, cạnh tranh thị trường,bên nhượng quyền sẽ cân nhắc thêm 3 yếu tố ưu tiên quan trọng sau khi lựachọn mô hình franchise phù hợp cho doanh nghiệp mình
Đó là các yếu tố hiệu quả & mức độ kiểm soát hệ thống, chi phí phát triển
hệ thống & mức độ bao phủ thị trường xét về độ lớn & tốc độ Những yếu tốnày cũng ảnh hưởng đến chiến lược franchise và cách lựa chọn các cấu trúcfranchise phù hợp khi ký kết hợp đồng franchise như loại hình franchisemột/nhiều đơn vị franchise (single/multiple-unit franchise), đại diện franchisetoàn quyền (master franchise), franchise phụ trách phát triển khu vực (areadevelopment) hay đại diện franchise (representative franchise), đặc biệt khicông ty mở rộng thị trường mới hay định hướng xuất khẩu
1.1.3.2 Theo hình thức hoạt động
1 Nhượng quyền đơn nhất hay nhượng quyền trực tiếp (Unit franchising)
Hình thức nhượng quyền này được áp dụng khi bên nhượng quyền và bênnhận quyền cùng hoạt động trong phạm vi một quốc gia nhằm đảm bảo quyền
Trang 20kiểm soát của bên nhượng quyền đối với việc tiến hành các hoạt động sản xuấtkinh doanh của bên nhận quyền Hình thức này thường không được ưu tiên lựachọn áp dụng nếu như bên nhượng quyền và bên nhận quyền là những chủ thểkinh doanh ở tại những quốc gia khác nhau, có ngôn ngữ, văn hoá, hệ thốngpháp luật, chính sách thương mại khác nhau Trong những trường hợp như vậy,các bên có thể lựa chọn hình thức nhượng quyền khởi phát được trình bày ởphần sau
2 Nhượng quyền thương mại độc quyền (Master franchise)
Nhượng quyền khởi phát có một vai trò tương đối quan trọng trongnhững quan hệ NQTM mang tính quốc tế, tức là khi bên nhượng quyền và bênnhận quyền ở các quốc gia khác nhau Có lẽ đây là hình thức NQTM mà bênnhận quyền sẽ có phạm vi quyền rộng rãi nhất Về mặt hình thức thực hiện thìtrong quan hệ nhượng quyền khởi phát, bên nhượng quyền trao cho bên nhậnquyền quyền tiến hành kinh doanh theo hệ thống các phương thức, bí quyết kinhdoanh của bên nhượng quyền và đồng thời cũng cho phép bên nhận quyền đượcquyết định việc tiếp tục nhượng quyền đó cho các bên thứ ba khác Điều này sẽgóp phần khai thác một cách triệt để tiềm năng kinh tế của các thị trường mới.Tuy vậy, đi đôi với nó cũng sẽ là những rủi ro rất lớn cho toàn bộ hệ thống kinhdoanh
3 Nhượng quyền thương mại mở rộng (Franchise developer Agreement)
Hình thức nhượng quyền này cũng tạo ra mối liên hệ trực tiếp giữa bênnhượng quyền và bên nhận quyền Theo đó, bên nhận quyền có trách nhiệmphát triển, mở rộng hệ thống "đơn vị" kinh doanh mà bên nhận quyền là chủ sởhữu theo mô hình nhượng quyền Thông thường, trong hình thức nhượng quyền
mở rộng, bên nhượng quyền bao giờ cũng đặt ra một lịch biểu hay giới hạn thời
Trang 21gian cụ thể để bên nhượng quyền thực hiện việc mở rộng hệ thống các đơn vịkinh doanh Mỗi một đơn vị kinh doanh do bên nhận quyền thiết lập nên sẽ làmột đơn vị hạch toán phụ thuộc và không có tư cách pháp nhân độc lập với bênnhận quyền Theo hình thức này, bên nhận quyền cũng không có quyền nhượngquyền cho một bên thứ ba khác.
1.1.3.3 Phân loại theo ngành nghề hoạt động kinh doanh
Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh thì nhượng quyền thương mạicó thể chia ra các loại sau:
1 Nhượng quyền sản xuất (Processing franchise)
Là loại hình nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sản xuất vàcung cấp ra thị trường các hàng hóa mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền.Trong nhượng quyền sản xuất, bên nhượng quyền còn cung cấp cho bên nhậnquyền những thông tin liên quan tới bí mật thương mại hoặc những công nghệhiện đại, thậm chí là cả những công nghệ đã được cấp bằng sáng chế Ngoài ra,bên nhượng quyền còn có thể hỗ trợ bên nhận quyền ở một số khía cạnh như: hỗtrợ đào tạo, tiếp thị, phân phối và các dịch vụ hậu mãi
2 Nhượng quyền dịch vụ (Service franchise)
Nhượng quyền dịch vụ là nhượng quyền trong các lĩnh vực hoạt động cótính chất dịch vụ như: sửa chữa, bảo dưỡng ô tô, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng… Bên nhượng quyền đã xây dựng và phát triểnthành công một (hoặc một số) mô hình dịch vụ nhất định mang thương hiệuriêng, Bên nhận quyền sẽ được cung ứng các dịch vụ ra thị trường theo mô hìnhhình và với thương hiệu của bên nhượng quyền
3 Nhượng quyền phân phối (Distribution franchise)
Trang 22Trong nhượng quyền phân phối, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền vàbên nhận quyền có những điểm gần giống như mối quan hệ giữa nhà sản xuất vànhà phân phối, tức là bên nhượng quyền sản xuất ra các sản phẩm sau đó bán lạisản phẩm cho bên nhận quyền và bên nhận quyền sẽ phân phối trực tiếp sảnphẩm tới người tiêu dùng dưới thương hiệu của bên nhượng quyền Chúng ta cóthể dễ dàng nhận thấy nhượng quyền phân phối thường gặp trong các lĩnh vựcnhư phân phối mỹ phẩm (Hệ thống cửa hàng phân phối mỹ phẩm VICHY,O’REAL…) hay phân phối nhiên liệu cho các loại xe máy, xe ô tô (cửa hàngphân phối dầu nhờn CASTROL, CALTEX, EXXON) Trong thực tiễn của hoạtđộng NQTM, các doanh nghiệp có thể có sự lựa chọn một hình thức kết hợp củacác hình thức nhượng quyền đã nêu trên, phù hợp với khả năng của mình vàhoàn cảnh kinh tế cũng như yêu cầu vềmặt pháp lý của mỗi quốc gia
1.1.4 Đặc điểm của nhượng quyền thương mại
Mặc dù mỗi nước có một định nghĩa, mỗi người có một quan điểm vềNQTM, nhưng chúng tôi muốn dựa trên nền tảng định nghĩa của pháp luật thựcđịnh Việt Nam, đồng thời có tham khảo đến các định nghĩa của các nước, quanđiểm của các nhà khoa học trên thế giới, từ đó chỉ ra những đặc điểm cơ bản củaNQTM Theo chúng tôi, NQTM bao hàm những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, Đối tượng của NQTM là quyền thương mại
Quyền thương mại được hiểu là quyền tiến hành kinh doanh hàng hoá,dịch vụ theo cách thức của bên nhượng quyền quy định, cùng với đó là việc
được sử dụng nhãn hiệu, TTM, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu
tượng kinh doanh, quảng cáo…của bên nhượng quyền Chính các quyền sở hữu
trí tuệ ấy là dấu hợp để tập hợp khách hàng, là dấu hiệu để khách hàng phânphiệt một cơ sở kinh doanh hoặc một doanh nghiệp với một cơ sở kinh doanhhoặc doanh nghiệp khác là đối thủ Trong quan hệ NQTM, nội dung cốt lõi
Trang 23chính là việc bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sử dụng quyềnthương mại của mình trong kinh doanh Có thể thấy các quyền sở hữu trí tuệ làmột trong yếu tố cấu thành nên một hệ thống nhượng quyền thương mại
Thứ hai, Giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền luôn tồn tại một mối quan hệ hỗ trợ mật thiết
Đây là một đặc điểm giúp chúng ta tìm thấy sự khác biệt của NQTM vớicác hoạt động thương mại khác Trong NQTM luôn tồn tại mối quan hệ hỗ trợmật thiết giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền, nếu không có điều đó, thìđã thiếu đi một điều kiện tiên quyết để xác định hoạt động đấy có phải là NQTMhay không
Mục đích và cũng là yêu cầu của NQTM là việc nhân rộng một mô hìnhkinh doanh đã được trải nghiệm thành công trên thương trường Chính vì vậy,đối với NQTM thì cần phải bảo đảm được tính đồng nhất về các yếu tố liênquan trực tiếp đến quy trình kinh doanh đó như: chất lượng hàng hoá, dịch vụ;phương thức phục vụ; cách thức bài trí cơ sở kinh doanh (từ hình ảnh bên ngoàicho đến khu vực bên trong của cơ sở); việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, biểutượng kinh doanh, TTM của Bên nhượng quyền; hoạt động quảng bá, khuyếnmại; đồng phục của nhân viên; các ấn phẩm của cơ sở kinh doanh…Tính đồngnhất trong các mắt xích của một hệ thống NQTM chỉ có thể được bảo đảm khigiữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền luôn duy trì mối quan hệ mật thiếtvới nhau trong suốt thời gian tồn tại quan hệ NQTM
Tính mật thiết của mối quan hệ giữa Bên nhượng quyền và Bên nhậnquyền thể hiện từ ngay sau khi các bên hình thành nên quan hệ NQTM Kể từthời điểm đó, Bên nhượng quyền phải tiến hành việc cung cấp tài liệu, đào tạonhân viên của Bên nhận quyền Không chỉ vậy, mà cùng với sự lớn mạnh vàphát triển theo thời gian của hệ thống, Bên nhượng quyền phải thường xuyên trợ
Trang 24giúp kỹ thuật, đào tạo nhân viên của Bên nhận quyền đối với những ứng dụngmới áp dụng chung cho cả hệ thống
Việc cung cấp một cách thức kinh doanh, đào tạo nhân viên vừa là nghĩa
vụ vừa là quyền của bên nhượng quyền Ngược lại, được cung cấp một cáchthức kinh doanh và buộc phải thực hiện theo cách thức kinh doanh ấy là quyền
và nghĩa vụ của bên nhận quyền Chính điều này tạo nên mối quan hệ gắn bómật thiết giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền
Thứ ba, Luôn có sự kiểm soát của Bên nhượng quyền đối với việc điều hành công việc của Bên nhận quyền
Quyền kiểm soát của Bên nhượng quyền đối với việc điều hành hoạt độngkinh doanh của Bên nhận quyền được pháp luật đa số các quốc gia trên thế giớithừa nhận Theo đó, Bên nhượng quyền có thể định kỳ hoặc đột xuất kiểm traviệc thực hiện các quyền thương mại của Bên nhận quyền Sự hỗ trợ của Bênnhượng quyền đối với Bên nhận quyền như đã nói ở trên sẽ trở nên vô nghĩa vàthiếu đi tính thực tế nếu như Bên nhượng quyền không có quyền năng kiểm soáthoạt động điều hành kinh doanh của Bên nhận quyền Quyền năng này của Bênnhượng quyền đã thực sự tạo nên chất kết dính quan trọng trong việc xây dựngtính thống nhất của hệ thống NQTM và sự ổn định về chất lượng hàng hoá vàdịch vụ
1.1.5 Phân biệt nhượng quyền thương mại với một số hoạt động thương mại khác
1.1.5.1 Đại lý thương mại
Theo luật thương mại 2005, đại lý thương mại được định nghĩa là “hoạt
động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại
Trang 25lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao”.
Sự khác biệt đầu tiên giữa hình thức kinh doanh đại lý và hình thức nhượng quyền thương mại là quyền sở hữu hàng hóa và dịch vụ kinh doanh
Trong quan hệ đại lý thương mại, quyền sở hữu đối với hàng hóa hoặctiền bán hàng thuộc về bên giao đại lý, còn trong nhượng quyền thương mạiquyền sở hữu hàng hóa dịch vụ thuộc bên nhận quyền
Thứ hai là về thù lao, lợi luận kinh doanh
Trong hoạt động nhượng quyền thương bên nhận quyền có quyền tự mìnhkinh doanh theo quyền thương mại đã được cho phép và tự chịu trách nhiệm vềhoạt động kinh doanh của mình Bên nhận quyền sẽ thu được nhiều lợi nhuậnnếu bán được nhiều hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ Còn trong hoạt động đại
lý thương mại.thù lao đối với bên đại lý được tính theo phương thức hoa hồnghoặc phương thức chênh lệch giá như sau: Trường hợp bên giao đại lý ấn địnhgiá mua, giá bán hàng hóa hoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng thì bên đại
lý được hưởng hoa hồng tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá mua, giá bán hànghóa hoặc giá cung ứng dịch vụ.Còn trường hợp bên giao đại lý không ấn địnhgiá mua, giá bán hàng hoá hoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng mà chỉ ấnđịnh giá giao đại lý cho bên đại lý thì bên đại lý được hưởng chênh lệch giá.Mức chênh lệch giá được xác định là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán, giácung ứng dịch vụ cho khách hàng so với giá do bên giao đại lý ấn định cho bênđại lý
Thứ ba, về trách nhiệm đối với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
Trong quan hệ đại lý hợp đồng được ký kết giữa đại lý và bên thứ ba,nhưng quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng này lại ràng buộc bên giao đại
Trang 26lý Đối với NQTM, thì tính chất mối quan hệ giữa các chủ thể hoàn toàn khác,Bên nhận quyền cũng là người trực tiếp xác lập quan hệ thương mại với kháchàng, chịu trách nhiệm về các vấn đề phát sinh từ sản phẩm, dịch vụ do mìnhcung cấp.
1.1.5.2 Chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
Theo chương X Luật SHTT, chuyển giao quyền SHCN bao gồm hai loại:chuyển nhượng quyền SHCN và chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN
Chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN (li- xăng) là việc tổ chức, cá nhân nắm độc quyền sử dụng một đối tượng SHCN (Bên chuyển quyền sử dụng
- thường được gọi là bên giao) cho phép tổ chức cá nhân tổ chức khác (Bên nhận quyền sử dụng - thường được gọi là Bên nhận) sử dụng đối tượng SHCN đó.
Giữa nhượng quyền thương mại và li-xăng có một số đặc điểm phân biệtnhư sau:
Thứ nhất, về đối tượng chuyển giao:
Nếu hoạt động li-xăng chỉ dừng lại ở việc chuyển giao quyền sử dụng cácđối tượng SHCN, thì trong NQTM, quyền sử dụng các đối tượng SHCN chỉ làmột phần của hoạt động chuyển giao, vì bên cạnh đó, bên nhượng quyền cònchuyển giao cách thức, bí quyết tiến hành kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh,thiết kế, trang trí địa điểm kinh doanh…nói một cách tổng quát là chuyển giao
cả phần nội dung và hình thức của quy trình kinh doanh Rõ ràng, đối tượng củaNQTM rộng và bao quát hơn so với hoạt động li-xăng
Thứ hai, về mục đích của quá trình chuyển giao:
Trang 27Trong hoạt động li-xăng, mục đích mà bên nhận li-xăng hướng tới là nhãnhiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích nhằm xácđịnh hình thức, nội dung sản phẩm, còn trong NQTM, mục tiêu mà bên nhượngquyền và bên nhận quyền hướng tới là phát triển một hệ thống kinh doanh, trongđó nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng khác của quyền SHCN chỉ là một bộphận.
Thứ ba, sự hỗ trợ/ kiểm soát giữa các bên trong quá trình chuyển giao:
Với hoạt động li-xăng chỉ là sự hỗ trợ ban đầu khi bên chuyển giaochuyển nhượng các đối tượng SHCN cho bên nhận chuyển giao, còn trongNQTM, sự hỗ trợ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền là toàn diện vàliên tục Sự hỗ trợ này được quy định trong nội dung hợp đồng NQTM
Bên cạnh đó, bên chuyển giao trong hoạt động li-xăng chỉ có quyền kiểmsoát trong phạm vi hẹp đối với bên nhận chuyển giao (do đối tượng của hợpđồng li-xăng hẹp hơn đối tượng của hợp đồng NQTM) Trong NQTM, bênnhượng quyền có quyền kiểm tra sâu sát, toàn diện đối với hoạt động của bênnhận quyền (bằng hình thức kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất) Và, việc đối xửbình đẳng với các thương nhân nhận quyền trong hệ thống nhượng quyền đãđược luật định (đối xử bình đẳng về mức đầu tư ban đầu, mức phí nhượngquyền, phí định kỳ…,nghĩa vụ hỗ trợ các hoạt động quản lý, huấn luyện nhânviên, thiết kế, trang trí các địa điểm kinh doanh….), vấn đề này trong hoạt độngli-xăng không bắt buộc thực hiện
Thứ tư, về các điều kiện hạn chế chuyển giao.
Trong hợp đồng li-xăng, việc chuyển giao các đối tượng của quyềnSHCN có một số hạn chế chuyển giao như không được chuyển giao quyền sửdụng chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, không dược chuyển quyền sử dụng nhãn
Trang 28hiệu cho tổ chức cá nhân Không được chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tậpthể cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tậpthể đó Bên được chuyển giao quyền sử dụng không được ký kết hợp đồng thứcấp với bên thứ ba, trừ trường hợp được bên chuyển quyền cho phép Bên đượcchuyển quyền có nghĩa vụ ghi trên hàng hoá, bao bì hàng hoá việc hàng hoá đóđược sản xuất theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu.
1.1.5.3 Chuyển giao công nghệ
Theo khoản 8 Điều 3 Luật chuyển giao công nghệ, Chuyển giao công
nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ.
Do một số điểm tương đồng nên có thể dễ nhầm lẫn giữa hai hình thức này, dướiđây xin trình bày những điểm khác biết giữa hình thức chuyển giao công nghệvới nhượng quyền thương mại
Thứ nhất, về tính chất:
Nhượng quyền thương mại là phương thức mở rộng quy mô sản xuất kinhdoanh bằng một thỏa thuận cho phép thương nhân khác được sử dụng nhãn hiệuhàng hóa, quy trình kinh doanh, công nghệ…của bên nhượng quyền, còn chuyểngiao công nghệ là hình thức chuyển giao quyền sử dụng/hoặc quyền sở hữucông nghệ để ứng dụng vào quy trình sản xuất, kinh doanh
Thứ hai, về phạm vi quyền lợi của Bên nhận quyền đối với đối tượng chuyển giao:
Trong hoạt động chuyển giao công nghệ, bên nhận chuyển giao có quyềnứng dụng công nghệ đó để sản xuất ra sản phẩm dưới bất kỳ nhãn hiệu, kiểudáng, TTM nào mà họ muốn Với NQTM, bên nhận quyền chỉ được sử dụng cáccông nghệ, quy trình kinh doanh để cung ứng các loại sản phẩm, dịch vụ có
Trang 29cùng chất lượng, mẫu mã và dưới nhãn hiệu hàng hóa do bên nhượng quyền quyđịnh Bên nhận quyền trở thành thành viên trong mạng lưới kinh doanh của bênnhượng quyền -điều mà trong hoạt động chuyển giao công nghệ không hìnhthành.
Thứ ba, về phạm vi đối tượng chuyển giao:
Đối tượng của chuyển giao công nghệ là “chuyển giao các kiến thức tổnghợp của công nghệ hoặc cung cấp các máy móc, thiết bị, dịch vụ, đào tạo…kèmtheo các kiến thức công nghệ cho bên mua” Đối tượng chuyển giao của NQTM
là “quyền thương mại”, bao gồm các quy trình, cách thức kinh doanh do bênnhượng quyền quy định, quy trình quản lý, huấn luyện nhân viên, thiết kế địađiểm kinh doanh…
Thứ tư, vấn đề kiểm soát/hỗ trợ:
Trong hoạt động chuyển giao công nghệ, về nguyên tắc, sau khi chuyểngiao công nghệ xong, bên chuyển giao sẽ không còn nghĩa vụ hỗ trợ/hoặc kiểmsoát thêm đối với bên nhận chuyển giao (trừ khi các bên thỏa thuận thêm nhữngđiều khoản phụ: thời hạn bảo hành, nhiệm vụ huấn luyện nhân viên sử dụngcông nghệ chuyển giao) Trong NQTM, bên nhượng quyền vừa có quyền kiểmsoát toàn diện&chi tiết, vừa có nghĩa vụ hỗ trợ đối với bên nhận quyền, nhằmđảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống nhượng quyền
1.2 Khái quát chung về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại
Như đã trình bày ở trên, các quyền sở hữu trí tuệ một một phần cấu thànhnên hệ thông nhượng quyền thương mại, như vậy trong hoạt động nhượngquyền thương mại có liên quan tới các quyền sở hữu trí tuệ Chuyển giao cácquyền sở hữu trí tuệ là một phần cần được chú trong trong hợp đồng nhượng
Trang 30quyền thương mại Có nhiều quyền sở hữu trí tuệ có liên quan trong hoạt độngnhượng quyền thương mại, trong khuôn khổ của bài viết này, xin được trình bày
về ba quyền sở hữu trí tuệ gắn bó với hoạt động nhượng quyền thương mại nhấtđó là: nhãn hiệu, tên thương mại và bí mật kinh doanh
1.2.1 Chuyển giao nhãn hiệu trong nhượng quyền thương mại
1.2.1.1 Khái niệm nhãn hiệu
Nhãn hiệu đã có từ rất xa xưa, trước cả khi con người có sự trao đổi hànghóa với nhau trên thị trường Người Ấn Độ đã chạm khắc chữ ký khảm trên đồkim hoàn mỹ nghệ, người Trung Quốc đã viết trên đồ gồm, sứ để xuất khẩu,người Nhật Bản đã đóng những con dấu trên giấy viết
Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: Nhãn hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký
hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ, kiểu thiết kế hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hoá và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.
InterBrand – Một công ty tư vấn nhãn hiệu hàng đầu, lại định nghĩa theo
cách sau: “Nhãn hiệu là tổng hợp các thuộc tính vô hình và hữu hình được biểu
trưng hoá trong một thương hiệu, mà thông qua đó, nếu được quản trị phù hợp,
sẽ tạo ảnh hưởng và tạo ra giá trị.”
Khái niệm nhãn hiệu hàng hoá được sử dụng lần đầu tiên trong một văn
bản pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền SHCN là Công ước Paris năm 1886.
Công ước Paris bảo hộ đối với các đối tượng SHCN riêng biệt là: nhãn hiệuhàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ; TTM; chỉ dẫn nguồn gốc, tên gọi xuất xứ hànghoá; kiểu dáng công nghiệp; sáng chế; mẫu hữu ích; chống cạnh tranh khônglành mạnh
Trang 31Điều 15 Hiệp định TRIPs quy định như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ
hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu.”
Khái niệm này chỉ ra một số đặc điểm của nhãn hiệu Thứ nhất, đó phải làmột dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu Các dấu hiệu đó có thể là các từ, kể cảtên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp các mầu sắc cũngnhư tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó Thứ hai, các dấu hiệu đó có thể là dấuhiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được đăng
ký là nhãn hiệu Thứ ba, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoáhoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của mộtdoanh nghiệp khác Có thể nói, đây là một khái niệm mang tính khái quát vàmềm dẻo trong pháp luật quốc tế Còn các quốc gia, tuỳ thuộc vào điều kiệnkinh tế – xã hội của mình mà đưa ra khái niệm nhãn hiệu phù hợp
Châu Âu bao gồm nhiều các quốc gia khác nhau nên có sự khác nhautrong luật về nhãn hiệu của các quốc gia thành viên Do sự khác nhau này và sựảnh hưởng của nó đến thị trường chung Châu Âu nên cần thiết phải có sự điềuchỉnh hài hoà ở cấp độ cộng đồng Chỉ thị 89/104/EEC3 của Cộng đồng Châu
Âu là chỉ thị đầu tiên quy định các vấn đề về nhãn hiệu ở cấp độ cộng đồng.Mục đích của Chỉ thị này là nhằm đảm bảo điều kiện đăng ký nhãn hiệu hài hoà
ở tất cả các thành viên trong Cộng đồng Châu Âu và để đảm bảo hiệu lực caohơn về sự hài hoà trong Cộng đồng, Quy định 40/944 đã được thiết lập Các vấn
đề về nhãn hiệu trong Quy định này được áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổChâu Âu Định nghĩa về nhãn hiệu được quy định giống nhau ở Điều 2 Chỉ thị
89/104 và Điều 4 Quy định 40/94 như sau: “Một nhãn hiệu cộng đồng có thể
Trang 32gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết (represented graphically), đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác hoạ hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm, với điều kiện là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác.”
Theo định nghĩa này, nhãn hiệu phải đáp ứng ba điều kiện Thứ nhất: “làdấu hiệu”; thứ hai: “được trình bày rõ ràng và chi tiết” (represented graphically)
và thứ ba: “có khả năng phân biệt hàng hoá và dịch vụ của chủ thể này với hànghóa, dịch vụ của chủ thể khác” Ở điều kiện thứ nhất, “bất kỳ dấu hiệu nào”được hiểu rất rộng Việc sử dụng từ “bất kỳ dấu hiệu” (any signs) làm cho địnhnghĩa nhãn hiệu “mềm dẻo và không giới hạn”5 Mặc dù định nghĩa trên đưa ramột loạt các dấu hiệu như các từ bao gồm tên riêng, chữ cái, chữ số hoặc hìnhdáng của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm nhưng chúng không phải là giớihạn Đây chỉ là những dấu hiệu thường được sử dụng để các chủ thể chỉ ra hànghoá, dịch vụ của mình Trên thực tế, có rất nhiều các dấu hiệu khác biệt khôngnằm trong các dấu hiệu được liệt kê và vẫn được đăng ký Mặc dù không đượcquy định cụ thể nhưng dấu hiệu có thể bao gồm cả khẩu hiệu, âm thanh, mùivị… Tuy nhiên, để được đăng ký là nhãn hiệu, dấu hiệu phải “được trình bày rõ
ràng và chi tiết” (represented graphically) Mục đích của điều kiện này là nhằm
chỉ ra nhãn hiệu là gì Hay nói cách khác, nhãn hiệu được nhận thức như thếnào Một nhãn hiệu có thể được nhận thức bởi một hay vài, thậm chí cả nămgiác quan Chẳng hạn như nhãn hiệu mùi cỏ tươi mới cắt cho bóng tennis, tiếngnhạc chuông của hãng điện thoại NOKIA6, nhãn hiệu âm thanh là tiếng bíp bípcho phương tiện truyền thanh ở Anh, nhãn hiệu là hình ảnh không gian ba chiềuchai của COCACOLA, …
Trang 33Luật nhãn hiệu Hoa Kỳ được điều chỉnh bằng đạo luật Lanham Khác với
và Châu Âu, Lanham Act định nghĩa riêng biệt hai loại nhãn hiệu: nhãn hiệuhàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ Theo đoạn 1127 Lanham Act, nhãn hiệu hàng
hoá được giải thích như sau: “Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa bao gồm bất kỳ từ,
tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà:
(1) được sử dụng bởi một người, hoặc
(2) được một người có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này để xác định và phân biệt hàng hoá của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng, với hàng hoá được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá thậm chí cả khi không xác định được nguồn gốc đó.”
Định nghĩa này kết hợp hai chức năng khác nhau của nhãn hiệu: thứ nhất,chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá, và thứ hai, phân biệt hàng hoá của chủ thể nàyvới hàng hoá của chủ thể khác Hoa Kỳ cũng quy định cho các dấu hiệu dễ dàngnhận ra như từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, khẩu hiệu… là nhãn hiệu theo truyềnthống thông thường Tuy nhiên, dần dần, Hoa Kỳ đã mở rộng bảo vệ các loạinhãn hiệu không dễ dàng được nhận ra, chẳng hạn như hình dạng sản phẩm,mầu sắc, âm thanh, mùi thơm… Mục 1052 đạo luật Lanham quy định một nhãnhiệu sẽ được đăng ký vào Hệ thống đăng ký gốc nếu nó có khả năng phân biệthàng hoá của chủ thể này với hàng hoá của chủ thể khác trừ khi nó bị ngăn cấmbởi các quy định của pháp luật: “Không có nhãn hiệu nào mà hàng hoá củangười nộp đơn có khả năng phân biệt hàng hoá của những người khác lại bị từchối đăng ký vào hệ thống đăng bạ gốc, trừ…” Như vậy, theo tinh thần của điềuluật, bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt không rơi vào các trường hợp bị
từ chối đều có thể được đăng ký là nhãn hiệu
Trang 34Như vậy, theo các văn bản pháp luật quốc tế cơ bản về bảo hộ quyềnSHTT cũng như pháp luật của cộng đồng Châu Âu và pháp luật Mỹ, “nhãn hiệuhàng hoá” là một đối tượng SHCN được bảo hộ và thuật ngữ “nhãn hiệu hànghoá” được dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất,kinh doanh khác nhau
Còn ở Việt Nam, Nhãn hiệu được định nghĩa “là dấu hiệu dùng để phân
biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” Và nhãn hiệu được
bảo hộ được quy định tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ như sau: “Nhãn hiệu được
bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
2- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.”
Như vậy, một nhãn hiệu có thể được bảo hộ nếu đáp ứng được hai điềukiện Thứ nhất, dấu hiệu phải “nhìn thấy được” Quy định này hẹp hơn quy địnhcủa TRIPs “bất kỳ dấu hiệu nào” Điều này có nghĩa rằng, các dấu hiệu như âmthanh, mùi vị… không thể được đăng ký là nhãn hiệu theo quy định của phápluật SHTT Việt Nam Thứ hai, “khả năng phân biệt” là điều kiện bắt buộc củanhãn hiệu Đây cũng là chức năng chính của nhãn hiệu Đặc điểm này là đặcđiểm chung của nhãn hiệu và do đó, nó giống với các điều ước quốc tế cũng nhưluật về nhãn hiệu của các nước trên thế giới
1.2.1.2 Chuyển giao nhãn hiệu trong nhượng quyền thương mại
Hợp đồng NQTM thường bao hàm “licence" nhãn hiệu, và có thể cả “licence"
sáng chế, nhưng không thuần tuý là “licence” nhãn hiệu hoặc sáng chế, bởi vì
Trang 35“licence” nhãn hiệu hoặc sáng chế không nhất thiết kèm theo một mô hình sảnxuất và một chính sách thương mại chung Trong nhượng quyền thương mại.Đối tượng chuyển giao ở đây không phải là nhãn hiệu mà là quyền thương mại,với hệ thống kinh doanh
1.3.2 Chuyển giao tên thương mại trong nhượng quyền thương mại
1.3.2.1.Khái niệm tên thương mại
Tên thương mại là tên gọi dùng để xác định chủ thể kinh doanh và phânbiệt hoạt động kinh doanh của chủ thể này với hoạt động kinh doanh của chủ thểkhác
Pháp luật các nước trên thế giới hầu như quy định bất cứ dấu hiệu nàocũng có thể được nhà kinh doanh lựa chọn làm tên thương mại Nhà kinh doanhcó thể chọn tên riêng của mình, nhưng cũng có thể tự do lựa chọn một cái tên hưcấu nào đó Nguyên tắc tự do lựa chọn này tồn tại ở Anh, Mỹ, Nhật và một loạtcác nước có hệ thống pháp luật xây dựng dưới sự ảnh hưởng của hệ thống phápluật các nước trên Tuy vậy các nước này cũng có một số hạn chws nhất địnhvới việc lựa chọn tên thương mại Chẳng hạn như, hạn chế hoặc loại bỏ việc sửdụng một số cụm từ như “hoàng gia”, “quốc tế” hoặc bắt buộc phải đưa vàothành phần tên thương mại những tính chất, phạm vi trách nhiệm của chủ thểkinh doanh ( loại hình doanh nghiệp) như “trách nhiệm hữu hạn”, “cổ phần”,
“hợp danh” [22]
Pháp luật của hầu hết các nước châu Âu và những nước ảnh hưởng của hệthống pháp luật này thì lại không cho phép các chủ thể kinh doanh là cá nhân tự
do lựa chọn tên thương mại: anh ta bắt buộc phải tiến hành công việc kinh
doanh dới tên riêng của chính mình phù hợp với nguyên tắc được gọi là nguyên
tắc “chân lý” Nguyên tắc chân lý này cũng được áp dụng với hình thức công