Nội dung Bài 3 trong học phần Phân tích và đầu tư chứng khoán nghiên cứu những vấn đề: Quy trình phân tích đầu tư chứng khoán; Các chính sách vĩ mô tác động tới thị trường chứng kho
Trang 1BÀI 3 PHÂN TÍCH CƠ BẢN TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
1 PGS.TS Trần Đăng Khâm & PGS.TS Nguyễn Thị Minh Huệ, Giáo trình Phân tích
và đầu tư chứng khoán, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
2 Bodie Kane Marcus, 2009, Investment, 8th Edition, McGraw-Hill/Irwin
3 Reilly Brown, 2011, Investment Analysis & Portfolio Management, 10th Edition, South Western
4 PGS.TS Trần Đăng Khâm, Thị trường chứng khoán – Phân tích cơ bản, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2009
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua E-mail
Tham khảo các thông tin từ trang web môn học
Nội dung
Bài 3 trong học phần Phân tích và đầu tư chứng khoán nghiên cứu những vấn đề:
Quy trình phân tích đầu tư chứng khoán;
Các chính sách vĩ mô tác động tới thị trường chứng khoán;
Mô hình phân tích môi trường cạnh tranh ngành của Michael Porter;
Phân biệt các loại công ty với cổ phiếu công ty;
Định giá cổ phiếu theo mô hình chiết khấu dòng tiền tự do
Mục tiêu
Hiểu được quy trình trong phân tích đầu tư chứng khoán;
Hiểu được các biến vĩ mô tác động tới thị trường chứng khoán;
Hiểu và vận dụng được mô hình phân tích môi trường cạnh tranh của Michael Porter;
Phân biệt loại công ty và loại cổ phiếu trong đầu tư chứng khoán;
Nắm bắt được cách thức định giá cổ phiếu công ty theo các phương thức khác nhau
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Nhà đầu tư X đang tìm hiểu muốn mua cổ phiếu công ty ABC, giá cổ phiếu của công ty trên thị trường hiện tại 12.000 đồng, tuy nhiên theo sự tính toán với mức độ chấp nhận rủi ro của nhà đầu
tư X thì giá cổ phiếu của công ty ABC chỉ là 9.000 đồng
Theo bạn nhà đầu tư X có nên mua cổ phiếu công ty ABC ở thời điểm hiện tại không? Tại sao?
Trang 33.1 Khái niệm và quy trình phân tích chứng khoán
Phân tích chứng khoán là một tập hợp các khái niệm,
phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông
tin nhằm trợ giúp cho việc ra quyết định đầu tư chứng
khoán Hoạt động phân tích chứng khoán cuối cùng
phải giúp nhà đầu tư xác định giá trị của chứng khoán
và thời điểm để ra quyết định đầu tư
Phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật là hai phương pháp được sử dụng trong phân tích chứng khoán Trong phân tích cơ bản, giá trị thực của cổ phiếu là thông tin mà các nhà phân tích muốn có Giá trị của chứng khoán là giá trị hiện tại của các luồng thu nhập dự kiến thu được từ chứng khoán với tỷ lệ chiết khấu là tỷ lệ lợi tức yêu cầu của các nhà đầu tư Giá trị này phụ thuộc vào ba nhân tố cơ bản: Độ lớn và các thời điểm của các luồng thu nhập; mức độ rủi ro của luồng tiền và tỷ lệ chiết khấu, trong
đó, hai nhân tố được quan tâm nhất chính là luồng tiền và tỷ lệ chiết khấu Phân tích
và lựa chọn cổ phiếu chính là việc xem xét, xác định trị của cổ phiếu
Có thể nói, giá trị của cổ phiếu phụ thuộc vào giá trị cơ bản của tổ chức phát hành, hay nói khác, phụ thuộc và khả năng sinh lời tương ứng với mức độ rủi ro của công ty Tuy nhiên, khả năng sinh lời và rủi ro của công ty không chỉ phụ thuộc vào chính nó
mà còn phụ thuộc rất nhiều vào môi trường hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả môi trường chung cho các doanh nghiệp và môi trường hoạt động của mỗi ngành Để xác định giá trị của mỗi doanh nghiệp, từ đó xác định giá trị của cổ phiếu, người ta phải tiến hành lần lượt qua ba giai đoạn: phân tích vĩ mô, phân tích ngành và phân tích công ty
Việc phân tích vĩ mô và phân tích ngành không chỉ giúp nhà phân tích đánh giá môi trường hoạt động của doanh nghiệp, từ đó xác định thu nhập, rủi ro cũng như tỷ lệ chiết khấu cho mỗi doanh nghiệp Phân tích vĩ mô, phân tích ngành còn giúp các nhà đầu tư xác định chính sách đầu tư phù hợp, bao gồm cả vấn đề lựa chọn cổ phiếu, xác định cơ cấu và chính sách quản lý danh mục đầu tư
Chúng ta đã đề cập đến quy trình định giá ba bước: Ước lượng độ lớn và thời điểm của các luồng thu nhập, đánh giá mức độ rủi ro của luồng tiền; căn cứ mức độ rủi ro
để xác định tỷ lệ lợi tức yêu cầu; và chiết khấu luồng tiền về thời điểm hiện tại với tỷ
lệ chiết khấu đã được xác định Quy trình này được áp dụng cho cả ba giai đoạn của phân tích cơ bản Với mỗi giai đoạn, mục đích cuối cùng vẫn là xác định giá trị của cổ phiếu Để thực hiện được điều đó, các nhà phân tích thường thực hiện hai nội dung: Phân tích vĩ mô hay phân tích định tính các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị của chứng khoán và phân tích vi mô nhằm lượng hóa thu nhập và tỷ lệ chiết khấu, từ đó, xác định giá chứng khoán
Trang 4Hình 3.1 Quy trình phân tích cơ bản 3.2 Phân tích vĩ mô
Theo giả thuyết thị trường hiệu quả, giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh các thông tin sẵn có trên thị trường Như vậy, thị trường chứng khoán có thể phản ánh thực trạng của nền kinh tế Kinh tế tăng trưởng, sản xuất và tiêu dùng đều tăng, thị trường cũng có bước phát triển ngoạn mục và ngược lại, kinh tế suy thoái, sản xuất đình đốn, thất nghiệp gia tăng sẽ làm cho thị trường rơi vào thế khủng hoảng Đến lượt nó, các yếu tố của nền kinh tế lại tác động trở lại thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế cũng như các nhân tố của nền kinh tế Để có cái nhìn tổng quát về tình hình kinh tế và triển vọng một quốc gia, người ta nghiên cứu nền kinh tế và các hoạt động kinh tế Đặc biệt, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chứng khoán thường tìm cách đánh giá và dự đoán về vấn đề tác động của tăng trưởng hay suy thoái kinh tế sẽ tới các công cụ đầu tư, cũng như ảnh hưởng tới các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau
Một vài nhân tố tác động tới thị trường chứng khoán mạnh hơn đến nền kinh tế như: chu kỳ kinh tế; biến động về cung tiền; quyết định của Ngân hàng Trung Ương (chính sách tiền tệ) và các nhân tố tiền tệ quốc tế Những nhân tố này ảnh hưởng mạnh đến giá cả và giao dịch chứng khoán
Chu kỳ kinh tế
Trong lịch sử của các nền kinh tế, các giai đoạn tăng trưởng phát triển kinh tế thường nối tiếp sau những giai đoạn suy thoái kinh tế và có thể dự báo dài hạn được, gọi là chu kỳ kinh tế Mỗi chu kỳ kinh tế bao gồm bốn giai đoạn: tăng trưởng; cực thịnh; suy thoái; đình trệ
Giai đoạn tăng trưởng (phát triển) còn được gọi là giai đoạn phục hồi kinh tế, được xác định bởi sự gia tăng của các hoạt động kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế Khi quá trình tăng trưởng đã đạt đỉnh điểm, các nhà kinh tế gọi giai đoạn này là giai đoạn cực thịnh Khi tình hình kinh doanh bắt đầu sụt giảm, nền kinh tế bước vào
Trang 5giai đoạn thu hẹp hay suy thoái Đối với các nhà kinh tế học, nếu quá trình thu hẹp diễn ra trong 2 – 6 quý liên tiếp (6 – 18 tháng) được gọi là giai đoạn suy thoái Nếu quá trình thu hẹp diễn ra mạnh và dài hơn thì gọi là khủng hoảng Nếu cuối giai đoạn suy thoái, các hoạt động kinh doanh không tiếp tục giảm nữa mà trải qua một quá trình dài trước khi trở lại giai đoạn tăng trưởng được gọi là giai đoạn ngưng trệ
Ngưng trệ
Đỉnh
Mở rộng Đỉnh
Thu nhập
Ngưng trệ
Hình 3.2 Chu kỳ kinh tế
Tuy các giai đoạn hưng thịnh, suy thoái của nền kinh tế cứ nối tiếp nhau, nhưng để nhận biết khi nào nền kinh tế đang phát triển hoặc đang đình trệ là một vấn đề không đơn giản Theo logic thông thường, một số ngành hoặc một số công ty bước vào thời kỳ tăng trưởng, trong khi một số ngành khác, một số công ty khác lại đang lụn bại, thậm chí phá sản Một xu thế giảm sút dài hạn sẽ bị cắt ngang bởi một sự tăng trưởng tạm thời, mà đó có thể là dấu hiệu quay trở lại giai đoạn kinh tế hưng thịnh, hoặc cũng có thể là không phải và ngược lại Để xác định chính xác thực trạng nền kinh tế đang ở giai đoạn nào của chu kỳ kinh tế, các nhà kinh tế học phải xem xét các dấu hiệu cơ bản: mức độ gia tăng sản lượng công nghiệp; sự tăng giảm của thị trường chứng khoán; mức tăng giảm của giá trị tài sản; mức tăng giảm của cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ; mức độ thay đổi GDP
Giai đoạn suy giảm trong nền kinh tế thường đi kèm với các dấu hiệu sau: Số lượng công ty phá sản và các trường hợp mất khả năng chi trả lãi và vốn của trái phiếu tăng; nợ tiêu dùng cao; thị trường cổ phiếu giảm cả về giá và doanh số giao dịch; tồn kho tăng (dấu hiệu giảm tiêu dùng) và GDP giảm
Chính sách tiền tệ
Tổng cung tiền là một nhân tố quan trọng tác động đến sức sống và tăng trưởng của nền kinh tế Đó là lượng tiền sẵn có cho sản xuất và tiêu dùng Nhân tố này chịu ảnh hưởng lớn bởi hoạt động của các ngân hàng thương mại Đây là các tổ chức tín dụng với chức năng chủ yếu là huy động và cho vay đối với nền kinh tế Nguồn vốn chủ yếu đối với các ngân hàng là các khoản tiền gửi của các cá nhân và các đơn vị kinh tế, bao gồm các khoản tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn Các ngân hàng thương mại sử dụng lượng tiền gửi đó và các khoản tiền khác để cho vay, thông qua đó, các phương tiện lưu thông mới lại được tạo thêm hay nói khác, các ngân hàng có khả năng tạo tiền Chu trình đó cứ được thực hiện tiếp diễn mãi không ngừng nếu không có quy định về mức dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Trung Ương Với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và tín dụng Ngân hàng
Trang 6Nhà nước đã sử dụng các công cụ để tác động vào lượng cung tiền gồm: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu
Chính sách tài khóa
Chính sách tài chính do Chính Phủ thực hiện thông
qua các công cụ như thuế, cân đối ngân sách nhà
nước và chi tiêu của Chính phủ nhằm tác động tới
lãi suất, từ đó tác động tới cung và cầu của hàng
hóa để thực hiện các mục tiêu khác như: tăng
trưởng kinh tế; lạm phát; công ăn việc làm và các
mục tiêu khác Chẳng hạn, để giảm cầu sản xuất,
tiêu dùng và mức chi tiêu, Chính phủ sẽ quyết định thực hiện các biện pháp tăng thuế, giảm cung tiền và giảm chi tiêu của Chính phủ Cách thức này làm giảm lượng tiền khỏi lưu thông, hạn chế mức tiêu dùng và giảm cầu
Thu nhập được tính là thu nhập sau thuế, do vậy, thuế thu nhập tăng lên sẽ làm thu nhập của doanh nghiệp và mỗi người dân giảm, làm giảm cầu có khả năng thanh toán của các đối tượng này Mặt khác, cơ hội đầu tư của các doanh nghiệp sẽ giảm, các doanh nghiệp buộc phải cắt giảm sản xuất, tổng sản lượng của nền kinh tế sẽ giảm Khi các loại thuế gián thu tăng lên, hàng hóa và dịch vụ sẽ bị đắt lên tương ứng, từ đó, cầu có khả năng thanh toán sẽ giảm Tương tự như vậy việc hạn chế chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư của Chính phủ sẽ làm giảm tổng cầu về hàng hóa,
từ đó tác động làm giảm lạm phát do cầu kéo Các biện pháp ngược lại sẽ được Chính phủ thực hiện khi muốn đẩy tăng mức giá nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho xã hội
Chính sách thuế cũng tác động mạnh đến hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết bởi nó điều tiết thu nhập của cổ đông; gián tiếp làm thay đổi cấu trúc tài chính doanh nghiệp thông qua thay đổi chi phí vốn và phần tiết kiệm thuế; ảnh hưởng tới chính sách phân phối cổ tức và các chính sách khác của doanh nghiệp Tương tự như vậy, chính sách thuế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của các nhà đầu tư, từ
đó, làm thay đổi hành vi và chính sách đầu tư, chính sách quản lý danh mục đầu tư của họ Khi phân tích các chính sách tài chính tiền tệ đối với thị trường chứng khoán, các nhà phân tích có thể dự báo được những tác động của nó tới thị trường cũng như tác động tới từng loại cổ phiếu, từ đó, có những dự báo và chính sách đầu tư phù hợp
3.3 Phân tích ngành
Phân tích ngành là một nội dung quan trọng của quy trình phân tích ba bước trong phân tích cơ bản nhằm giúp cho các nhà đầu tư trong việc lựa chọn chứng khoán và hoạch định chính sách quản lý danh mục đầu tư Các nghiên cứu cho thấy, trong cùng một thời kỳ, các ngành khác nhau có rủi ro và lợi nhuận khác nhau Hơn nữa, tỷ suất lợi nhuận của mỗi ngành biến động theo thời gian, do vậy, không thể dự báo lợi nhuận của ngành trong tương lai dựa vào lợi nhuận trong quá khứ Tuy nhiên, những đánh giá về rủi ro của các ngành khá ổn định qua thời gian, do vậy, những đánh giá về rủi
ro trong quá khứ sẽ có giá trị tốt cho việc dự báo rủi ro của các ngành Việc phân tích ngành giúp cho các nhà đầu tư tìm được ngành tốt hơn và tránh được thua lỗ trong
Trang 7hoạt động đầu tư Phân tích ngành cũng là cơ sở quan trọng cho phân tích công ty để lựa chọn cổ phiếu
3.3.1 Phân tích chu kỳ kinh doanh
Khuynh hướng của nền kinh tế có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngành Quá trình phân tích chu kỳ kinh tế có thể cho các nhà phân tích các thông tin quan trọng trong dự đoán sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế cũng như của các ngành
Sự chuyển hướng từ một nhóm ngành này sang một nhóm khác dựa vào các chu kỳ kinh doanh được biết đến với cái tên “chiến lược xoay vòng” (Rotation Strategy) Khi
cố gắng xác định nhóm ngành nào sẽ đem lại lợi ích lớn hơn ở giai đoạn sau của chu
kỳ kinh doanh, các nhà đầu tư cần phải xác định và kiểm soát các biến cơ bản liên quan đến xu hướng thị trường và đặc điểm của ngành
Các ngành kinh tế khác nhau sẽ có sự vận động khác nhau theo chu kỳ kinh tế Có thể chia các ngành thành hai nhóm chính: Nhóm ngành có chu kỳ vận động phù hợp với chu kỳ kinh tế và nhóm ngành có sự vận động ngược chiều với chu kỳ kinh tế Nhóm ngành có chu kỳ phù hợp bao gồm: ngành ngân hàng tài chính; ngành kinh doanh bất động sản; ngành xây dựng, ngành hàng tiêu dùng đắt tiền (ô tô, máy tính, điện lạnh,
mỹ phẩm); ngành chế tạo máy và những ngành có đòn bẩy tài chính và đòn bẩy hoạt động cao
Các ngành có đòn bẩy tài chính cao luôn sử dụng nhiều nợ, do vậy, khi tăng trưởng kinh tế, các ngành này dễ dàng khuếch trương quy mô, tận dụng tốt nhất các cơ hội bán hàng tăng lên từ chính sách tài trợ thông qua nợ Tuy nhiên, kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp này sẽ lâm vào khó khăn do gánh nặng chi phí lãi vay tăng Tương tự như vậy, các ngành có đòn bẩy hoạt động cao cũng có chu kỳ vận động phù hợp với chu kỳ tăng trưởng kinh tế
Các ngành có doanh thu tăng hoặc giảm cùng với chu kỳ kinh tế sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư trong những giai đoạn đầu của giai đoạn hồi phục, bởi vì mức độ đòn bẩy hoạt động cao Điều đó có nghĩa là, lợi ích thu về càng lớn khi doanh thu bán hàng càng tăng Những ngành với mức đòn bẩy tài chính cao tương tự cũng được lợi hơn khi
Trang 8khối lượng bán tăng Thông thường, về phía đỉnh của
chu kỳ kinh doanh, tỷ lệ lạm phát tăng do cầu bắt đầu
lớn hơn cung Các ngành nguyên liệu cơ bản như dầu
khí, thép và gỗ - những ngành làm thay đổi những
nguyên liệu thô thành sản phẩm cuối cùng sẽ được ưa
thích hơn Bởi vì lạm phát có ảnh hưởng nhỏ đến chi
phí trong việc chế tạo các sản phẩm này và có thể tăng
giá bán sản phẩm, do đó, các ngành này sẽ có lợi nhuận biên cao hơn
Với nhóm ngành có chu kỳ ngược với chu kỳ kinh tế, kinh tế càng tăng trưởng, doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp này lại càng giảm và ngược lại Tiêu biểu cho nhóm các ngành có chu kỳ ngược với chu kỳ kinh tế là các ngành thực phẩm, đồ uống, ngành dược phẩm và ngành sản xuất hàng xuất khẩu Trong một thời kỳ suy thoái, có những ngành lại hoạt động tốt hơn các ngành khác, như ngành dược phẩm, thực phẩm, ngành đồ uống Mặc dù toàn bộ tiêu dùng có thể giảm sút, mọi người vẫn phải chi tiêu cho những hàng hóa thiết yếu Tương tự như vậy, nếu nền kinh tế nội địa yếu kém làm cho đồng nội tệ mất giá, những ngành với thành phần xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế có thể có lợi bởi vì hàng hóa của họ trở cạnh tranh hơn đối với thị trường nước ngoài
Như vậy, có thể nhận ra những ngành hấp dẫn đầu tư qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh Thông thường, các nhà đầu tư sẽ không chỉ dựa vào môi trường kinh tế hiện tại vì trong thị trường hiệu quả giá chứng khoán đã phản ánh đầy đủ các thông tin
trong quá khứ Đúng hơn là, cần thiết phải dự đoán sự thay đổi của những yếu tố kinh tế
quan trọng tối thiểu từ 3 đến 6 tháng trong tương lai và phù hợp với hoạt động đầu tư 3.3.2 Ảnh hưởng của thay đổi trong cấu trúc kinh tế tới các ngành
Sự thay đổi các yếu tố cấu trúc kinh tế như nhân khẩu, công nghệ, chính trị, môi trường pháp luật và chính sách kinh tế sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ dòng tiền và rủi ro tiềm năng của các ngành Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng tới các ngành khác nhau là khác nhau
Yếu tố nhân khẩu bao gồm sự tăng trưởng dân số, cấu trúc phân bổ dân số về độ tuổi,
về mặt địa lý, sự phân bổ về thu nhập, sự thay đổi về dân tộc, văn hóa
Yếu tố phong cách sống có liên quan đến cách thức
mọi người sống, làm việc, tiêu dùng Ngày nay, ở các
nước phát triển, thói quen đi du lịch đã làm phát triển
mạnh các ngành du lịch; tâm lý thiếu an toàn đã đẩy
mọi người đến gần hơn với dịch vụ bảo hiểm Ở Việt
Nam, yếu tố “sính ngoại” đã làm hạn chế sự phát triển
của các ngành hàng sản xuất trong nước, trong khi đó
lại thúc đẩy các ngành nhập khẩu phát triển Nói chung
phong cách sống sẽ ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêu dùng hàng hóa của con người
và do vậy sẽ ảnh hưởng đến nền sản xuất hàng hóa của mỗi nước
Xu thế công nghệ có thể ảnh hưởng mạnh đến các ngành Có thể nói, chu kỳ sống của sản phẩm đang ngày càng giảm Để thích ứng với điều đó, chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới đang ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn trong cơ cấu sản phẩm
Trang 9doanh nghiệp Chi phí quảng cáo, khuếch trương, chi phí phát triển kênh phân phối cũng ngày càng tăng Để tạo sản phẩm mới, chi phí đầu tư mới trở nên tốn kém hơn đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, ảnh hưởng của yếu tố công nghệ đối với các ngành khác nhau là khác nhau
Yếu tố chính trị và luật pháp có ảnh hưởng khác nhau tới các ngành Sự bảo hộ các doanh nghiệp trong nước làm cho các doanh nghiệp này có lợi thế hơn các doanh nghiệp nước ngoài, do đó, chi phí giảm và lợi nhuận biên tăng lên Mặt khác, yếu tố này sẽ làm thay đổi rủi ro đối với mỗi ngành
3.3.3 Xác định chu kỳ sống của ngành
Để dự báo doanh số bán và xu hướng tăng thu nhập của mỗi ngành, cần phân tích chu
kỳ sống của ngành đó Mỗi ngành, cũng giống như chúng ta, phải trải qua các giai đoạn hình thành, phát triển, chín muồi và lụi tàn Số lượng các giai đoạn trong khi phân tích chu kỳ sống của ngành có thể thay đổi tùy theo mỗi nhà phân tích Phần trình bày dưới đây sẽ giới thiệu cách chia theo năm giai đoạn:
1 Giai đoạn bắt đầu phát triển
2 Giai đoạn tăng trưởng nhanh
3 Giai đoạn bắt đầu tăng trưởng chín muồi
4 Giai đoạn ổn định và tăng trưởng chín muồi
5 Giai đoạn tăng trưởng giảm
Ứng với mỗi giai đoạn tăng trưởng khác nhau, doanh thu và tỷ suất lợi nhuận biên của ngành là khác nhau Các nhà phân tích phải dự báo được tốc độ tăng trưởng và độ dài của từng giai đoạn tăng trưởng, làm cơ sở dự báo doanh thu, tỷ suất lợi nhuận biên và mức độ tăng trưởng của mỗi ngành
Hình 3.2 Chu kỳ sống đối với một ngành
Doanh số
32
16
8
4
2
Thời gian Giai đoạn 1
Bắt đầu phát triển
Giai đoạn 2 Tốc độ tăng trưởng nhanh
Giai đoạn 3 Tăng trưởng chín muồi
Giai đoạn 4
Ổn định và tăng trưởng chín muồi
Giai đoạn 5 Tăng trưởng giảm
Trang 10(1) Giai đoạn bắt đầu tăng trưởng
Đây là giai đoạn khởi nghiệp cho một sản phẩm mới Trong giai đoạn này, sản phẩm chưa được thị trường chấp nhận, doanh số bán thấp, do vậy, chi phí cố định trong một đơn vị sản phẩm cao Để phát triển thị trường, các doanh nghiệp phải bỏ chi phí lớn cho hoạt động quảng cáo, khuếch trương Chi phí quản lý cũng lớn Chính vì các lý do
đó, lợi nhuận biên rất thấp, thậm chí không có Giai đoạn này gắn với hoạt động đầu
tư mạo hiểm, vốn chủ yếu là do các sáng lập viên đóng góp, khả năng huy động nợ và tăng vốn chủ từ bên ngoài hạn chế
(2) Giai đoạn tăng trưởng nhanh
Trong giai đoạn này, sản phẩm đã được thị trường chấp nhận, có sự tăng trưởng nhanh
về doanh số bán Do số lượng các doanh nghiệp trong ngành chưa nhiều, mức độ cạnh tranh thấp, sản phẩm có tính chất độc quyền, do vậy, tỷ suất lợi nhuận biên rất cao Để tận dụng lợi thế, các doanh nghiệp cố gắng tăng sản lượng bằng phát triển hoạt động đầu tư, do vậy, các doanh nghiệp có sự phát triển vượt bậc về quy mô, phát triển hệ thống phân phối, thực hiện mạnh quảng cáo và khuếch trương Lợi nhuận để lại tái đầu tư lớn nên khả năng tăng trưởng của các doanh nghiệp là rất cao Trong thời kỳ này, lợi nhuận có thể tăng trưởng vượt 100%/năm
(3) Giai đoạn tăng trưởng chín muồi
Sự thành công trong giai đoạn 2 đã làm thoả mãn phần lớn nhu cầu đối với hàng hóa dịch vụ của ngành, song thị trường chưa bão hòa Mức tăng trưởng về doanh số bán vấn tăng cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế, thậm chí có thể tới 2-3 lần Mức tăng trưởng cao về doanh số và lợi nhuận biên cao đã thu hút nhiều doanh nghiệp hơn tham gia vào ngành, do vậy, mức tăng lợi nhuận biên có xu hướng giảm dần Giai đoạn này, các doanh nghiệp trong ngành vẫn có mức tăng trưởng cao Nhu cầu tài trợ bằng vốn chủ đã có xu hướng chững lại, các doanh nghiệp có thiên hướng sử dụng nợ nhiều hơn Giai đoạn 2 và 3 là giai đoạn của hoạt động đầu cơ
(4) Giai đoạn ổn định và tăng trưởng chín muồi
Đây có thể là giai đoạn dài nhất, tỷ lệ tăng trưởng
ngành giảm xuống so với tỷ lệ tăng trưởng của toàn bộ
nền kinh tế hoặc phân đoạn ngành Trong giai đoạn
này, các nhà đầu tư có thể ước lượng dễ dàng mức tăng
trưởng bởi vì doanh số bán có mối tương quan với số
liệu nền kinh tế Mặc dù doanh số bán tăng tuyến tính
với nền kinh tế, mức tăng trưởng lợi nhuận là khác
nhau giữa các ngành bởi vì cấu trúc cạnh tranh thay đổi bởi ngành, và từng công ty với ngành bởi do khả năng kiểm soát chi phí khác nhau giữa các công ty Các doanh nghiệp trong ngành vẫn có thể có cơ hội tăng lợi nhuận khi doanh số bán tăng chậm, thậm chí không tăng Ở giai đoạn 2 và 3, các doanh nghiệp cố đạt tăng lợi nhuận bằng cách khuếch trương về quy mô, song ở giai đoạn 4, các doanh nghiệp thường không muốn tăng quy mô mà tận dụng những thứ đang có bằng cách nâng cao hiệu suất sử dụng lao động, tài sản; cải thiện về quản lý; thay đổi mô hình tổ chức; áp dụng các biện pháp tiết kiệm chi phí Giai đoạn này giá cổ phiếu biến động, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư thực hiện hoạt động kinh doanh chênh lệch giá