1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TRIET HOC TQ

28 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 122 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như thế đạo Nho theo dòng thời gian lịch sử đã phát triển lớn mạnh không chỉ có người dân Trung Quốc theo đạo ấymà trên thế giới hiện người ta đang ứng dụng học thuyết vào trong đời sống

Trang 1

MỤC LỤC

I DẪN NHẬP

II NỘI DUNG

1.Thuyết nhân trong tư tưởng triết học của Không Tử 2 Tính thiện trong tư tưởng triết học của Mạnh Tử

3 Nhận thức về hai thuyết về nhân của Khổng – Mạnh 3.1 Điểm tương đồng

3.2 Điểm sai khác giữa hai thuyết

I KẾT LUẬN

Trang 2

I DẪN NHẬP

Thời đại nào , phạm trù nào trong xã hội đều luôn tồn tại hai phương diện đối lập nhau , sự đối kháng làm cho con người phải chịu lầm than, song chính nhờ thế mà xã hộisàng lộc , gạt bỏ được mặt xấu yếu kém, đề lịch sử loài người càng tiến xa hơn trên mọiphương diện Sự phát triển của các trào lưu tư tưởng triết học Trung Quốc vào thời Xuân Thu – Chiến Quốc thể hiện rất rộng lớn , xã hội hình thành hai tầng lớp đối khángnhau ; một bên là lấy chức phận đế vương cai quản , sẳn sàng gây chiến tranh để mở rộng quyền lực rồi xưng vương xưng đế , một bên thì chịu bao cảnh áp bức bó lột Mâu thuẩn nội tại ngày một gay gắt, khiến cho xã hội sớm đổi thay, từ một chế độ chiếm hữunô lệ , Trung Quốc đã bắt đầu hình thành một xã hội mới , xã hội với chế độ Phong Kiến toàn quyền thuộc về nhà vua ( Thiên Tử ) Lúc này xã hội xuất hiện tầng lớp thứ

ba, làm cái gạch nối giữa hai tầng lớp nói trên ; đó chính là giới trung lưu còn gọi là giớinho sĩ ; họ là tầng lớp tri thức duy nhất của xã hội , luôn mang một tư tưởng tích cực , muốn cống hiến cái gì đó cho nhân loại Chính vì lẽ đó , hai nhà tư tuởng lớn xuất hiện Khổng Tử và Mạnh Tử là đại diện cho trường phái tri thức tích cực hành động của họ là

vì đời, bên cạnh đó hẳn không thiếu những kẻ sĩ ẩn danh sống tiêu cực trước cảnh đời lắm bất công Khổng Tử đã khai sáng tư tưởng Nho Giáo , Mạnh Tử ghóp công xây dựng , mở rộng giáo lý tư tưởng của Khổng bằng thuyết tính thiện Khổng tử chỉ nói đến nhân mà chưa nói rõ nguyên nhân sâu xa về bản chất của nhân , mãi đến một trăm năm sau thì Mạnh Tử mới nói lên được bản chất của nhân Như thế đạo Nho theo dòng thời gian lịch sử đã phát triển lớn mạnh không chỉ có người dân Trung Quốc theo đạo ấymà trên thế giới hiện người ta đang ứng dụng học thuyết vào trong đời sống hằng ngày.Vậy thuyết nhân của Khổng Tử , thuyết “ tính thiện” của Mạnh Tử có những điểm chung và khác nhau như thế nào? Người viết sẽ đi vào nội dung tìm hiểu

1 Thuyết nhân trong tư tưởng triết học của Không Tử

Bắt nguồn từ tinh thần yêu cuộc sống, hăng hái với đời , Khổng Tử đem lại cho nền văn minh nhân loại nói chung nền triết học Trung Quốc nói riêng một nền tư tưởng lớn Tuy hiện thời, Khổng Tử không được có cơ duyên lớn trong việc truyền giáo tư tưởng của mình , song tinh thần sốt sắng cho đời khiến trời đất cảm hoá, mọi người mến

phục Chính vì thế mà triết lý ấy còn tồn tại lưu truyền đến ngày nay Trong đo,ù điều màngười viết muốn đề cập đến đó là “nhân” phương cách của nhân như thế nào ?

Dựa vào luận ngữ Phan Bội Châu( Sào Nam) đã lược dẫn một số câu di ngôn nhằm diễn giải nói lên ý nghĩa của thuyết nhân Người viết dựa vào Khổng Học Đăng của Phan Bội Châu mà trích lục ra đây mấy câu luận ngữ của đức Khổng Tử để diễn bày tính chất của nhân cùng đọc giả

Phàm làm việc gì hay nói gì phải nhắm vào mục đích và đố tượng nói đến, từ đó mà Khổng Tử đã dạy đệ tử làm “ nhân” bằng nhiều phương diện , nhiều cách biểu hiện là

Trang 3

tùy căn cơ của chúng đệ tử Thấy Nhan Uyên là đệ tử lớn, Khổng Tử có lời dạy: “ Khắc Kỷ Phục Lễ Vi Nhân”( 2) ( 2)

Khắc kỷ là nói đến cái tâm lý vốn có của con người mà theo Khổng Tử là “ Trừng trị” nghĩa là trừng trị làm sao cho hết cái bệnh “Tư dục” trong mỗi chúng ta thì mới gọi

là khắc kỷ Đồng thời hồi phục được chân lý của trời đó là lễ ,lúc đó liền nói “ Nhất nhật khắc kỷ phục lễ thiên hạ quy nhân yên” (3) quy nhân ở đây là hành động quay về làm “ nhân” Ý nói, khi ta quay về làm nhân thì tiếng tốt đồn xa , mọi người thấy việc làm nhân là lẽ phải làm và từ đó làm theo

“Khắc kỷ phục lễ” rất có giá trị với đời sống hiện tại, không nên hiểu khắc kỷ phục lễ một cách quá máy móc và cố chấp hay trừu tượng mà ngay khi đó chúng ta khéo giữ gìn sáu ăn khi iếp xúc với sáu trần cần phải có tiết độ , không đắm nhiễm tư dục thế nên Khổng Tử nói cần phải trừng trị tư dục, đừng cho xuất hiện tư dục khiến sinh ra những điều phi lý sai lệch với chân lý lẽ sống của con người ; ấy là trái đạo không đúng với lẽ trời để rồi phi lễ xuất hiện Ví như đồng tiền có hai mặt ; bàn tay cũng có mặt trá mặt phải vậy , khi ta thấy được mặt này thì mặt kiasẽ không còn thấy Thế nên Khổng

Tử khẳng định “ Vi nhân do kỷ” (4) Chính ta chủ động làm nhân chứ không ai khác , dù cho có thầy hay bạn tốt đi chăng nữa mà ta không chịu sửa đổi , cải tổ cuộc sống thực tại đang vướng bận của mình thì việc làm nhân quả thật khó làm nỗi

Khổng tử lại nói : “Nhân giả ái nhân” nghĩa là có hành động thương người,trong con người có sẵn đức tính này vã lại sách trung dung có chép “ Nhân giả nmhân dã” là lòng

tốt của con người vậy, con người khác với loài vật ở điểm này vì con người có ý thức cảm nhận cuộc sống , sống một cách có ý nghĩa chứ không như một kẻ vô tình , bất nhân Một phạm nhân ; dù ông ta có phạm tội đi chăng nữa mà trước khi vào tù , điều cuối cùng là ông ta luôn nhớ về gia đình , vợ con Loài vật tuy không có ý thức nhưng không bao giờ làm hại dòng tộc hay con của nó

Nhân theo Khổng Tử mang một nội hàm rất rộng ; song ông chỉ nói Theo một khái quát cơ bản mà chưa nói đến nguyên do bản chất thật của nó là gì ; thiện hay ác hay không hiện cũng không ác Thế nên Khổng Tử đã thể hiện nhân qua các khái niệm : Hiếu Trung , Thứ , Cung, Khoan, Tín, Mẫn, Huệ… Nhân tức là hiếu để với cha mẹ , gia đình quyến thuộc … Hồ Chí Minh đã áp dụng đạo Nho vào tư tưởng đường lối chính trị

của mình là “Trung với nước , hiếu với dân, khó khăn nào cũng vụo qua , nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng chiến thắng” Bên cạnh đó trung ( ) là thể của

nhân, đây là nói đến mối quan hệ giữa vua – tôi, chúng ta đối với đất nước xã hội, mỗi khi được giao nhiệm vụ không hề câu nệ , hành động một cách trung thực thì mới gọi làtrung ( xét về mặt chữ thì trung ( ) gồm chữ ( ) ở trên, chữ( ) ở duới, như vậy trung

ở đây có nghĩa là trong lòng mình mỗi khi xét việc , tiếp người thì phải làm bằng cả tấm lòng chứ không nên làm theo cảm tính , làm việc không dối lòng , trái với lương tâm

( 2 ) Sào Nam-Phan Bội Châu,Khổng Học Đăng ,NXBVHTT,1998,tr.43

(3) Ibid.,tr 43

(4) Ibid., tr 44

Trang 4

Nhân cũng chính là thứ( ) ,trên là chữ như( ) dưới là chữ tâm( ) nghĩa là xem mọi người như chính bản thân mình vậy Những điều mà ta thích thì nên làm cho người ,những điều mà ta ghét thì đừng nên làm với người Thứ ấy chính là dụng của nhân Người viết đã đưa ra một một số luận ngữ để diễn tả “nhân” ; giữa các nội dung có một mối liên kết khá chặt chẽ: Nhờ có nhân mà sinh ra đức hiếu, đây là điểm chính của

lễ, nhờ hiếu mà có trung nên Khổng Tử nói; “Hiếu từ tắc trung” ấy là trung quân ái

quốc vậy

“ Nhân” rộng hơn “Lễ” vì nhân còn hàm chứa cả “ Cung Khoan ,Tín ,Mẫn , Huệ,” :

“ Cung tắc bất vĩ, khoan tắc bất chúng, tín tắc nhânnhiệm yên, mẫn tắc hữu công, huệ tắc túc dĩ sử nhân”( Dương hoá) (5) Năm điều này được luận ngữ ghi lại một cuộc đàm thoạigiữa Khổng Tử với đệ tử của mình là thầy Tử Tương, ý nghĩa của nó có giá trị rộng lớn trong trường chính trị:

1, cung là kính cẩn mà có ý nghiêm trang 2,Khoan mang ý nghĩa độ lượng rộng lớn mà làm việc thì lại khoan thai nhẹ nhàng 3, tín là lấy tấm lòng trung thực , thực lòng hành động vary 4,siêng năng cần mẫn , việc gì cũng nhanh chóng hoàn thành nên gọi là mẫn 5, huệ là sự ân huệ với nhân dân vì lòng thương người vậy

Khi làm chủ được năm điều ấy trong phương diện chính trị thì việc gì mà không làm nhân được

Nói tóm lại, đức nhân của Khổng Tử phạm vi thực hiện của nó thật rộng lớn trên mọiphương diện kinh tế , chính trị, ngoại giao , giáo dục, văn hoá…Tất cả đều có thể ứng dụng được để rồi trăm hoa đua nở, lòng người thêm cởi mỡ, con người xích lại gần nhau hơn Nhân trong Khổng Tử là vậy, khi bàn về nhân thì Mạnh Tử đã nói gì?

2 Tính thiện trong tư tưởng triết học của Mạnh Tử

Khi bàn về con người mạnh tử chủ trương thuyết “ tính thiện” , ông đã đi thẳng vào

vấn đề bản chất của nhân là vốn thiện : “ Nhân tính chi thiện giả , do thủy chi tự hạ dã Nhân vô hữu bất thiện, thủy vô hữu bất ha (6) ( Tính lành của người cũng ví như nước chảy xuống thấp vậy Người ta không ai không có tính lành , không nước nào là không chảy xuống chổ thấp cả)

Tính chính là tư chất thuộc tính bên trong của con người “Di bản luận tính” Theo mạnh tử thì nước không chảy về đông tây mà chỉ chảy từ chổ cao xuống chổ thấp, tính thiện của con người cũng như thế Hiện tượng nước chảy lên hay tính ác xuất hiện trong

con người âu chỉ là do tác động ngoại cảnh mà thôi Thế nên Mạnh Tử nói “ Nhân giai hữu bấ nhẫn nhân chi tâm” Lại nói “Truật dịch trắc ẩn chi tâm”(7) “ Bất tri , bất giác”

nghĩa là hết thảy chúng ta ai cũng có lòng thương nguời không nở làm ác với người Đây là nói về mặt thực thể ;bỗng khi xảy ra một tình thế nguy khốn nào đó thì cái “lòngtruật dịch trắc ẩn” hiển hiện ra mà không vì một mưu cầu của ai cả , đây chính là động tác thể hịên của tâm tánh mình

(5) Ibid., tr 56

( 6) Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Phương Đông –Tầp2, NXBTPHCM,Tr.44

(7) Sao Nam –Phan Bội Châu,opcit.,tr 530

Trang 5

Từ tánh thiện của nhân Mạnh Tử đã đưa ra thuyết tứ đoan gồm bốn yếu tố nói lên sự

bao hàm sự bao hàmsâu rộng của nhân đó chính là “nhân , nghĩa, lễ, trí” Bốn mối này

thể hiện bản chất cốt lỏi của con người đó là những gì ?

“Trắc ẩn chi tâm nhân chi đoan dã , tu ố chi tâm nghĩa chi đoan dã, từ nhượng chi tâm lễ chi đoan dã, thị phi chi tâm trí chi đoan dã” ( Cái lòng thương xót là mối của

nhân, lòng hổ thẹn chê ghét là tu ố làm mối của ngĩa, không thừa nhận từ chối , nhân nhượng không cạnh tranh chính là lễ, và thấy được việc phải việc trái ở trong lòng ấy chính là “thị phi” đây là mối của trí vậy) (8)

Theo Mạnh Tử bốn giềng mối làm nên đạo lý con người như trên là điều sẳn có trong chúng ta: “Nhân nghĩa lễ trí phi do ngoại thược ngã dã, ngã cố hữu chi dã “ ( nhân , nghĩa , lễ, trí không phải từ bên ngoài nung đúc cho , ta vốn đã có rồi vậy (9) Hay “ nhân, lễ, nghĩa, trí căn ư tâm” ( nhân nghĩa lễ trí gốc ở tâm)(10) Mặc dù đã có thuyêt tứ đoan dánh giá sâu sắc bản chất của nhân song Mạnh Tử lại có lời than về hai hạng người bất nhân , bất nghĩa “ khoán yên trạch nhi phất cư,xả chính lộ nhi bất do,ai tai!”(11)

Đây là lời kết trong đoạn Mạnh Tử nói về hai hạng người : “ Tự bạo” và “ Tự khí” không thể nói chuyện phải hoặc chung làm việc phải với họ, vì tự họ bài bác lễ nghĩa và cho mình không thể làm nỗi

Mạnh tử dã có lời than rằng : Cái chổ đáng ở rất yên lành, con đường đáng đi rất tốt đẹp họ lại không ở , không đi mà trái lại họ đã chọn lầm cho mình chổ ở , con đường đồng nghĩa với bất nhân , bất nghĩa vậy

3 Nhận thức về hai thuyết về nhân của Khổng – Mạnh

từ cách trình bày về thuyết nhân như tên như trên, người viết muốn sơ lược mấy điểm chung đồng cũng như sự vuợt trội (sai khác) giữa hai tư tưởng triết học trung hoa này

3.1 Điểm tương đồng

Khổng Tử nói:” Nhất nhật khắc kỷ phục lễ thiên hạ quy nhân yên” Mạnh tử nói: “ cẩu năng sung chi, túc dỉ bảo từ hải”

Hai ông đều có ý thức xuất phát điểm việc làm nhân ngay từ nơi chính bản thân mỗi con người Khổng tử thì nói: mỗi khi đã khắc phục được những thói hư tật xấu từ chính bản thân mình, khó gì lo thiên hạ không làm được nhân Cho nên , suốt cả cuộc đờimìnhkhổng tử không giây phút nào màkhông “ khắc kỷ phục lễ” còn về mạnh tử ; ông cũng có một nếp sống không khác gì thầy mình: thuyết tứ đoan mạnh tử đưa ra hẳn ông ý thức được mình có làm, có thực thì mới mong thiên hạ thấy đó mà ứng dụng Cả hai ôngcùng hướng về một mục đích như nhau: “ Tề gia, trị quốc bình thiên hạ” đấy là nói về điểm tương đồng , còn về điểm sai khác thì thế nào ?

3.2 Điểm sai khác giữa hai thuyết

Trang 6

Nói là sai khác , song thực chất chí là mở rộng tỏ và xoáy sâu vào vấn đề làm nhân mà thôi Mạnh Tử đã một đời biện luận cho thuyết “nhân” của Khổng Tử Do đó ông đã mạnh dạn đưa ra lập trường nói đến nguyên do sâu xa của “nhân” ấy chính là “thiện tính” Một tư tưởng khá vượt trội chỉ sau một trăm năm so với đức Khổng ; ông đã xây dựng nên một nền triết lý Nho Giáo trên cơ sở tư tưởng triết học của Khổng Tử.

Thuyết tính thiện của Mạnh Tử là thể hiện cho triết học nhân sinh, không học mà

hay, không nghĩ mà biết Từ đó ông đã kết luận tư tưởng về triết lý nhân sinh của mìnhrằng: Biết tâm của mình thì biết cái tính của mình Biết hết tính của mình là biết đến trời vậy Giữ được tâm của mình , nuôi được tính của mình ấy làđể phụng sự trời vậy.(12)

II KẾT LUẬN

Vấn đề nhân được các nhà nho sĩ nỗi tiếng của Trung Quốc thời bấy giờ là Khổng Tự và Mạnh Tử trình bày khá cặn kẻ dưới nhiều hình thức, góc độ khác nhau Nhờ thế mà thuyết nhân sớm đi vào lòng người , đáp ứng được cho nhu cầu nguyện vọng của cuộc sống của nhân loại đang trên co đường suy thái về nhân cách đạo đức , lối sống xa hoa phù phiếm của một số người trong xã hội Khổng Tử khi bàn về nhân thì ông đi phân tích nhân dưới nhiều góc độ và hình thức khác nhau , còn Mạnh Tử thì cho ra đời thuyết tính thiện khi ông bàn về vấn đề nhân ; bên cạnh đó ông cũng nói được ý nghĩa của nhân chính , song bài viết có giới hạn nên người viết không nói tới vấn đề này khi đi

so sánh Điểm chung đồng giữa hai nhà tư tưởng này là đều nhắm đến mục đích con người , lấy con người làm đối tượng để nghiên cứu và lý giải vấn đề Mạnh Tử lại thêm một lần nữa khẳng định thuyết nhân của đạo Khổng , lập luận để cho nho giáo có một chổ đứng vững vàng trong xã hội , được con người lấy đó làm lẽ sống Bằng lập luận của mình ông đã vạch rõ bản chất của nhân, theo Mạnh Tử thì bản chất của nhân là tính thiện Như thế càng về sau những nhà nho sĩ đã càng cũng cố chỗ đứng vững chắc cho Nho Giáo trong hiện thời

SÁCH THAM KHẢO

(12) Nguyễn Đăng Thục,opcit.,tr 52

Trang 7

1.Sào Nam-Phan Bội Châu,Khổng Học Đăng ,NXBVHTT,1998

2.Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Phương Đông –Tầp2, NXBTPHCM

MỤC LỤC

Trang 8

I.DẪN NHẬP

II.NỘI DUNG

1 Sơ lược về nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương

1.1 Hoàn cảnh ra đời

1.2 Sự hình thành nhà nước Văn Lang

2 Những thành tựu văn hóa dưới thời Hùng Vương

2.1 Văn hoá tiền Đông Sơn

2.1.1Văn hoá giai đoạn Phùng Nguyên

2.1.2 Văn hóa giai đoạn Đồng Đậu 2.1.3 Văn hoá giai đoạn Gò Mun

2.2 Văn hoá Đông Sơn

2.3 Tín ngưỡng thời Hùng Vương

2.4 Lục Độ Tập Kinh- Ngôn ngữ Việt

2.5 Lịch pháp Việt Nam

I.DẪN NHẬP

Việt Nam có một chiều dài truyền thống vẽ vang , trãi qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước , nét đẹp truyền thống ấy ngàn đời khó có thể tẩy xóa được , trái lại nó được thăng hoa trên mọi lĩnh vực Dù đứng trước sự thay đổi của thế giới nhân loại ; hòa nhịp vào cuộc sống với kỷ nghệ và thông tin hiện đại nhưng vẫn không

Trang 9

quên ngày giổ tổ mùng mười tháng ba Nói đến thời khai sơn lập địa của đất nước Việt Nam hẳn chúng ta không thể không đề cập đến những nét văn hóa , kinh tế , chính trị của thời đó như chúng ta đã biết Một đất nước mỗi khi đã được thành lập thì tất cả các hình thái trong xã hội đó sớm xuất hiện, nó sẽ phát triển theo thời gian lịch sử Cũng vậy triều đại Hùng Vương là triệu đại đầu tiên hình thành mang tên là nhà nước văn lang , tồn tại lâu đời trãi qua mấy ngàn năm lịch sử ; các vấn đề văn hoá , chính trị

… có những thành tựu lớn lao , trong đó thành tựu lớn nhất mà các nhà khảo cổ học khaiquật đó là giá trị của nền văn hóa thời bấy giờ để mọi người hiểu rỏ về lịch sử của đấtnước , người viết dựa vào nhưng sử liệu học , đọc được trong các nguồn tài liệu xin lược ra đây những thành tựu văn hóa của thời Hùng Vương , để mọi người hiểu rõ về lịch sử của đất nước , thấy được cái hay , cái vĩ đại của thế hệ cha ông , họ đã cống hiếncho nhân loại , cho con người Việt Nam hôm nay lớp văn hóa cổ xưa , vấn đề đó được nhận định dưới từng góc độ nào , chúng ta cùng nhau tìm hiểu

II.NỘI DUNG

2 Sơ lược về nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương

2.1 Hoàn cảnh ra đời

Ngược dòng thời gian cách đây khoảng 5000 năm ở các miền đất từ sông Trường Giang trở về phía Nam, sớm xuất hiện những quần thể tộc người có lối sống và nền văn hóa chung Họ sống chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp trồng lúa nuớc, có danh xưng chung là Việt ( danh xưng riêng theo từng quần thể , từng vùng miền)(1) Qua đó cho ta thấy trong các bộ tộc sống chung với nhau sớm có những mối quan hệ như : Ngôn ngữ, phương thức sản xuất … ( từ đó giữa họ sớm nảy sinh những mâu thuẫn nội tại song đời sống ngày một phát triển đòi hỏi phải có một sự phân công lao động sản xuất, dần dần hình thành sự phân chia các tầng lớp trong xã hội bộ lạc lúc bấy giời Mỗi bộ lạc cần phải có người đứng đầu trong coi , điều khiển các công việc … Trong số các bộ lạc thì cónhóm người lạc Việt có đời sống khá giả , ổn định hơn các bô tộc khác Khi mà đời sống con người ngày có nhiều của cải vật chất dư thừa thì sớm muộn sẽ có sự phân chia các tầng lớp để quản lý của cải dư thừa trong xã hội , Từ đó mối mâu thuẫn nội tại cộng đồng người lạc Việt ngày càng lớn khiến những người tìm cách giải quyết những xung đột trong cộng đồng bộ lạc , nhà nước văn lang ra đời từ hoàn cảnh đó

1.2 Sự hình thành nhà nước Văn Lang

Đứng đầu nhà nước văn lang là vua Hùng Vương , con trưởng của Lạc Long Quân ,tục truyền Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một trăm người con trai Vua hùng lấy đất Phong Châu ( nay là huyện Bạch Hạc) làm kinh đô Lấy hiệu nước là Văn Lang , phía Đông giáp Nam Hải , phía Tây tới Ba Thục, phía bắc giáp Hồ Động Đình , phía Nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành ( nay thuộc tỉnh Quang Nam ) , nước chia làm

15 bộ , đặt tướng văn là Lạc Hầu , tướng võ là Lạc Tướng Con trai là Quan Lang, con

(1) Viện KHXHTPHCM, Lịch Sử Việt Nam, NXB Trẻ,tr 24

Trang 10

gái là Mỵ Nương , quan lại là Bồ Chính, duy trì được 18 đời Vua Hùng , thay nhau cai trịtrãi qua 2622 năm ( 2879-257 AD) (2)

2 Những thành tựu văn hóa dưới thời Hùng Vương

Con người nói chung , người Việt Nam nói riêng dù ở đâu ai ai cũng nhớ về cội nguồn, phải chăng đó là cái bản chất vốn có ở trong lòng mọi người? Từ xuất phát điểm này mà các nhà khảo cổ đã bỏ công truy tìm chứng cứ, khám phá những nét đặc trưng cho thời tiền sử nước nhà, những công tình khảo cứu đã cho thấy vùng đất phong châu có một hệ hống văn hoá phát triển liên tục từ thời văn hoá Phùng Nguyên đến thời văn hoá Đông Sơn Tiến trình lịch sử văn hoá thời tiền sử có những nét đặc sắc; người viết sẽ trình bày những điểm chính như sau

2.1 Văn hoá tiền Đông Sơn

Đây là bắt đầu cho nền văn hoá trong thời kỳ mới hình thành nền nhà nước Văn Lang Thời kỳ này có những nét văn hoá khá tiêu biểu , điển hình qua ba giai đoạn Phùng Nguyên- Đồng Đậu- Gò Mun kéo dài đến một nghìn năm lịch sử

2.1.1Văn hoá giai đoạn Phùng Nguyên

Đây là giai đoạn đầu các thời Vua Hùng mới dựng nước , để lại trên dưới 50 di tích về làng, khu mộ cổ đã được phát hiện, những di tích được phát hiện rãi rác ven các sông như sông Hồng , sông Đà, Hoàng Hà, sông Đáy Trong số này, tại Phong Châu và Tam Thanh chiếm đến 50% di tích trong khu di tích Phùng Nguyên thuộc địa phận thôn Phùng Nguyện , xã Kinh Kệ, , huyện Phong Châu tỉnh Phú Thọ Vùng di tích này xuất hiện công cụ dụng cụ trang sức bằng đá , đặc biệt đã phát hiện thấy cả 100 đồ gốm còn nguyên vẹn và hơn hàng vạn mãnh gốm nằm rãi rác trong lớp đất văn hoá cổ dày mấy mươi cm, ở một diện tích khoảng hơn 30 héc ta Với bán kính 6 km đã phát hiện hàng loạt di tích như xóm Hiếu , Gò Mả Nguộn, Chùa Cao , Thành Dền, Gò Ghê, Gò Dạ, Gò Hồng, An Đạo …(3)

Các đồ vật của di tích để lại phản ánh được nét sinh hoạt tinh thần , nền sản xuất bước đầu của Văn Lang thời bấy giờ Lúc này hoạt động nông nghiệp là chủ yếu.; các cổ vật như rìu , bôn , cuốc … ghè đẻo từ đá với nhiều kích thước khác nhau; dụng cụ dao , liềm cũng đã tìm thấy ở di tích Gò Bông tỉnh Phú Thọ Như vậy, qua khảo cổ cho

ta thấy quá trình hình thành phương pháp canh nông được thể hiện từ canh tác đến quá trình thu hoạch , đánh giá là một quá trình xã hội phát triển nền văn hoá có kỷ thuật cao.Trong thời kỳ đồ đá , cụ thể qua các dụng cụ cuốc dùng để vở đất vun xới … cho đếndụng cụ để thu hoạch như liềm , dao … ) Biểu hiện một đỉnh cao di tích văn hóa cuối thời kỳ đồ đá từ khi có nhà nước Văn Lang Về mặt tinh thần , văn hoá Phùng Nguyên đã biết dùng heo để làm vật cúng tế khi có người chết

diện tích lũng hòa thuộc vĩnh tuờng vĩng phúc pháp hiện xương hàm heo chôn trong ngôi mộ cổ thời Hùng Vương

(2) Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư-Tấp, NXBVHTT,Tr.66

(3) Viện KHXH TPHCM, Opcit., tr.44

Trang 11

Bên cạnh đó văn hóa Phùng Nguyên còn tôn vinh mặt mỹ thuật , phát hiện 600 tiêu bản trong số 4000 đồ đá các loại ( là các loại trang sức như vòng, chuỗi, nhẫn …) bằng đá với một kỷ thuật thẩm mỹ cao , hết sức tinh tế Tại di tích văn điền (hà nội) vòng taycó 535/1085 đồ đá)

(4)

2.1.2 Văn hóa giai đoạn Đồng Đậu

Tiếp theo giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên ( giai đoạn phát triển đến đỉnh cao của thời kỳ kỷ xảo của đồ đá) là giai đoạn phát triển kỷ nghệ luyện kim đúc đồng được thựchiện phổ biến qua nhiều di tích tại Phong Châu như di tích Tiên Hội ( Hà Nội) Đông Lâm( Bắc Giang) Thành Dền ( Vĩnh Phúc)… Đã khai quật được một số đồ vật cổ như mũi tên ,mũi nhọn , lưỡi câu , dây , đục , giáo , rìu được làm bằng đồng Càng về sau thì số lượng cổ vật càng gia tăng, phát hiện cả những vật dụng dùng để đúc như khuôn đúc, nồi gốm để rót dung dịch kim loại, lò nấu quặng ( trong đó Thành Dền là trung tâm đúc đồng ở giai đoạn này Qua các sản phẩm thời kỳ này đã được thể hiện tính đặc tính đặctrưng trong sản xuất, phản ánh trung thực trong đời sống sinh hoạt hằng ngày ở giai đoạnnày như cổ vật để trang trí ( có giá trị nghệ thuật cao) và đồ vật cổ để phòng vệ…)

2.1.3 Văn hoá giai đoạn Gò Mun

Khu di tích này tiếp nối thời kỳ phát triển đồ đồng cho giai đoạn đồng đậu đến cực điểm hết sức tinh túy , kỷ xảo đúc luyện kim khí hết sức điêu luyện Mặt số lượng ở giai đoạn này được khảo cổ phát hiện ra hàng loạt cổ vật đáng kể: Có thể xem đây là giai đoạn tiền thân của giai đoạn văn hoá Đông Sơn với những kiểu dáng mới hoàn chỉnh hơn so với đồ đồng thời Đồng Đậu Những dụng cụ này phản ánh nền kinh tế thờibấy giờ là chủ yếu dựa vào nông nghiệp, thủ công nghiệp , lối sinh hoạt hằng ngày, lối trang sức, trang trí nghệ thuật và phương cách phòng hộ … Phương pháp pha chế đúc đồng để áp dụng một cách có khoa học kỷ thuật, tuỳ Theo mức độ sử dụng ở từng vật dụng, đến giai đoạn này quá trình tích lũy những kinh nghiệm đạt đến đỉnh cao không ngừng cải tiến để chuyển sang giai đoạn mới,tạo ra một nền văn hóa tiền Đông Sơn ở đất Phong Châu trù phú với các cổ vật mang đậm nét bản sắc dân tộc trong buổi sơ khai Một dân tộc con rồng cháu lạc, một dân tộc có bề dày lịch sử nguồn góc lâu đời.Tóm lại, văn hóa tiền Đông Sơn là nền văn hoá diễn tiến theo ba tầng lớp di tồn văn hóa cư trú cư từ Phùng Nguyên đến Đồng Đậu , Gò Mun Trình tự phát triển văn hóa-

cư trú ấy cũng được ghi nhận ở di chỉ Xuân Kiều ( Phùng Nguyên- Đồng Đậu); ở di chỉ Đình Chàng , Đồi Đà ( Đồng Đậu) Gò Mun , Chùa Thông , Thành Dền ( Đồng Đậu – Gò Mun – Đông Sơn) (5)

Chính nhờ sự tiến bộ của thời kỳ này mà nhà nước Văn Lang sớm ra đời trong bối cảnh : Việt Sử Lược ghi lại vào thế kỷ XII về “ Thời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có dị nhân dùng ảo thuật áp phục các bộ lạc rồi tự xưng Hùng Vương, đóng ở Văn Lang, lấy hiệu nước Văn Lang “ tích này có điểm khác với Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (4) Ipid.,tr 49

(5) Ipid.,tr 49

Trang 12

về chổ đóng đô là Phong Châu chứ không phải là Văn Lang như Việt Sử Lược đã nói ở trên.

2.2 Văn hoá Đông Sơn

Hình thành vào khoảng thế kỷ thứ VIII-VII AD , trên cơ sở tiếp nối nền văn hóa tiền

Đông Sơn , giai đoạn này đã đón nhận một thành quả to lớn trong suốt ngàn năm tạo dựng hình thành của tiền Đông Sơn cộng với thời kỳ mà điều kiện thiên nhiên rất thuận lợi mở ra một thời cuộc với nền văn hóa mới- nền văn hóa Đông Sơn- hình thành một nhà nước Văn Lang, bộ máy chính trị đơn giản, song phản ánh được nét đặc thù cai trị từng cụm ,từng miền dân cư, mở rộng lãnh thổ ra nhiều phía; các nhà khảo cổ đã tìum thấyrất nhiều di tích ở thời kỳ này nhưng đa phần tập trung ở cáclưu vực sông Hồng , sông Mã , sông Cả( sông Lam)

Những di tích lưu giữ khá nhiều cổ vật như Gò Dạ , Thanh Đình, Liên Minh, đây là nét đặc trưng những khu dân cư mang đậm nét văn hóa Đông Sơn-sông Hồng Trong đó ,vũ khí các loại chiếm 85% số còn lại là những dụng cụ phục vụ đời sống thường nhật như thuổng , dao khắc, dùi đinh, quả cân, khạp, vòng tay, khuyên tai, chuông , trống nhỏ…

Như thế ,thời kỳ nền văn Hóa Đông sơn các vật cổ thể hiện những nét đặc sắc phongphú , chúng thể hiện phần nào cuộc sống xã hội –văn hóa của người dân lúc bấy giờ.Hầu hết các khu dân cư ở ven lưu vực các con sông đều để lại hàng trăm đồ vật cùngvơi những ngôi mộ cổ ; những đồ vật này làm từ chất liệu đồng thaumang đậm nét đặc trưng văn hóa Đông Sơn- sông Hồng

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư , Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu vùng Bạch Hạc, Tam Đảo là đế đô Văn Lang , tại đây tập trung nhiều nhất các đền thờ vua Hùng.Bên cạnh sự phát triển tột đỉnh của nền văn hóa thời kỳ vật liệu đồ đồng là chuyển đoạn thời kỳ phôi thai của đồ sắt, khảo cổ đã tìm ra một số khu di tích đồ vật làm bằng sắt như cuốc , khuyên tai, dúi ở Gò Chiềng Vậy.Gò Chùa Thông, Đường Cồ … cư dân ở đây đã sáng chế ra các loại đồ đồng thau và dần dần phát triển công nghệ chế tạo đồ sắt Cũng chính nơi đây , Hai Bà Trưng đã dấy binh khởi nghĩa

Bên cạnh sự phát triển của kỷ nghệ luyện kim; quá trình giao lưu văn hóa , hội nhập diễn ra mạnh mẽ giữa các bộ người, đây chính là mấu chốt sớm hình thành nhà nước Văn Lang với một nền văn hóa có bản sắc riêng của dân tộc người Việt

Một điều cần chú trọng , nền văn hóa người Việt từ thời Tiền Đông Sơn đến Đông Sơn ngày một được phát triển và tác động tích cực đến các lĩnh vực khác của xã hội; những tập tục xăm mình, ăn cơm nếp, tế lễ… được hình thành rất sớm, biểu hiện đậm nétvăn hoá , mở màn cho nền văn hoá mới – văn minh của người Việt đậm bản sắc dân tộc, bản sắc người Á Đông thực sự

2.3 Tín ngưỡng thời Hùng Vương

Trong những thành tựu rực rơ ûcủa nền văn hóa Hùng Vương nhà nước Văn Lang để lại, chúng ta không thể nhắc đến bộ máy công quyền dựa trên luật pháp cụ thể là bộ Việt Luật

Trang 13

Sau khi mã viện đánh thắng quân Hai Bà Trưng , Mã Viện đã phải sữa chữa những điều tấu khác với bộ Hán Luật ở bản Việt Luật Mặc dù bộ Việt Luật đã mất , nhưng chúng ta giám khẳng định đây là bộ luật có từ đời Hùng Vương độc lập từ 110 đến 435DL chứ không do đời Hai Bà Trưng lập ra vì thời gian lên ngôi của Hai Bà Trưng không đủ để lập ra bộ luật này, vã lại đời Hùng Vương tồn tại trong suốt một chiều dài lịch sử mới cho phép bộ luật như Việt Luật ra đời , nó có tác động rộng rãi trong xã hội Thời Hùng Vương phải có một nền văn hoá có đặc tính riêng, một bộ luật mang ngôn ngữ tiếng Việt phù hợp với một chế độ xã hội đang trên đà phát triển cao về mặt kinh tế đa dạng cũng như mặt tổ chứ khá phức tạp(6)

2.4 Lục Độ Tập Kinh- Ngôn ngữ Việt

Lục độ tập kinh là văn bản đầu tiên và xưa nhất ngoài bài việt ca , tập thành những chủ đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân nghĩa , trung hiếu… những điểm cốt lõi của chủnghĩa nhân đạo Việt Nam, truyền thống văn hoá Việt Nam (7) Dựa vào bản góc tiếng Việt Khương Tăng Hội đã dịch sang tiếng Trung Hoa vào thời Tam Quốc Bản Lục Độ Tập Kinh này có cả thảy 91 truyện Trong đó, ngôn ngữ Việt mang đận nét đặc sắc , sau đây người viết sẽ dẫn chứng một số đặc trưng trong văn bản này:

Văn từ và nội dung Lục Độ Tập Kinh có nói về giới nho sĩ; như vậy bản dịch này không thể dịch từ một bản của Ấn Độ

Trong bản dịch của Khương Tăng Hội đã dùng đến nhiều lần từ “Trung tâm” mà ngữ pháp Trung Hoa thời bấy giờ không chấp hành , như vậy Khương Tăng Hội đã viết theo một bản mang ngữ pháp tiếng Việt

Từ hai điểm chính này, chúng ta có thể khẳng định Lục Độ Tập Kinh mà Khương Tăng Hội đã dịch ra bản Trung Hoa là từ một bản gốc nào đó mang ngôn ngữ tiếng việt

2.5 Lịch pháp Việt Nam

Hệ thống Lịch Pháp được chia năm ra làm 360 ngày, rồi phân bổ thành bốn mùa , mỗi mùa có ba tháng , mỗi tháng có 30 ngày, dùng hệ 7 ngày làm tuần là di sản thời Hùng Vương Nó được bảo lưu trong Lục Độ Tập Kinh qua mười truyện Sở dỉ nói Lịch Pháp là truyền từ đời Hùng Vương nhờ dựa vào hai lý luận sau

Lịch pháp này không theo lịch pháp của Trung Quốc : Vì Trung Quốc xác định một năm có 366 ngày, mười ngày là một tuần Cùng với lời xác nhận của Lưu An(? –

122AD)rằng:

“ Thời từ tam đại , Hồ và Việt không chịu nhận chính sóc”(8) nghĩa là nước ta thời bấygiờ không chịu sự quan tâm bảo hộ của Trung Quốc Như vậy , mới thấy lịch pháp này ít

ra cũng xuất hiện vào cuối đời Hùng Vương

Lịch pháp này không Theo hệ thống lịch pháp bên Aán Độ : mặc dù Aán Độ rất thích con số 7 (Theo Rigveda) nhưng trong lịch pháp lại không dùng đến hệ thống 7 ngày để tính tuần

(6) Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam- Tấp1,NXB Tổng Hợp TP.HCM,tr 39-40

(7) Ipid., 47

(8)Ipid.,tr 68

Trang 14

Từ những chứng cớ trên , chúng ta có thể khẳng định lịch pháp chính là di sản văn hóa thời Hùng Vương, lịch pháp đó vẫn còn được bảo lưu cho đến ngày hôm nay

IV.KẾT LUẬN

“Các vua hùng đã có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Hồ Chí Minh

Lịch sử Việt Nam rãi qua hàng ngàn năm dựng nước , giữ nước trong suốt chiều dài lịch sử cổ đại ấy; triều đại Hùng Vuơng với nhà nước Văn Lang đầu tiên ra đời đã để lạicho Việt Nam hôm nay một số thành tựu về mặt văn hóa khá phổ biến Nét đẹp trống đồng Đông Sơn là đỉnh cao của truyền thống văn hóa cổ xưa thời ấy Buổi đầu khai sơn lập địa , 18 đời vua Hùng tổ tông nước Việt không thể không trãi qua những sóng gió của lân bang , song giống người góc Việt đầu tiên này đã tạo dựng được một nền văn hóa riêng cho mình mà không hề có ảnh hưởng gì đến “nước lớn nước me”ï như Trung Quốc Tiến trình phát triển của lịch sử loài người từ thời đồ đá đến đồng thau rồi đến kim loại… được nhà nước Văn Lang trãi nghiệm và đã tạo ra những di sản lớn cho thế giới cũng như cho Việt Nam hôm nay Hãnh diện với nét truyền thống con rồng cháu tiên Dù người dân có đi đâu về đâu vẫn không quên nhớ về nguồn cội, nhớ đến ngày giổ tổ mùng mười tháng ba

Hồng Bàng là tổ nước ta

Nước ta lúc đó gọi là Văn Lang

Thiếu niên ta rất vẽ vang

Trẻ em phù đổng tiếng vang muôn đời

Tuổi tuy chưa đến chín mười

Ra tay cứu nước diệt loài xâm lăng (9)

SÁCH THAM KHẢO

1.Vũ Tuấn Sán,Văn Thơ Về Vịnh Thánh Gióng, Khảo Cổ Học, số 11-12, 1971.

(9) Vũ Tuấn Sán,Văn Thơ Về Vịnh Thánh Gióng, Khảo Cổ Học, số 11-12, 1971,tr 81

Ngày đăng: 16/05/2017, 20:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w