1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xã hội hóa trong xã hội học với Đạo đức Phật giáo

13 202 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 276 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không cần phải tìm hiểu đâu xa, những giá trị ấy hằng hiển thị trong đời sống hằng ngày của người dân Việt, hình thành nên một nếp sống đạo đức trong mỗi con người.. Đạo đức là một phẩm

Trang 1

XÃ HỘI HỐ TRONG XÃ HỘI

HỌC VỚI ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO

BÀI THI CUỐI MÙA THU

NĂM THỨ HAI

MƠN: XÃ HỘI HỌC

Ni Sinh : Thế Danh : MSSV :

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TPHCM

NĂM: 2008

ĐỀ BÀI:

1

Trang 2

Xã Hội Hoá trong Xã Hội Học với Đạo Đức Phật Giáo

DÀN BÀI

I/ Dẫn nhập:

II/ Nội dung:

II.1/ Xã Hội Hoá trong Xã Hội Học

II.1.1/ Khái niệm Xã Hội Hoá II.1.2/ Các môi trường Xã Hội Hoá II.2/ Các chuẩn mực Đạo Đức

II.2.1/ Định nghĩa về Đạo Đức II.2.2/ Chuẩn mực về Đạo đức trong xã hội nói chung

II.3/ Đạo Đức Phật Giáo

II.3.1/ Đạo đức đối với người Phật tử tại gia

II.3.2/ Đạo đức đối với người xuất gia

II.4/ Aûnh hưởng của Đạo Đức Phật Giáo trong xã hội

III/ Kết luận

I/ DẪN NHẬP:

2

Trang 3

Phật giáo du nhập vào Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ

II, đầu thế kỷ III, tính đến nay đã gần 2000 năm Với ngần ấy thời gian là quá đủ để người dân trên đất nước này trắc nghiệm những giá trị chân – thiện – mỹ của đạo Phật Không cần phải tìm hiểu đâu xa, những giá trị ấy hằng hiển thị trong đời sống hằng ngày của người dân Việt, hình thành nên một nếp sống đạo đức trong mỗi con người

Do vậy tìm hiểu về quá trình xã hội hoá trong đạo đức Phật giáo là một vấn đề vô cùng thiết thực Đề tài này đòi hỏi một quá trình nghiên cứu sâu rộng mới có thể chuyển tải hết những nội dung ảnh hưởng của nó Tuy nhiên trong khuôn khổ một bài viết có phần hạn chế, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về đạo đức nói chung của Phật giáo và ảnh hưởng của nó trong lòng xã hội Việt Nam mà thôi Dù vậy đây cũng là đề tài gợi mở cho những hướng nghiên cứu sau này

II/ NỘI DUNG:

II.1/ Xã Hội Hoá trong Xã Hội Học :

Trước khi tìm hiểu về khái niệm Xã Hội Hố chúng ta cần tìm hiểu xem xã hội

là gì?

Nĩi đến xã hội là nĩi đến tổng thể của nhiều cá nhân sống trong một cộng đồng

cĩ hoạt động xã hội và quan hệ xã hội về vật chất lẫn tinh thần Nĩi cách khác xã hội

là sự tồn tại của vơ vàn cá nhân, tồn tại trong sự khác nhau mà lại sống bên cạnh nhau Cái khác nhau là sống chung nhưng vẫn tồn tại cái riêng

Chính vì vậy mà cần phải cĩ sự điều tiết cá nhân theo mẫu chung ta gọi đĩ là hệ thống giá trị mẫu mực Hệ thống này là những điều Tốt, Phải, Đẹp… mà nhân loại cần hướng tới Điều này cĩ thể biểu trưng qua những giá trị đạo đức của con người Sự hình thành nhân cách đạo đức là do quá trình xã hội hố mỗi cá nhân Do vậy cần phải

cĩ sự tìm hiểu về Xã Hội Hố và các giai đoạn cũng như mơi trường của Xã Hội Hố

II.1.1/ Khái niệm Xã Hội Hố:

Xã Hội Hố là quá trình mà cá nhân học cách làm người ở ngồi xã hội mà trong đĩ con người đã sinh ra, là một quá trình tiếp nhận nền văn hố mà nhiều thế

3

Trang 4

hệ khác đã xây dựng nên.1

II.1.2/ Các giai đoạn và môi trường Xã Hội Hoá:

Quá trình Xã Hội Hoá cá nhân trãi qua 3 giai đoạn tương ứng với 3 môi trường

Xã Hội Hoá:

• Giai đoạn trẻ em- Mội trường Xã Hội Hoá là gia đình:

Đây là giai đoạn mà quá trình Xã Hội Hoá diễn ra tự nhiên chủ yếu bằng con đường tình cảm như tình mẫu tử, phụ tử, qua những câu à ơ của mẹ đến những lời răn dạy của cha v.v…

• Giai đoạn học sinh- Môi trường xã Hội Hoá là nhà trường:

Quá trình Xã Hội Hoá ở đây là quá trình truyền đạt những tri thức cho học trò, nhà trường trang bị những tri thức cho học trò tiếp nhận để làm người

• Giai đoạn trưởng thành- Môi trường Xã Hội Hoá chính là bản thân xã hội rộng lớn:

Quá trình Xã Hội Hoá diễn ra vô cùng phức tạp rộng lớn trong các mối quan hệ của cuộc sống mưu sinh, hôn nhân, gia đình, bạn bè và mang tính lợi ích của các tôi ích kỷ

Quá trình này lắm khi nó phá vỡ, đảo lộn các quá trình xã hội hoá trước đó

II.2/ Các chuẩn mực đạo đức:

II.2.1/ Định nghĩa về đạo đức:

Đạo đức (virtue): là phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể Đạo đức là một phẩm chất tốt đẹp của con người, sống có đạo đức và rèn luyện đạo đức cho thế hệ mai sau.2

Theo triết học Trung Quốc cổ đại thì đạo đức là đạo nghĩa, nguyên tắc luân lý,

nó chính là những yêu cầu, những nguyên tắc chuẩn mực do cuộc sống xã hội đặt ra

mà mỗi người phải tuân theo.3

II.2.2/ Chuẩn mực đạo đức trong xã hội nói chung:

1 Giáo sư Lê Hải Thanh; bài giảng tại lớp môn Xã Hội Học

2 Nguyễn Như Ý và tgk;Từ Điển Tiếng Việt Thông Dụng, TPHCM: NXB Giáo Dục, 1998, tr

249

3 PTS Vũ Tình; Đạo Đức Học Phương Đông Cổ Đại, Hà Nội: NXB Chính Trị Quốc Gia, 1998,

tr 14.

4

Trang 5

Ở mức độ tương đối, để con người sống chung với nhau một cách ơn hồ, để một xã hội tương đối ổn định, tuỳ theo phong tục tập quán, tuỳ theo bối cảnh cụ thể người ta đã đưa ra những quy ước chuẩn mực về đạo đức, chuẩn mực về đạo đức ấy

cĩ khi là sự bắt buộc, áp dụng cho tồn xã hội thì ta gọi đĩ là luật pháp, quốc pháp…

Cĩ khi là sự tự nguyện, tự giác mang tính kế thừa truyền thống dân tộc được tồn tại tự nhiên trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày thì gọi là gia quy, quy ước… nhưng nếu một nhĩm người chấp nhận bằng một điều khoản thì gọi đĩ là quy định, nội quy… Các chuẩn mực như thế được xem là đạo đức chung cho một cộng đồng

Con người được sinh ra trong cộng đồng và lớn lên trong cộng đồng, rồi tồn tại

và phát triển với cộng đồng Cĩ nghĩa là con người luơn luơn gắn bĩ và liên hệ chặt chẽ với nhau và khơng thể tách rời Cho nên mối quan hệ đĩ phải làm như thế nào cho được liên tục và phát triển tốt đẹp, chắc chắn đĩ phải là lối sống thật sự cĩ giá trị đạo đức

Quá trình hình thành đạo đức bắt đầu từ mơi trường gia đình, sau đĩ là nhà trường rồi đến xã hội Trong đĩ gia đình là trung tâm của tồn cả nhân loại vì chính ở

đĩ con người được phát triển hài hồ, là chỗ trú ngụ yên bình và hạnh phúc, nĩ cĩ quan hệ mật thiết với cuộc sống xung quanh Cho nên lối sống đạo đức và nề nếp trong một mái ấm gia đình chính là sự báo hiệu tốt đẹp cho những mối quan hệ khác

và ảnh hưởng cho quốc gia cũng khơng phải nhỏ

II.3/ Đạo Đức Phật Giáo:

Trên phương diện đạo đức, Phật giáo có những quan điểm thể hiện qua những nội dung như sau:

• Thế giới quan được thể hiện qua giáo lý: Tam giới, nhân duyên, vô thường, vô ngã

• Nhân sinh quan được thể hiện giáo lý: Ngũ uẩn, nghiệp quả, luân hồi, thập nhị nhân duyên, tứ diệu đế

• Định hướng giá trị đạo đức xã hội gồm có: cái thiện và cái ác

• Đạo đức cá nhân xoay quanh: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp Đạo đức cá nhân theo lời đức Phật dạy cho hai đối tượng đó là người đời và người Phật tử Đồi với người đời có bảy quan hệ cơ

5

Trang 6

bản trong cuộc sống đời thường là: cha mẹ, bạn bè, thầy trò, bề trên, bề dứơi, nô bộc với chủ Đối với người Phật tử là quy y Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng; thực hành ngũ giới, tu thập thiện, bát chánh đạo và sáu pháp ba la mật

• Mẫu người lý tưởng: con người lý tưởng của Phật giáo là con người đức hạnh trên đường giải thoát, mà hình ảnh đích thực nhất là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Ngoài ra những vị Alahán cũng là mẫu hình đức hạnh lý tưởng, những vị Bồ Tát với những phẩm hạnh siêu việt Ba La Mật trong trạng thái tâm linh đang an trụ đồng cư cùng đức Phật

Trên đây là những vấn đề chung, khái lược về đạo đức học Phật giáo Đạo đức ấy chứa đựng những quan điểm gắn bó chặt chẽ với đời thường Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu chi tiết về đạo đức học Phật giáo đối với người Phật tử tại gia và xuất gia

III.1.1/ Đạo đức đối với người Phật tử tại gia:

Một người muốn trở thành một Phật tử, tự nguyện đặt mình vào kỷ luật để nuơi dưỡng đời sống tâm linh mà Đức Phật đã thiết lập, họ phải tuân thủ 5 giới, 10 giới hay cao hơn nữa là Bồ Tát giới Giới luật ấy giúp con người nhận ra một cách sâu sắc hơn

về bản chất của cuộc sống và rút ra được hệ quả đạo đức, nuơi dưỡng được niềm tin vào cuộc sống hiện tại và hướng đi của tương lai

Nguyên tắc hành trì mà Đức Phật thiết lập cho các đệ tử khép mình vào đĩ để đình chỉ dục vọng cĩ thể nĩi đĩ là những nguyên tắc khách quan và phổ quát Đĩ là 5 giới của người Phật tử: Một: là khơng giết hại; Hai: là khơng trộm cắp; Ba: là khơng quan hệ tình dục phi pháp (tà dâm); Bốn: là khơng dối gạt hại người; Năm: là khơng rượu chè say sưa

Một nhà tri thức phương Tây nhận định: “Năm giới này cho thấy năm hướng chính mà người Phật tử tự mình kiểm sốt để hành trì Đĩ là giới thứ nhất răn người Phật tử kiềm chế nĩng giận, giới thứ hai kiềm chế tham đắm vật chất, giới thứ ba kiềm chế nhục dục, giới thứ tư kiềm chế sự khiếp nhược và ác ý (nguyên nhân khơng chân thật) và giới thứ năm kiềm chế lịng ham muốn các sự kích thích nhơ bẩn)”4

4 Edmond- Homes; Tín Điều Của Đức Phật.

6

Trang 7

Giá trị của một người khơng phải được đánh giá qua tài sản, thân tướng, dịng

họ, địa vị… mà được đánh giá qua đời sống mà chuẫn mực được thể hiện qua 5 nguyên tắc đạo đức trên Đức Phật dạy thêm rằng: “Một người mà hành vi của họ được bảo vệ bởi 5 nguyên tắc trên thì người ấy cĩ thể thành tựu một cách nhanh chĩng bốn tăng thượng tâm hiện tại lạc trú”5

Đi sâu hơn các nguyên tắc cơ bản trên, Đức Phật thiết lập 10 giới (10 điều thiện) nhằm nâng cao hơn nữa hành vi và tâm lý đạo đức của con người, 10 điều ấy được thiết lập trên cơ sở hành vi, ngơn ngữ và tâm ý

Hành vi gồm cĩ:

- Khơng sát sanh

- Khơng trộm cắp

- Khơng quan hệ tình dục phi pháp

Ngơn ngữ gồm cĩ:

- Khơng nĩi dối

- Khơng nĩi hai lưỡi

- Khơng nĩi lời độc ác

- Khơng nĩi lời phù phiếm ba hoa

Tâm ý gồm cĩ:

- Khơng tham lam

- Khơng sân hận

- Khơng si mê tà kiến

Đức Phật dạy rằng một người thực hành 10 điều bất thiện thì cuộc sống của họ

là phi đạo đức đồng thời khơng đạt được mục tiêu hạnh phúc Ngài khuyên mọi người nên sống đúng theo 10 điều thiện, như vậy phù hợp với nguyên tắc đạo đức và quy luật của hạnh phúc Muốn được an lạc thì không còn con đường nào khác đó là trở về nương tựa với ba ngôi báu, lấy năm điều giới luật để làm kim chỉ nam, lấy giáo lý căn bản làm nam châm thực hiện

III.1.2/ Đạo đức với người xuất gia:

Để hoàn thiện một bậc Sa Môn trong đoàn thể Tăng

5 Tăng Chi Bộ Kinh III

7

Trang 8

già, thay Phật tuyên dương chánh pháp, Đức Thế Tôn đã chế định giới cho ngưới xuất gia như: Tỳ Kheo 250 giới, Tỳ Kheo Ni 348 giới, Sa Di và Sa Di Ni 10 giới v v… Tuy nhiên tất cả cũng chỉ phát triển từ sự đoạn trừ các động lực bất thiện của tâm ý là tham, sân và si Nếu một người không có tham, sân, si thì đạo đức đã hoàn thiện, không cần giữ các giới điều trên làm gì Vì vậy đức tính của một tỳ Kheo được Đức Phật dạy bao gồm các thiện tâm mà nguồn gốc là vô tham, vô sân, vô si diễn ra như sau:

“Người có tâm xấu hổ sẽ đưa đến tâm sợ hãi các tội lỗi, đưa đến biết khiêm cung, đưa đến nghe lời dạy bảo, đưa đến ưa gần người hiền…”6

Sau khi đã thọ trì giới luật, người xuất gia cần phải cầu học giáo lý và tu tập theo giáo lý ở mức độ khác biệt hơn người tại gia, đó chính là:

“Từ thân xuất gia Thức tâm đạt bổn Giải vô vi pháp…”

Hay trong Cảnh Sách gọi là:

“Miến ly hương đản Thế phát bẩm sư Nội cần khắc niệm chi công Ngoại hoằng bất tránh chi đức Quýnh thóat trần thế Ký kỳ xuất ly…”

Xuất gia và tại gia chỉ khác nhau một điểm nhỏ đó thôi, một điểm nhỏ nhưng lại là một điểm “son” nên vô cùng trọng đại Bởi vậy chỉ có “cắt ái ly gia” thì mới làm được đạo lớn và chỉ có “giải vô vi pháp” để rồi “xiển dương lục hoà cho muôn loại” thì mới làm tròn sứ giả của Như Lai

6 Tăng Chi Bộ Kinh III

8

Trang 9

Tóm lại, đạo đức Phật giáo được xây dựng trên cơ sở giới luật Giới luật ấy là những nguyên tắc dẫn dắt giá trị đạo đức xã hội đi theo dúng hướng đi của nó, hướng đi mà có thể đem đến cho con người dù đời hay đạo có được sự an lạc và hạnh phúc ngay tại thế gian này

II.4/ Ảnh hưởng của Đạo đức Phật Giáo trong xã hội:

Gần 2000 năm có mặt trên đất nước Việt Nam, đạo Phật đã trở thành mạch sống của dân tộc trong mọi hoạt động Vì thế, mối quan hệ giữa Đạo pháp và Dân tộc là bất khả phân ly Ngôi chùa ngoài sự biểu hiện cho sức sống tâm linh Phật giáo còn là nơi dung hội cho một nếp sống văn hóa đạo đức vô cùng cao đẹp, là hồn thiêng sông núi mà bao đời dân tộc Việt hướng vọng để tôn thờ:

“Mái Chùa che chở hồn Dân tộc Nếp sống muôn đời của Tổ Tông”

Huyền Không (Thích Mãn Giác)

Gắn với hình ảnh mái chùa thấp thoáng sau lũy tre làng, là văng vẳng tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng trống, tiếng linh Từ thuở cha ông, chùa chiền không phải của riêng ai, nó là tài sản chung, là của mọi người và chính như thế tất cả những buổi lễ hội đều tập trung diễn ra

ở chùa làng Có thể xem, ngôi chùa làng là nhà truyền thống văn hóa buổi đầu bởi nó cất giữ và tập trung những sinh hoạt của tập thể làng xã

Ngôi chùa là nơi để người ta gởi gấm những ước mong, những lời cầu nguyện Khi một người thân qua đời, thì chùa là nơi để cho người ta gởi gấm thân nhân quá vãng của mình.v.v Cuộc sống quá đổi những giằng co và bất trắc và vì thế, lời kinh tiếng kệ một lần nữa đã gieo vào lòng người sự an bình, trầm tĩnh:

暮暮暮暮暮暮暮暮暮暮暮 暮暮暮暮暮暮暮暮暮暮暮

Mộ cổ thần chung cảnh tỉnh ái hà danh lợi khách Dạ kình triêu khánh hoán hồi khổ hải mộng mê nhân

Tiếng chuông, tiếng mõ, lời kinh đã có mặt rất nhiều trong thơ văn, nhạc khúc, và quan trọng hơn đó chính

9

Trang 10

là sự tiếp nhận giáo lý nhà Phật của nhân dân Một gia

đình có thể không thờ Phật nhưng tin rằng “gieo gió gặt

bão”, “ăn mặn khát nước”, “bởi anh kiếp trước khéo tu, ngày nay con cháu võng dù nghênh ngang” tin luật nhân

quả, tin có kiếp sau những điều đó họ không ý thức được đó là giáo lý nhà Phật nhưng tất cả dường như đã ngấm vào xương thịt họ từ hồi nào rồi xa lắm

Là một nền văn hóa nông nghiệp, người dân suốt đời sống và làm việc phụ thuộc vào thiên nhiên Chính lẽ đó, mọi người phải đoàn kết lại với nhau để giúp đỡ nhau trong công việc như mùa màng, đắp đê chống lũ lụt, đào kênh dẫn nước.v.v Tính cộng đồng là sự thể hiện gắn kết nhiều cá nhân lại với nhau, chúng được thể hiện trong suy nghĩ lẫn trong ứng xử của tất cả những cư dân nông nghiệp

Tính cộng đồng này không phải chỉ thể hiện trong lao động sản xuất mà trong đời sống thường nhật của người dân cũng thể hiện rõ Ví dụ: trong bữa ăn, mọi người cùng ăn chung một mâm, chờ nhau cùng ăn, ăn không chia suất như dân phương Tây mỗi người một đĩa Đồng thời, trong bữa ăn cũng là dịp để mọi người trong gia đình gặp gỡ nhau, chuyện trò với nhau, từ đó mà hình thành thành nên việc thường xuyên nói chuyện trong bữa ăn

Tính cộng đồng thể hiện tinh thần đoàn kết cao: “lá

lành đùm lá rách”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”,

“phép vua thua lệ làng”, “thủ kho to hơn thủ trưởng” Tuy

nhiên, phái sinh từ tính cộng đồng này đó là vai trò của cá nhân không còn được coi trọng, vai trò của từng con người cụ thể bị phủ mờ dưới tấm màng của cộng đồng tập thể từ đó mà thói dựa giẫm, cào bằng, bè phái phát sinh

“Lắm sãi không ai đóng cửa chùa”

“Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”

“Hữu phước hữu phần”

Con người nông nghiệp sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên vì vậy mà không có ý muốn chinh phục tự nhiên như những cư dân chăn nuôi Con người nông nghiệp không có ý định kháng cự lại với tự nhiên, mà chỉ chủ

10

Trang 11

trương một cuộc sống hài hòa với nó Vì thế, người ta khi đứng trước sự thay đổi của tự nhiên thì không gì khác hơn là mình cũng phải thay đổi theo để cho phù hợp Từ đó mà tính linh hoạt trong lối sống cũng như trong ứng xử giữa những người dân với nhau được hình thành

“Bố thí giờ Thìn, ăn xin giờ Tý”

“Bên cha cũng cúng, bên mẹ cũng vái”

“Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”

“Đánh chẳng được, tha làm phước”

“Lành với Bụt, chẳng (chớ) ai lành với ma”

“Làm quan ăn lộc vua, ở chùa ăn lộc Phật”

“Đến với ma phải quỉ quyệt, đến với Phật phải từ

bi”

Dẫu cho ngày nay, thời buổi của sự phát triển và hội nhập mau chóng theo nền văn minh phương Tây, nhưng tính cách nông nghiệp vẫn còn được thể hiện rất rõ trong công việc cũng như trong ứng xử giữa những người với nhau

Do con người cá nhân bị lu mờ trước tập thể, vì vậy tạo cho người ta sự ỷ lại, dựa giẫm, không dám đột phá khi tiến hành một công việc gì Con người cá nhân không tách rời tập thể cho nên khi xét tư cách của một người nào đó người ta thường dựa vào lý lịch của người đó, có khi còn xem xét lý lịch cả ba đời Điều này đã nói lên sự thiếu tôn trọng tính cách và tài năng của cá nhân Trong xã hội ngày nay, con người với tư cách là trung tâm của mọi mối quan hệ vì vậy xem nhẹ cá nhân là điều không đúng Mà tất cả phải được xem xét tùy theo một hoàn cảnh cụ thể để lựa chọn cho phù hợp với mục đích công việc

III/ KẾT LUẬN:

Phật giáo du nhập vào Việt Nam khoảng cuối tk II đầu

tk III Tại đây, Phật giáo đã hòa cùng dòng chảy với những tín ngưỡng nông nghiệp bản địa tạo nên một Phật

11

Ngày đăng: 27/07/2018, 20:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w