1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tieu luan Triet hoc - triet hoc TQ co dai

31 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 384,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những quan niệm khác nhau về bản tính con người như thế lại là điểm xuất phát cho một tư duy triết lý về những phương cách coi trọng giáo dục hay pháp trị trong đạo trị quốc của các

Trang 1

1

LỜI NÓI ĐẦU

Trung Hoa là một đất nước rộng lớn với dân số đông, có chiều dài lịch sử lâu đời (khoảng 5000 năm), là cái nôi của nền văn minh phương Đông nói riêng

và nhân loại nói chung Trong suốt thời gian dài đó đã có rất nhiều những phát minh vĩ đại trên nhiều lĩnh vực khác nhau được con người tạo ra Trung Hoa cũng là quê hương của hệ thống triết học lớn trong nền triết học phương Đông, đặc biệt là trong thời kỳ cổ đại (khoảng từ từ cuối thiên niên kỷ III TCN kéo dài tới tận thế kỷ III TCN) triết học Trung hoa có sự phát triển mạnh mẽ

Trung Hoa cổ đại có lịch sử lâu đời Những biểu hiện tôn giáo, triết học

đã xuất hiện từ rất sớm, đặc biệt là từ thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc trở đi Nguyên nhân là do xã hội Trung Hoa thời bấy giờ đánh dấu sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ, hình thành các quan hệ xã hội phong kiến hết sức phức tạp Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra các tư tưởng và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh Đặc điểm của các trường phái này là lấy con người và xã hội làm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội, có nội dung bao trùm là con người, xây dựng con người, xã hội lý tưởng và con đường trị quốc, Trong đó tiêu biểu là những hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng tới mãi về sau này trong lịch sử phong kiến Trung Quốc như Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Thuyết Âm dương – Ngũ hành

Trang 2

2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU……… …… 1

I ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ ĐẠI.… 3

1.1 Điều kiện tự nhiên……….… 3

1.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội……….… 3

II NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ MỘT SỐ TƯ TƯỞNG, HỌC THUYẾT TIÊU BIỂU CỦA TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ ĐẠI…… 5

2.1 Những đặc điểm cơ bản của Triết học Trung hoa cổ đại……….… 5

2.2 Một số tư tưởng và học thuyết tiêu biểu……… … 8

2.2.1 Tư tưởng Nho gia……….….…… 8

2.2.2 Tư tưởng Đạo gia……….….…… 14

2.2.3 Tư tưởng Mặc gia……… …… 20

2.2.4 Tư tưởng Pháp gia……… …… 23

2.2.5 Tư tưởng triết học của pháp Âm dương - Ngũ hành ……….…… 25

2.2.6 Tư tưởng triết học trong "Dịch truyện"……….………… 27

KẾT LUẬN……… ……… 31

Trang 3

1.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội

Trung Hoa cổ đại có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ III TCN kéo dài tới tận thế kỷ III TCN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa mở đầu cho thời kỳ phong kiến Trong hơn 2000 năm lịch sử ấy, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm 2 thời kỳ lớn: Thời kỳ từ thế kỷ IX tr CN trở về trước và thời kỳ từ thế kỷ VIII tr CN đến cuối thế kỷ III tr CN

a) Thời kỳ thứ nhất: Thời kỳ tan rã của xã hội nguyên thuỷ và sự ra đời của xã hội Nô lệ ở Trung Hoa (Khoảng thế kỷ thứ IX TCN trở về trước): Thời

kỳ này những tư tưởng triết học ít nhiều đã xuất hiện nhưng chưa đạt tới mức là một hệ thống

Thời Nghiêu - Thuấn là thời kỳ cuối của xã hội nguyên thuỷ Trung Hoa Lúc đó, đồ đồng được sử dụng phổ biến, kinh tế nông nghiệp phát triển, xã hội Trung Hoa đã bị phân chia giai cấp mở đầu cho thời kỳ chiếm hữu nô lệ Chủ nô tóm thâu của cải và người nô lệ trong tay mình Vua đã nắm quyền lực tối cao của quốc gia Nhà nước đã xuất hiện Trong giai đoạn này, nhà Chu là thời thịnh trị, chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển đến đỉnh cao Lúc đó, Trung Hoa cổ đại đã

có được nền kinh tế định canh, định cư, công cụ đồ sắt khá phổ biến, có chế độ thuế khoá bằng hiện vật (Nhà Hạ (2205- 1767) rồi tiếp đến là nhà Thương (Ân) vào khoảng từ 1767-1112) thay nhau trị nước Thời kỳ này đồ đồng được sử dụng phổ biến Vào thế kỷ XIV TCN nhà Thương suy giảm uy tín Vua cuối cùng của nhà Thương là Trụ Vương đã thực hiện chế độ cai trị rất tàn khốc nên thủ lĩnh của bộ tộc Chu là Chu Văn Vương đứng lên lập đổ Trụ Vương lập nên nhà Chu (từ 1112 – 770 TCN) và thực hiện chế độ Tông pháp Chế độ Tông pháp là chế độ chính trị mà nó phân chia xã hội theo huyết thống (theo thị tộc)

và lấy những thi tộc bị chinh phục làm lực lượng sản xuất chính Có thể nói rằng

từ khi Chu Văn Vương cầm quyền thì xã hội Trung hoa cổ đại rất thịnh trị Nhà

Trang 4

4

Chu thực hiện chế độ “tĩnh điền” “phong hầu kiến quốc” cho các chư hầu Về văn hoá, Người Trung Hoa cổ đại đã sáng tạo ra chữ viết gọi là chữ giáp cốt, đã làm niên lịch, có nhiều kiến thức về y học, thiên văn.v.v

Trong thời kỳ này, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần Những tư tưởng triết học đã xuất hiện, nhưng chưa đạt tới mức là một hệ thống Nó đã gắn chặt thần quyền với thế quyền, lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị - xã hội với lĩnh vực đạo đức luân lý Lúc này cũng đã xuất hiện những quan niệm có tính chất duy vật mộc mạc, những tư tưởng vô thần tiến bộ

Về khoa học, họ đã phát minh ra chữ viết và dựa vào sự quan sát vận hành của mặt trăng, các vì sao, tính chất chu kỳ của nước sông và quy luật sinh trưởng của cây trồng mà họ đã biết làm ra lịch (Âm lịch)

b) Thời kỳ thứ hai: là thời kỳ Đông Chu (còn gọi là thời kỳ Xuân Thu - Chiến quốc, khoảng từ thế kỷ thứ VIII - III TCN)

Đây là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến Sự phát triển của sức sản xuất đã tác động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội Nếu dưới thời Tây Chu, đất đai thuộc

sở hữu của nhà vua thì nay thuộc về tầng lớp địa chủ mới lên và chế độ sở hữu

tư nhân về ruộng đất hình thành.Từ đó, sự phân hóa sang hèn dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện Xã hội lâm vào cảnh loạn lạc, rối ren và chiến tranh xảy ra liên miên Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành chế độ phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển

Phải nói trong lịch sử Trung Quốc, đây là thời kỳ có một không hai về tự

do học thuật, bởi vậy, các trường phái triết học mọc lên như nấm gặp mưa rào

Sự phát triển sôi động của xã hội đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm của những "kẻ sĩ" luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những mẫu hình của một xã hội trong tương lai Lịch sử gọi đây là thời kỳ

"Bách gia chư tử" (trăm nhà trăm thầy), "Bách gia tranh minh" (trăm nhà đua tiếng) Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra những nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh Đặc điểm của các trường phái này là lấy con người và xã hội làm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội Theo Lưu Hâm (đời Tây Hán), Trung Hoa thời kỳ này có chín trường phái triết học chính (gọi là Cửu lưu hay Cửu gia) là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm dương gia, Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia Trừ Phật

Trang 5

5

giáo được du nhập từ ấn Độ sau này, các trường phái triết học được hình thành vào thời kỳ này được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử và tồn tại cho tới thời kỳ cận đại

Với các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội trong thời kỳ cổ đại, nói một cách khái quát nền triết học Trung Hoa cổ đại nở rộ từ thế kỷ thứ VIII TCN Và

nó có những đặc điểm cơ bản cũng như một số tư tưởng, học thuyết tiêu biểu như sau:

II NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ MỘT SỐ TƯ TƯỞNG, HỌC THUYẾT TIÊU BIỂU CỦA TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ ĐẠI

2.1 Những đặc điểm cơ bản của Triết học Trung hoa cổ đại

Đây là nền triết học đặc biệt quan tâm đến các vấn đề chính trị - đạo đức Bởi đây là thời kỳ đảo lộn của xã hội lúc bầy giờ nên triết học đã đặc biệt quan tâm, suy tư, tìm ra những triết lý, những biện pháp nhằm khắc phục hiện tượng

xã hội Xuất hiện nhiều học thuyết trính trị, tư tưởng, đạo đức khác nhau (bách gia chư tử, bách gia tranh minh) như Nho gia, Mặc gia và Pháp gia Ngay cả những học thuyết mà theo tôn chỉ mục đích của nó là xa rời chính trị nhưng thực

tế vẫn bàn về chính trị và đạo đức như phái Đạo gia của Lão Tử và Trang Tử thời cổ đại Học thuyết Âm dương – Ngũ hành vốn là học thuyết của chủ trương luận và những vấn đề nguyên lý biến đổi của trời đất, vạn vật cũng được vận dụng để lý giải những vấn đề chính trị, đạo đức xã hội, con người

Mặc dù phong phú, đa dạng nhưng nhìn chung các học thuyết triết học tập trung và các vấn đề: làm thế nào để thống nhất đất nước; làm thế nào để ổn định

xã hội và các chuẩn mực đạo đức mà con ngời phải tuân thủ Tùy theo lập trường chính trị khác nhau và lợi ích giai cấp khác nhau mà có cách giải đáp khác nhau về một vấ đề chính tị đạo đức Do đó nó tạo nên tính vừa phong phú

và vừa sâu sắc của triết học Trung Hoa cổ đại Chẳng hạn, vấn đề triết lý về bản tính con người Khổng Tử và Mạnh Tử theo xu hướng khẳng định bản tính thiện của con người Ngược lại, Tuân Tử và Hàn Phi Tử lại chủ trưởng biện luận về bản tính bất thiện của con người; còn Lão Tử, Trang Tử lại đưa ra luận thuyết về bản tính tự nhiên của con người Với những quan niệm khác nhau về bản tính con người như thế lại là điểm xuất phát cho một tư duy triết lý về những phương cách coi trọng giáo dục hay pháp trị trong đạo trị quốc của các học thuyết khác nhau

*Về nội dung triết học Trung Hoa lấy triết học nhân sinh làm hạt nhân Một loạt triết học về con người được đề cấp sâu sắc

Trang 6

- Để lại triết lý về học: nhân - nghĩa - lễ - trí – tín, tu thân - tề gia - trị quốc Nhân: người với người đối xử với nhau trên cơ sở tình thương yêu Tình thương yêu được cụ thể hóa bằng những nguyên tắc sau: “Cái gì bản thân mình không muốn hoặc người không muốn thì không làm cho người Cái gì người muốn thì tích tụ lại cho người Mình muốn đứng vững thì làm cho người khác đứng vững; mình muốn thành đạt thì giúp đỡ cho người khác thành đạt”

Lễ: theo quan điểm của Nho giáo, Lễ bao gồm việc thờ cúng, lễ bái thánh thần, trời Phật và cả những quy định có tính chất pháp luật, những phong tục, tập quán và kỷ luật tinh thần của cá nhân

Nghĩa: là thấy việc đáng làm thì phải làm, thấy điều đáng nói thì nói, không hề mưu tính lợi ích riêng của mình Xét mối liên hệ nhân với nghĩa thì nhân là sự thể hiện tình cảm sâu sắc nhất của con người nghĩa là hình thức, thể hiện trách nhiệm của con người thực hiện tình cảm của mình trong năm mối quan hệ cơ bản Ở Nho giáo, nghĩa thường đặt ngang hàng với nhân, tạo nên cặp phạm trù Nhân – Nghĩa

Trí: nghĩa chung là sự hiểu biết điều hay lẽ phải để có những nhận thức đúng đắn và hành vi phải đạo trong năm mối quan hệ Một trong những điểm

quan trọng của Trí là phải nắm được mệnh trời

Tín: là đức trong mối quan hệ bạn bè Việc làm nhất quán với lời nói, giữ lời "nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy"

*Về mặt hình thức, phương pháp tư duy

- Triết học Trung Hoa không có sự phân biệt rạch ròi giữa Chủ nghĩa duy vật (CNDV) và Chủ nghĩa duy tâm (CNDT), không có đấu tranh biện chứng giữa các học thuyết triết học Điều này tạo nên đặc điểm tính thiếu triệt để, tính thiết nhất quán Chẳng hạn, trong phái Nho gia, thế giới quan của Khổng Tử dao động giữa CNVD và CNDT, giữa CN vô thần và CN hữu thần Một mặt ông xem trời (thiên) là giới tự nhiên, có sự vận hành của tự nhiên, ông nói “Trời nói lên tất cả? Bốn mùa vận hành, trăm vật sinh ra” Nhưng mặt khác, ông lại cho rằng trời là một lực lượng vô hình chi phối vận mệnh của xã hội và con người,

“Sống chết có số mệnh, giàu sang tại trời” Ông chủ trương thờ phụng quỷ thần,

Trang 7

Phương thức tư duy giác ngộ bằng trực giác đặc biệt coi trọng tác dụng của cái “tâm”, coi “tâm” là gốc rễ của nhận thức, “lấy tâm để bao quát vật”, rất ít

đi sâu phân tích quá trình tác động của “tâm” Vì vậy, trong các tác phẩm triết học của họ thường rời rạc, phần ám thị nhiều hơn, thiếu sự chứng minh chu đáo

Các triết gia Trung Hoa cổ đại đi sâu phân tích nhấn mạnh tính chỉnh thể hợp nhất của các khái niệm và phạm trù, không tìm hiểu sự khác biệt về bản chất giữa chúng, chỉ nắm chỉnh thể ở cảm nhận Như vậy, nếu dùng quan điểm chỉnh thể để nắm sự vật thì phương pháp tư duy trực giác “gặp sự vật là hiểu nội dung” tỏ ra quan trọng, còn phương thức đi từ phân tích nội hàm và ngoại diên của khái niệm đến suy luận logic lại thừa

Nền Triết học cổ đại Trung hoa có những đặc điểm cơ bản như sau:

1 Thứ nhất, triết học Trung Hoa nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ Đây là tư tưởng xuyên suốt nhiều trường phái, học thuyết khác nhau Trong những kinh điển chủ yếu của Nho giáo (Kinh dịch, Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử ) đều nhất quán tư tưởng “biết đến cùng cái tính của con người thì cũng có thể biết đến cùng cái tính của vạn vật trời đất”

2 Thứ hai, triết học xuất phát từ con người, lấy con người làm vấn đề trung tâm Nghiên cứu thế giới cũng chỉ nhằm làm rõ vấn đề con người Tuy nhiên con người không được chú ý trên tất cả các mặt mà chỉ chú ý trên khía cạnh luân lý, đạo đức Vấn đề bản thể luận trong triết học Trung Quốc rất mờ nhạt – Khác với triết học phương Tây lại đặt trọng tâm vào nghiên cứu thế giới, vấn đề con người cũng chỉ được bàn tới nhằm giải thích thế giới

Về bản chất con người (tính người, Khổng Tử cho gần nhau (giống nhau), nhưng do tập quán, phong tục mà xa nhau (khác nhau) (“Tính tương cận, tập tương viễn”); Mạnh Tự cho tính người (nhân tính) vốn thiện; Tuân Tử cho tính người vốn ác; Cáo Tử cho tính không thiện cũng không bất thiện

Về số phận con người, Nho giáo quy tất cả là do mệnh trời; Tuân Tử cho rằng con người có thể thắng được trời Từ đó triết học Trung Hoa cổ đại hướng đến mẫu người lý tưởng như sĩ, quân tử, đại trượng phu, thánh nhân

3 Thứ ba, triết họ ít tồn tại dưới dạng triết học thuần túy mà thường được trình bày xen kẽ hoặc ẩn giấu đằng sau với những vấn đề cấu trúc xã hội, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật Vì vậy, ở Trung Quốc ít khi có triết gia và các phần triết học độc lập Cho nên, nếu ở phương Đông nói chung, Trung Quốc nói riêng triết học ẩn giấu đằng sau các khoa học khác thì ở phương Tây ngay từ đầu, triết

Trang 8

5 Thứ năm, triết học Trung Hoa vừa thống nhất vừa đa dạng Thống nhất

ở chỗ nó đều nhằm mục đích ổn định xã hội, chấm dứt chiến tranh, chẳng hạn, Nho gia đưa ra đường lối chính danh, đức trị; Pháp gia đưa ra đường lối pháp trị; Mặc gia đưa ra đường lối kiêm ái; Đạo gia đường lối vô vi Nó đa dạng ở chỗ

có rất nhiều trường phái, tư tưởng khác nhau, nhưng nổi bật hơn cả là các trường phái lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống, trong lịch sử xã hội là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Âm Dương gia Mỗi nhà đều có chủ trương, đường lối riêng của mình

Trong các trào lưu triết học Trung Hoa cổ đại, thường đan xen các yếu tố duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không gay gắt quyết liệt như ở phương Tây Chẳng hạn như:

- Nho giáo về cơ bản là duy tâm, nhưng vẫn có những luận điểm duy vật, nhất là ở thời kỳ đầu

- Đạo gia, Mặc gia, Âm Dương ngũ hành gia bên cạnh những luận điểm duy vật lại có cả những luận điểm duy tâm

6 Thứ sau, phép biện chứng trong triết học Trung Hoa thể hiện trong học thuyết biến dịch (Kinh dịch); sự tương tác giữa âm dương, ngũ hành; trong học thuyết Lão Tử Nhìn chung, biện chứng trong triết học Trung Hoa vẫn còn thô

sơ, đơn giản, biện chứng vòng tròn, tuần hoàn khép kín

Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo là ba dòng chủ đạo, kiến tạo nên hệ tư tưởng phong kiến Trung Quốc, song trên thực tế, Nho giáo vẫn là dòng chủ đạo, đóng vai trò Trung Quốc

Những đặc điểm cơ bản được thể hiện rõ trong một số tư tưởng và học thuyết triết học như sau:

2.2 Một số tư tưởng và học thuyết tiêu biểu

2.2.1 Tư tưởng Nho gia

Thời Xuân Thu là thời kỳ nở rộ xuất hiện các nhà tư tưởng, các tư trào triết học, trong đó có Khổng Tử - nhà tư tưởng vĩ đại mở đường cho thời kỳ cổ đại ở Trung Quốc

Khổng Tử (551 - 479 tr CN), tên là Khâu, tự Trọng Ni, sinh ra ở nước Lỗ, trong một gia đình quý tộc nhỏ bị sa sút Quê hương nước Lỗ của Khổng Tử là

Trang 9

9

nơi trụ cột, nơi bảo tồn được nhiều di sản văn hóa cũ của nhà Chu Thời đại của Khổng Tử là thời đại "Vương đạo suy vi", "Bá đạo" đang nổi lên lấn át "Vương đạo" của nhà Chu; trật tự lễ pháp cũ của nhà Chu đang bị đảo lộn, như ông than rằng "Vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phải đạo cha, con không phải đạo con" Đứng trên lập trường của bộ phận cấp tiến trong giai cấp quý tộc Chu, ông chủ trương lập lại pháp chế kỷ cương của nhà Chu, với một nội dung mới cho phù hợp Ông lập ra học thuyết, mở trường dạy học, đi chu du khắp các nơi trong nước, tranh luận với các phái khác để tuyên truyền lý tưởng của mình, nhằm phục vụ mục đích trên Sau đây là những tư tưởng cơ bản của ông

Về học thuyết chính trị Hoài bão chính trị nhất quán trước sau của Khổng

Tử là kế thừa sự nghiệp của Văn Vương, Chu Công, lập lại kỷ cương của nhà Chu Để thực hiện lý tưởng chính trị của mình, ông xây dựng nên học thuyết về Nhân - Lễ - Chính danh

Điều "Nhân" là hạt nhân trong học thuyết chính trị của Khổng Tử Theo ông, "Nhân" là nội dung, "Lễ" là hình thức của "Nhân" và "Chính danh" là con đường để đạt đến điều Nhân, (ông nói: sửa mình, khôi phục điều Lễ là người Nhân) Học trò của Khổng Tử là Phàn Trì hỏi, thế nào là "Nhân", Khổng Tử trả lời: "Thương người (Ái nhân) "Thương người", "điều gì mà mình không muốn thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác" (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân),

"Mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt" (Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân) là nội dung cơ bản trong học thuyết về "Nhân" của Khổng Tử Ông cho rằng, phẩm chất chất phác, tình cảm chân thực là điều kiện cần thiết để trau dồi đức "Nhân" (Mộc nột cận Nhân); những người thích trau chuốt, hình thức, khéo nói là ít đức "Nhân" (xảo ngôn lệnh sắc, tiển hĩ nhân) Tuy nhiên, do hạn chế của lập trường giai cấp, học thuyết "Nhân" của Khổng Tử có nội dung giai cấp

rõ ràng Ông cho rằng chỉ có người quân tử (tức giai cấp thống trị) mới có thể có được đức "Nhân" còn kẻ tiểu nhân (nhân dân lao động) không thể có được đức

"Nhân" (Quân tử nhi bất Nhân giả hữu hĩ, vị hữu tiểu nhân nhi Nhân giả dã) Nghĩa là đạo Nhân chỉ là đạo của người quân tử, của giai cấp thống trị

Thời đại Khổng Tử là thời mà theo ông "Lễ nhạc hư hỏng”, cần phải khôi phục lại "Lễ” "Lễ” mà Khổng Tử nói ở đây là những lễ nghi, quy phạm đạo đức thời Tây Chu, tức là Lễ nhà Chu Ông cho rằng, do vua không giữ đúng đạo vua, tôi không làm đúng đạo tôi, cha không giữ đúng đạo cha, con không làm đúng đạo con cho nên thiên hạ '"vô đạo" và "thiên hạ đại loạn" Do vậy cần phải lập lại kỷ cương cho vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con để cho thiên hạ

Trang 10

10

"hữu đạo", xã hội yên ổn Ở đây, từ chỗ đứng của mình, Khổng Tử không nhận

ra rằng, sự "hư hỏng" của lễ pháp nhà Chu là tất yếu, là biểu hiện tiến bộ của lịch sử, và ông đã đưa ra giải pháp duy tâm, cải lương, nhằm cứu vãn tình hình Với "Lễ” của nhà Chu, một mặt Khổng Tử cực đoan bảo thủ giữ lại những hình thức cũ, một mặt ông đưa vào những nội dung mới cho phù hợp với tình hình mới Ông kịch liệt phản đối sự đấu tranh, dù là của quần chúng nghèo khổ vùng lên hay giữa giai cấp thống trị với nhau (Háo dũng tật bần loạn dã: ưa dùng vũ lực, chán ghét cảnh nghèo là mầm mống của loạn; Quân tử vô sở tranh: người quân tử không có cái gì đáng phải tranh giành) Để xoa dịu và điều hòa mâu thuẫn giai cấp, ông tuyên truyền "an bần nhi lạc" (nghèo mà vui) và chủ trương

"Tác dụng của "Lễ” là lấy hòa làm quý” (Lễ chi dụng, hòa vi quý) Một mặt, ông khuyên người dưới hãy an phận, không oán, trách (Bẩn nhi vô oán), mặt khác, ông cũng yêu cầu người trên phải tôn trọng người dưới (Bước ra cửa lúc nào cũng phải chỉnh tề như gặp người khách quý: sai khiến dân một việc gì cũng phải thận trọng) Ông đặc biệt nhấn mạnh đến sự cần thiết phải Thành và Kính trong khi thực hiện "Lễ" Ông nói: "Ngày nay người ta gọi nuôi nấng săn sóc cha mẹ là thờ cha mẹ, nhưng đối với chó và ngựa người ta cũng phải nuôi nấng chăm sóc nó Nếu như đối với cha mẹ mà không kính thì sự săn sóc đối với cha

mẹ có khác gì đối với việc săn sóc nuôi nấng chó ngựa ?"

Tính hai mặt (bảo thủ và tiến bộ) của Khổng Tử cũng thể hiện rõ trong tư tưởng "thân thân" (thương yêu người thân) và "thượng hiền" (tôn trọng người hiền tài) Chế độ nhà Chu là chế độ Tông pháp, lấy quan hệ huyết thống làm cơ

sở, mỗi cá nhân phải toàn tâm toàn ý vì quyền lợi của tông tộc phục vụ Khổng

Tử theo nhà Chu nên tư tưởng "thân yêu người thân" bám rất chắc trong tư tưởng của ông Đoạn tư liệu sau đây phản ánh rõ tư tưởng ấy của ông: "Diệp Công nói với Khổng Tử rằng: "Phe tôi có người thật thà ngay thẳng, cha bắt trộm dê mà con đi báo" Khổng Tử nói: "Người thật thà ngay thẳng phe tôi có khác Cha giấu cho con, con giấu cho cha, sự thật thà ngay thẳng đã bao gồm ở trong đó rồi" Mặt khác, tư tưởng tôn trọng người hiền tài của Khổng Tử cũng khá rõ nét, mang nhiều ý nghĩa tích cực Ông chủ trương quốc gia nên dùng người hiền tài, không kể người thân hay không thân; nếu thấy người tài giỏi hơn mình là phải nhường, nếu không nhường tức là "ăn cắp địa vị", ông nói: "Học tập lễ nhạc trước rồi mới làm quan, chính là những kẻ dã nhân (tức dân thường), làm quan trước rồi mới học lễ nhạc chính là người quân tử (con cháu quý tộc) Nếu dùng người thì ta chọn những người học tập lễ nhạc trước"

Thời đại Khổng Tử là thời kỳ gọi là "danh và thực oán trách nhau”, tức là danh và thực không phù hợp với nhau Từ thời Xuân Thu trở đi, những khái niệm (danh) của kiến trúc thượng tầng đã tỏ ra lạc hậu trước sự thay đổi nhanh

Trang 11

11

chóng, toàn diện của cơ sở kinh tế và kết cấu giai cấp trong xã hội Một hiện thực “lộn xộn”, cũ – mới đan xen Trước tình hình đó Khổng Tử cho rằng, cần phải "chính danh" cho vua ra vua, tôi ra tôi "Chính danh" là điều căn bản của việc làm chính trị, đưa xã hội "loạn" trở lại "trị" Nhưng có điều ông đã không nhận ra được cội nguồn của sự danh thực oán trách nhau" ấy nên ông đã chủ trương một cách duy tâm Ông cho rằng "Lễ nhạc không hưng thịnh" (tức kiến trúc thượng tầng lung lay) không phải là do sự biến đổi từ cơ sở, mà là do "danh không chính", "ngôn không thuận" Và, ông đã làm lộn ngược theo quan niệm duy tâm đó

Về tư tưởng triết học: Khổng Tử rất ít bàn đến những vấn đề trừu tượng thuộc bản thể, ít bàn đến chuyện quỷ thần Tử Lộ hỏi ông về chuyện quỷ thần, ông nói: Chưa biết chuyện của người làm sao mà biết chuyện quỷ thần Tử Lộ lại hỏi, sau khi chết con người sẽ ra sao ? Ông nói: Chưa biết được việc sống làm sao mà biết được việc chết Tuy nhiên, trong nghị luận nhiều chỗ ông nói đến "Trời", “Mệnh trời" để trình bày ý kiến của mình 'Trời'' đối với Khổng Tử

có chỗ như là một quy luật, là trật tự của vạn vật ("Trời có nói gì đâu, bốn mùa vẫn thay đổi, trăm vật vẫn sinh trưởng"), có chỗ ông khẳng định trời có ý chí ("Than ôi ! Trời làm mất đạo ta"; "Mắc tội với trời không thể cầu ở đâu mà thoát được") Ý chí của Trời là Thiên mệnh (Mệnh lệnh của trời: Mệnh trời) "Thiên mệnh" nói vắn tắt là mệnh, ông cho rằng mỗi cá nhân, sự sống - chết, phú quý hay nghèo hèn đều là do "Thiên mệnh" quy định Phú quý không thể cầu mà có được, do vậy bất tất phải cầu Mặt khác, Khổng Tử lại cho rằng con người bằng

nỗ lực chủ quan của mình cũng có thể thay đổi dược cái "Thiên tính" ban đầu Ông nói, con người lúc sinh ra, cái "tính" trời phú cho là giống nhau như trong quá trình tiếp xúc, học tập… (thực tiễn - L G T.) nó làm cho họ khác nhau, có

kẻ trí có người ngu ("Tính tương cận, Tập tương viễn") Đây là mặt tích cực, chỗ

"thêm vào" của Khổng Tử so với quan niệm "Mệnh trời" trước đó Đối với quỷ thần, Khổng Tử tỏ ra có thái độ hoài nghi về sự tồn tại của quỷ thần cho nên một mặt ông chủ trương tôn kính, một mặt lại xa lánh và cảnh giác Ông nói: Biết kính quỷ thần mà lánh xa nó là người trí - Như vậy kẻ mê tín quỷ thần là kẻ ngu;

Tế thần xem như là có thần - Có thần hay không là do mình" ; "Quỷ thần không đáng tế mà tế là nịnh - Phải cảnh giác"

Tóm lại, "Trời", "Mệnh trời" có vai trò quan trọng trong tư tưởng triết học của Khổng Tử nhưng do hạn chế về tài liệu, cách trình bày của ông không nhất quán cho nên chưa thể đủ căn cứ để khẳng định là duy tâm hay duy vật, vô thần hay hữu thần Nhưng có một điều chắc chắn rằng, từ "Trời", "Mệnh trời'' có tính chất duy tâm cảm tính thời Chu cho đến "Trời "Mệnh trời" trong quan niệm của

Trang 12

12

Khổng Tử đã có một bước tiến bộ, đã có sự đổi mới về nội dung; quyền uy của

"ý trời" cũng như của quỷ thần đã bị hạn chế một phần

Sau khi Khổng Tử mất, học thuyết của ông được các thế hệ học trò tiếp tục phát triển và trở thánh một trưòng phái lớn lúc bấy giờ Trong số họ nổi bật lên là nhà triết học, nhà chính khách nổi tiếng Mạnh Kha, người có công lớn trong việc bảo vệ Nho giáo, và cũng là người đưa nhiều tư tưởng mới vào hệ thống tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử

Mạnh Kha (371 - 289 tr CN), tự là Dư, người đất Châu nước Lỗ (người đời sau tôn xưng là Mạnh Tử) Mạnh Tử là học trò của Tử Tư (tên là Khổng Cấp, cháu nội Khổng Tử), Tử Tư là học trò cùa Tăng Tử (Tăng Sâm)

Từ cuối thời Xuân Thu, cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng trở nên quyết liệt hơn Giai cấp địa chủ mới lên ngày càng lớn mạnh, giai cấp quý tộc thị tộc

cũ ngày càng suy yếu Giai cấp địa chủ mới lên dựa vào học thuyết của phái Pháp gia để củng cố chính quyền, họ chủ trương dùng vũ lực thôn tính lẫn nhau

để giải quyết cục diện Chiến Quốc, hoàn thành quá trình phong kiến hoá Giai cấp quý tộc quan liêu thị tộc, mà đại biểu tư tưởng của họ là phái Nho gia, phản đối dùng bạo lực thôn tính lẫn nhau, chủ trương thuyết phục để thống nhất Mạnh Tử đã đứng trên lập trường của một bộ phận lạc hậu trong giai cấp quý tộc chủ nô trên con đường chuyển hóa lên giai cấp địa chủ phong kiến, cho nên tư tưởng của ông là bảo thủ, không phù hợp với thực tế diễn biến của lịch sử

Có thể nói tư tưởng của Mạnh Tử là kế thừa trực tiếp tư tưởng của Tử Tư

và Tăng Sâm Lúc Khổng Tử còn sống, trong số học trò của ông, Tăng Sâm không phải là người được ông yêu mến, đã có lần ông mắng Tăng Sâm “là kẻ đần độn" Nhưng sau khi Khổng Tử mất, Tăng Sâm ngày càng có uy tín, được nhiều người theo Tăng Sâm cùng với học trò của ông là Tử Tư và học trò của

Tử Tư là Mạnh Tử đã đứng trên danh nghĩa bảo vệ Nho giáo, bảo vệ học thuyết của Khổng Tử nhưng thực chất đã khuếch đại những mặt hạn chế trong tư tưởng của Khổng Tử, giải thích sai lệch những tư tưởng của ông và đưa vào những tư tưởng mới lạ, biến Nho giáo thành một học thuyết có tính chất duy tâm, thần bí Nếu như trước những diễn biến phức tạp của xã hội, Khổng Tử đã tích cực

"hành", cho rằng "có thể làm được", đi các nơi thuyết khách để thực hiện chủ trương cải lương của mình thì Tăng Sâm lại lảng tránh hiện thực, tìm về con đường nội tỉnh, tự suy xét, tự kiểm điểm mình về đạo đức, hiếu thảo, coi đó là niềm vui duy nhất Ông nói: "Ta mỗi ngày lấy ba việc tự kiểm điểm mình: Làm việc cho người khác có trung thành không? Giao thiệp với bạn bè có thực thà không? Thầy dạy, ta có ôn tập không?” Cũng theo phương pháp “tự tỉnh nội tâm" duy tâm như vậy, Tử Tư nói: "Phải ra sức suy xét những điểu khúc mắc,

Trang 13

13

những điều khúc mắc có thể có cái "Thành"; đã "Thành" thì sẽ thể hiện ra ngoài;

đã thể hiện ra ngoài thì sẽ rõ rệt; rõ rệt thì sẽ tỏa sáng khắp mọi nơi; đã tỏa sáng khắp mọi nơi thì sẽ động; đã động thì sẽ biến; đã biến thì sẽ hóa Chỉ có bậc chí Thánh trong thiên hạ mới có thể hóa" Và một thái độ thụ động tiêu cực gọi là chờ thời": "Người quân tử ăn ở giản dị để đợi mệnh trời, còn kẻ tiểu nhân thì làm những việc nguy hiểm để cầu may "Thành" là gì ? Tử Tư cho rằng "Thành

là đạo của trời" Mạnh Tử cho rằng, "Thành là đạo của trời và suy nghĩ sao cho

"Thành" là đạo của người" Sự "Thành" là "hợp với đạo", khi đã “Thành" thì

"vạn vật đều có đầy đủ ở trong ta" Nghĩa là sự "Thành" là cái bản thể của vạn vật Như vậy, với quan niệm "vạn vật đều có đầy đủ trong ta", ông tuyên truyền con người chỉ cần đi tìm và phát huy cái quy tắc "tự tỉnh nội tâm" (Tận tâm) thì

có thể biết được ý chí của Thượng đế ("tri tính", "tri thiên"); tức là con người bất tất phải đi tìm chân lý ở ngoài thế giới vặt chất khách quan, mà chỉ cần "Thành ý" "Chính tâm", trở về với nội tâm chủ quan bên trong Cái "Chí thành" là bản thể, vật tự tại thuộc về tiên nghiệm, vượt ra khỏi phạm trù không gian, thời gian, vật chất, vận động Đạt đến 'Thành" là con ngưòi có thể thông quan với trời đất, hóa sinh ra vạn vật Ông nói: "Chỉ có những người chí thành" trong thiên hạ mới

có thể biết hết được cái "Tính" Nếu có thể biết hết đưọc cái "Tính” thì có thể biết hết được "Tính" của con người Nếu có thể biết hết được "Tính" của con người thì có thể biết hết được "Tính" của vạn vật Nếu biết hết được "Tính" của vạn vật thì có thể giúp vào việc sinh hoá của trời đất Nếu có thể giúp vào việc sinh hoá của trời đất thì có thể cùng trời đất tham dự mọi việc", ở đây, Mạnh Tử

đã suy luận theo một phương pháp "Lôgíc không theo loại" (bản thân mình – người khác - vạn vật - vũ trụ là những khái niệm không cùng một loại;, đẩy thêm lên một bước về mật duy tâm trong quan niệm về "Trời người hợp nhất" so với Khổng Tử Mạnh Tử đã tách rời một cách tuyệt đối giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, đề cao nhận thức lý tính, ông cho rằng nhận thức cảm tính là cái "tiểu thể", là của kẻ tiểu nhân, là nguồn gốc của những điểu ác; nhận thức lý tính là "cảm quan của cái Tâm", là cái "đại thể" riêng có của người quân tử Như vậy cũng có nghiã là, theo ông, chỉ có người quân tử mới có thể đạt đến "Chí thành", cộng thông hòa hợp với trời đất Về quan niệm "tính người”, Mạnh Tử cho rằng con người mới sinh ra trời phú cho đủ Nhân - Nghĩa – Lễ - Trí - Tín,

đủ đức Hiếu (với cha mẹ, người thân) - Trung (với vua) - và Kính (với bề trên) nhưng chỉ có người quân tử là có khả nàng giữ được đủ mà thôi Ông cũng xuyên tạc tính duy vật thô sơ của học thuyết Ngũ hành, gá lắp nó vào thuyết đạo đức của mình, thần bí hóa nó: Thần Mộc là Nhân; Thần Kim là Nghĩa; Thần Hỏa là Lễ; Thần Thủy là Trí; Thần Thổ là Tín; Bốn đức Nhân - Nghĩa – Lễ - Trí

là do Tâm (Tín) mà ra cho nên Thần Thổ ở giữa, có mặt ở khắp nơi

Trang 14

14

Về quan điểm chính tri - xã hội: ông đưa ra thuyết "Nhân chính" chống việc dùng vũ lực thôn tính lẫn nhau giữa các nước, đòi hỏi bọn quý tộc phải để cho nhân dân có tài sản riêng thì họ mới yên tâm làm ăn (có hằng sản thì mới có hằng tâm) Trong xã hội "Trên dưới tranh lợi lẫn nhau", Mạnh Từ chủ trương chống điều lợi, chống làm giàu, ông nói: "Đã làm giàu thì bất nhân, đã làm điều Nhân thì không thể giàu được" Để tránh được hiện tượng trên dưới tranh lợi lẫn nhau", ông đưa ra phép “Tỉnh điền'', thực chất là muốn quay trở lại mô hình xã hội thị tộc công xã thời Chu Mạnh Tử cũng đề ra chủ trương "chính trị được lòng dân” khá mới mẻ: "dân vi quý" - "Quân vi khinh" Ông nói: "Đáng quý trọng nhất là dân, kế đến là xã tắc, còn vua là thường Vua và chư hầu làm hại cho xã tắc thì thay đổi ông vua ấy mà đặt ông vua khác" hoặc "vua coi những người tôi như con chó, con ngựa, thì những người tôi coi vua như những người khác; vua coi người tôi như cỏ rác, thì những người tôi coi vua như kẻ thù", ở đây rõ ràng ông đã có tư tưởng thừa nhận chế độ "hằng sản’’ của nền kinh tế sản xuất nhỏ, bảo vệ sức lao động, rút hẹp phạm trù người quân tử, mở rộng một cách tương đối phạm trù kẻ tiểu nhân Đó là những tư tưởng tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử

Tóm lại, học phái Nho gia từ Khổng Tử, qua quá trình thêm bớt của Tăng Sâm, Tử Tư, đến Mạnh Tử đã tương đối định hình Những phạm trù cơ bản của Nho giáo (Vua - Tôi, cha - con, vợ - chồng; Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín), những kinh điển cơ bản (Tứ thư: Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử; Ngũ kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc [Dịch], Xuân Thu) cũng xuất hiện ở thời kỳ này

Tư tưởng triết học của Khổng Tử cơ bản là duy tâm, nhưng trong quan niệm về tự nhiên của ông cũng có những yếu tố duy vật, biểu hiện trong thái độ của ông đối với vấn để "Thiên đạo", "Thiên mệnh" và quỷ thần Mạnh Tử đã khuyếch đại những yếu tố duy tâm trong học thuyết của Khổng Tử, biến nó thành một thứ học thuyết có tính chất duy tâm tiên nghiệm thần bí Về quan điểm chính trị - xả hội, một phần là do ảnh hưởng của cuộc đấu tranh xã hội lúc bấy giờ Khổng Tử và những người sau ông trong học phái Nho gia có những tư tưởng tiến bộ, dân chủ và có tính nhân đạo bên cạnh tư tưởng cơ bản là bảo thủ, phân biệt đảng cấp Nhìn chung, tư tưởng của Nho gia phản ánh tư tưởng của giai cấp quý tộc thị tộc chủ nô, một giai cấp đang trên bước đường suy tàn, một lực lương bảo thủ đối với sự phát triển của lịch sử

2.2.2 Tư tưởng Đạo gia

Trong quá trình tan rã của chế độ nô lệ thị tộc, một bộ phận của tầng lớp quý tộc nhỏ không chuyển biến kịp sang giai cấp địa chủ Họ bị hai thế lực chèn ép: Đại quý tộc áp bức và địa chủ mới lên uy hiếp, địa vị kinh tế và xã hội rất

Trang 15

15

mỏng manh ("Triêu bất bảo tịch") Họ ý thức được sự tiêu vong không thể tránh nhưng tỏ ra bất lực, có tư tưởng bi quan trước hiện thực Tư tưởng Đạo gia là phản ánh tư tưởng, nguyện vọng của tầng lớp này

Đạo gia chia làm nhiều phái, tư tưởng của họ phong phú và đa dạng nhưng đều đồng nhất với nhau ở một điểm là, lợi ích cao nhất của cá nhân là gì,

và làm thế nào để đạt tới lợi ích cho cá nhân; tức là họ chủ trương "vị ngã" Chẳng hạn: Dương Chu nêu lên thuyết "Toàn sinh" (bảo toàn sinh mạng là quan trọng nhất), muốn vậy phải hạn chế dục vọng, coi thường lợi ích của ngoại giới, giữa người với người phải giữ quan hệ hòa khí, làm sao "người không phạm đến

ta và ta không phạm đến người"; Trang Tử lại cho rằng lợi ích tối cao của con người không phải là sống lâu hay không sống lâu mà là thỏa mãn dục vọng, do vậy họ chủ trương tiêu dao, hồn nhiên hưởng thụ; Lão Tử cho rằng phải làm theo quy luật của tự nhiên, xã hội tức theo "Nhân đạo" và “Thiên đạo"; có người lại cho rằng lợi ích là phải sống dài lâu nhưng không hạn chế dục vọng mà phải

tu luyện thân thế đạt tới "trường sinh bất lão"; có người cho là muốn "vị ngã” cao nhất thì phải "vô ngã" (hoặc là "vong ngã") Tất nhiên sự phân biệt như vậy chỉ là rất tương đối, thực tế các phái thâm nhập vào nhau, vay mượn nhau, rất khó nhận ra Sau đây chúng ta điểm qua những tư tưởng chính của Lão Tử và Trang Tử, mà tư tưởng của họ đã có ảnh hưỏng lớn lúc bấy giờ cũng như sau này trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc

Lão Tử, còn gọi là Lão Đam, họ Lý, tên là Nhĩ, nguồn gốc và năm sinh năm mất của ông chưa rõ, nhưng có điều chắc chắn là ông sống cùng thời với Khổng Tử

Về bản thể luận: Trong tư tưởng triết học của Lão Tử, về bản thể luận,

"Đạo" là phạm trù quan trọng nhất, ông cho rằng mọi sự sinh thành, biến hóa của vạn vật đều từ "Đạo" mà ra "Đạo" của Lão Tử nhiều khi được dùng như một thuật ngữ để chỉ về trật tự của tự nhiên, về tính quy luật: "Người theo quy luật của đất, đất theo quy luật của trời, trời theo quy luật của "đạo", "đạo" theo quy luật của tự nhiên"; nhiều khi Lão Tử lại dùng "Đạo" để hình dung vạn vật,

có chỗ ông lại cho "Đạo” là cái có trước vạn vật; có trước hiện tượng đầu tiên:

"Đạo" sinh ra "khí thống nhất", "khí thống nhất" sinh ra hai thứ "âm dương" đối lập, hai thứ "âm dương" đối lập sinh ra ba lực lượng "trời, đất, người"; ba lực lượng đó sinh ra vạn vật"." Đạo" của Lão Tử là một thứ rất huyền bí, thoát trần, không thể dùng ngôn ngữ, khái niệm để nói và nhận thức về nó: cái "đạo" có thể dùng lời nói để diễn đạt không phải là đạo vĩnh hằng không thay đổi, cái tên có thể nói ra được không phải là tên vĩnh hằng không thay đổi, cái không tên là nguồn gốc của vạn vật, cái có tên là mẹ của vạn vật", nghĩa là vượt ra ngoài

Ngày đăng: 13/06/2019, 15:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w