1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghĩa vụ thuế của đại lý hải quan

15 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 165,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghĩa vụ thuế của đại lý hải quan với tư cách một doanh nghiệp Căn cứ Điều 20, Luật Hải quan 2014, điều kiện để trở thành đại lý làm thủ tục hải quan sau đây gọi tắt là đại lý hải quan l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN MÔN: PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP

Đề tài số 8:

NGHĨA VỤ THUẾ CỦA ĐẠI LÝ HẢI QUAN

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế Lớp: Cao học luật K21- K22

Nhóm học viên:

3 Nguyễn Thị Huỳnh Thương 1421070127

6 Nguyễn Thị Phương Xuân 1422070284

TP Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1.Nghĩa vụ thuế của đại lý hải quan với tư cách doanh nghiệp 2

1.1.Nghĩa vụ đối với thuế thu nhập doanh nghiệp 2

1.2 Nghĩa vụ đối với thuế thu nhập cá nhân 3

2.Nghĩa vụ thuế của đại lý hải quan theo hợp đồng ủy quyền và hợp đồng ủy thác xuất - nhập khẩu 3

2.1.Nghĩa vụ thuế đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 5

2.2.Nghĩa vụ thuế đối với thuế giá trị gia tăng 7

2.3.Nghĩa vụ thuế đối với thuế tiêu thụ đặc biệt 7

2.4.Nghĩa vụ thuế đối với thuế bảo vệ môt trường 8

3 Các nghĩa vụ thuế khác của đại lý hải quan 8

3.1 Nghĩa vụ đăng ký thuế 8

3.2 Nghĩa vụ khai thuế 9

3.3 Nghĩa vụ nộp thuế 11

KẾT LUẬN 12

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Thuế là khoản đóng góp bắt buộc do mỗi tổ chức, cá nhân phải nộp vào ngân sách nhà nước, các khoản thu này không được hoàn trả trực tiếp, ngang giá, và được dùng để trang trải các chi phí, lợi ích chung của toàn dân như xây dựng , đường xá, cầu cống, bệnh viện, trường học,… Bất kỳ quốc gia nào cũng phải xây dựng một hệ thống thuế hoàn chỉnh, hợp lý bởi thuế: là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất xã hội vào ngân sách nhà nước; công cụ điều tiết vĩ mô Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội; góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội

Trong những năm gần đây, với đường lối đổi mới, chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước đã thúc đẩy hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia Nhằm đáp ứng nhu cầu thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng tăng, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hải quan ra đời, trong đó bao gồm đại lý hải quan Trong bối cảnh thương mại hóa toàn cầu, xu thế hội nhập kinh

tế quốc tế, hoạt động của đại lý hải quan ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu, minh bạch hóa quy định về thủ tục hải quan, chuyên nghiệp hóa khai báo hải quan và thông quan nhanh hàng hóa Việc hoàn thành nghĩa vụ thuế là một trong những bước quan trọng để thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu Do đó việc xác định nghĩa vụ thuế của đại lý hải quan là một yêu cầu quan trọng, không thể thiếu hiện nay Để có cái nhìn toàn diện

về vấn đề này, nhóm thực hiện đã quyết định chọn nghiên cứu và trình bày đề tài:

“Nghĩa vụ thuế của đại lý hải quan”.

Trang 4

NỘI DUNG

1 Nghĩa vụ thuế của đại lý hải quan với tư cách một doanh nghiệp

Căn cứ Điều 20, Luật Hải quan 2014, điều kiện để trở thành đại lý làm thủ tục hải quan (sau đây gọi tắt là đại lý hải quan) là phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có ngành, nghề kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa hoặc đại lý làm thủ tục hải quan; có nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; có hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng điều kiện để thực hiện khai hải quan điện tử và các điều kiện khác theo quy định

Như vậy, đại lý hải quan là doanh nghiệp đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1, Điều 20, Luật Hải quan 2014, thay mặt người có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (sau đây gọi chung là chủ hàng) thực hiện việc khai hải quan; nộp, xuất trình bộ hồ sơ hải quan có liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định và thực hiện toàn bộ hoặc một phần các công việc liên quan đến thủ tục hải quan theo thỏa thuận trong hợp đồng ký với chủ hàng1

Do đại lý hải quan là một doanh nghiệp nên đại lý này được hưởng các quyền, đồng thời, phải thực hiện các nghĩa vụ mà nhà nước đặt ra cho doanh nghiệp Trong đó, nghĩa vụ về thuế được xem là nghĩa vụ quan trọng nhất đối với nhà nước của doanh nghiệp

1.1 Nghĩa vụ thuế đối với Thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập của các

tổ chức kinh doanh và thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức phi kinh doanh, nhằm mục đích động viên một phần vào ngân sách Nhà nước và đảm bảo sự công bằng, hợp lý giữa các tổ chức kinh doanh và phi kinh doanh có thu nhập

Theo khoản 1, Điều 2, Luật số 14/2008/QH12 về thuế thu nhập doanh nghiệp, đại lý hải quan thuộc người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, vì đại lý hải quan là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ và phát sinh thu nhập từ hoạt động kinh doanh đó Do đó, đại lý hải quan có nghĩa vụ phải đăng ký, kê khai, nộp thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

Ngoài những thu nhập phát sinh từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, đại lý hải quan vẫn kiếm được thu nhập từ các hoạt động khác và những hoạt động này là

1 Điều 5, Thông tư 12/2015/TT-BTC quy định chi tiết thủ tục cấp Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; trình tự, thủ tục công nhận và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan.

Trang 5

không trái với quy định của pháp luật thì tất cả các khoản thu nhập này đều được xem là thu nhập chịu thuế nếu thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 1, Điều 3, Luật số 14/2008/QH12 về thuế thu nhập doanh nghiệp và khoản 2, Điều 1, Luật số 32/2013/QH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp2

Trường hợp thu nhập của đại lý hải quan thuộc thu nhập được quy định tại Điều 4, Luật số 14/2008/QH12 về thuế thu nhập doanh nghiệp và khoản 3, Điều 1, Luật số 32/2013/QH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, thì được miễn thuế, cụ thể theo Điều 4, Nghị định số

218/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

Căn cứ tính thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập tính thuế và thuế suất Do đó, số thuế thu nhập doanh nghiệp mà đại lý hải quan phải nộp được tính bằng thu nhập tính thuế nhân (x) với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Việc xác định thu nhập tính thuế được quy định tại Điều 7, 8, Luật số 14/2008/QH12 về thuế thu nhập doanh nghiệp; khoản 4, 5, điều 1, Luật số 32/2013/ QH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp3 Và việc xác định mức thuế suất mà đại lý hải quan được phép áp dụng được quy định tại khoản 6, Điều 1, Luật số 32/2013/QH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp4

Với tư cách một doanh nghiệp, ngoài thuế thu nhập doanh nghiệp mà đại lý hải quan phải đóng vì nghĩa vụ của mình với Nhà nước thì đại lý hải quan còn phải đóng thuế thu nhập cá nhân thay cho người lao động do mình quản lý Tuy nhiên người lao động là người chịu thuế thu nhập cá nhân, đại lý hải quan không phải là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân nên đại lý hải quan không có nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân

1.2 Nghĩa vụ thuế đối với Thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế, nhằm mục đích thực hiện công bằng xã hội, tăng cường

2 Xem thêm Điều 3, Nghị định số 218/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

3 Xem thêm từ Điều 5 đến Điều 9, Nghị định số 218/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

4 Xem thêm Điều 10, Nghị định 218/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

Trang 6

kiểm tra, kiểm soát thu nhập, thu hẹp sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đẩy mạnh ổn định kinh tế - chính trị -xã hội Bất kể cá nhân nào có thu nhập chịu thuế đều trở thành đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân; khi điều chỉnh sẽ xét đến điều kiện gia cảnh của họ nhằm đảm bảo điều phối thu nhập hợp lý và bình đẳng

Theo quy định hiện hành, tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân và quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho các cá nhân có ủy quyền5 Với tư cách một doanh nghiệp, để hoạt động kinh doanh, tổ chức này tất yếu phải có một lực lượng lao động nhất định Trường hợp chi trả cho người lao động mức thu nhập thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân, đại lý hải quan sẽ phát sinh nghĩa vụ khai thuế và nộp thuế (trích từ thu nhập chịu thuế) thay cho người lao động (có thu nhập chịu thuế) mà mình quản lý Nếu người lao động muốn tự thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân của họ thì đại lý hải quan sẽ không chịu trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ đó nữa

Như vậy, nghĩa vụ thuế đối với thuế thu nhập cá nhân của đại lý hải quan có thể được hiểu là thực hiện thay cho người lao động và chỉ phát sinh khi được người lao động ủy quyền (vấn đề này thường được ghi nhận trong hợp đồng lao động)

2 Nghĩa vụ thuế của đại lý hải quan theo hợp đồng ủy quyền và hợp đồng ủy thác xuất - nhập khẩu

Hoạt động xuất nhập khẩu đòi hỏi phải được thực hiện bởi những chủ thể được cấp giấy phép xuất nhập khẩu và thông qua nhiều thủ tục để thông quan phức tạp trong đó có thủ tục thuế, vì thế chủ hàng có thể thuê các đại lý hải quan làm thủ tục thông quan thay mình thông qua việc ký kết hợp đồng ủy thác hoặc hợp đồng ủy quyền xuất nhập khẩu Hợp đồng ủy thác và hợp đồng ủy quyền được ký kết giữa đại lý hải quan với khách hàng đều có mục đích cuối cùng là để đại lý hải quan làm thủ tục thông quan, tuy nhiên dưới góc độ pháp lý thì bản chất của hai hợp đồng này không giống nhau, dẫn đến chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế trong từng trường hợp sẽ khác nhau

Đối với hợp đồng ủy quyền, hai bên có thể tự do thỏa thuận đại lý hải quan

phải làm những công việc nào, thực hiện các thủ tục thuế nào, lúc đó đại lý hải quan

5 Xem điều 19 Thông tư 151/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 91/2014/NĐ-CP sửa đổi,

bổ sung một số điều tại Nghị định quy định về thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành

Trang 7

sẽ thực hiện nghĩa vụ thuế theo đúng thỏa thuận đã nêu trong hợp đồng Đây là sự thỏa thuận giữa đại lý hải quan và khách hàng theo đó đại lý hải quan có nghĩa vụ nhân danh chủ hàng làm thủ tục thông quan, còn chủ hàng chỉ phải trả thù lao theo thỏa thuận Như vậy đại lý hải quan đại diện khách hàng làm nghĩa vụ thuế nhân danh khách hàng, đăng ký tờ khai hải quan bằng tên của khách hàng Lúc này, mặc

dù đại lý hải quan vẫn làm thủ tục thuế, nhưng đối tượng nộp thuế - phải chịu trách nhiệm, nghĩa vụ thuế vẫn là khách hàng Đại lý hải quan không có nghĩa vụ thuế đối với hành vi xuất khẩu, nhập khẩu trong trường hợp này, nếu trong quá trình thông quan có xảy ra những vi phạm pháp luật về thuế thì chính khách hàng là chủ thể phải chịu trách nhiệm trước cơ quan có thẩm quyền.6

Đối với hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu, đây cũng là sự thỏa thuận giữa đại

lý hải quan với khách hàng theo đó đại lý hải quan với tư cách một chủ thể độc lập

tự nhân danh chính mình để làm thủ tục thông quan cũng như các nghĩa vụ về thuế Lúc này, đại lý hải quan đăng ký tờ khai hải quan bằng tên và con dấu của chính mình, tự nhân danh chính mình để thực hiện các nghĩa vụ thuế, do đó đại lý hải quan chính là đối tượng nộp thuế - phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế Trường hợp xảy ra vi phạm về thuế trong quá trình thông quan thì chính bản thân đại lý hải quan phải chịu trách nhiệm trước cơ quan có thẩm quyền

Tóm lại, đại lý hải quan sẽ thực hiện nghĩa vụ thuế cho khách hàng theo hợp đồng đã thỏa thuận, nhưng chỉ khi nhận hợp đồng ủy thác thì đại lý hải quan mới có nghĩa vụ thuế, còn khi nhận hợp đồng ủy quyền, đại lý hải quan chỉ thực hiện nghĩa

vụ thay cho khách hàng, nghĩa vụ thuế vẫn là nghĩa vụ của khách hàng

Hoạt động xuất - nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều sắc thuế như: thuế xuất khẩu - nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặt biệt, thuế bảo vệ môi trường Do đó, trong từng trường hợp xác định, đại lý hải quan sẽ phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định riêng của từng sắc thuế

2.1 Nghĩa vụ thuế đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế đánh vào hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và hành vi xuất khẩu, nhập khẩu này phải là hợp pháp Khi đại lý hải quan ký hợp đồng ủy thác xuất khẩu - nhập khẩu với khách hàng thì lúc này đại lý hải quan sẽ đứng tên trên tờ khai hải quan và có thể trở thành đối tượng nộp thuế xuât khẩu, nhập khẩu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 Quy định chi tiết thi hành một số điều của luật

6 Khoản 9 Điều 7 Luật Quản lý thuế

Trang 8

thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Theo đó, hầu hết tất cả hàng hóa dịch chuyển qua cửa khẩu, biên giới hay thị trường trong nước với khu phi thuế quan đều phải chịu thuế xuất nhập khẩu, trừ khi hàng hóa này là hàng viện trợ, là dầu khí thuộc đối tượng thuế tài nguyên của nhà nước khi xuất khẩu, hoặc hàng hóa không được tiêu dùng trong nước (quá cảnh, chuyển khẩu, sử dụng trong khu phi thuế quan) Bản chất của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là thuế gián thu, thuế thu vào hành vi tiêu dùng, người chịu thuế chính là người tiêu dùng, nên khi hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam nhưng lại không sử dụng, tiêu dùng mà được chuyển ngược trở ra hoặc chuyển vào tiêu dùng trong khu phi thuế quan thì đại lý hải quan sẽ không có nghĩa

vụ thuế xuất khẩu, nhập khẩu đối với nhà nước

Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đánh vào sự dịch chuyển hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới Chỉ có hàng hóa có thể xác định được thời điểm dịch chuyển nên cơ quan thuế có thể quản lý chặt chẽ về thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, còn đối với dịch vụ việc xuất - nhập khẩu không thể xác định được thời điểm chuyển dịch, nếu chủ thể xuất - khẩu, nhập khẩu không tự khai báo thì cơ quan thuế cũng không thể xác định được trên thực tế một dịch vụ đã được xuất khẩu, nhập khẩu để truy thu thuế Do đó, có thể xảy ra tình trạng chủ thể nào khai thuế sẽ phải thực hiện nghĩa vụ thuế, chủ thể nào không khai thuế thì không phải thực hiện nghĩa

vụ thuế, điều này vô hình chung tạo sự không công bằng cho những chủ thể thực hiện nghiêm túc việc kê khai thuế Do đặc trưng của đối tượng dịch vụ không xác định được thời điểm chuyển dịch, gây khó khăn cho việc quản lý thuế xuất - nhập khẩu, nên để đảm bảo tính công bằng nhà nước không đánh thuế đối với hành vi xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ Do đó, đại lý hải quan không có nghĩa vụ về thuế xuất nhập khẩu khi thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ cho khách hàng theo hợp đồng ủy thác

Ngoài ra, đối với những trường hợp pháp luật quy định thuế xuất - nhập khẩu hàng hóa bằng 0%, đại lý hải quan vẫn phải thực hiện đầy đủ thủ tục hải quan và nghĩa vụ kê khai nộp thuế, tuy nhiên mức thuế xuất, nhập khẩu phải nộp lúc này bằng 0

Như vậy, không phải lúc nào đại lý hải quan làm thủ tục thông quan cho khách hàng đều có nghĩa vụ thuế xuất khẩu, nhập khẩu Nghĩa vụ thuế xuất - nhập khẩu chỉ phát sinh khi hàng hóa ủy thác thuộc đối tượng chịu thuế xuất - nhập khẩu Đồng thời, khi hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà có thuế suất 0% thì đại lý hải quan không cần phải nộp thuế xuất – nhập khẩu

Trang 9

2.2 Nghĩa vụ thuế đối với thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng là thuế thu trên giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ, thuế giá trị gia tăng đánh vào hầu như tất cả các loại hàng hóa dịch vụ được tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam trừ 25 trường hợp thuộc đối tượng không chịu thuế theo Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu, cũng giống như thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, hay thuế bảo vệ môi trường, người chịu thuế mà nhà nước hướng đến chính là người tiêu dùng Tuy nhiên, việc xác định và thu thuế từ người tiêu dùng rất khó khăn, việc quản lý tốn kém cũng như dễ thất thu thuế, do đó nhà nước thực hiện thu thuế thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh, nhập khẩu hàng hóa dịch vụ

Riêng đối với hoạt động xuất - nhập khẩu dịch vụ, việc khai thuế giá trị gia tăng là quyền lợi của chủ thể khai thuế, thực hiện khai thuế để xác định được thuế đầu vào hoặc thuế đầu ra làm cơ sở cho việc khấu trừ và hoàn thuế

Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng trong hoạt động nhập khẩu rộng hơn so với trong hoạt động xuất khẩu Trong hoạt động nhập khẩu, đối tượng chịu thuế là tất cả hàng hóa, dịch vụ trừ các hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế theo Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng Nhưng đối với hoạt động xuất khẩu theo Khoản 1 Điều 8 Luật thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi bổ sung quy định mức thuế suất là 0% áp dụng với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và các hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng khi xuất khẩu, trừ

7 trường hợp sẽ không chịu thuế giá trị gia tăng Như vậy, đại lý hải quan không phải nộp thuế giá trị gia tăng khi thực hiện thủ tục xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ

Do đó, khi làm thủ tục xuất khẩu hoặc nhập khẩu nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng của đại lý hải quan (nếu có) sẽ khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng hàng hóa, dịch vụ xuất - nhập khẩu

2.3 Nghĩa vụ thuế đối với thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, nhà nước đã quy định mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cao hơn hẳn so với các loại thuế khác và đánh thuế vào các loại hàng hóa, dịch vụ xa xỉ, không thật sự cần thiết cho nhu cầu hàng ngày của con người nhằm hạn chế tiêu dùng Do đó, thuế tiêu thụ đặc biệt không đánh trên hành

vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ Việt Nam nên đại lý hải quan khi thực hiện thủ tục xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ không phải thực hiện nghĩa vụ về thuế tiêu thụ đặc biệt dù cho hàng hóa, dịch vụ đó thuộc nhóm đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Trang 10

Trong hoạt động nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt thu trực tiếp vào hành vi nhập khẩu các loại hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Lúc này, đối tượng phải nộp thuế là các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo Điều 4 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt Như vậy, thuế tiêu thụ đặc biệt không đánh trên hoạt động nhập khẩu dịch vụ mà chỉ đánh trên hoạt động kinh doanh dịch vụ nên khi đại lý hải quan nhập khẩu dịch vụ sẽ không có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt

Có thể thấy, đối với thuế tiêu thụ đặc biệt đại lý hải quan chỉ có nghĩa vụ thuế khi nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ các trường hợp không chịu thuế theo Điều 3 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt Đại lý hải quan không có nghĩa vụ thuế trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa dịch vụ, cũng như nhập khẩu dịch vụ

2.4 Nghĩa vụ thuế đối với thuế bảo vệ môi trường

Thuế bảo vệ môi trường là thuế gián thu, thu vào sản phẩm hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu tới môi trường Thuế bảo vệ môi trường không điều tiết dịch

vụ, hoạt động gây ô nhiễm môi trường mà chỉ điều tiết vào hàng hóa Theo đó, đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường là các hàng hóa có tác động xấu với môi trường,

có mức độ gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng được quy định tại Điều 3 Luật thuế bảo vệ môi trường Trong trường hợp ủy thác nhập khẩu hàng hóa thì người nhận ủy thác, tức đại lý hải quan là đối tượng nộp thuế bảo vệ môi trường theo Khoản 2 Điều 5 Luật thuế bảo vệ môi trường

Như vậy, thuế bảo vệ môi trường cũng giống như thuế tiêu thụ đặc biệt không đánh trên hoạt động xuất - nhập khẩu dịch vụ, cũng như hoạt động xuất khẩu hàng hóa,

mà chỉ thu ở khâu nhập khẩu hàng hóa Đại lý hải quan chỉ thực hiện nghĩa vụ thuế bảo vệ môi trường khi nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế tại Điều 3 và không thuộc trường hợp không chịu thuế tại Điều 4 Luật thuế bảo vệ môi trường

Tóm lại đại lý hải quan có nghĩa vụ thuế khi nhận ủy thác xuất - nhập khẩu cho khách hàng Khi đó, tùy từng trường hợp cụ thể phụ thuộc vào loại hàng hóa, dịch vụ, nhập khẩu, hay xuất khẩu mà nghĩa vụ thuế phát sinh của đại lý hải quan sẽ khác nhau

3 Các nghĩa vụ thuế khác của đại lý hải quan

3.1 Nghĩa vụ đăng ký thuế

Theo khoản 1, Điều 21, Luật số 78/2006/QH11 về quản lý thuế thì đại lý hải quan là đối tượng đăng ký thuế

Ngày đăng: 14/05/2017, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w