---NGUYỄN QUỐC DŨNG NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TUÂN THỦ NGHĨA VỤ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Quản trị
Trang 1-NGUYỄN QUỐC DŨNG
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
SỰ TUÂN THỦ NGHĨA VỤ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9-
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số ngành: 60340102
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 04 năm 2018
Trang 2-NGUYỄN QUỐC DŨNG
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
SỰ TUÂN THỦ NGHĨA VỤ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9-
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số ngành: 60340102
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.HOÀNG TRUNG KIÊN
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 04 năm 2018
Trang 3Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS HOÀNG TRUNG KIÊN
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày 15 tháng 04 năm 2018
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có).
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 4TP HCM, ngày tháng năm 2018
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: NGUYỄN QUỐC DŨNG Giới tính : Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 29/01/1983 Nơi sinh : TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV : 1641820011 I- Tên
đề tài:
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TUÂN THỦ
NGHĨA VỤ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
9-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
II- Nhiệm vụ và nội dung:
Nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủnghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn Quận 9-Thành phố Hồ Chí Minh, từ
đó đề xuất hàm ý quản trị nâng cao sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệptrên địa bàn Quận 9-Thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung đề tài gồm năm nội dung chính: tổng quan về đề tài, cơ sở lýthuyết, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và hàm ý quản trị Đề tài đãtìm ra mô hình, các yếu tố tác động đến sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của các doanhnghiệp trên địa bàn Quận 9-Thành phố Hồ Chí Minh và qua kết quả phân tích cũng
đã cho ra được phương trình hồi quy
Hạn chế của đề tài là chưa nghiên cứu với lượng mẫu lớn, chưa nghiên cứu trên
phạm vi toàn Thành phố Hồ Chí Minh.
III- Ngày giao nhiệm vụ: ngày 09 tháng 10 năm 2017
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: ngàytháng năm 2018
V- Cán bộ hướng dẫn: TS HOÀNG TRUNG KIÊN
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn quận 9, Tp-
Hồ Chí Minh” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và chưa
được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trongquá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đứcnghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảosát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đềuđược trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nộidung khác trong luận văn của mình
Học viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Quốc Dũng
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân
thủ nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn quận 9, Tp-Hồ Chí
Minh” này, đầu tiên tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến Quý Thầy, Cô của Khoa Quản trị kinh doanh thuộc Viện đào tạo sau đại học Trường Đại học Công
Nghệ TP.HCM đã truyền đạt cho tôi những kiến thức về lĩnh vực quản lý kinh tế
có tầm quan trọng vĩ mô và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tậptại trường Đó cũng là thành quả trong quá trình tích lũy kiến thức trong quá trìnhhọc tại trường làm nền tảng quan trọng cho việc thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Hoàng Trung Kiên là Giảng viên hướng dẫnkhoa học của tôi đã tận tình hướng dẫn, góp ý và giúp đỡ cho tôi trong suốt quátrình thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin cảm ơn Ban Lãnh đạo, Đội trưởng các đội và các doanh nghiệpđang hoạt động trên địa bàn quân 9 – Tp.HCM, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôitiếp cận các tài liệu có liên quan đến nghiên cứu và giúp tôi trả lời bảng câu hỏikhảo sát, làm nguồn dữ liệu quan trọng cho việc phân tích và cho ra kết quảnghiên cứu của luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh của tôi
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, hỗ trợ, động viên tôi trong suốtquá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn!
Học Viên
Nguyễn Quốc Dũng
Trang 7TÓM TẮT
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, kết quả số thu ngân sách hàng nămtại các CQT từ Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho đến cácChi cục Thuế quận, huyện là một trong những nhiệm vụ quan trọng của CQT.Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức,
cá nhân Tuy nhiên trên thực tế, một số người nộp thuế vẫn có quan niệm xemviệc nộp số tiền thuế vào NSNN là sự mất đi một số tiền nhất định, thực hiệnviệc nộp thuế chỉ là nghĩa vụ không thể tránh né được nếu có cơ hội không nộpthuế hoặc giảm bớt được số tiền thuế phải nộp mà không bị xử lý thì họ có thể
sẽ không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
Hệ thống thuế Việt Nam đã chuyển đổi theo hướng tích cực là thực hiện
cơ chế tự khai, tự nộp Theo cơ chế này, người nộp thuế có thể tự kê khai, tínhtoán được số thuế mà mình phải nộp và tự nộp số tiền thuế này vào NSNN màkhông cần căn cứ vào thông báo nộp thuế của CQT Tuy nhiên, vì nhiều nguyênnhân khác nhau nên người nộp thuế không phải lúc nào cũng kê khai chính xác vànộp đầy đủ, đúng hạn số thuế phải nộp Do đó, CQT cần xem xét, tìm hiểunguyên nhân dẫn đến tình trạng này Một trong những cách giải quyết là tìm hiểuxem các nhân tố nào đã tác động đến sự tuân thủ thuế của người nộp thuế
Xuất phát từ thực tế nêu trên, tác giả đã nghiên cứu thực hiện luận văn tốt nghiệp
với đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ nghĩa vụ
thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn quận 9, Tp-Hồ Chí Minh” nhằm
có thể góp phần nâng cao sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp.
Đề tài được nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu là xác định các nhân
tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp, xác định mức độ ảnhhưởng của các nhóm nhân tố, xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao sự tuân thủthuế của doanh nghiệp
Luận văn được nghiên cứu bằng các phương pháp: Nghiên cứu khám phá, sửdụng phương pháp định tính, trao đổi với các công chức thuế làm việc tại các bộphận khác nhau như bộ phận quản lý, bộ phận tuyên truyên hỗ trợ, bộ phận kiểm
Trang 8tra Phát phiếu khảo sát thử một số doanh nghiệp có loại hình, ngành nghề, quy
mô và thời gian kinh doanh khác nhau
Nghiên cứu chính thức định lượng: Từ kết quả phản hồi thông các qua phiếukhảo sát Dữ liệu được làm sạch, thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’salpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tốđến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp bằng phương trình hồi quy tuyến tính bội
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20 Số mẫu chọn khảo sát là n = 350 với
32 biến quan sát thông qua việc khảo sát thực tế, sau đó kết quả khảo sát được xử lý
và phân tích để đưa ra các kết quả đạt ý nghĩa thống kê, dựa trên việc kiểm định cácgiả thuyết về mô hình nghiên cứu đã xây dựng Mối quan hệ tương quan và hồi quytuyến tính bội cũng được xây dựng ban đầu với biến phụ thuộc là sự cam kết chấphành và tuân thủ nghĩa vụ thuế và 10 biến độc lập gồm: (1) Lắng nghe và giải đápthắc mắc của người nộp thuế; (2) Đồng hành và tháo gỡ những khó khăn trong thựchiện chính sách thuế; (3) Thông báo tổ chức tập huấn chính sách Thuế; (4) Tuyêntruyền; (5)Thái độ phục vụ; (6) Tiếp nhận và xử lý; (7) Yêu cầu thay đổi và bổ sung;(8) Sự tin tưởng của người nộp thuế; (9) Kê khai chứng từ thuế; (10) Kê khai số tiềnthuế Sau khi kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA,kết quả mô hình không có loại biến nhân tố và biến quan sát nào hết, vẫn giữ nguyên
10 nhân tố với 32 biến quan sát Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội cho thấy 03nhân tố có ảnh hướng tích cực đến sự cam kết tuân thủ nghĩa vụ Thuế của các doanh
nghiệp nộp thuế đối với cơ quan Thuế, đó là H 2 : Đồng hành và tháo gỡ, H 8: Tin
tưởng và H 9: Kê khai chứng từ
Với kết quả nghiên cứu này, tác giả có đề xuất những giải pháp hoàn thiệnquản lý thu thuế nhằm tăng cường sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của các doanhnghiệp đối với nhà nước tại Chi cục Thuế quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 9Tax revenue is mainly from the state budget, the result of budget revenuesannually in the Tax Departments from the Tax Departments of the provinces andcities under central to the Tax Office district is one of the important tasks of the TaxDepartments Pay taxes according to law is the obligation and the rights of allorganizations and individuals But in fact, some taxpayers still have notions see thepayment of tax amounts into the state budget is losing a certain amount, to file tax isonly obligation can not be avoided if you have the Assembly does not pay taxes orreduce the amount of tax payable, without treatment, they can not implement the taxobligation
Thesis was studied by methods: The study explored using qualitativemethods, exchange with tax officials working in different departments such asdepartment managers, the propaganda department support, inspection department.Distribute the survey to try some business type, industry, size and different businesstime
Formal quantitative research: From the results of the feedback through thesurvey Data cleaning, the scale is calibrated using coefficient Cronbach's alpha,factor analysis to discover EFA, assessing the impact of these factors on the taxcompliance of the business equation linear regression multiple The data isprocessed by software SPSS 20 Number of sampling survey was n = 350 with 32observed variables through the actual survey, then the survey results are processedand analyzed to give the achieved significant results, based on the verification of thehypothesis of the research model was constructed Relationship correlation andlinear regression multiples also built originally with the dependent variable is thecommitment to abide by and comply with tax obligations and 10 independentvariables are: (1) Listen and answer questions taxpayers; (2) Co-operate and removethe difficulties in the implementation of tax policy; (3) Notify training tax policy;(4) Propaganda; (5) The service attitude; (6) Receiving and processing; (7) Requireschanges and additions; (8) The trust of the taxpayer; (9) Declaring tax documents;
Trang 10(10) the amount of tax declarations After testing the reliability of the scale, factoranalysis to discover EFA, model results with no type of variable factors andvariables observed at all, remains the same 10 factors with 32 observed variables.Results of linear regression analysis showed that multiple factors influence 03positive commitment to comply with tax obligations of businesses paying taxes tothe tax office (7) Requires changes and additions; (8) The trust of the taxpayer; (9)Declaring tax documents; (10) the amount of tax declarations After testing thereliability of the scale, factor analysis to discover EFA, model results with no type
of variable factors and variables observed at all, remains the same 10 factors with 32observed variables Results of linear regression analysis showed that multiplefactors influence 03 positive commitment to comply with tax obligations ofbusinesses paying taxes to the tax office (7) Requires changes and additions; (8)The trust of the taxpayer; (9) Declaring tax documents; (10) the amount of taxdeclarations After testing the reliability of the scale, factor analysis to discoverEFA, model results with no type of variable factors and variables observed at all,remains the same 10 factors with 32 observed variables Results of linear regressionanalysis showed that multiple factors influence 03 positive commitment to complywith tax obligations of businesses paying taxes to the tax office
With the results this study, the authors have proposed the solution to improvetax collection management to enhance compliance of tax obligations of businesses
to the state at the Tax Office District 9, Ho Chi Minh City
Trang 11MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU SỐ LIỆU PHÂN TÍCH ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ x
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xi
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.3.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.4 Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu 3
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.6 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6.1 Nghiên cứu định lượng 4
1.6.2 Nghiên cứu định tính 4
1.7 Những đóng góp của đề tài 4
1.8 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 2 6
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1 Nguồn gốc của Thuế và khái niệm tuân thủ nghĩa vụ thuế 6
2.1.1 Nguồn gốc của Thuế 6
2.1.2 Tuân thủ nghĩa vụ thuế là gì 7
2.1.3 Các cấp độ của tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp thuế 9
2.1.4 Một số cách tiếp cận giải thích về sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp 10
2.2 Phân loại doanh nghiệp 17
2.2.1 Về quy mô 17
2.2.2 Về ngành nghề kinh doanh 18
2.2.3 Về loại hình doanh nghiệp 18
2.2.4 Về hiệu quả sản xuất kinh doanh 19
2.2.5 Thuế và các khoản nộp ngân sách của doanh nghiệp trên địa bàn Quận 9 19
Trang 122.3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 21
2.4 Các nghiên cứu thực hiện trước đây 23
2.4.1 Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lệ Thuý (2009) 23
2.4.2 Nghiên cứu của tác giả Phan Thị Mỹ Dung (2016) 23
2.4.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 24
2.5 Xây dựng thang đo 27
CHƯƠNG 3 30
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Phương pháp nghiên cứu 30
3.2 Phương pháp xử lý số liệu 34
CHƯƠNG 4 36
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 36
4.2 Thống kê mô tả cho các biến quan sát 37
4.3 Phân tích độ tin cậy và sự phù hợp của thang đo 42
4.4 Kiểm định mô hình 49
KẾT LUẬN 55
CHƯƠNG 5 56
HÀM Ý QUẢN TRỊ VÀ KẾT LUẬN 56
5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 56
5.2 Một số hàm ý quản trị 56
5.2.1 Yếu tố đồng hành và tháo gỡ 56
5.2.2 Yếu tố kê khai chứng từ thuế 57
5.2.3 Yếu tố tin tưởng 58
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 59
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC a PHỤ LỤC 2: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT d PHỤ LỤC 3: THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU i
PHỤ LỤC 4: PHÂN TÍCH CRONBACH’S ALPHA l PHỤ LỤC 5: PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA q PHỤ LỤC 6 : PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN x
PHỤ LỤC 7: PHÂN TÍCH HỒI QUY TUYẾN TÍNH BỘI z
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU SỐ LIỆU PHÂN TÍCH
Bảng 3.1: Tình hình thu ngân sách nhà nước theo cơ sở số liệu tổng hợp dự toáncủa Chi Cục thuế Quận 9 từ 2011 đến tháng 12/2016 33Bảng 3.2 : Tỷ lệ thu ngân sách nhà nước từ doanh nghiệp trên địa bàn Quận 9 quacác năm từ 2011 đến 2016 33Bảng 3.3 : Tóm tắt cấu trúc bảng câu hỏi khảo sát cho nghiên cứu chính thức 35Bảng 3.4 : Bảng xây dựng thang đo 39Bảng 4.1 : Thống kê mô tả các biến quan sát cho thang đo “Lắng nghe và giải đápcủa Chi Cục Thuế” 44Bảng 4.2 : Thống kê mô tả biến quan sát cho thang đo “Đồng hành và tháo gỡ” 44Bảng 4.3 : Thống kê mô tả các biến quan sát cho thang đo “Thông báo và tổ chứctập huấn” 45Bảng 4.4 : Thống kê mô tả các biến quan sát cho thang đo “Tuyên truyền và hỗtrợ”.45
Bảng 4.5 : Thống kê mô tả các biến quan sát cho thang đo “Thái độ phục vụ của ChiCục Thuế” 45Bảng 4.6 : Thống kê mô tả các biến quan sát cho thang đo “Tiếp nhận và xử lý yêucầu” 46Bảng 4.7 : Thống kê mô tả các biến quan sát cho thang đo “Chi Cục Thuế yêu cầuthay đổi” 46Bảng 4.8 : Thống kê mô tả các biến quan sát cho thang đo “Sự tin tưởng” 47Bảng 4.9 : Thống kê mô tả các biến quan sát cho thang đo “Kê khai chứng từ thuế” 47Bảng 4.10 : Thống kê mô tả các biến quan sát cho thang đo “Kê khai số thuế” 47Bảng 4.11 : Thống kê mô tả các biến quan sát cho thang đo “Chấp hành và tuânthủ” 48
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 : Mô hình nghiên cứu sự tuân thủ nghĩa vụ Thuế của doanh nghiệp 5
Hình 2.1 : Mô hình tuân thủ nghĩa vụ Thuế của doanh nghiệp theo cấp độ 13
Hình 2.2 : Tác động của yếu tố tâm lý-xã hội đến tinh thần và đạo đức thuế 19
Hình 3.1 : Quy trình thực hiện nghiên cứu 38
Hình 4.1 : Biểu đồ Giới tính của người đại diện doanh nghiệp 42
Hình 4.2 : Biểu đồ Trình độ học vấn của đại diện doanh nghiệp 42
Hình 4.3 : Biểu đồ Chức danh hiện tại 43
Hình 4.4 : Biểu đồ thâm niên công tác 43
Trang 15: Hệ số Kaise – Mayer – Olkin.
: Người nộp thuế: Mức ý nghĩa quan sát
: Hệ số nhân tố phóng đại phương sai
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài
Thuế là bộ phận quan trọng nhất của Ngân sách nhà nước, góp phần tolớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Một hệ thống thuế có hiệu lực
và hiệu quả là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia Điều này không chỉ phụthuộc vào những chính sách thuế hợp lý mà còn phụ thuộc rất lớn vào hoạt độngquản lý thu thuế của nhà nước Vì vậy, quản lý thu thuế đang là một vấn đềđược xã hội quan tâm
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Tuy nhiên, quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở các nước đang pháttriển hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức khác nhau tạo ra sức ép ngày càngtăng đối với nhiệm vụ thu thuế của nhà nước Một trong những thách thức lớn đó
là sự đa dạng hành vi tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Phức tạp hơn khihành vi tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp lại chịu ảnh hưởng của nhiều cácbiến số khác nhau Những yếu tố này tạo ra bài toán to lớn đối với cơ quan thuếtrong việc đảm bảo sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Trong khi nguồnlực cho quản lý thu thuế ở các nước đang phát triển hiện nay là rất hạn hẹp, sựphức tạp từ các doanh nghiệp ngày một tăng lên dẫn đến nhiều khó khăn hơn đốivới cơ quan thuế trước sức ép phải tăng thu ngân sách nhà nước hàng năm để đảmbảo nhu cầu chi tiêu cho một xã hội đang phát triển Đây là khó khăn lớn mà ngànhthuế như ở Việt Nam cần phải vượt qua Từ những những thách thức nói trên, cơquan thuế ở nhiều quốc gia đang có những nỗ lực đổi mới hệ thống quản lý thuthuế của mình dựa trên chính những điểm mạnh họ sẵn có, xây dựng chiến lượcquản lý thu thuế đối với doanh nghiệp dựa trên quan điểm doanh nghiệp hay đốitượng nộp thuế (người nộp thuế) chính là khách hàng của cơ quan thuế Chiếnlược quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở nhiều quốc gia vì vậy hướng vàonhững yếu tố thuộc đặc điểm tuân thủ của các nhóm doanh nghiệp khác nhau Lợiích kỳ vọng rất nhiều từ chiến lược này là tăng cường tính tuân thủ tự nguyện củadoanh nghiệp và làm thay đổi hành vi tuân thủ nghĩa vụ thuế của những doanhnghiệp phản kháng với nghĩa vụ thuế theo
Trang 17hướng tích cực hơn Chiến lược quản lý thu thuế dựa trên sự tuân thủ của doanhnghiệp giảm gánh nặng quản lý hành chính thuế, đặc biệt ở những thành phố lớn
có số lượng doanh nghiệp tăng trưởng nhanh Những chiến lược hướng về kháchhàng bắt đầu được xây dựng và thực thi ở các nước phát triển từ những năm 1970
và hiện nay đang thực hiện ở nhiều nước đang phát triển Cùng với chiến lượchướng tới khách hàng, nhiều quốc gia đã xây dựng cơ chế tự khai tự nộp thuế Lợiích của cơ chế này đã được khẳng định, đó là giảm chi phí tuân thủ nghĩa vụ thuế;giảm chi phí quản lý hành chính thuế và nâng cao hiệu lực quản lý thông qua sựtuân thủ tự nguyện Nhật Bản đã áp dụng hệ thống này từ năm 1974; Australia năm1994; Anh và Niudilân năm 1995 Tuy còn mới mẻ và nhiều thách thức, hệ thốngnày cũng đã bắt đầu được áp dụng ở một số nước đang phát triển như Bangladesh,Malayxia, Trung Quốc hay Việt nam Sự đổi mới quản lý thu thuế của Nhà nướcđối với doanh nghiệp ở Việt nam cũng không thể nằm ngoài xu hướng nói trên ỞViệt nam, sự thay đổi cơ chế quản lý thu thuế theo cơ chế Tự khai tự nộp là mộttín hiệu tích cực thể hiện xu hướng mới trong quản lý thu thuế là tạo sự chủ động
và dân chủ hơn cho doanh nghiệp Hệ thống quản lý Tự khai tự nộp bắt đầu đượcthí điểm từ 1/2004 ở một số doanh nghiệp và thí điểm với hai loại thuế cơ bản đó
là thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập doanh nghiệp, đến nay đã được ápdụng trên toàn quốc Tại Tp Hồ Chí Minh, cơ chế này bắt đầu được thí điểm từtháng 11/2005 với số lượng 1200 doanh nghiệp và hiện tại được áp dụng đối vớihầu hết doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Tuy nhiên, sự đổi mới nói trên khôngthể đảm bảo rằng cơ quan quản lý thuế có thể đạt được sự tuân thủ tự nguyện,đầy đủ của hầu hết các doanh nghiệp, đảm bảo nguồn thu tiềm năng cho ngân sáchnhà nước Trong bối cảnh hành vi và đặc điểm của doanh nghiệp ngày càng phứctạp như ở các thành phố lớn Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, quản lý thu thuế cầnphải đạt được mục tiêu tuân thủ cao nhất đặc biệt là sự tuân thủ tự nguyện củadoanh nghiệp Mục tiêu này chỉ có thể đạt được khi quản lý thu thuế ở các thànhphố lớn như Tp Hồ Chí Minh có sự đổi mới hoàn toàn về quan điểm, chiến lược,chính sách quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp Từ những lý do trên, tác giảchọn đề tài nghiên cứu
“Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn quận 9, Tp Hồ Chí Minh”.
Trang 181.3 Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của cácdoanh nghiệp trên địa bàn Quận 9- Tp HCM, từ đó đề xuất hàm ý quản trị nhằmnâng cao sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn Quận 9-Thành phố Hồ Chí Minh
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp
- Khảo sát, đánh giá và kiểm định mô hình
- Đưa ra các hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp
1.4 Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đặt ra của đề tài luận văn, câu hỏi nghiên cứuchính là các nội dung cần tiếp cận, triển khai dựa trên cơ sở lý luận logic vàkhoa học Trong phạm vi của đề tài luận án, các câu hỏi nghiên cứu bao gồm: Sựtuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp có thể được xác định như thế nào? Sựtuân thủ được thể hiện ở những cấp độ nào? Các chỉ số đặc trưng cho từng cấp
độ tuân thủ? Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp lựa chọn cấp
độ tuân thủ nghĩa vụ thuế?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của cácdoanh nghiệp trên địa bàn Quận 9- Tp HCM
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu
* Về mặt Không gian:
Nghiên cứu được thực hiện tại Quận 9 – Thành phố Hồ Chí Minh
* Phạm vi Thời gian:
Dữ liệu thứ cấp: được thu thập từ tháng 9/2011 đến tháng 12/2016
Dữ liệu sơ cấp: phát phiếu khảo sát tiến hành từ ngày 01/09/2017 đến hết ngày 30/09/2017 hoàn tất việc thu hồi phiếu khảo sát về hết để tổng hợp
Trang 19* Luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạtđộng thu thuế nội địa (như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp,thuế môn bài, thuế TNCN ), dưới sự quản lý của Cục Thuế Tp Hồ Chí Minh,Chi Cục Thuế Quận 9 và các chi cục thuế quận huyện, không bao gồm sự quản
lý các khoản thuế quan dưới sự quản lý của cơ quan hải quan
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và địnhtính
1.6.1 Nghiên cứu định lượng
Tiến hành thu thập, mã hóa, xử lý dữ liệu nghiên cứu thông qua phỏngvấn bằng phiếu phỏng vấn Số liệu nghiên cứu là số liệu thu được từ phiếuphỏng vấn trực tiếp được tổng hợp, nhập liệu trên phần mềm Microsoft Excel
và xử lý chủ yếu bằng phần mềm SPSS nhằm phân tích nhân tố khám phá (EFA)kiểm định chất lượng thang đo, phân tích hồi qui đa biến, kiểm định ANOVA, t
- Statistic, đa cộng tuyến, hệ số tự tương quan
1.6.2 Nghiên cứu định tính
Phương pháp nghiên cứu định tính: Dùng bảng câu hỏi phỏng vấn, điềutra, thảo luận nhóm, kết hợp quan sát các doanh nghiệp nhằm thu thập thông tincho việc xác định mức độ quan tâm, cảm nhận của doanh nghiệp, xác định mức
độ đánh giá của doanh nghiệp về sự quản lý hiện tại của Chi Cục Thuế Quận 9
♦ Phương pháp phân tích tổng hợp: Từ kết quả khảo sát sẽ đánh giá, phân tích thực trạng tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn Quận
Trang 201.8 Cấu trúc luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứuChương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Hàm ý quản trị và kết luận
Trang 21CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Nguồn gốc của Thuế và khái niệm tuân thủ nghĩa vụ thuế.2.1.1 Nguồn gốc của Thuế.
Thuế, theo quy định của pháp luật, là khoản đóng góp mang tính bắt buộc
mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước (ngânsách nhà nước) Các tác giả giáo trình thuế của Học viện Tài chính viết : “Thuế
là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nướctheo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích côngcộng” Do vậy, nộp thuế là nghĩa vụ tất yếu của doanh nghiệp Tính tất yếu nàyxuất phát từ một số cơ sở như sau:
Thuế là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho sử dụng các tài sảnquốc gia như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông,
hệ thống thông tin.v.v.) Vì vậy, doanh nghiệp phải có nghĩa vụ đóng góp mộtphần thu nhập cho Nhà Nước để duy trì và phát triển tài sản quốc gia mà họ sửdụng
Thuế thu từ doanh nghiệp là khoản thu chủ yếu của ngân sách nhà nướcnhằm phục vụ cho mục đích chi tiêu phát triển kinh tế xã hội như chi tiêu chocác hoạt động cung ứng các dịch vụ công, chi cho điều tiết kinh tế vĩ mô.v.v Vìvậy, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thu thuế để đáp ứng nhu cầu chi tiêucho xã hội, đặc biệt ở những nước mà ngân sách nhà nước chủ yếu dựa vàonguồn thu nội bộ Thuế tồn tại trong môi trường chính trị kinh tế và xã hội, vìvậy nếu các doanh nghiệp tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ thuế thì đó chính là tín hiệutích cực và có lợi đối với ngân sách nhà nước
Nộp thuế của doanh nghiệp đảm bảo cho Nhà nước thực hiện được cácmục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua kiểm kê, kiểm soát, hướng dẫn,khuyến khích, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh (sản xuất kinhdoanh), các hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đảm bảo sựcân đối trong nền kinh tế và thực hiện các định hướng phát triển của Nhà nước.Mặt khác, nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp là tất yếu bởi đây là công cụ mà
Trang 22Nhà nước sử dụng để phân phối, điều hoà thu nhập giữa các tổ chức và cá nhântrong nền kinh tế nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng.
Tóm lại, nộp thuế phải được các doanh nghiệp nhận thức là một nghĩa vụtất yếu Quản lý thu thuế của Nhà nước quan trọng nhất là phải làm cho cácdoanh nghiệp nhận thức được điều này, đó là cơ sở của sự tuân thủ nghĩa vụthuế một cách đầy đủ và kịp thời
2.1.2 Tuân thủ nghĩa vụ thuế là gì
“Tuân thủ nghĩa vụ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ đốitượng chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế”
Theo cơ quan thuế Australia (ATO), “tuân thủ nghĩa vụ thuế là việc doanhnghiệp đáp ứng các nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế và theo các quyếtđịnh của toà án” Mc Barnet nghiên cứu rằng dựa vào mục đích và lợi ích củamình, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong 4 phương án sau:
(1) Tuân thủ mục đích của luật
(2) Thoả hiệp bằng việc thương lượng cách mà luật thuế cụ thể nào đóhoạt động trong những hoàn cảnh nhất định và tuân thủ luật theo cách mà cácmục tiêu được tuyên bố của luật có thể không thực hiện được
(3) Chuyển đổi các quyết định luật theo cách cụ thể, tạo điều kiện tích cực cho việc trốn thuế
(4) P há vỡ hoặc không tuân thủ luật với hy vọng không bị phát hiện bằng cách thiết lập hệ thống kế toán để che dấu bất kỳ sự kiểm tra nào
Theo Mc Barnet, các doanh nghiệp lớn có xu hướng là “có học” trongviệc lựa chọn sự tuân thủ, họ có xu hướng chọn cách trốn thuế theo phương ánthứ hai và thứ ba, còn doanh nghiệp nhỏ lựa chọn phương án trốn thuế theo cáchthứ tư
Do vậy, tuân thủ nghĩa vụ thuế nghĩa là tuân thủ mục đích của luật trongkhi đảm bảo tăng cường tính chắc chắn mà mục đích đó có thể được thực hiệntrên thực tế
Tuy nhiên, cần phát triển khái niệm này và đưa yếu tố thời gian vào như làmột tiêu chí thể hiện sự tuân thủ tự nguyện Một doanh nghiệp cuối cùng cũngthanh toán đầy đủ nghĩa vụ thuế nhưng nếu nghĩa vụ thuế đó được thanh toán
Trang 23muộn thì cũng không phải sự tuân thủ hoàn toàn Hơn nữa, nếu lãi suất nộp muộn
bị tính thì khoản thu đó cũng không phải là sự tuân thủ hoàn toàn tự nguyện
Từ đó có thể định nghĩa sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp làhành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ,
tự nguyện và đúng thời gian
Như vậy khái niệm tuân thủ trên được đo bằng 3 yếu tố
(1) Tính đầy đủ
(2) Tính tự nguyện
(3) Yếu tố thời gian
Tuy nhiên để đạt được 3 tiêu chí trên, quản lý thu thuế của nhà nước cầnxem xét sự tuân thủ dự tính và sự không tuân thủ không dự tính Nhiều khidoanh nghiệp tự nguyện có thể không đáp ứng nghĩa vụ thuế một cách khôngtính toán bởi vì họ không thể hoàn thành các tờ khai thuế chính xác hoặc họkhông nhận thức được hoặc hiểu sai về luật hay do những lý do tương tự.Những nỗ lực của các cơ quan thuế để cải thiện quản lý thu thuế ở khía cạnhnày là tìm ra các giải pháp giúp đỡ người nộp thuế để họ không rơi vào tìnhtrạng không tuân thủ không dự tính
Hành vi tuân thủ nghĩa vụ thuế không dự tính bao gồm trốn thuế và tránhthuế:
1) Xét theo quan điểm kinh tế vĩ mô: tránh thuế và trốn thuế có nhữngảnh hưởng tiêu cực như nhau đối với ngân sách nhà nước Vì vậy các nhà kinh
tế học thường phân tích những ảnh hưởng này một cách đồng thời, không phânbiệt giữa chúng
2) Từ cơ sở pháp lý: trốn thuế và tránh thuế là hai phạm trù không tuânthủ mục đích của luật nhưng hoàn toàn khác nhau Trốn thuế là hình thức khôngtuân thủ mục đích của luật, đó là việc giảm gánh nặng thuế vi phạm cơ sở pháp
lý Ví dụ, khi doanh nghiệp cố gắng kê khai thấp thu nhập chịu thuế, kê khai chiphí kinh doanh lớn hơn thực tế hay tránh việc kê khai thu nhập chịu thuế từ vốn,lao động và các yếu tố khác theo nguyên tắc kế toán thuế thì doanh nghiệp đó đã
vi phạm luật Các chỉ số ngân sách thất thoát do trốn thuế là khoảng 3,5 đến 13,4
% GDP ở các nước phát triển và khoảng 50% ở các nước đang phát triển Tránhthuế là hình thức không tuân thủ mục đích của luật
Trang 24nhưng hình thức này không vi phạm luật Tránh thuế là nỗ lực giảm gánh nặng thuế dựa trên cơ sở pháp lý liên quan đến:
(1) Khai thác những kẽ hở của luật hay các thủ thuật trì hoãn, kéo dài thời gian quá mức để giảm gánh nặng thuế
(2) Phân bố lại hoạt động kinh doanh để “tiết kiệm thuế”, chuyển thunhập từ lao động sang thu nhập từ vốn để được chịu tỷ lệ thuế thấp hơn haykhai thác thiên đường thuế của các quốc gia khác
3) Xét theo quan điểm đạo đức: sự phân biệt giữa hai khái niệm này đối vớinhiều người là không có sự khác nhau “Không có sự khác nhau giữa một nhà kinhdoanh nhỏ hoạt động trong một nền kinh tế ngầm (vi phạm luật) với một nhà đầu
tư lớn sử dụng những luật sư giỏi để tìm kiếm “thiên đường thuế””
4) Nghiên cứu theo giác độ tâm lý hành vi của doanh nghiệp : do sự khácnhau về cơ sở pháp lý, vì vậy đối với doanh nghiệp thì trốn thuế và tránh thuế làhoàn toàn khác nhau và tác động đến việc lựa chọn hành vi tuân thủ nghĩa vụthuế của họ Tránh thuế được đánh giá là tích cực hơn trốn thuế Kiến thức vềthuế của người nộp thuế càng tốt thì tránh thuế được nhận thức là công bằnghơn được lựa chọn nhiều hơn Ngược lại, kiến thức về thuế càng hẹp thìngười nộp thuế có xu hướng lựa chọn hình thức trốn thuế nhiều hơn
Một số cơ quan thuế hiện dành sự quan tâm đến việc tại sao một số doanh nghiệptrốn thuế và tránh thuế hơn là tại sao họ lại tuân thủ nghĩa vụ thuế Tuy nhiên, theochuẩn mực thì đối tượng tuân thủ hơn là không tuân thủ Vì vậy, để hệ thống quản
lý thu thuế có hiệu lực, cơ quan quản lý thu thuế cần đạt được sự vui lòng hợp táccủa đa số doanh nghiệp đảm bảo sự tuân thủ ở mức cao nhất, tối thiểu hoá cáchành vi không tuân thủ mục đích của luật đặc biệt là tránh thuế
2.1.3 Các cấp độ của tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp thuế
Bảng đo lường nghiên cứu cấp độ tuân thủ của doanh nghiệp thể hiệnmức độ chấp nhận hoặc từ chối nghĩa vụ thuế hay thái độ tuân thủ nghĩa vụthuế của doanh nghiệp Đây chính là các cấp độ bày tỏ mối quan hệ và thái độcủa doanh nghiệp với cơ quan thuế, nghĩa là mức độ chấp nhận hay từ chối cácquy định của luật thuế, các kế hoạch và công cụ quản lý thuế Tuân thủ nghĩa vụthuế của doanh nghiệp hiện nay được thể hiện dưới 4 mức độ:
Trang 25(1) Mức độ cam kết: Ở mức độ này, đối tượng sẵn sàng tuân thủ, doanhnghiệp cảm thấy “thoải mái” với hoạt động quản lý thuế, hợp tác với cơ quanthuế theo các kế hoạch quản lý thuế và tuân thủ một cách tích cực, thậm chí cóthể thay mặt cơ quan thuế khuyến khích đối tượng khác tuân thủ.
(2) Mức độ chấp nhận: doanh nghiệp chấp nhận những yêu cầu quản lýthuế và tin tưởng vào cơ quan thuế Ở mức độ này, doanh nghiệp cố gắng tuânthủ nhưng đôi khi không thành công
(3) Mức độ miễn cưỡng: Đây là cách tiếp cận chống đối, doanh nghiệp
có xu hướng không muốn tuân thủ nhưng nếu cơ quan thuế quan tâm, sát sao thìdoanh nghiệp sẽ tuân thủ mặc dù rất miễn cưỡng
(4) Mức độ từ chối: doanh nghiệp quyết định không tuân thủ, hoàn toàn tách ra khỏi sự quản lý của cơ quan thuế
Áp dụng toàn Quyết tâm bộ các quyền không tuân thủ lực theo luật
pháp Không muốn tuân Ngăn chặn thông
thủ, nhưng sẽ tuân thủ nếu cơ quan thuế qua các biện pháp quan tâm phát hiện vi phạm
Doanh nghiệp Ngành nghề
Cố gắng tuân thủ Chiến lược của
nhưng không phải Hỗ trợ để tuân thủ
Người lúc nào cũng thành CQT là tạo áp lực
nộp thuế công
để giảm số NNT
Xã hội Kinh tế không tuân thủ
Tâm lý Sẵn sàng tuân Tạo điều kiện
thuận lợi thủ
Hành vi NNT Biện pháp đối xử của
CQT
Hình 2.1 : Mô hình tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp theo cấp độ
Nguồn : Ths Trần Huy Trường- tạp chí tài chính ngày 03/10/2015.
2.1.4 Một số cách tiếp cận giải thích về sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp
Việc nghiên cứu tại sao doanh nghiệp tuân thủ hay không tuân thủ nghĩa
vụ thuế được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện trong ba thập kỷ qua “Nếu cơquan thuế có khả năng hiểu được tại sao doanh nghiệp tuân thủ hoặc không tuânthủ, cơ quan thuế sẽ đặt mình vào vị trí tốt hơn để nhận được mức độ tuân
Trang 26thủ nghĩa vụ thuế tốt hơn” Những lý thuyết về quyết định tuân thủ nghĩa vụthuế thường giả thiết rằng cá nhân là người nộp thuế Tuy nhiên trong mộtdoanh nghiệp, thực tế cá nhân là những chủ sở hữu doanh nghiệp, là ngườiquyết định phạm vi, mức độ tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đó Vìvậy, những nghiên cứu về hành vi tuân thủ nghĩa vụ thuế dưới đây là hợp lý khi
sử dụng để phân tích sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp
Theo James, S., sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp cần đượcgiải thích bằng các quyết định kinh tế, nghĩa là xem xét các tác động kinh tế cóthể có của hệ thống thuế và tính cưỡng chế của hệ thống đó Đây là cách tiếpcận thống trị trong nghiên cứu sự tuân thủ nghĩa vụ thuế suốt nhiều thập kỷ qua.Cách tiếp cận này giả thiết:
Các cá nhân và tổ chức luôn có động cơ tối ưu hoá lợi ích của họ, họ sẽkhông tuân thủ nghĩa vụ thuế trừ khi chi phí của việc không tuân thủ quá lớn sovới lợi ích mà họ nhận được từ sự không tuân thủ
Cách tiếp cận này cũng ngầm định rằng các tổ chức và cá nhân là phi đạođức và hoạt động tách biệt ra khỏi xã hội
Cách tiếp cận kinh tế và sự khuyến khích bằng phần thưởng: cách tiếp cậnkinh tế mở rộng cho rằng sự tuân thủ nghĩa vụ thuế có thể cải thiện bằng nhữngphần thưởng bằng tiền đối với doanh nghiệp Phần thưởng là sự thay thế của hìnhphạt, cung cấp động cơ cho sự tuân thủ nghĩa vụ thuế dựa trên cơ sở phân tích lợiích kinh tế của sự tuân thủ nghĩa vụ thuế và tác động của hiệu ứng thu nhập Cácphần thưởng được đưa đến cho đối tượng do hoàn thành nghĩa vụ thuế, làm thayđổi giá cả tương đối của sự tuân thủ nghĩa vụ thuế và thúc đẩy sự tuân thủ hơn làkhông tuân thủ Do vậy, tác động của hiệu ứng thu nhập phải đủ lớn tức là giá trịphần thưởng phải đủ lớn để thúc đẩy sự tuân thủ
Cách tiếp cận kinh tế và chi phí tuân thủ nghĩa vụ thuế: chi phí tuân thủnghĩa vụ thuế tác động đến sự tuân thủ thông qua hiệu ứng thu nhập nghĩa là chiphí tuân thủ tăng sẽ cản trở quyết định tuân thủ nghĩa vụ thuế và ngược lại Chiphí tuân thủ nghĩa vụ thuế theo nghĩa hẹp gồm chi phí tiền và thời gian để tuânthủ các nghĩa vụ về thuế Chi phí này phụ thuộc vào hệ thống thuế và khác nhaugiữa các ngành khác nhau, các hình thức kinh doanh khác nhau, các doanh nghiệp
có đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, chi phí tuân
Trang 27thủ còn bao gồm các chi phí khác là hậu quả của trốn thuế Sự không tuân thủcủa các doanh nghiệp khác có thể dẫn đến nhiều bất lợi trong cạnh tranh đốivới các doanh nghiệp tuân thủ tốt.
Cách tiếp cận kinh tế và hành vi trì hoãn việc tuân thủ nghĩa vụ thuế: vấn
đề khác thuộc phân tích kinh tế hành vi tuân thủ nghĩa vụ thuế là phân tích giá trịtiền tệ của sự tuân thủ Tuân thủ hay trì hoãn hoặc trốn thuế sẽ phụ thuộc vào lãisuất hay giá trị tiền tệ tại thời điểm thanh toán thuế so với thời điểm trì hoãnthuế trong tương lai Do vậy yếu tố lãi suất phải thường được xem xét trongquyết định tuân thủ của doanh nghiệp
Những hạn chế của mô hình tư lợi:
Thứ nhất, trong nhiều trường hợp cụ thể, một số kết luận của cách tiếpcận kinh tế không đúng với hành vi của đối tượng Thực tế, rất nhiều doanhnghiệp là trung thực và minh bạch về tài chính bất kể những lợi ích to lớn củaviệc trốn thuế, ví dụ một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rất nhiều đốitượng có xu hướng tuân thủ nghĩa vụ thuế mặc dầu với hình phạt trốn thuế, xácsuất thanh tra thuế là ở mức thấp và lợi ích thu được từ việc trốn thuế là lớnhơn chi phí của việc trốn thuế
Thứ hai, tác động tích cực của hình phạt nghiêm khắc được nhiều ngườiủng hộ nhưng sự kiểm soát càng cao độ của cơ quan thuế thì càng làm tăng hành
vi trốn thuế bởi nó sẽ làm tăng sự xâm phạm của cơ quan thuế đến người nộpthuế và từ đó làm giảm sự tuân thủ nghĩa vụ thuế “Vì vậy quản lý thu thuếhoàn toàn dựa vào các giải pháp ngăn chặn, nhấn mạnh đến mức không cầnthiết đến các biến số như sự đe dọa của các hình phạt luật pháp và sự kiểm soátquá mức không phải là chiến lược hợp lý để tăng cường sự tuân thủ nghĩa vụthuế”
Thứ ba, khi sử dụng phần thưởng, cơ quan thuế kỳ vọng đối tượng sẽ bịhấp dẫn bởi việc tuân thủ hơn là không tuân thủ Tuy vậy, đối với cơ quan thuế,chi phí của việc sử dụng hình thức khuyến khích bằng phần thưởng phải được
so sánh với chi phí sử dụng các hình thức khác đặc biệt là hình phạt Phầnthưởng phải làm tăng tổng thu thuế thuần, vì vậy phần thưởng tối ưu thường
có thể có giá trị nhỏ và hậu quả là sẽ không khuyến khích sự tuân thủ nếu xéttheo tác động của hiệu ứng thu nhập
Trang 28Thứ tư, trong nhiều trường hợp mặc dầu giá trị phần thưởng nhỏ, hìnhphạt nhẹ và xác suất thanh tra thấp nhưng kết quả lại có sự tác động rất lớn đến
sự tuân thủ, vì vậy không chỉ giải thích đơn giản tác động của các công cụ chínhsách này mà chỉ dựa vào hiệu ứng thu nhập Do đó, quản lý thu thuế cần xem xét
sự tác động của các công cụ chính sách này đến sự tuân thủ nghĩa vụ thuế dựavào lý thuyết lấn át Ví dụ, việc nhận được phần thưởng nhất định do tuân thủnghĩa vụ thuế tốt được nhận thức như là sự hỗ trợ và làm tăng đạo đức thuế.Ảnh hưởng này của phần thưởng, vì vậy, tác động cùng chiều với hiệu ứng thunhập và tác động tốt đến hành vi tuân thủ Trong trường hợp sử dụng hình phạt
do không tuân thủ, ảnh hưởng của hiệu ứng thu nhập và ảnh hưởng của hiệuứng lấn át tác động theo hướng ngược lại
Cơ sở của mô hình: Khác với cách tiếp cận kinh tế, cách tiếp cận hành viđược rút ra từ những nguyên lý khoa học cho rằng có những nhân tố quan trọngkhác thúc đẩy quyết định tuân thủ nghĩa vụ thuế Cách tiếp cận này xem xétnhững vấn đề về hành vi rộng hơn và rút ra những khái niệm từ các nguyên lýcủa tâm lý học và xã hội học Theo đó, sự tuân thủ nghĩa vụ thuế được địnhnghĩa rộng hơn, liên quan đến quyết định tự nguyện của doanh nghiệp
Giả thiết của mô hình: Mô hình xét yếu tố tâm lý xã hội đối với quyếtđịnh tuân thủ nghĩa vụ thuế với giả thiết rằng động cơ tâm lý xã hội hơn làđộng cơ kinh tế tác động đến hành vi tuân thủ nghĩa vụ thuế thông qua xâydựng một “tinh thần thuế và đạo đức thuế tốt” cho doanh nghiệp Nghĩa làngười nộp thuế không chỉ tối ưu hoá lợi ích kinh tế mà còn tối ưu hoá những lợiích tâm lý tinh thần trong quyết định tuân thủ nghĩa vụ thuế
* Tinh thần thuế và đạo đức thuế:
Tinh thần thuế là một khái niệm hầu như ít được phân tích trong cácnghiên cứu về tuân thủ nghĩa vụ thuế Tinh thần thuế là một thuật ngữ liên quanđến “sự vui lòng thanh toán thuế”, người nộp thuế cảm thấy có nghĩa vụ đốivới nhà nước hoặc đối với cộng đồng, phản ánh thái độ của người nộp thuếqua các hành động của họ
Đạo đức thuế hay kỷ luật thuế là sự trung thực đối với nghĩa vụ thuếliên quan trực tiếp đến hành vi tuân thủ của người nộp thuế Các chính sách làmtăng sự nhận thức của cộng đồng về các nghĩa vụ đạo đức đối với sự tuân
Trang 29thủ là chiến lược hiệu lực nhất để cải thiện sự tuân thủ Nhận thức tốt về nghĩa
vụ đạo đức nhiều khi là yếu tố tác động mạnh mẽ đến hành vi tuân thủ hơn cả
sự lo sợ về các hình phạt
* Tác động của yếu tố tâm lý – xã hội đến tinh thần thuế và đạo đức thuế:Tại sao người nộp thuế lại tuân thủ mặc dầu các hình phạt và xác suấtthanh tra thuế thấp là vấn đề quan tâm cơ bản của các lý thuyết tuân thủ nghĩa
vụ thuế thập kỷ 90 Các nghiên cứu cho thấy, ngoài xác suất bị phát hiện trốnthuế và hình phạt, sự tuân thủ nghĩa vụ thuế bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khácnhư tinh thần thuế, đạo đức thuế Và các biến số như tinh thần thuế và đạo đứcthuế cần phải được đưa vào mô hình để giải thích mức độ tuân thủ nghĩa vụthuế cao ở một số quốc gia Trong đó, tinh thần thuế và đạo đức thuế phụ thuộcvào những yếu tố tâm lý và xã hội
Danh tiếng, vị thế của doanh nghiệp
Thái độ đối với rủi ro Nhận thức về công bằng trong tuân thủ thuế Lo sợ về khả năng vi phạm luật thuế Ảnh hưởng tâm lý do sự phức tạp của hệ thống thuế và thủ tục tuân thủ
Sự đối xử của cơ quan thuế Tính tự chủ trong tuân thủ nghĩa vụ thuếHình 2.2 : Tác động của yếu tố tâm lý - xã hội đến tinh thần và đạo đức thuế
Nguồn : Tạp chí tài chính ngày 22/12/2015.
Tác động của yếu tố tâm lý đến tinh thần và đạo đức thuế bao gồm:
Thứ nhất là nhận thức về sự công bằng và bình đẳng trong tuân thủ nghĩa
vụ thuế: đây là một trong những tác động tâm lý rất lớn đến hành vi của ngườinộp thuế Ý định tuân thủ nghĩa vụ thuế là một hàm của “sự tin tưởng hay lòngtin thuế nói chung” từ sự công bằng của hệ thống thuế Sự không tin tưởng donhận thức của người nộp thuế về sự không công bằng và nền kinh tế ngầm sẽdẫn đến sự chấp nhận trốn thuế Ngược lại, sự tuân thủ của người nộp thuếcũng sẽ tác động đến đạo đức thuế của những đối tượng khác thông
Trang 30qua nhận thức về sự công bằng Bên cạnh đó, nhận thức về tính công bằngtrong tiếp cận thông tin và thủ tục tuân thủ tác động không nhỏ đến tâm lý tuânthủ, đặc biệt khi hệ thống thủ tục phức tạp Mặt khác, sự phức tạp bản thân nó
đã tác động trực tiếp làm suy giảm tinh thần thuế của người nộp thuế
Thứ hai là yếu tố nhận thức của người nộp thuế về sự đối xử của chínhquyền và cơ quan quản lý thu thuế Khi cơ quan thuế được nhận thức là ngườiđại diện và hoạt động vì lợi ích tập thể, coi người nộp thuế là khách hàng thì sựtuân thủ nghĩa vụ thuế sẽ đạt được Một chính quyền không đại diện sẽ giảm
sự hợp tác và tăng sự chống đối Mặt khác, sự đại diện của một cơ quan thuếcòn được người nộp thuế nhận thức ở sự công tâm, trong sạch, không nhận hối
lộ và không tham nhũng
Thứ ba là sự lo lắng về khả năng xảy ra vi phạm luật thuế (tính toán saithu nhập chịu thuế, thanh toán thuế không đúng, quá thấp hay những khó khăntrong giải quyết các sai lỗi không cố ý khác) Những sự lo lắng này thường là dongười nộp thuế không chắc chắn về luật thuế và quản lý thu thuế, đây là nhữngchi phí tâm lý khi tuân thủ nghĩa vụ thuế Một hệ thống thuế và quản lý thu thuếđơn giản hoá sẽ dễ dàng thấu hiểu và tiếp cận, làm giảm chi phí tâm lý và tăng
tỷ lệ tuân thủ nghĩa vụ thuế Hơn nữa, sự đơn giản hoá cũng tác động đến mốiquan hệ giữa người nộp thuế và cơ quan thuế
Thứ tư, tinh thần thuế phụ thuộc vào yếu tố chấp nhận rủi ro của bảnthân chủ sở hữu doanh nghiệp Nếu một doanh nghiệp ra quyết định đơn thuầndựa vào phân tích lợi ích và chi phí của các phương án khác nhau thì họ thuộcloại trung dung với rủi ro Ngược lại, các nghiên cứu thường giả thiết rằng hầuhết mọi người nộp thuế đều sợ rủi ro và chống lại rủi ro Vì vậy, phương ánlựa chọn phải là phương án có độ rủi ro thấp hơn và đối tượng sẽ không trốnthuế nếu có hình phạt của cơ quan thuế Do đó, một trong những lý do giải thíchtại sao đa số người nộp thuế đều tuân thủ nghĩa vụ thuế là do về mặt tâm lý, họ
có thể ước tính quá cao khả năng bị hình phạt do trốn thuế
Tác động yếu tố xã hội đến sự tuân thủ nghĩa vụ thuế bao gồm:
Chuẩn mực xã hội, sự hỗ trợ xã hội, ảnh hưởng xã hội và trách nhiệmcủa doanh nghiệp trong một cộng đồng xã hội Chuẩn mực xã hội là những tiêuchuẩn hành vi trong tuân thủ nghĩa vụ thuế do xã hội mong muốn và được chấp
Trang 31nhận chung của đa số người trong xã hội, yêu cầu người nộp thuế phải tuân thủ.Khi người nộp thuế xác định được nhóm xã hội tác động lên hành vi tuân thủnghĩa vụ thuế của họ, thì chuẩn mực xã hội tác động lên đạo đức thuế của họthông qua ảnh hưởng xã hội và sự hỗ trợ xã hội của nhóm xã hội đó Chúng ta
có thể thấy rằng tư lợi cá nhân có thể thúc đẩy hành vi khi con người cảm thấybản thân họ là các cá nhân độc lập với các cá nhân khác, trong khi trách nhiệmcông dân có thể thúc đẩy hành vi khi con người cảm thấy họ là thành viên củamột nhóm, của cộng đồng xã hội trước các nhóm hay cộng đồng khác Trongcộng đồng đó, sự tuân thủ nghĩa vụ thuế sẽ phụ thuộc vào ảnh hưởng xã hội lênnhận thức của người nộp thuế rằng hầu hết mọi người đều tuân thủ, chỉ một sốngười là không tuân thủ và hầu hết mọi người là những công dân tốt Sự tuânthủ sẽ hạn chế khi đối tượng nhận thức rằng ít người có trách nhiệm công dân.Tiếp theo, tinh thần thuế của đối tượng sẽ tác động lên chuẩn mực xã hội về sựtuân thủ nghĩa vụ thuế và tác động lên đạo đức, tinh thần thuế của các ngườinộp thuế khác Vì vậy, chuẩn mực xã hội tác động lên sự tuân thủ là yếu tố mà
cơ quan thuế cần quan tâm
Dư luận xã hội, danh tiếng, vị thế và vai trò của doanh nghiệp trong mộtcộng đồng xã hội Vai trò của doanh nghiệp trong xã hội và những chuẩn mựchành vi của họ cũng rất quan trọng Doanh nghiệp không chỉ tối ưu hoá hành vimột cách cô lập và ích kỷ (mặc dầu điều này đúng trong một số trường hợp) màcòn bị tác động bởi dư luận tích cực từ xã hội do tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ thuế
và từ đó làm hình thành nên danh tiếng vị thế và vai trò của doanh nghiệp trongmột cộng đồng xã hội Tiếp đó, danh tiếng vai trò của doanh nghiệp sẽ tác độngđến tinh thần thuế của bản thân doanh nghiệp
Thực tế cho thấy một số doanh nghiệp có thể là phi đạo đức và đối vớinhững trường hợp này thì phần thưởng và hình phạt là công cụ hợp lý nhất.Tuy nhiên, đa số doanh nghiệp thể hiện rằng ít nhất họ cũng phản ứng với cácchuẩn mực, ảnh hưởng và dư luận xã hội cũng như việc bảo đảm danh tiếng vịthế của doanh nghiệp trong một cộng đồng
Từ hai cách tiếp cận kinh tế và cách tiếp cận tâm lý xã hội, nghiên cứu kếtluận rằng sự tuân thủ nghĩa vụ thuế là kết quả của sự chi phối của những tác độngkinh tế và những tác động về tâm lý và xã hội (qua biến số tinh thần thuế và
Trang 32đạo đức thuế) Vì vậy, chiến lược và chính sách quản lý thu thuế của nhà nướccần xem xét đầy đủ các tác động này đến sự tuân thủ của doanh nghiệp.
2.2 Phân loại doanh nghiệp
ở Quận 9 chiếm xấp xỉ 94% năm 2011 và đến năm 2016 là 98,5 % (so với cảnước là 96,8%) Trong đó, những doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ (dưới 10 laođộng) chiếm gần 61,2 %, quy mô từ 10-200 lao động chiếm hơn 36 % và quy
mô từ 200-300 lao động chỉ chiếm 0,7%
Nếu sử dụng tiêu chí vốn để phân loại doanh nghiệp thì đặc điểm cũngtương tự Tỷ lệ doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng năm 2011 là 79,6%nhưng đến năm 2016 là hơn 89% Trong số này, những doanh nghiệp có vốn dưới
1 tỷ đồng là 27,2%, từ 1 đến 5 tỷ là 54% còn lại chỉ khoảng 8,2 % là doanh nghiệp
có vốn từ 5 đến 10 tỷ đồng Mặt khác, theo số liệu điều tra của Tổng Cục Thống
Kê năm 2011 - 2016 thì quy mô vốn bình quân của doanh nghiệp trên địa bàn có xuhướng giảm dần từ 39,2 tỷ đồng/doanh nghiệp năm 2011 ước tính còn 24 tỷ đồng/doanh nghiệp vào năm 2016 Tương tự như vậy quy mô lao động chỉ khoảng 39LĐ/doanh nghiệp năm 2016 (thấp hơn nhiều so với cả nước là 75 LĐ/doanhnghiệp ) Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng tăng nhanh đặt ra nhiềuvấn đề đối với quản lý thu thuế cả về mặt lý thuyết và thực tiễn Nhiệm vụ củangành thuế Quận 9 trong những năm tới là đảm bảo cho những doanh nghiệp vừa
và nhỏ sẽ hoạt động liên tục trong khu vực phi chính thức Những sự yếu kém củaquản lý thu thuế sẽ làm cho khu vực doanh nghiệp này chuyển sang hoạt động phichính thức, hoạt động trong nền kinh tế ngầm
Bên cạnh đó, số doanh nghiệp quy mô lớn trên địa bàn chiếm tỷ lệ rất nhỏ(doanh nghiệp có số lao động lớn hơn 300 chỉ khoảng 1,7% và vốn lớn hơn
Trang 3310 tỷ đồng chỉ khoảng 10,4%) Tuy nhiên so với cả nước, tỷ lệ doanh nghiệpquy mô lớn trên địa bàn Quận 9 cao hơn nhiều, đặc biệt, tỷ lệ doanh nghiệp cóvốn trên 500 tỷ đồng chiếm 6,4 % trong khi con số này trên cả nước chỉ khoảng0,4 % vào năm 2011 “Theo thống kê của ngành thuế hiện nay cả nước cókhoảng 2500 doanh nghiệp có doanh thu hàng năm lớn hơn 300 tỷ đồng Số thuếcủa doanh nghiệp này chiếm hơn 40% số thu của toàn ngành Các doanh nghiệplớn tập trung chủ yếu ở một số tỉnh thành phố lớn như Hà Nội (361), thành phố
Hồ Chí Minh (386), Bình Dương (111), Đồng Nai (136)” Như vậy, số doanhnghiệp có doanh thu trên 300 tỷ đồng trên địa bàn Quận 9 chiếm khoảng 24% sốdoanh nghiệp loại này trên cả nước Mặt khác, doanh nghiệp quy mô lớn chủyếu là doanh nghiệp nước ngoài (doanh nghiệp nhà nước) và doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, và là nhóm đóng góp chủ yếu vào ngân sách nhà nướctrên địa bàn Đây là khu vực mà ngành thuế Quận 9 sẽ có sự khác biệt so với cácđịa phương khác trong quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
Từ năm 2011 đến nay, các doanh nghiệp trên địa bàn Quận 9 chủ yếuhoạt động ở ngành thương nghiệp, chiếm khoảng gần 46%, sau đó là ngànhcông nghiệp khoảng 15 % Số doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông nghiệp,lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng 2,5% vào năm 2011) Theo xuhướng chung của cả nước về cơ cấu ngành kinh tế, tỷ lệ doanh nghiệp ngànhnông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản có xu hướng giảm dần trong khi các ngànhdịch vụ khác có xu hướng tăng lên như giáo dục, tài chính tín dụng, kinh doanhtài sản và dịch vụ tư vấn Đó cũng chính là chuyển dịch cơ cấu mang tính tất yếu
ở những đô thị lớn như Tp.Hồ Chí Minh Xu hướng thay đổi cơ cấu kinh tế làthông tin quan trọng đối với hoạt động quản lý thu thuế của Nhà nước trên địabàn
Doanh nghiệp ở Quận 9 hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp ngoài nhànước Tính đến tháng 12/2016, số lượng người nộp thuế là doanh nghiệp ngoàinhà nước chiếm 90,3% số doanh nghiệp Trong đó, 53% là công ty TNHH (tráchnhiệm hữu hạn), 34% là CTCP (công ty cổ phần) và 3% là doanh nghiệp TN(doanh nghiệp tư nhân) Điều này cho thấy sự phức tạp trong quản lý thu
Trang 34thuế bởi số doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân chiếm tỷ lệ rất lớn và làm chonhóm này tuân thủ nghĩa vụ thuế sẽ là một quá trình đầy những khó khăn, đặcbiệt là đảm bảo cho họ tuân thủ một cách tự nguyện Hơn nữa, những doanhnghiệp thuộc loại hình nói trên lại chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ vớinhiều bất lợi trong quá trình tuân thủ nghĩa vụ thuế so với những doanh nghiệpquy mô lớn hơn Vấn đề đặt ra đối với cơ quan thuế là tạo điều kiện cho doanhnghiệp loại hình này vượt qua những cản trở để tuân thủ nghĩa vụ thuế mộtcách tốt nhất.
2.2.4 Về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Nhìn chung, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên địa bànQuận 9 có những cải thiện đáng kể từ năm 2011 đến nay Mặc dầu có nhữngbiến động tăng giảm ở các năm như 2014, 2015 nhưng hiệu quả sản xuất kinhdoanh vẫn thay đổi theo hướng tích cực Tuy nhiên, hiệu quả sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp còn thấp và thậm chí thấp hơn mức trung bình trên
cả nước Năm 2011, theo ước tính, tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn chỉ đạt 3,8%(cả nước là 4,9%), tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là 4,1% (cả nước là 5,9%).Mặt khác, tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ có xu hướng tăng lên tương tự như thựctrạng chung của cả nước Điều đáng quan tâm là tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ lớnhơn nhiều so với mức trung bình của cả nước Năm 2016, ước tính tỷ lệ doanhnghiệp thua lỗ trên địa bàn chiếm 50,7% trong khi tỷ lệ này trên cả nước làkhoảng 30%
2.2.5 Thuế và các khoản nộp ngân sách của doanh nghiệp trên địa bàn Quận 9
Thuế và các khoản nộp ngân sách từ doanh nghiệp vẫn tăng lên hàng năm.Thu ngân sách từ doanh nghiệp hiện chiếm khoảng 79% tổng thu ngân sách nhànước trên địa bàn và có xu hướng ngày càng tăng lên Điều này phản ánh tầm quantrọng của số thu từ doanh nghiệp đối với thu ngân sách nhà nước.
Trang 35toán của Chi Cục thuế Quận 9 từ 2011 đến Tháng 12/2016
Nguồn : Số liệu báo cáo tổng kết thu ngân sách từ năm 2011 đến năm
2016 Bảng 2.2 : Tỷ lệ thu ngân sách nhà nước từ doanh nghiệp trên địa bàn
Quận 9 qua các năm từ 2011 đến 2016
So với kế So với Năm hoạch (%) tổng thu (%)
Nguồn : Số liệu báo cáo tổng kết thu ngân sách từ năm 2011 đế năm
2016 Theo thống kê của Chi cục thuế Quận 9, trong số thu từ các doanh
nghiệp trên địa bàn, đóng góp của doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp có vốnđầu tư nước nước ngoài chiếm gần 90% Như vậy thu từ doanh nghiệp chủ yếu là
từ doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp có vốn nhà nước và cơ bản là từ cácdoanh nghiệp lớn Vì vậy, quản lý thu thuế cần có những chiến lược thích hợp vớikhu vực quan trọng này Số liệu trên cho thấy thu từ doanh nghiệp có xu hướngtăng và vượt kế hoạch khoảng 7%, tuy nhiên tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ ngày càngtăng lên hàng năm, tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp trên địa bàn thấp hơnnhiều so với tỷ lệ này trên cả nước Vấn đề đặt ra là phải
Trang 36chăng các doanh nghiệp thua lỗ vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ thuế và quản lýthu thuế hiện nay chủ yếu sử dụng sức mạnh cưỡng chế để buộc các doanhnghiệp thua lỗ vẫn phải đóng thuế để đảm bảo số thu vượt kế hoạch? Hay các
dự toán thu không sát với thực tế và cơ quan thuế buộc phải hoàn thành các dựtoán thu không phù hợp này?
Đánh giá sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn Quận
9 : Như đã đề cập trong phần lý thuyết, sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của doanh nghiệpkhông đơn giản chỉ là tuân thủ hay không tuân thủ mà thay đổi ở nhiều mức độphức tạp Mô hình các cấp độ tuân thủ điều chỉnh đã đưa ra 4 cấp độ là
(1) cam kết (2) chấp nhận (3) miễn cưỡng (4) từ chối, thể hiện hành vi củadoanh nghiệp đối với nghĩa vụ thuế và quản lý thu thuế Lý thuyết này đượcchứng minh qua phân tích số liệu điều tra 350 doanh nghiệp trên địa bàn Quận 9
ở những quy mô khác nhau về lao động và vốn, ở các loại hình sở hữu khácnhau, ở các ngành kinh tế khác nhau (xem phụ lục 1 về mẫu điều tra)
2.3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Các nghiên cứu về quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp cho đến nay chủyếu là của các tác giả nước ngoài Những nghiên cứu từ trước đến nay đều tậptrung vào câu hỏi cơ bản là làm thế nào để cải thiện hiệu lực và hiệu quả của quản
lý thu thuế Câu trả lời được giải quyết thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau.Thứ nhất là nghiên cứu sự tác động của chính sách thuế đến hiệu lực quản lý thuthuế Thứ hai là sự tác động của yếu tố chính trị như sức ép tranh cử, giành ghếquốc hội và lời hứa cải thiện ngân sách quốc gia đối với những nỗ lực thu thuế.Hướng tiếp cận thứ ba là quản lý thu thuế phụ thuộc vào quá trình biến đổi của nội
bộ cơ quan thuế Đó là sự tiếp cận vào cơ cấu bộ máy quản lý thu thuế và vấn đềnhân sự - tham nhũng tác động đến quản lý thu thuế
Tình hình nghiên cứu trong nước
Đề tài nghiên cứu tiến sĩ của Nguyễn Thị Lệ Thúy (2010): Hoàn thiện
quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ nghĩa vụ thuế củadoanh nghiệp (Nghiên cứu tình huống của Hà Nội) Đề tài đã nêu lên được tầmquan trọng của các giải pháp quản lý sự nộp thuế của doanh nghiệp theo cấp độtuân thủ nghĩa vụ thuế
Trang 37Đề tài nghiên cứu thạc sĩ của Nguyễn Phi Khanh (2014): Các yếu tố
tác động đến tổng số thu Thuế (Nghiên cứu ở các Quốc gia Đông Nam Á).Luận văn làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế của các nướcĐông Nam Á, trong đó tính tuân thủ là một yếu tố quan trọng
Đề tài nghiên cứu thạc sĩ của Đặng Ngọc Chiến (2015): Chi Cục thuế
quận Đống Đa – TP Hà Nội tăng cường thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế.Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tuân thủ nghĩa vụ thuế của Người nộp thuế qua
hệ thống thanh tra kiểm tra thuế Hạn chế của đề tài này là mang tính chất épbuộc không phải là sự tự nguyện của Người nộp Thuế
Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Tác giả Bejakovie’(2000) đã viết: “cơ quan thuế cần xây dựng được hệthống quản lý đáp ứng được những yếu tố thúc đẩy hành vi tuân thủ nghĩa vụthuế Thứ nhất, đơn giản hóa quy trình tuân thủ nghĩa vụ thuế giảm thiểu chi phítiếp cận thông tin Thứ hai cơ cấu lại tổ chức cơ quan thuế theo cơ cấu chứcnăng, kết hợp với cơ cấu bộ phận theo khách hàng, cơ cấu mạng lưới và cơcấu ma trận; tư nhân hóa một số chức năng quản lý thuế và thiết lập tổ chứcbán tự trị thu thuế Thứ ba, xây dựng một hệ thống đòn bẩy khuyến khích và hệthống phạt đảm bảo tăng cường sự tuân thủ”
Bergman (1998) gợi ý rằng: “Sự tuân thủ nghĩa vụ thuế được đo bằng sốthu mà cơ quan thuế giả định dựa theo luật thuế do doanh nghiệp thanh toán choNgân sách nhà nước Tuy nhiên, phạm vi mà doanh nghiệp phản đối các luậtthuế lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sự vui lòng tuân thủ nghĩa vụthuế”
Các tác giả như Andrreoni J., Erard B (1998): “bắt đầu xem xét đến tính tựnguyện của sự tuân thủ Tính tự nguyện sau đó đã được một số cơ quan thuế như
cơ quan thu nội địa Hoa Kỳ (IRS) xem xét đến trong các định nghĩa về khoảng cáchthuế Theo đó, tuân thủ nghĩa vụ thuế được định nghĩa là hành vi chấp hành nghĩa
vụ thuế một cách đầy đủ và tự nguyện Nếu doanh nghiệp tuân thủ nghĩa vụ thuếchỉ bởi vì sự đe doạ và trừng phạt thì đó dường như không phải là sự tuân thủđúng nghĩa ngay cả khi 100% dự toán thuế được hoàn thành”
Trang 382.4 Các nghiên cứu thực hiện trước đây
2.4.1 Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lệ Thuý (2009)
Trong nghiên cứu “Hoàn thiện quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăngcường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp” thực hiện tại Hà Nội, tác giả đã đi sâuphân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế,đặc biệt các tác giả đã mở rộng nhận thức về những yếu tố khác ngoài kinh tế tácđộng đến ý thức tuân thủ thuế của người nộp như yếu tố xã hội, tâm lý
Hình 3.3.1 : Mô hình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lệ Thuý
(Nguồn: Nguyễn Thị Lệ Thuý, 2009)
Theo mô hình trên, cơ quan thuế muốn hiểu sự tuân thủ thuế của doanhnghiệp, phải hiểu được môi trường trong đó các doanh nghiệp hoạt động Các yếu
tố nói trên giúp cơ quan thuế đánh giá sự đa dạng của môi trường-doanh nghiệp, từ
đó phát triển các huớng khác nhau để phân đoạn thị trường mục tiêu cho chiếnlược quản lý thu Sự phức tạp của những yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế vàmối quan hệ giữa những yếu tố này đòi hỏi cơ quan thuế cam kết thực hiện lâu dàicác chiến lược tăng cường tuân thủ thuế Thách thức đối với cơ quan thuế là tăng
sự tuân thủ thuế trong khi giảm chi phí tuân thủ và thích ứng đối với doanh nghiệp,tăng sự tin tưởng của doanh nghiệp đối với cơ quan thuế
2.4.2 Nghiên cứu của tác giả Phan Thị Mỹ Dung (2016)
Trong mô hình nghiên cứu của mình, tác giả đã xác định được các nhân tố cóảnh hưởng đến sự tuân thủ của các doanh nghiệp, đó là: đặc điểm doanh nghiệp,ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, chất lượng dịch vụ thuế, chất lượngquản trị công, cấu trúc hệ thống thuế, yếu tố về kinh tế, chuẩn mực xã hội
Trang 39Hình 3.3.2 : Mô hình nghiên cứu của tác giả Phan Thị Mỹ Dung
(Nguồn: Phan Thị Mỹ Dung, 2016)
2.4.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Cho đến nay thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau chưa có nghiên cứunào nghiên cứu đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật Thuế củangười nộp tthuế Những nghiên cứu từ trước đến nay đều tập trung vào câu hỏi
cơ bản là làm thế nào để cải thiện hiệu lực và hiệu quả của quản lý thu thuế.Câu trả lời được giải quyết thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau và đảmbảo sự tuân thủ và giảm chi phí, tăng cường số nộp số thu cho ngân sách nhànước bằng đổi mới hệ thống thanh tra thuế dựa trên rủi ro với sự hỗ trợ củacông nghệ kiểm toán và công nghệ thông tin
Những nghiên cứu về quản lý thu thuế chưa hướng vào sự tuân thủ củangười nộp thuế chỉ là cách giải quyết tạm thời đảm bảo sự tuân thủ của đối
tượng dựa vào cách tiếp cận về số liệu: Nhiệm vụ của nhà quản lý Thuế,
Nhận Thức của người nộp Thuế, Chế độ và chính sách tập huấn.
Dựa trên các nghiên cứu về quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp trướcđây chủ yếu là của các tác giả nước ngoài như Fischer và cộng sự (1992), Bobek(1997), Manaf (2004), Wenzel (2004), Chau & Leung (2009) làm nền tảng chonghiên cứu này Trên cơ sở thảo luận nhóm chuyên gia tác giả đề xuất thêm 3 yếu
Trang 40tố phối hợp để nghiên cứu đến các yếu tố ảnh hưởng sự tuân thủ pháp luật Thuế
của doanh nghiệp: Sự tin tưởng của NNT; Thực trạng nộp Thuế : gồm Kê
khai chứng từ thuế và Kê khai số tiền thuế.
Lắng nghe và giải đáp thắc
mắc c ủa người nộp thuế
H1Đồng hành và tháo gỡ những
khó khăn trong thực hiện
Sự tin tưởng của người nộp H9
thuế
H10
Kê khai chứng từ thuế
Kê khai số tiền thuế
Hình 3.1 : Mô hình nghiên cứu đề xuất
(Nguồn : Trên cơ sở lý luận và kết quả thảo luận nhóm, 2017)
* Mười biến độc lập ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của Doanh nghiệp
2.4.3.1 Lắng nghe và giải đáp thắc mắc của người nộp thuế