Từ góc độ ngữ pháp truyền thống, trong bài tựa “Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh” ở cuốn Từ điển An Nam – Lusitan – La tinh1 thường gọi là Từ điển Việt - Bồ - La, tuy còn sơ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
- Trần Ngọc Mai Thảo
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với PGS.TS Hoàng Dũng, người đã quan tâm, động viên và tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin được tỏ lòng biết ơn chân thành đến các Quý Thầy Cô giảng dạy các chuyên đề về Ngôn ngữ học, các anh chị công tác tại phòng Sau Đại học, các cán bộ thư viện đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ trong suốt thời gian tôi theo học Cao học tại trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
Xin gửi đến gia đình tôi những lời yêu thương nhất vì đã luôn ở bên cạnh tôi, động viên, ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn
Tôi sẽ không bao giờ quên tất cả những sự khuyến khích và chia sẻ của các thành viên lớp Ngôn ngữ học, K20
Tôi trân trọng những sự giúp đỡ đó và xin được nói lời cảm ơn chân thành!
Người viết đã nỗ lực hết mình để hoàn thành luận văn Tuy nhiên, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Người viết mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn Xin chân thành cảm ơn!
TP HCM, ngày 30 tháng 3 năm 2012
Người viết
(ký tên)
Trang 4MỤC LỤC
0 MỞ ĐẦU 5
0.1 Lý do nghiên cứu 5
0.2 Lịch sử vấn đề 5
0.3 Mục đích nghiên cứu 14
0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
0.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu 15
0.6 Đóng góp của luận văn 16
0.6.1 Về mặt lý luận 16
0.6.2 Về mặt thực tiễn 16
0.7 Bố cục của luận văn 17
1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 18
1.1 Đại từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt: khái niệm – phân loại 18
1.1.1 Khái niệm 18
1.1.2 Phân loại 26
1.1.2.1 Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống 27
1.1.2.2 Theo quan điểm của ngữ pháp văn bản 32
1.1.2.3 Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng 37
1.1.3 Tiêu chí nhận diện đại từ - Tiêu chí về trọng âm 39
1.2 Tiểu kết 42
2 Chương 2 NGỮ PHÁP CỦA ĐẠI TỪ TIẾNG VIỆT 44
2.1 Khả năng kết hợp 44
2.1.1 Đại danh từ 45
2.1.1.1 Đại danh từ xưng hô 45
2.1.1.2 Đại danh từ phản thân 47
2.1.1.3 Đại danh từ tương hỗ 47
2.1.2 Đại từ chỉ định 47
2.1.3 Đại số từ 48
2.1.4 Đại vị từ 48
2.1.5 Đại từ nghi vấn - phiếm chỉ 49
2.2 Chức năng cú pháp 51
2.2.1 Làm thành phần câu 51
2.2.1.1 Đại từ đóng vai trò chủ ngữ 51
2.2.1.2 Đại từ đóng vai trò vị ngữ 53
2.2.1.3 Đại từ đóng vai trò trạng ngữ 53
Trang 52.2.2 Làm thành tố trong ngữ 53
2.2.2.1 Làm định ngữ cho danh từ 53
2.2.2.2 Làm thành tố trung tâm trong danh ngữ 54
2.2.2.3 Làm bổ ngữ trực tiếp (trong ngữ vị từ) 54
2.2.2.4 Làm bổ ngữ gián tiếp (trong ngữ vị từ) 55
2.3 Điểm đặc biệt về ngữ pháp của đại từ “nó” 55
2.4 Cặp đại từ hô ứng và kiểu quan hệ giữa hai vế câu 63
2.5 Mối quan hệ giữa đại danh từ xưng hô với phạm trù số lượng 65
2.6 Tiểu kết 71
3 Chương 3 NGỮ NGHĨA CỦA ĐẠI TỪ TIẾNG VIỆT 72
3.1 Ý nghĩa khái quát (ý nghĩa thay thế) 73
3.2 Ngữ nghĩa của các tiểu loại đại từ tiếng Việt 76
3.3 Hiện tượng mơ hồ nghĩa của đại từ tiếng Việt 78
3.4 Tiểu kết 81
4 Chương 4 NGỮ DỤNG CỦA ĐẠI TỪ TIẾNG VIỆT 82
4.1 Chức năng chỉ xuất của đại từ 82
4.1.1 Chỉ xuất ngôi 84
4.1.2 Chỉ xuất không gian 101
4.1.3 Chỉ xuất thời gian 102
4.2 Chức năng hồi chỉ của đại từ 104
4.2.1 Lý thuyết dụng học về vấn đề hồi chỉ - Lý thuyết hàm ngôn hội thoại của Grice và những quan niệm phát triển 104
4.2.2 Phân biệt đại từ chỉ xuất với đại từ hồi chỉ 111
4.2.3 Phân biệt đại từ hồi chỉ và đại từ khứ chỉ 113
4.3 Ý nghĩa ngữ dụng trong quy chiếu không tương thích về phạm trù ngôi và số của đại từ 118
4.4 Ý nghĩa hàm ẩn qua sự thay đổi cách xưng hô và tha xưng trong giao tiếp 119
4.5 Ý nghĩa của các danh từ thân tộc dùng như đại từ 127
4.6 Tiểu kết 131
5 KẾT LUẬN 132
6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
7 PHỤ LỤC 150
Trang 60 MỞ ĐẦU 0.1 Lý do nghiên cứu
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, đại từ là một từ loại tuy chiếm số lượng ít nhưng có vai trò, vị trí rất quan trọng và mang nhiều đặc điểm không thuần nhất như các từ loại khác Nhiều công trình nghiên cứu đã có đề cập đến từ loại này nhưng chưa có sự thống nhất về mặt quan điểm giữa các nhà ngôn ngữ học Cho đến nay, vấn đề đại từ vẫn còn rất nhiều điều cần phải được xem xét lại Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn cho luận văn của mình đề tài: “Ngữ pháp – ngữ nghĩa – ngữ dụng của đại từ tiếng Việt”
0.2 Lịch sử vấn đề
Thông qua những tài liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy: đại từ tiếng Việt được đề cập đến trong hầu hết các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt của các nhà ngôn ngữ học nhìn từ các góc độ khác nhau: (i) ngữ pháp truyền thống, (ii) ngữ pháp văn bản, (iii) ngữ pháp chức năng
0.2.1 Từ góc độ ngữ pháp truyền thống, trong bài tựa “Báo cáo vắn tắt về
tiếng An Nam hay Đông Kinh” ở cuốn Từ điển An Nam – Lusitan – La tinh1
(thường gọi là Từ điển Việt - Bồ - La), tuy còn sơ sài và nhiều chỗ chưa hợp
lý, tác giả Alexandre de Rhodes (1651) đã dành một phần đáng kể để miêu tả
từ loại tiếng Việt: danh từ, đại từ, động từ và những phần còn lại không biến cách của lời nói bao gồm giới từ, phó từ, thán từ và liên từ Trong đó, đại từ được tác giả đề cập ở hai chương riêng biệt trong bài tựa này: (i) Chương bốn:
Về các đại từ; (ii) Chương năm: Về những đại từ khác Chương bốn trình bày việc sử dụng các “đại từ nguyên thủy” và các “danh từ gọi tên, danh từ chức
vụ, danh từ họ hàng” khi xưng hô ở ba ngôi, các đại từ tương hỗ, chỉ định từ
1 Từ điển An Nam- Lusitan – La Tinh của Alexandre de Rhodes ra đời năm 1651 Ở đây, chúng tôi dựa vào bản dịch sang tiếng Việt của NXB Khoa học xã hội năm 1991
Trang 7Chương năm đề cập đến các đại từ nghi vấn về tính chất sự vật, mục đích, cách thức, nguyên nhân
Tác giả Trần Trọng Kim − Bùi Kỷ − Phạm Duy Khiêm (1940: 52 −
78) có cách nhìn nhận vấn đề đại từ tương đối khác so với quan niệm truyền thống hiện nay Cụ thể như, những từ mà hiện nay chúng ta xếp chung vào một từ loại có tên gọi là đại từ thì nhóm tác giả này lại tách ra thành hai từ
loại riêng biệt (chỉ-định-từ và đại-danh-từ) vì chúng có những đặc điểm ngữ
pháp khác nhau
Trong cuốn Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam1
, với quan niệm dựa vào khả năng kết hợp với các “chứng tự”2 để làm tiêu chuẩn xếp từ loại, tác giả Lê Văn Lý (1972: 43 − 47) đã chia từ loại tiếng Việt thành sáu từ loại: A (Danh
tự), B (Động tự), B’ (Tĩnh tự), C1 (Ngôi tự), C2 (Số tự) và C3 (Phụ tự) Như vậy, đại từ được tác giả xếp vào nhóm C1 (hay Ngôi tự) là những từ ngữ “có thể phối hợp được với từ ngữ “chúng”, là ngữ vị3chỉ số nhiều
Tỉ dụ: chúng tôi, chúng ta, chúng mày, chúng nó
Tôi, ta, mày, nó là C1 Chúng là những tự ngữ chỉ ngôi.”
Cách phân định dựa vào các “chứng tự” như vậy đã tạo được tiêu chí khách quan Thế nhưng, trong nhiều trường hợp, các “chứng tự” không hoàn toàn thuyết phục Dù vậy, cách phân loại này (dựa vào khả năng kết hợp – tiêu chí về ngữ pháp – người viết chú thích) vẫn được đánh giá là một bước tiến bộ so với cách phân định chỉ dựa vào ngữ nghĩa
3Cho một câu: Cái phòng này có nhiều ghế bằng gỗ
thì “phòng, có, ghế, gỗ” là những từ ngữ mang ý nghĩa của câu, gọi là ý nghĩa vị
Còn “cái, này, nhiều, bằng” là những từ ngữ diễn tả những tương quan giữa những ý nghĩa
vị ở trên, không cần thiết hẳn cho ý nghĩa của câu, gọi là ngữ vị
Trang 8Tác giả Bùi Đức Tịnh (1952: 155) đã tóm tắt: “Đại từ thay thế cho
những danh từ mà ta không muốn lặp lại hay không muốn nói ra […] Các
loại đại-từ đều có công-dụng và vị-trí trong câu giống như danh-từ.” Trong ý
kiến này, người viết đặc biệt lưu tâm đến quan niệm của Bùi Đức Tịnh về sự
giống nhau giữa danh từ và đại từ về công dụng và vị trí trong câu Thiết nghĩ đây là vấn đề cần phải được làm rõ hơn nữa
Trong bài viết “Kiểm thảo về đại danh từ”, tác giả Phan Khôi (1955:
129 – 140) đã gọi đại từ là đại danh từ Với mong muốn đi tìm tiếng nói của
người Việt Nam nguyên thủy, tác giả này đã đưa vào bài viết của mình những câu ca dao cổ xưa “có giấu trong đó ít nhiều đại danh từ tối cổ” mà người viết rất lấy làm thích thú:
Đông có mầy, tây có tao
Mầy bằng tao, ao bằng giếng
Cha nó lú có chú nó khôn
Một đời ta, ba đời hắn
Đố bay con rết có mấy chân,
C ầu ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người
Từ nhiều chứng cứ, ông đặt ra một giả thuyết rằng: “Tiếng Việt Nam thời xưa, vào đời Hồng Bàng (?) chẳng hạn, vốn có đại danh từ trung lập: Số một
tự xưng là tao, đối xưng là mày, tha xưng là nó hay hắn; số nhiều: tự xưng là
ta, đối xưng là bay, tha xưng tất nhiên là chúng nó.”
Phan Khôi còn viết rằng: “Nếu quả thật như thế và nếu giữ mãi được như thế cho đến bây giờ thì tiện lợi biết bao Ngặt một điều là chúng ta càng ngày càng văn minh ra, ăn nói càng lịch sự ra, làm cho trong tiếng nói ngày nay gọi
Trang 9là đại danh từ không hẳn là đại danh từ nữa, mà chỉ là một mớ xưng hô táp nham lộn xộn.”
Theo Phan Khôi, trong tiếng ta “không còn có đại từ trung lập và phổ thông xứng với cái tên nó nữa Chúng ta phải tạm bợ, lấy danh từ làm đại danh từ.”
Tác giả trình bày cái hại cho ngôn ngữ khi sử dụng các danh từ chỉ quan
hệ thân tộc để xưng hô: mất cái ý khách quan và bình đẳng trong lời nói hay bài văn Ông tin rằng: “Khi tiếng Việt có đại danh từ trung lập và phổ thông thì văn học Việt mới tiến lên mức cao.”
Ông cũng thấy được cái khó cho việc hình thành một thứ đại danh từ trong tiếng Việt mang tính trung lập, nghĩa là không trọng, không khinh, ai nấy dùng mà xưng mình, xưng người đều được cả, như đại danh từ của tiếng Pháp: “Những tiếng xưng hô ấy đã ăn sâu trong ngôn ngữ rồi, muốn cải cách
đi, chế tạo ra được một thứ đại danh từ trung lập và phổ thông để thay vào, cũng còn phải mất một thời gian lâu lắm.” Tuy nhiên mong muốn này không phải là không thực hiện được vì như tác giả nói: “Hễ khi mọi người đều thấy cái lối xưng hô như thế không còn thích dụng nữa, thì tự nhiên nó bị đào thải
đi mà có lối khác mọc lên, tức là đại danh từ trung lập và phổ thông.”
Hoàng Tuệ (2001: 183) (trích Giáo trình về Việt ngữ, tập 1, NXB Giáo
dục, 1962) phê phán cách phân định từ loại trong các sách ngữ pháp xuất bản
ở Việt Nam chủ yếu là quy loại cho các từ vào những từ loại đã được định ra
trước, sẵn có “như những cái hộc với nhãn hiệu có sẵn” là: động từ, danh từ,
tính từ, giới từ, liên từ, v.v Các từ loại như vậy chỉ là phạm trù ý nghĩa Tác giả đề nghị tìm các từ loại ấy theo những tiêu chuẩn ý nghĩa cũng như tiêu chuẩn ngữ pháp, nói một cách khác, phải hủy bỏ các nhãn hiệu có sẵn, phải tìm ra từ loại, tìm ra các phạm trù, đặt tên cho chúng và sau đó mới quy loại Cuối cùng tác giả tìm được các phạm trù A, B, I, N, Đ, t, … tương ứng với
Trang 10những từ loại vị từ, danh từ, số từ, đại từ, chỉ từ, các tiểu từ (phó từ, giới từ, liên từ và trợ từ), loại từ và thán từ Cách phân định này đã không đề cập đến
hai nhóm thực từ và hư từ Tuy nhiên, trong bài viết Từ loại tiếng Việt ở trường học (2001: 41 – 114), Hoàng Tuệ có những cải biên và đưa ra một
danh sách mười loại từ trong tiếng Việt bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, loại từ, chỉ từ, phó từ, quan hệ từ và cảm từ Cách phân định này quay trở về hướng phân loại truyền thống Tác giả (2001: 302) đưa “đại từ” hay “đại danh từ” vào nhóm phạm trù Đ vốn bao gồm “những tín hiệu có khả năng thay thế cho một tín hiệu B trong một kết cấu nhất định nào đấy mà tín hiệu B giữ một chức năng nhất định” và phân thành hai loại: đại từ nhân xưng
và đại từ để hỏi
Ở công trình “Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt” (1997: 272 − 306, in
lần thứ nhất: 1963), tác giả Nguyễn Kim Thản đã có những nhận định rất
khác so với các tác giả trước và có thể nói là hết sức mới mẻ Mặc dù xếp đại
từ vào trong nhóm thực từ (danh từ, động từ, tính từ, số từ và đại từ) nhưng ông cho rằng đại từ là một từ loại khác hẳn các loại thực từ khác ở chỗ nó không gọi tên gì cả mà chỉ dùng để trỏ sự vật, thời gian hay phương hướng, số lượng hay thứ tự, hoạt động hay tính chất
Đồng thời, ông cũng là người đầu tiên đề cập đến những tên gọi như: đại động từ, đại tính từ, đại số từ,… Bởi ông quan niệm đại từ không chỉ thay thế danh từ mà còn thay thế cho cả động từ hay tính từ, số từ,…
Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng –
T ừ ghép – Đoản ngữ (1975: 338-339) xếp đại từ vào nhóm từ loại đặc biệt
trong cụm A1 Ông xếp đại từ vào cụm A chỉ là “luận về khả năng tiềm tàng của chúng – khả năng có thể đứng làm trung tâm đoản ngữ - chứ xét về đặc
1 Cụm A: nhóm từ có khả năng làm trung tâm đoản ngữ, gồm danh từ, động từ, tính từ Hai
từ loại đặc biệt trong cụm A: số từ và đại từ
Trang 11điểm của đại từ trong thực tiễn câu văn thì đại từ lại khác danh từ, động từ, tính từ một cách rõ rệt Ông cho rằng: “Nếu từ loại số từ có nét đặc biệt đứng nhập nhằng giữa cụm A và cụm B1 , và trong cụm A đứng nhập nhằng giữa danh từ và động từ, tính từ thì từ loại đại từ lại có nét đặc biệt thể hiện ra ở một phương diện khác Đại từ là một từ loại có chức năng làm từ để chỉ trỏ, thay thế.”
Ở công trình Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, tập 1 (1983: 111), các tác
giả Lê Cận – Phan Thiều quan niệm đại từ thuộc lớp danh từ đặc biệt, bên
cạnh lớp danh từ bình thường (danh từ chung và danh từ riêng) Cụ thể, ông cho rằng: “Lớp danh từ đặc biệt gồm bốn lớp nhỏ (lớp nhỏ chỉ không gian – thời gian, chỉ ý nghĩa chỉ định, chỉ ý nghĩa phiếm chỉ, chỉ ngôi) xưa nay, căn
cứ vào ý nghĩa, được xếp vào lớp từ chỉ ý nghĩa quan hệ (quan hệ từ), chỉ ý nghĩa chỉ định (chỉ định từ) và ý nghĩa thay thế (đại từ) Ở đây, trong sơ đồ các lớp nhỏ danh từ, căn cứ vào ý nghĩa phạm trùm, khả năng kết hợp, chức năng, có thể xếp các lớp từ này vào 4 lớp nhỏ trong phạm trù danh từ, vì chúng có những đặc điểm ngữ pháp của danh từ, bên cạnh những đặc điểm riêng của từng lớp nhỏ.” Người viết nhận thấy đây là điểm khác biệt nổi bật ở công trình này so với các công trình khác
Đồng thời, không đồng tình với cách gọi đại từ (nhấn mạnh chức năng
thay thế cho danh từ), nên những từ như đó, đây, ấy, kia, này, nọ,… được nhóm tác giả này gọi là danh từ chỉ định; những từ như ai, gì, kẻ, người ta,…
là danh từ phiếm định; những từ như tôi, mày, nó,… (vốn được gọi là đại từ nhân xưng trong các sách ngữ pháp truyền thống) là danh từ chỉ ngôi
Ở công trình Ngữ pháp tiếng Việt (1983: 71), các tác giả Ủy ban Khoa
h ọc xã hội Việt Nam không xếp đại từ vào nhóm từ loại thực từ (danh từ,
động từ, tính từ) hay hư từ (phụ từ, kết từ) mà cho rằng “đại từ” là một từ loại
1 Cụm B: nhóm từ chỉ chuyên làm thành tố phụ của đoản ngữ.
Trang 12“cần được chú ý riêng” Đại từ không thuộc phạm vi hư từ vì đại từ có thể làm các thành phần chính của nòng cốt N = a + b
Đại từ gần với thực từ hơn Qua đại từ, cũng có thể liên hệ đến sự vật, hiện tượng nhất định Tuy vậy, các tác giả cũng cho thấy sự khác nhau quan
trọng giữa đại từ và thực từ: “Đại từ dùng để trỏ, không phải để gọi tên, để
“định danh” như danh từ và động từ, tính từ Ví dụ: khi dùng đại từ nó thì
không phải là để gọi tên một người nào nhất định, mà để trỏ một người có tên
là X trong một hoàn cảnh nhất định, và trong một hoàn cảnh khác, có thể
dùng vẫn đại từ nó đó, để trỏ một người khác có tên là Y; đại từ tôi thì người
có tên X hay tên Y đều có thể dùng để tự xưng, tức là tự trỏ − bất kỳ ai cũng
có thể tự xưng, tự trỏ mình bằng đại từ tôi.”
Họ rút ra kết luận rằng: “Khi dùng một đại từ để trỏ sự vật, hiện tượng nhất định thì đại từ ấy biểu thị được giá trị ngữ nghĩa và ngữ pháp của cả một ngữ”
Tác giả Đinh Văn Đức trong Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại (2001: 199 −
206, in lần thứ nhất: 1986) không xếp đại từ vào thực từ, cũng không xếp vào
hư từ, mà cho rằng từ loại này có một vị trí trung gian hoặc riêng biệt trong quan hệ với thực từ và hư từ trong hệ thống từ loại
Ở bài viết “Đại danh từ nhân xưng tiếng Việt” (1996: 8 − 19), tác giả
Nguyễn Phú Phong trình bày cái nhìn của mình trên hai hệ thống đại danh từ
nhân xưng tiếng Việt: (i) một hệ thống đặt trọng tâm vào personne/ngôi, hệ thống đại danh từ chính hiệu; (ii) một hệ thống đặt nặng khái niệm personne/con người trong quan hệ đẳng cấp, những từ vay mượn ở từ loại danh từ để sử dụng trong chức năng một đại danh từ Theo ông, hai hệ thống này rất khác nhau trên mặt hình vị cũng như trên mặt ngữ nghĩa Tuy nhiên,
sự khác biệt của Nguyễn Phú Phong so với các nhà Việt ngữ học khác là ông
Trang 13đã tách một loại mới với tên gọi Chỉ định từ ra khỏi hệ thống đại từ và xếp
chung Chỉ định từ cùng với đại từ chỉ ngôi, từ, ngữ thay thế đại từ chỉ ngôi… vào một nhóm có tên Chỉ thị từ (déictique)
Theo tác giả Hoàng Trọng Phiến (trong Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức
Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến 2006: 273, in lần thứ nhất: 1997), không có sự đồng nhất về tính chất thực từ và hư từ giữa các tiểu loại đại từ Nhóm tác giả này cho rằng: “Đại từ bao gồm nhiều nhóm, cụ thể là đại từ nhân xưng, đại từ thay thế (thế, vậy), đại từ chỉ định, đại từ chỉ lượng (tất cả, cả) Trong đó đại
từ nhân xưng có tính chất của từ thực nhiều hơn, đại từ chỉ định có tính chất của từ hư nhiều nhất (nó được coi là chứng tố của danh từ) Tính chất hư
chung của lớp đại từ là ở chức năng thay thế (so sánh ý nghĩa của từ nguyên nhân với kết từ vì).”
Trong công trình “Từ loại tiếng Việt hiện đại” (1999: 22), tác giả Lê
Biên đã có những ý kiến rất đáng lưu ý về vấn đề đại từ Ông nêu rằng: “Đại
từ có đặc tính của thực từ, có quan hệ chặt chẽ với thực từ nhưng nó không phải là thực từ đích thực mà chỉ có tính chất thực từ.”
Theo quan niệm của tác giả, đại từ là lớp từ có tính chất trung gian giữa thực từ và hư từ, và là một từ loại trung gian giữa các từ loại trên
Từ nhận định trên, ông đã trình bày khá công phu và đưa ra nhiều vấn đề
về đặc trưng của đại từ Hơn nữa, chính cái đặc điểm, lúc có thể mang đặc tính của từ loại này, lúc lại có thể mang đặc tính của từ loại khác, mà tác giả
Lê Biên cho rằng có thể gọi đại từ là từ loại “bao”
Theo tác giả Bùi Mạnh Hùng trong cuốn Giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ
h ọc (Hoàng Dũng – Bùi Mạnh Hùng, 2007: 104), đại từ có vị trí đặc biệt
trong hệ thống từ loại Khác với các từ loại như danh từ, động từ, tính từ,
trạng từ, nó không gọi tên sự vật, hành động, quá trình, trạng thái, đặc
Trang 14trưng,… mà dùng để trực chỉ sự vật trong tình huống giao tiếp Tác giả này phân loại đại từ thành: đại từ nhân xưng, đại từ chỉ định (gồm đại từ xác định
như này, kia, ấy, đó, nọ,… và đại từ phiếm định như đâu, nào, gì, sao…)
0.2.2 Từ góc độ ngữ pháp văn bản, Trần Ngọc Thêm (2009: 142, in lần thứ
nhất: 1985) xem đại từ như công cụ của một phương thức liên kết chủ đề dưới
tên gọi là phép thế đại từ Trên lý thuyết, đại từ được chia thành 28 nhóm nhỏ
theo hai tiêu chí: (1) đối tượng thay thế, (2) quan hệ với tọa độ gốc Cũng theo
Trần Ngọc Thêm (2009: 142, in lần thứ nhất: 1985) và Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), với chức năng liên kết, đại từ thay thế cho một từ, một ngữ đoạn, một phát ngôn hoặc một chuỗi phát ngôn có trong các lời nói trước Như thế, với ngữ pháp văn bản, chức năng thay thế của đại từ đã vượt ra khỏi ranh giới câu mà ngữ pháp truyền thống đã ấn định
Bên cạnh đó, Trần Ngọc Thêm - Hoàng Huy Lập (1991: 10 – 14,) xếp
đại từ vào vị trí đặc biệt thứ 11, nằm ngoài bảng phân loại Các tác giả này đã dựa vào tiêu chí hoàn chỉnh về ngữ pháp để chia ra hai loại từ: độc lập và ràng buộc Cách phân loại này đã xóa bỏ thế đối lập thực từ và hư từ trong tiếng Việt
0.2.3 Từ góc độ ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo (1991: 57) chú ý đến
đại từ trong quan hệ với nghĩa và sở chỉ Ông cho rằng trong ngôn ngữ có những từ bao giờ cũng có sở chỉ và bao giờ cũng xác định Bên cạnh các danh ngữ được xác định bằng trực chỉ và các danh từ riêng, đó còn là các đại từ nhân xưng, các đại từ trực chỉ (deictic hay indexical) (trực chỉ hay còn gọi là chỉ xuất – người viết chú thích) Ông viết: “Các đại từ nhân xưng không có sở biểu và không có sở thị mà chỉ có sở chỉ Các đại từ ngôi thứ nhất chỉ người đang nói, các đại từ ngôi thứ hai chỉ người đang tiếp chuyện, do đó sở chỉ của
nó luôn luôn chuyển từ người này sang người kia: nó không có sở chỉ cố định,
và sở chỉ của nó hoàn toàn lệ thuộc vào tình huống đối thoại Đại từ ngôi thứ
Trang 15ba có tính hồi chỉ (anaphoric), nghĩa là nó chỉ một sự vật đã được chỉ ra trước
đó bằng một danh ngữ hay một đại từ Nó không lệ thuộc vào tình huống đối thoại, mà lệ thuộc vào ngôn cảnh (văn cảnh)”
Cũng trong công trình nêu trên (1991: 195), từ góc độc “Những phương tiện ngôn ngữ học có tác dụng liên kết câu với văn bản (ngôn bản)”, tác giả Cao Xuân Hạo tiếp tục xem xét đại từ ở khía cạnh là các yếu tố hồi chỉ và khứ chỉ, có chức năng thay cho những câu, những tiểu cú làm Đề, làm Thuyết, làm
bổ ngữ cho các vị từ nói năng cảm nghĩ
Những ý kiến của tác giả Cao Xuân Hạo thực sự đã gợi mở cho người viết nhiều vấn đề trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn
Qua trên, có thể thấy vấn đề từ loại đại từ tiếng Việt được các nhà nghiên cứu nhìn nhận không hoàn toàn giống nhau cũng như chưa có sự thống nhất
về vị trí (tính chất thực từ/hư từ), về chức năng, ý nghĩa cũng như cách phân định các tiểu loại đại từ
0.3 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi mong muốn đưa ra những lí giải thích đáng,
thống nhất cho vấn đề đại từ tiếng Việt Từ đó, khẳng định vị trí đặc biệt của
đại từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt, góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm khác nhau của các tiểu loại đại từ
0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trước hết, người viết xin có đôi lời được giãi bày rất mong nhận được sự
cảm thông từ phía thầy cô và bạn đọc Theo quyết định của trường Đại học Sư
phạm Tp Hồ Chí Minh, đề tài luận văn của chúng tôi có tên chính thức là
Ng ữ pháp – Ngữ nghĩa – Ngữ dụng của đại từ tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh) Đây cũng là tên đề tài mà lúc đầu người viết đã chọn để thực hiện luận văn cao học của mình Thế nhưng, khi bắt tay vào nghiên cứu, người viết
Trang 16nhận thấy không thể thực hiện được phần nội dung “đối chiếu với tiếng Anh”,
một phần vì khả năng của bản thân người viết còn hạn chế, một phần vì điều
kiện thời gian không có phép Cho nên, người viết đã xin thầy hướng dẫn cho
giảm bớt đi phần nội dung đó và đã được thầy đồng ý Tuy nhiên, vì những nguyên tắc hành chính cần tuân theo, nên người viết vẫn để tên luận văn như lúc đầu Rất mong quý thầy cô thông cảm cho sự thiếu hiểu biết về các thủ tục hành chính của người viết mà đã gây ra những phiền hà không đáng có và nhìn nhận luận văn của chúng tôi với tên đề tài Ngữ pháp – ngữ nghĩa – Ngữ
d ụng của đại từ tiếng Việt
Đối với đề tài này, người viết xin nghiên cứu về đại từ tiếng Việt (gọi
theo tên gọi truyền thống và phổ biến hiện nay) cùng với tất cả các tiểu loại
của đại từ tiếng Việt xét trên cả ba bình diện ngữ pháp – ngữ nghĩa – ngữ
dụng Cụ thể là các đại danh từ (gồm có đại danh từ xưng hô, đại danh từ tương hỗ, đại danh từ phản thân), các đại từ chỉ định, đại số từ, đại vị từ và
đại từ nghi vấn – phiếm chỉ
0.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
0.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã kết hợp
một cách linh hoạt nhiều phương pháp sau đây:
0.5.1.1 Phương pháp miêu tả
Đây là phương pháp chủ yếu, được thực hiện trong suốt luận văn Chúng tôi miêu tả đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của đại từ tiếng Việt, xác định từ loại này trong hệ thống ngôn ngữ Đồng thời nêu rõ dấu hiệu nhận
biết, cách dùng và công dụng của các đại từ tiếng Việt
0.5.1.2 Phương pháp phân tích phân bố
Đây là một phương pháp có tầm quan trọng đặc biệt với một thứ tiếng không có đặc trưng hình thái học như tiếng Việt, vì ở tiếng Việt (và những
Trang 17ngôn ngữ đơn lập khác), cách phân bố gần như là biểu hiện duy nhất cho tính
chất của từ Qua việc tìm hiểu khả năng kết hợp của đại từ, chủ yếu là trong
phạm vi câu, chúng tôi phân tích các đặc điểm ngữ pháp – ngữ nghĩa của đại
từ tiếng Việt để thấy được chức năng của nó
0.5.2 Ngu ồn ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu chính được sử dụng trong luận văn này là các tác phẩm văn học Việt Nam Ngoài ra, trong những trường hợp thích đáng, người viết
sẽ sử dụng các ngữ liệu quan sát được trong lời ăn tiếng nói của người Việt
0.6 Đóng góp của luận văn
0.6.1 Về mặt lý luận
Thông qua luận văn này, người viết sẽ góp thêm tư liệu để các nhà ngôn
ngữ học giải quyết một số vấn đề lý luận liên quan đến từ loại đại từ vì vẫn còn một số bất đồng về mặt lý thuyết như đã nêu ở phần trước
Ngoài những đặc điểm ngữ pháp đã được các công trình nghiên cứu trước đây miêu tả, đại từ tiếng Việt còn có những đặc điểm riêng biệt về ngữ nghĩa, ngữ dụng Cho nên, nếu chỉ dừng lại ở những nhận xét từ bình diện
ngữ pháp thì sẽ rất dễ đi vào mô tả các đặc điểm phân bố và khó vượt ra khỏi
việc chỉ tìm vai trò của lớp từ này đối với sự hình thành các kết cấu ngữ pháp
Vì thế, để làm rõ bản chất từ loại của đại từ, đề tài này, bên cạnh việc hệ
thống hóa các đặc điểm ngữ pháp của đại từ tiếng Việt, còn đặc biệt chú ý đến
việc miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của từ loại này Đây chính là phần đóng góp khiêm tốn của người thực hiện luận văn
0.6.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn này có thể là tài liệu tham khảo trong thực tế giảng dạy tiếng
Việt cho người Việt và cho cả người nước ngoài
Trang 180.7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương
Chương 1 trình bày những vấn đề đại cương về đại từ tiếng Việt như khái niệm đại từ tiếng Việt, phân loại đại từ theo các quan điểm khác nhau, nêu khái quát các tiêu chí nhận diện đại từ tiếng Việt, đưa ra danh sách các
tiểu loại đại từ tiếng Việt làm cơ sở cho các phân tích ở những chương sau Chương 2 chủ yếu nói đến tiêu chí nhận diện đại từ tiếng Việt dựa vào đặc trưng ngữ pháp về khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của từ loại này Chương 3 trình bày tiêu chí nhận diện đại từ tiếng Việt dựa vào đặc trưng ngữ nghĩa Chúng tôi sẽ phân tích và miêu tả ý nghĩa khái quát (ý nghĩa thay thế), ngữ nghĩa của các tiểu loại đại từ tiếng Việt, hiện tượng mơ hồ nghĩa của đại từ tiếng Việt
Chương 4 tập trung vào đặc điểm ngữ dụng của đại từ tiếng Việt Chúng tôi sẽ tập trung phân tích chức năng chỉ xuất và hồi chỉ của đại từ tiếng Việt Bên cạnh đó, người viết cũng trình bày một số vấn đề liên quan như ý nghĩa
ngữ dụng trong quy chiếu không tương thích về phạm trù ngôi và số của đại
từ; ý nghĩa hàm ẩn qua sự thay đổi cách xưng hô và tha xưng trong giao tiếp;
ý nghĩa của các danh từ chỉ thân tộc dùng như đại từ
Trang 191 Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Đại từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt: khái niệm – phân loại
1.1.1 Khái niệm
Trước hết, người viết xin điểm lại một số tên gọi và định nghĩa khác nhau về đại từ
Nhóm tác giả Trần Trọng Kim − Bùi Kỷ − Phạm Duy Khiêm (1940:
62) gọi đại từ là đại-danh-từ, những tiếng “dùng thay tiếng danh-từ”
Tên gọi đại từ được tác giả Đái Xuân Ninh trong cuốn Hoạt động của từ
ti ếng Việt (1978: 85) giới hạn trong những từ chỉ ngôi Những từ này có đặc
điểm của một thể từ1 Chúng đứng ở vị trí thứ nhất trong câu bình thường, tối thiểu Trong một hoàn cảnh ngôn ngữ nhất định, nó có thể kèm theo một giới
từ: ở tôi, với tôi, trước nó,…
Tác giả cũng nêu ra sự khác biệt giữa những từ chỉ ngôi (đại từ) với danh
từ: chúng không chỉ người, chỉ vật bằng tên gọi riêng (mẹ, nhà,…) mà chỉ
biểu thị ngôi thứ trong giao tiếp, nghĩa là quan hệ của những người đối thoại:
tôi, mày, nó Ngoài ra, danh từ có thể kết hợp với một từ tình thái chỉ sự tùy thuộc “của tôi” còn đại từ thì không2 Ngược lại, chỉ có đại từ mới có khả năng kết hợp với từ “chúng” (chỉ số nhiều) ở trước3
Những từ như này, kia, ấy, nọ, nào, đó được tác giả gọi tên là chỉ từ
(những từ chỉ về sự vật trong không gian hay thời gian đóng vai bổ tố cho từ
loại danh từ trong cấu trúc mở rộng của câu hai từ đơn) Trong hệ thống phân
1 Thể từ: từ loại ngữ nghĩa phân chia căn cứ vào cấu trúc ngữ nghĩa, biểu thị thực thể Đại
từ và phần lớn danh từ là thể từ (Nguyễn Như Ý 1996: 273)
2 (Dẫn theo ví dụ của Đái Xuân Ninh) Chim của tôi ăn (+)
Nó của tôi cưa (-)
3 (Dẫn theo ví dụ của Đái Xuân Ninh) Chúng nó cưa (+)
Chúng tôi nói (+) Chúng chim ăn (-)
Trang 20loại từ loại của tác giả này, chỉ từ thuộc nhóm từ kèm, là những từ đóng vai
trò tiêu chuẩn phụ cho các danh từ, động từ, mở rộng những từ này để lập thành cụm danh từ, động từ, tính từ
Theo Nguyễn Kim Thản (1997: 274), Diệp Quang Ban (2009: 517),
đại từ vốn dĩ dịch từ thuật ngữ pronom ra Trong ngữ pháp học cổ điển ở Tây
Âu, pronom là từ gốc La-tinh do pro (thay thế) và nomen (danh từ, tên gọi)
mà ra Bởi vậy, người ta thường quan niệm rằng đại từ thay thế danh từ Từ
đó có người đề nghị dịch pronom là “đại danh từ” Tuy nhiên, tên gọi đại từ
vẫn được dùng rộng rãi, gần như tuyệt đối
Nguyễn Kim Thản (1997: 275) cho rằng đại từ không chỉ thay thế cho
danh từ Ông đưa ra giả định: “Nếu những từ thay thế cho danh từ riêng ra một loại thì danh từ phải xếp những từ này vào những loại riêng biệt như đại động từ, đại tính từ, đại số từ, v.v.” Ông gọi chung một từ loại “đại từ” cho tất cả những từ thay thế cho danh từ, tính từ, động từ hay số từ, … Vì chúng
có những đặc điểm chung về ý nghĩa – hình thức
Nguyễn Tài Cẩn (1977: 338) cho rằng: “Vì có chức năng chỉ trỏ, khi trỏ
sự vật hay hành động, tính chất, đại từ lại không có khả năng kèm theo những thành tố phụ mà ở phần cuối danh ngữ, động ngữ, tính ngữ ta thường thấy […] Nói một cách khác, đại từ không phải là từ loại dùng để nêu lên một khái niệm chung về sự vật, về hành động, về tính chất như danh từ, động từ, tính từ
mà là một từ loại dùng để chỉ trỏ vào một sự vật, một hành động hay một tính chất nào đó, đã được xác định rõ ràng bằng cách này hay cách khác ở trước đó”
Với chức năng thay thế, trên lý thuyết, tác giả Nguyễn Tài Cẩn cho rằng hoàn toàn có khả năng đem đại từ phân thành những nhóm nhỏ và tản ra, bộ phận thì đưa vào danh từ, bộ phận thì đưa vào động từ, tính từ…, coi đó như
là những danh từ, động từ, tính từ đặc biệt Nhưng với chức năng chỉ trỏ thì
Trang 21trên lý thuyết, rõ ràng lại cũng hoàn toàn có khả năng đem chúng tập hợp thành một từ loại riêng biệt Tác giả Nguyễn Tài Cẩn nhấn mạnh thêm:
“Riêng biệt, nhưng không phải chỉ có cương vị ngang với một từ loại khác Trong hệ thống từ loại, tuy chỉ bao gồm một số lượng từ rất ít, nhưng đại từ lại có một cương vị rất lớn: đây là một từ loại chiếm một vai trò tương đương đồng thời với cả một loạt nhiều từ loại khác.”
Diệp Quang Ban (2008: 518) dùng tên gọi “đại từ” để chỉ chung cho
bốn lớp con cụ thể như: nhân xưng từ, chỉ định từ, đại từ (nội chiếu), đại từ
nghi vấn và đại từ phiếm chỉ Theo ông, tên gọi đại từ chủ yếu dùng cho
những từ có chức năng nội chỉ (Diệp Quang Ban gọi là nội chiếu) (endophora) 1 Còn hai tên gọi nhân xưng từ và chỉ thị từ thì lần lượt dùng cho
hai lớp đại từ nhân xưng và đại từ chỉ thị với chức năng ngoại chỉ (Diệp Quang Ban gọi là ngoại chiếu) (exphora)2 Theo ông, cần thiết phải trình bày đại từ (nội chiếu) vì đại từ nhân xưng ngôi thứ ba và chỉ định từ cũng được dùng cho việc nội chiếu
Bên cạnh đó, nhiều nhà ngôn ngữ học đã nhấn mạnh chức năng thay thế/ chỉ xuất của đại từ nên từ đó, họ đưa ra định nghĩa: “Đại từ là lớp từ dùng để thay thế hoặc chỉ trỏ (chỉ định)” Đây là định nghĩa về đại từ mà người viết thường gặp nhất trong các tài liệu ngữ pháp
Tác giả Đinh Văn Đức (2001: 199, in lần thứ nhất: 1986) đồng tình với
định nghĩa trong các sách ngữ pháp cho rằng đại từ là từ loại của các từ có
chức năng thay thế, nhưng ông cũng nói thêm: “chức năng thay thế là một
khái niệm có phần phức tạp, có nhiều cách hiểu”
Trang 22Nguyễn Thị Ly Kha (2008: 79) đề cập đến tên gọi “đại hình thái”
(pro-form) Tác giả này cho rằng: “Sự quy loại tất cả các trường hợp có chức năng thay thế cho DT, ĐT, TT, thậm chí cho một ngữ đoạn, một chuỗi phát ngôn được sử dụng trong nhiều tài liệu ngữ pháp lâu nay và của giáo trình này (do mục đích làm một tài liệu tham khảo phục vụ cho việc dạy học ở bậc phổ
thông) mang nội dung của khái niệm đại hình thái (pro-form) trong ngôn ngữ học hiện đại.” Tuy có nhắc đến tên gọi đại hình thái, nhưng tác giả cũng chỉ dừng lại ở đó chứ không đi sâu phân tích, lý giải gì thêm Do vậy, vấn đề đại hình thái trong tiếng Việt vẫn chưa được làm sáng tỏ
Bên cạnh những ý kiến trên, người viết xin trình bày những quan điểm
rất đáng chú ý của tác giả D.N S Bhat (2004) Theo ông, thuật ngữ ‘đại từ’
thường được dùng để nói đến nhiều tập hợp từ vựng khác nhau như đại từ nhân xưng, đại từ chỉ xuất, đại từ nghi vấn, đại từ quan hệ, đại từ tương liên,… Tuy nhiên, việc định nghĩa và giới hạn các nhóm từ vựng này vào một
phạm trù từ loại cũng có khá nhiều vấn đề Theo truyền thống, các đại từ được định nghĩa là những từ ‘thay thế cho danh từ’, nhưng hầu hết các nhà ngôn
ngữ học đều thấy định nghĩa này không được thỏa đáng Điều này chủ yếu vì các đại từ nhân xưng không ‘thay thế’ cho bấy kì danh từ nào theo đúng nghĩa, trong khi các đại từ chỉ xuất hay đại từ nghi vấn có thể thay thế cho tính từ, trạng từ, thậm chí là các động từ Mặt khác, việc cố gắng đưa ra
những định nghĩa đại từ để thay thế cho định nghĩa truyền thống thì cũng không phù hợp Vì thế, các nhà ngữ pháp học bắt buộc phải duy trì định nghĩa truyền thống như một định nghĩa duy nhất có tính khả thi
Việc thiết lập một định nghĩa thỏa đáng về đại từ gặp phải thất bại là do các từ vốn thuộc phạm trù đại từ không có tính đồng nhất để có thể hình thành nên một phạm trù duy nhất Quan trọng nhất là các đại từ nhân xưng lại có khá nhiều khác biệt so với các đại từ khác Có nhiều đặc tính phân biệt xuất
Trang 23hiện giữa chúng vốn bắt nguồn chủ yếu từ sự việc hai tập hợp đại từ này hoàn toàn có những chức năng khác nhau khi hoạt động trong ngôn ngữ Vì sự khác biệt này, chúng ta khó có thể tìm thấy bất kì đặc trưng nào bao trùm ở cả hai tập hợp đại từ Do đó, cũng khá khó khăn khi tìm ra một định nghĩa có hệ thống mà có thể được ứng dụng cho cả hai tập hợp đại từ đó Ngoài ra, các nhà ngữ pháp cũng gặp khó khăn khi phải quyết định những đơn vị từ vựng nào thì thuộc hay không thuộc về từng loại đại từ nào Ngay cả khi phân chia đại từ thành những nhóm nhỏ như đại từ nhân xưng, đại từ chỉ xuất, và đại từ nghi vấn, các nhà ngữ pháp cũng gặp vấn đề
Những câu hỏi như các mục (i-iii) thì thông thường bị bỏ trống hoặc trả
lời chỉ mang tính võ đoán
(i) Các đại từ ngôi thứ ba có “tính nhân xưng” hay “tính chỉ xuất?
(ii) Chúng ta có thể xem những tính từ và trạng từ có tính đại từ là những đại
từ được không?
(iii) Chúng ta có thể cho các từ như such, other, và one là đại từ không?
Chính vì vậy, tác giả D.N S Bhat cho rằng chúng ta không thể trình bày
rõ ràng chính xác một định nghĩa mà có thể quán xuyến hết tất cả các đại từ Thuật ngữ truyền thống “pronoun” (đại từ - người viết chú thích) không thể được xem như điển hình cho phạm trù từ vựng này
Theo D.N S Bhat, có một sự khu biệt quan trọng về mặt chức năng giữa các đại từ nhân xưng (personal pronoun) và đại hình thái (proform) Cái trước
thường dùng để chỉ ra các vai giao tiếp và biểu thị sự liên quan của chúng đối
với các sự kiện hoặc trạng thái trong câu mà chúng xuất hiện, trong khi cái sau dùng để định vị các tham thể của sự kiện hoặc chính các sự kiện với việc quy chiếu đến ngữ cảnh nói năng hoặc chỉ ra phạm vi câu hỏi, phạm vi phủ định,… Sự khu biệt về mặt chức năng của hai loại từ này bắt nguồn từ nhiều nét khác biệt trong những đặc trưng đi kèm chúng Và điều này là lý do tại
Trang 24sao chúng ta khá khó khăn khi thiết lập một định nghĩa đơn nhất có thể bao quát hết tất cả những loại đại từ này
D N S Bhat đề xuất dùng các thuật ngữ “đại từ nhân xưng” và “đại hình thái (proform)” để trình bày sự khu biệt này, trong đó thuật ngữ trước bao gồm đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và thứ hai, còn thuật ngữ sau bao
gồm tất cả các loại đại từ khác Đồng thời, vị trí của đại từ nhân xưng ngôi
thứ ba cũng cần phải được xem xét một cách tách biệt khi chúng xuất hiện cùng với hệ thống đại từ nhân xưng trong một số ngôn ngữ và với các đại từ
chỉ xuất khác
Qua một số ý kiến trên, người viết nhận thấy tên gọi và định nghĩa về đại
từ chưa có sự thống nhất rõ ràng giữa các nhà ngôn ngữ học Tên gọi đại từ
với ý nghĩa “đại danh từ” theo truyền thống không phải chỉ có thể thay thế cho danh từ mà còn thay thế cho động từ, tính từ, lượng từ, câu, đoạn văn, v.v Xem xét các ví dụ sau:
(1.1) a Tri th ức là gì? Tri thức là hiểu biết (Hồ Chí Minh)
b H ắn ngồi trên Đấy đắt tiền hơn
c T ỉnh anh có 70 vạn dân Tỉnh tôi cũng có bấy nhiêu dân
d Keng ph ải mang một bộ cánh Việc này không thể cho bố biết được
(Nguyễn Kiên)
e Đáng lẽ vấn đề phải được trình bày rõ ràng, gãy gọn, thì anh đã nói
m ột cách úp mở, lờ mờ và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ
Chính anh, anh cũng tự cảm thấy thế Và khi đã biết thế, anh càng hoang mang (Vũ Thị Thường)
Qua những ví dụ trên, ta thấy tên gọi đại từ với ý chỉ những từ thay thế cho danh t ừ thực sự chưa thể hiện được đầy đủ đặc trưng từ loại cũng như
chức năng của lớp từ này
Trang 25Hơn thế nữa, trong tiếng Việt hiện nay, các đặc trưng ngữ pháp để nhận
biết được thế nào là đại từ thì còn rất mù mờ, trong khi tiếng Anh thì rất rõ
Chẳng hạn như những đại từ như he, she, it,… không chắp thêm được tiền tố/
hậu tố, không làm trung tâm một danh ngữ có phụ trước, phụ sau (điểm này thì rất khác với danh từ) Ví dụ: table → tables/ the tables/ my tables Nhưng
he, she, it, thì không như vậy
Liên quan đến vấn đề đại từ, chúng ta cần phải thấy rằng thuật ngữ đại hình thái (pro-form) không phải nói đến một từ loại, mà là một thuật ngữ nghiêng về mặt chức năng ngữ nghĩa nhiều hơn Đại hình thái chủ yếu dùng
cho những từ hoặc những cách biểu đạt có chức năng thay thế cho những cách
biểu đạt khác có cùng nội dung như một từ, cụm từ, tiểu cú hoặc câu mà ý nghĩa có thể phục hồi nhờ vào ngữ cảnh Chúng được dùng để tránh những cách diễn đạt trùng lặp hoặc dùng trong phương thức định lượng (giới hạn
những biến tố của một tiểu cú) Đại hình thái (pro-form) được phân thành
nhiều phạm trù tùy thuộc vào bộ phận nào trong lời nói mà chúng thay thế:
• Đại danh từ (pronoun) là một đại hình thái có chức năng như một danh từ
thay thế cho một danh từ hoặc một cụm từ, có hoặc không có định ngữ kèm
theo: it, this Một ngôn ngữ có thể có nhiều lớp đại danh từ với các đặc tính như: ngôi, số, sự bao gộp (gộp, trừ), giống, mối quan hệ về ngữ pháp, vai ngữ nghĩa, cách dùng, vị trí trong không gian và thời gian Trong tiếng
Anh, đại danh từ gồm các tiểu loại: đại từ nhân xưng (I, they), đại từ phản thân (herself ), đại từ chỉ xuất (this), đại từ nghi vấn (như who, which trong
câu hỏi), đại từ quan hệ (who, which trong tiểu cú quan hệ)
• Đại tính từ (pro-adjective) thay thế cho một tính từ hoặc một cụm từ vốn
có chức năng như tính từ, như so as trong “It is less so than we had
expected.”
(1.2) Her dress is green Mine is too
Trang 26Từ too là một đại-tính từ, thay thế cho tính từ green Chúng ta cũng có thể dùng so để viết câu này thay vì dùng too:
(1.3) Her dress is green So is mine
So là một đại tính từ với nghĩa green
• Đại trạng từ (pro-adverb) thay thế cho một trạng từ hoặc một cụm từ vốn
có chức năng như trạng từ, như how hoặc this way
(1.4) He exercised regularly I did too
Từ too thay thế cho từ regularly, cho nên nó là một đại-trạng từ (did thay thế cho exercised, và là một đại-động từ)
(1.5) Jo did the work well Bill did it similarly
Từ similarly thay thế cho well, và là một đại-trạng từ
• Đại động từ (pro-verb) thay thế cho một động từ hoặc một cụm động từ
Đại-động từ phổ biến nhất là do
(1.6) They speak too groups I do too
Do tha y thế cho speak
(1.7) Jack could lift heavy weights So could Mary
Chúng ta có thể xem could trong câu thứ hai có nghĩa là could lift Trong câu thứ hai could là đại-động từ Tuy nhiên, với nghĩa could lift, could là một
từ thường; nó không thay thế cho từ nào khác Một từ đóng vai trò như một
đại hình thái thì đôi khi được lặp lại hình thái thông thường của nó Từ so cũng là một đại hình thái thay thế cho heavy weights Chúng ta có thể dùng too khi viết câu, thay vì dùng so, như:
(1.8) Jack could lift heavy weights Mary could too
Trang 27Could là một đại-động từ với nghĩa could lift Từ too cũng là một đại hình thái với nghĩa lift heavy weights (too), nơi mà từ too được lặp lại là một
trạng từ chỉ phương thức
(1.9) He is flying to America I may too
Trong câu này, từ may là một đại-động từ
• Đại cú ngữ (pro-sentence) thay thế cho một câu trọn vẹn hoặc câu phụ:
Yes ho ặc (một số người cho rằng) that như trong “That is true”
(1.10) You should not walk on the grass Fido did not heed this
Từ this thay thế cho “the rule about not walking on the grass”
Ngoài ra, chúng có thể ám chỉ đến đoạn văn, v.v
(1.11) She had been let out of jail She was violent and would attack without a
thought She carried a pistol and a knife, and would not hesitate to use them She was a psychopath
I did not know this when I told her to leave for disobeying the rules
Từ “this” thay thế cho đoạn văn trước đó
Tác giả Nguyễn Kim Thản có thể chưa biết đến quan niệm proform của
các nhà nghiên cứu ngữ pháp châu Âu, nhưng ông đã có sử dụng tên gọi đại
từ tách thành đại danh từ, đại động từ, đại tính từ, v.v Tuy nhiên, ông vẫn chưa tìm ra những đặc điểm ngữ pháp chung cho tất cả các nhóm từ này
1.1.2 Phân loại
Để phân loại đại từ tiếng Việt thành các tiểu loại, các nhà Việt ngữ học
đã dựa trên những quan điểm khác nhau, chúng tôi tạm phân thành ba nhóm
quan điểm: (i) theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống, (ii) theo quan điểm
c ủa ngữ pháp văn bản, (iii) theo quan điểm của ngữ pháp chức năng
Trang 281.1.2.1 Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống
Theo truyền thống, một số các nhà ngữ pháp tiếng Việt dựa vào chức năng của đại từ (để xưng hô, hỏi, chỉ định thời gian, không gian, v.v.) mà
phân chia đại từ ra các nhóm nhỏ Chẳng hạn như nhóm tác giả Trần Trọng Kim − Bùi Kỷ − Phạm Duy Khiêm (1940: 52 − 78) chia đại-danh-từ thành
hai loại: nhân-vật đại-danh-từ và chỉ-định đại-danh-từ Trong đó, những tiếng nhân-vật đại-danh-từ phần nhiều là do những tiếng danh-từ (tương ứng với cách gọi hiện nay của chúng ta là những danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng trong xưng hô – chú thích của người viết) mà thành ra Còn chỉ-định đại-danh-từ được phân thành ba tiểu loại như sau:
1 Chỉ-thị đại-danh-từ (này, kia, kìa, nọ, ấy, cái này, cái ấy, cái đó, …)
2 Nghi-vấn đại-danh-từ (ai, gì, chi,…; những tiếng ghép với nào, gì, như: người nào, con nào, con gì, cái nào, cái gì, …)
3 Phiếm-chỉ đại-danh-từ (ai, ai ai, nấy, ai nấy, người, người ta, người
ta ai, kẻ … kẻ, kẻ … người, cả, cả thảy, tất, tất cả, hết, hết cả, hết thảy)
Căn cứ vào ý nghĩa của đại từ và sự tương quan giữa đại từ với các danh
từ mà nó thay thế, tác giả Bùi Đức Tịnh trong cuốn Văn phạm Việt Nam
(1952: 155) đưa ra bốn tiểu loại đại từ: xưng-hiệu-đại-từ, thuộc-đại-từ, đại-từ và phiếm-chỉ-đại-từ
vấn-Xưng-hiệu-đại-từ và thuộc-đại-từ thay-thế cho những danh-từ chỉ-định,
hoặc những danh-từ không nói ra nhưng có một ý-nghĩa được chỉ-định ràng
rõ-Vấn-đại-từ và phiếm-chỉ-đại-từ thay-thế cho danh-từ để chỉ người và vật
một cách khái-quát Nó không thay-thế cho những danh-từ nhất định
Trang 29Kết hợp hai mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, Nguyễn Kim Thản (1997: 272
– 306, in lần thứ nhất: 1963) chia đại từ thành: đại thể từ (gồm đại từ nhân xưng, đại từ qua lại, đại từ - số từ, đại từ chỉ định), đại vị từ, đại từ nghi vấn
Ưu điểm của tác giả này là sự quan tâm đến đặc điểm ngữ pháp của từng tiểu
loại, và có thể gọi được tên cho hai đại từ “thế/ vậy” là đại vị từ
Trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt (1983: 71), dựa vào đối tượng mà
đại từ “trỏ” đến, các tác giả Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam phân đại từ
thành những tiểu loại chính sau đây: Đại từ sự vật (bao gồm đại từ xưng hô, đại từ không gian và thời gian, đại từ số lượng) dùng để trỏ sự vật; Đại từ hoạt động, tính chất dùng để trỏ hoạt động, tính chất; Đại từ nghi vấn dùng để trỏ trong câu hỏi
Dựa vào đặc điểm những đơn vị mà đại từ thay thế, Nguyễn Thiện Giáp
(1998: 248 − 249), in lần thứ nhất: 1994) phân loại đại từ tiếng Việt thành bốn tiểu loại:
- Những đại từ thay thế cho danh từ (có thể gọi là đại danh từ), cụ thể là: đại
từ xưng hô (tôi, tao, ta, mày, nó,…), đại từ phiếm định (ai, gì, tất cả, tất
th ảy,…), đại từ nghi vấn (ai, gì)
- Những đại từ thay thế cho động từ và tính từ (đại thuật từ), cụ thể là: thế,
v ậy; nào, sao
- Những đại từ thay thế cho số từ (đại số từ), cụ thể là: bấy nhiêu, bao nhiêu
- Những đại từ thay thế cho nhiều từ loại khác nhau và thay thế cho cả một câu, một chuỗi câu (đại từ chỉ định), cụ thể là: đâu, đấy, đó, ấy, này…
Trong cuốn “Giáo trình ngôn ngữ học” (2008: 261), Nguyễn Thiện Giáp
có nói thêm: “Đối với tiếng Việt, một số người chia đại từ thành hai loại lớn
là đại từ xác định và đại từ chưa xác định […] Chính do đặc điểm chưa xác
định mà người ta thường dùng đại từ chưa xác định để hỏi và gọi nó là đại từ nghi vấn.”
Trang 30Tác giả Dư Ngọc Ngân (2005: 38) quan niệm đại từ là lớp từ dùng để
thay thế hoặc chỉ trỏ (chỉ định) và phân loại đại từ thành:
(1) Đại từ xưng hô: thay thế cho các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (2) Đại từ chỉ định sự vật (này, kia, đó, ấy, nọ, đấy, nay, nãy,…), không gian
(đây, này, đó, kia, nọ, ấy, đâu đây, đâu đấy, đâu đó,…), thời gian (nay, rày, giờ, bây giờ, nãy, bấy giờ, bấy,…)
(3) Đại từ thay thế là những đại từ có chức năng thay thế cho sự kiện hoặc
hoạt động, trạng thái, đặc trưng của sự vật bao gồm hai từ: THẾ, VẬY
(4) Đại từ nghi vấn hoặc phiếm chỉ như ai, gì, nào, thế nào, sao, đâu, bao
nhiêu, mấy, bao giờ, bao lâu… đảm nhiệm một trong hai chức năng: hỏi
hay phiếm chỉ
(5) Đại từ tổng thể: chỉ ý nghĩa toàn thể, toàn khối cho một khối lượng sự
vật, bao gồm những từ như: cả, tất cả, tất thảy, hết thảy, toàn bộ, tất,…
Chúng tôi nhận thấy rằng các nhà Việt ngữ học đã không hoàn toàn
thống nhất với nhau về số lượng cũng như tên gọi của các tiểu loại đại từ Có trường hợp cùng một tiểu loại nhưng có nhiều tên gọi khác nhau; trong trường hợp khác, các tác giả gọi cùng một tên nhưng ranh giới phân chia tiểu
loại đó không hoàn toàn trùng nhau Dựa trên những cách phân định của các tác giả theo quan niệm truyền thống đã nêu ở trên, để có được cái nhìn khái quát, chúng tôi cũng cố gắng tổng hợp các tiểu loại đại từ tiếng Việt thành danh sách sau:
(1) Đại từ xưng hô (xưng hiệu đại từ, đại từ chỉ ngôi, nhân vật đại danh từ,
nhân xưng từ, đại từ nhân xưng, v.v) TÔI, TAO, TA, TỚ, MÌNH, MÀY,
MI, NÓ, HẮN, Y, CHÚNG TÔI, CHÚNG TAO, CHÚNG TỚ, CHÚNG
TA, CHÚNG MÌNH, CHÚNG MÀY, CHÚNG BAY, BAY, CHÚNG
NÓ, CHÚNG, HỌ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cậu, dì, anh, chị, em,
Trang 31con, cháu, … bao gồm các đại từ xưng hô đích thực (chữ hoa) và các đại
từ xưng hô lâm thời (chữ thường) Theo Nguyễn Kim Thản (1997: 276),
cần có sự phân biệt giữa đại từ (gồm cả những danh từ đã chuyển hóa
thành đại từ như tôi, tớ, họ, v.v.) với những danh từ dùng để xưng hô vì
đại từ không có định ngữ trong khi danh từ dùng để xưng hô giữ được đặc điểm riêng nên có định ngữ và có thể chỉ từ hai đến ba ngôi Nguyễn Tài
Cẩn (1975), Nguyễn Thiện Giáp (1998) cũng có sự phân biệt rõ giữa đại
từ và các danh từ được sử dụng như đại từ Do các đại từ xưng hô thực thụ chiếm số lượng ít và không có nét nghĩa lễ độ nên việc sử dụng các danh
từ thân tộc như đại từ là rất phổ biến Vì thế, các danh từ này trở thành
một bộ phận không thể tách rời của tiểu loại đại từ xưng hô tiếng Việt và
là điểm đặc sắc của đại từ tiếng Việt Trong phạm vi luận văn, chúng tôi
có sự phân biệt giữa nhóm đại từ xưng hô đích thực và nhóm đại từ xưng
hô lâm th ời nhưng do thực tế sử dụng, các đại từ xưng hô lâm thời xuất
hiện rất thường xuyên Vì thế chúng tôi cũng quan tâm đến đại từ xưng hô lâm thời như đối tượng nghiên cứu
(2) Đại từ chỉ định (chỉ định đại danh từ; đại từ không gian, thời gian) bao
gồm các từ: đây, đấy, đó, nãy, này, nọ, ấy, bây giờ, rày, nay, bấy, bấy giờ, kia, kìa, …
(3) Đại từ nghi vấn (nghi vấn đại danh từ, đại từ để hỏi, vấn đại từ) bao gồm
các từ: ai, gì, nào, chi, bao giờ, đâu, bao nhiêu, tại sao, sao, thế nào, mấy, bao lâu, v.v
(4) Đại từ phiếm chỉ (đại từ phiếm định, phiếm chỉ đại danh từ) bao gồm: ai,
ai ai, ai nấy, người, người ta, kẻ (thì) … , gì, sao, nào, bao nhiêu … bấy nhiêu, m ấy, bao lăm
Trang 32(5) Đại từ chỉ lượng (đại từ chỉ khối lượng, tổng thể; đại từ chỉ tổng thể; đại
từ số lượng, đại từ - số từ, đại số từ) bao gồm các từ: cả, cả thảy, tất cả,
h ết cả, hết thảy, tất, tất thảy, v.v
(6) Đại vị từ (đại từ chỉ hoạt động, tính chất; các đại từ “thế, vậy”; đại từ (nội
chiếu); đại từ thay thế, đại thuật từ) gồm các từ: thế, vậy
(7) Tương hỗ đại danh từ (đại từ qua lại) bao gồm các từ: nhau, lẫn nhau
Ngoài ra, còn có tiểu loại thuộc đại từ hoặc còn gọi là đại từ liên thuộc
(Bùi Đức Tịnh, 1952: 147) nhưng không được các tác giả khác nhắc đến như
một tiểu loại riêng biệt mà được xóm vào từ loại quan hệ từ Điều này rất hợp
lý vì tiểu loại thuộc đại từ theo quan niệm của tác giả Bùi Đức Tịnh chính là
từ mà (tương đương với các đại từ quan hệ who, whom, which, … trong tiếng
Anh khi dịch sang tiếng Việt – người viết lấy ví dụ), ví dụ: Người mà các anh coi khinh chính là người đã làm cho các anh có địa vị như ngày nay
Bên cạnh đó, vấn đề đại từ nghi vấn và đại từ phiếm chỉ là một tiểu loại
thống nhất hay là hai tiểu loại tách biệt thì vẫn chưa có sự thống nhất trong
giới Việt ngữ học Nhiều tác giả xem đó là hai tiểu loại đại từ riêng biệt (đại
từ nghi vấn, đại từ phiếm chỉ/phiếm định) Nhưng cũng có một số tác giả lại
xếp chúng vào chung một nhóm (đại từ nghi vấn; đại từ nghi vấn và đại từ phiếm chỉ; đại từ nghi vấn hoặc phiếm chỉ) vì thực sự chúng có quan hệ với
nhau khá gần gũi về cấu tạo nhưng khác nhau về cách dùng Thiết nghĩ đây cũng là một câu hỏi rất cần được trả lời
Một vấn đề khác được đặt ra là khi phân loại các tiểu loại đại từ thì tiêu chí về ngữ nghĩa được các nhà Việt ngữ học sử dụng khá nhiều Nhưng theo chúng tôi, đại từ là một vấn đề viền ngữ nghĩa, và sẽ là chưa đủ để nhận diện
và phân loại đại từ nếu chỉ dựa vào tiêu chí về ngữ nghĩa Thiết nghĩ, vì từ
loại là vấn đề ngữ pháp, nên chúng ta cần dựa vào các “ứng xử ngữ pháp”
Trang 33(behavior grammar) của đại từ để có được những tiêu chí nhận diện và phân
loại đầy đủ hơn, hợp lý hơn
1.1.2.2 Theo quan điểm của ngữ pháp văn bản
Từ góc độ tổ chức văn bản, Trần Ngọc Thêm đề cập đến đại từ như một
phương tiện từ vựng thực hiện phương thức liên kết mang tên phép thế đại từ
Đây là “một phương thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng trong kết ngôn đại từ (hoặc từ đại từ hóa) để thay thế cho một ngữ đoạn nào đó ở chủ ngôn Các đại từ (hoặc đại từ hóa) ở đây gọi là thế tố”
Theo Trần Ngọc Thêm (2009: 142 - 144): “Đại từ là một trong số những
từ loại có chức năng liên kết văn bản rõ rệt nhất Ngôn ngữ học tiền văn bản
mới chỉ nêu ra chức năng “trỏ” của nó “Trỏ” vào sự vật, dấu hiệu của tình
huống nói năng chỉ là một khía cạnh của sự thay thế, của chức năng liên kết –
đó là liên kết khiếm diện1
So với liên kết khiếm diện, vai trò của đại từ trong liên kết hiện diện2
, trong việc tổ chức văn bản quan trọng hơn nhiều.”
Tác giả này cho rằng “Các cách phân loại đại từ thành đại từ xưng hô,
đại từ chỉ định, đại từ nghi vấn, v.v., hoặc thành đại từ sự vật, đại từ hoạt động – tính chất và đại từ nghi vấn (Ngữ pháp tiếng Việt, 1983: 87-88) về cơ bản
đều đúng, nhưng chưa toàn diện, và do vậy, còn chứa đựng mâu thuẫn Chẳng
hạn, những đại từ nghi vấn ai, gì thì đồng thời cũng thay thế cho sự vật; hoặc đại từ nghi vấn nào cũng đồng thời thay thế cho tính chất.”
Để tiện cho việc xem xét chức năng liên kết của các đại từ, Trần Ngọc Thêm phân loại đại từ theo hai hướng: Theo hướng đối tượng thay thế, các đại
từ được chia làm 7 tiểu loại: chỉ người (ký hiệu N), chỉ sự vật (V), chỉ số lượng (L), chỉ thời gian (T), chỉ không gian (K), chỉ dấu hiệu (D), chỉ cách
thức (C) Theo hướng quan hệ với tọa độ gốc, các đại từ được chia làm 4 tiểu
Trang 34loại: chỉ điểm gốc (1), chỉ điểm gần (2), chỉ điểm xa (3), có tính nghi vấn – phiếm chỉ (4) Phối hợp hai hướng phân loại này, ông đưa ra một bảng phân
loại rất chi tiết về các tiểu loại đại từ tiếng Việt
Trang 351 2 3 4
Điểm gốc Điểm gần Điểm xa
Nghi vấn – phiếm
HẮN,
Y, thị,
HỌ
NÓ, CHÚNG,
GIỜ NÃY, MAI
K Không
gian ĐÂY
ĐẤY, trên,
Trang 36Theo Trần Ngọc Thêm, tùy theo thực tế sử dụng mà có những đặc điểm chuyên biệt cho từng nhóm, nhưng cũng có những đại từ dùng chung cho hai,
ba nhóm (tiểu loại N, D); còn ở những tiểu loại ít quan trọng hơn hoặc ít dùng hơn thì các đại từ được dùng chung (các tiểu loại L, C), thậm chí có nhóm còn
vắng mặt (tiểu loại V) Những ô trống (tiểu loại V) có thể được lấp đầy bằng
sự kết hợp giữa một danh từ khái quát với một đại từ (danh từ “cái” + tiểu loại D1), thí dụ: cái này (V1), cái nọ (V2), hoặc bằng sự kết hợp của các đại từ với
nhau, thí dụ: thế này (C1), thế nọ (C2)
(1) Đại từ chỉ người (N)
Đại từ chỉ người N1, N2, N3 tương ứng với nhóm đại từ nhân xưng (tôi,
ta, tao, mày, mi,… ) và đại từ phản thân (mình, tự mình,… ) theo cách phân
chia truyền thống Riêng nhóm N4 là một phần của nhóm đại từ nghi vấn – phiếm chỉ dùng để chỉ người (ai)
Các tiểu nhóm N1, N2 và N3 được dùng để chỉ người1và được phân biệt
bằng quan hệ của chúng với tọa độ gốc và đều bao gồm hai bộ phận là đại từ
thực thụ (đại từ chính danh) và từ đại từ hóa (đại từ lâm thời) Đại từ thực thụ bao gồm một số ít từ gốc và một số từ vốn là danh từ song nguồn gốc từ nguyên của nó đã bị lãng quên (như tôi ← tôi tớ), những yếu tố như giờ trong bây gi ờ đều được xếp vào loại đại từ thực thụ Các đại từ hóa có nguồn gốc là
danh từ thân tộc (ông, bà), danh từ chỉ quan hệ xã hội (bạn, đồng chí), tính từ
danh hóa (lão), từ chỉ vị trí (đây, đấy) Xét về mặt nghĩa, ngoại trừ đại từ
“tôi”, các đại từ thực thụ không có sắc thái nghĩa trung hòa Ngược lại, các từ đại từ hóa có sắc thái nghĩa biểu cảm, thể hiện thái độ trọng-khinh, thứ bậc,
tuổi tác,… Các danh từ thân tộc được dùng theo hai hệ thống khác nhau: dùng trong gia đình và trong giao tiếp xã hội
1Trong một số trường hợp (nó, chúng) được dùng để chỉ động vật và bất động vật
Trang 37(2) Đại từ chỉ sự vật (V)
Những đại từ trong nhóm này là sự kết hợp của một danh từ khái quát và
một đại từ dấu hiệu, thí dụ như “cái này, cái nọ,…” Trong nhóm đại từ chỉ sự
vật, còn có tiểu nhóm đại từ nghi vấn-phiếm chỉ dùng để chỉ sự vật “gì, chi, nào,…”
(3) Đại từ chỉ số lượng (L)
Ở tọa độ điểm gốc L1 có đại từ “bây nhiêu” Ở điểm gần L2 và điểm xa L3 có đại từ “bấy nhiêu, cả, tất cả, tất thảy, hết thảy” Tiểu nhóm L4 nghi
vấn-phiếm chỉ có đại từ “bao nhiêu, mấy”
(4) Đại từ chỉ thời gian (T)
Các đại từ chỉ thời gian ở tọa độ điểm gốc T1 bao gồm: “giờ, bây giờ, nay”, ở điểm gần T2 gồm: “nãy, mai” Ở điểm gần T2 và điểm xa T3 bao gồm: “bấy
gi ờ” Tiểu nhóm T4 nghi vấn-phiếm chỉ có đại từ “bao giờ”
(5) Đại từ chỉ không gian (K)
Ở tọa độ điểm gốc K1 có đại từ “đây”, ở điểm gần K2 có đại từ “đấy, trên, sau,…”, ở điểm xa K3 có đại từ “kia” Tiểu nhóm đại từ chỉ không gian nghi
vấn-phiếm chỉ có đại từ “đâu,…”
(6) Đại từ dấu hiệu (D)
Ở tọa độ điểm gốc D1 có đại từ “này”, ở điểm gần D2 có đại từ “nọ, ấy, đó1
”,
ở điểm xa D3 có đại từ “kia2
” Tiểu nhóm đại từ dấu hiệu nghi vấn-phiếm chỉ
có đại từ “nào”
(7) Đại từ cách thức (C)
Đại từ “thế, vậy” được dùng chung cho cả ba nhóm thuộc tọa độ điểm gốc C1,
điểm gần C2 và điểm xa C3 Tiểu nhóm đại từ cách thức nghi vấn-phiếm chỉ
có đại từ “sao”
1Đại từ đó được dùng chung cho hai tiểu nhóm K2 và D2
2Đại từ kia được dùng chung cho hai tiểu nhóm K3 và D3
Trang 381.1.2.3 Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng
Từ góc độ của ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo (1991: 195) đã nhắc đến đại từ ở cương vị là một trong các yếu tố hồi chỉ và khứ chỉ Ông phân
loại các đại từ hồi chỉ thành các nhóm sau:
(1) Những đại từ hồi chỉ chính danh gồm có: nó, hắn, chúng, chúng nó, họ,
th ế, vậy, đây, đó, đấy, ấy (ba từ cuối cũng dùng như những định từ - chú
thích của Cao Xuân Hạo)
(2) Những đại từ hồi chỉ có gốc danh từ + định từ ấy (trong đó định từ mất
trọng âm và nhược hóa rất nhiều, thường phát âm là [i5
]) gồm có: anh í,
ch ị í, bà í, ông í, thằng í, con í, dì í, cô í, cậu í, chú í, bác í, bên í, đằng í, cái í, ng ữ í (mô hình trọng âm: [10]), từ í nói rất yếu, đến mức chị í gần đồng âm với chỉ) (Nam Bộ: ảnh, chỉ, bả, ổng, thẳng, cổ, bển, đẳng)
Vì đi theo hướng tiếp cập xem xét đại từ như những phương tiện ngôn
ngữ học có tác dụng liên kết câu với văn bản (ngôn bản) nên nhìn chung, tác
giả Cao Xuân Hạo đã không bàn một cách chi tiết cách phân định các tiểu loại đại từ theo như truyền thống Đại từ có chức năng hồi chỉ hoặc khứ chỉ là tùy theo văn cảnh (ngôn cảnh)
1.1.2.4 Tiếp thu những phân tích về tên gọi và các quan điểm phân loại đại từ nêu trên, người viết xin đưa ra bảng phân loại đại từ làm cơ sở cho những
phần nghiên cứu ở các chương kế tiếp như sau:
Trang 39Đại từ
Đại danh từ
Đại danh từ xưng hô Đại danh từ phản thân Đại danh từ tương hỗ Đại từ chỉ định
Đại số từ Đại vị từ Đại từ nghi vấn – phiếm chỉ
Như vậy, “đại từ” với ý chỉ thay thế cho danh từ, động từ, tính từ, trạng
từ, v.v gồm có các tiểu loại sau:
Đại danh từ là những đại từ thay thế cho danh từ, cụ thể là: đại danh từ xưng
hô, như: tôi, tao, tớ, mình, mày, nó, hắn, ý, chúng tôi, chúng ta, họ, cụ, ông,
bà, cha, mẹ, bác, chú, cậu, dì, anh, chị, em, con, cháu, v.v ; đại danh từ phản thân (mình ); đại danh từ tương hỗ (nhau)
Đại từ chỉ định là những đại từ có tác dụng xác định sự vật trong không gian,
thời gian nhất định, như: đây, đấy, đó, nãy, này, nọ, ấy, bây giờ, rày, nay, bấy,
b ấy giờ, kia, kìa, v.v
Đại số từ là những đại từ có khả năng thay thế cho số từ, như cả, cả thảy, tất
c ả, hết cả, hết thảy, tất, tất thảy, v.v
Đại vị từ là những đại từ thay thế cho động từ và tính từ, như: thế, vậy
Đại từ nghi vấn – phiếm chỉ là những đại từ đảm nhận một trong hai chức năng: (i) dùng để hỏi về sự vật và số lượng (liên quan đến đại danh từ và đại
số từ), hỏi về tình hình, tính chất của sự vật (liên quan đến đại vị từ), (ii) dùng
để phiếm chỉ (thay thế cho người hay vật không xác định), như: ai, sao, nào,
bao nhiêu … b ấy nhiêu, mấy, chi, bao giờ, đâu, bao nhiêu, tại sao, thế nào,
m ấy, bao lâu, v.v
Trang 401.1.3 Tiêu chí n hận diện đại từ - Tiêu chí về trọng âm
Bên cạnh việc phân loại các tiểu loại đại từ theo các quan điểm nêu trên, người viết xin nêu thêm ra đây một tiêu chí nhận diện đại từ, khi phân biệt danh từ với đại từ, đó là tiêu chí về trọng âm mà tác giả Cao Xuân Hạo
(2007: 147) đã từng đề cập đến trong bài viết “Trọng âm và các quan hệ ngữ pháp trong ti ếng Việt”
Theo Cao Xuân Hạo, trong câu nói tiếng Việt có sự tương phản giữa các
tiếng (các âm tiết) kế tiếp nhau, về độ dài, độ mạnh và tính trọn vẹn của đường nét thanh điệu Sự tương phản này không có tác dụng trực tiếp phân
biệt các tiếng (hay các “từ”) về nghĩa, mà có tác dụng đánh dấu chỗ phân giới các ngữ đoạn và góp phần xác định quan hệ kết hợp giữa các tiếng Sự tương
phản đó là sự đối lập về trọng âm Một điểm lưu ý là trong khi nói ở nhịp độ
chậm, và nhất là trong khi đọc theo văn bản, những tiếng khinh âm (không có
trọng âm) có thể được phát âm mạnh và dài gần bằng những tiếng trọng âm, nhưng ngược lại, dù nói nhanh đến đâu thì một tiếng trọng âm cũng không thể rút ngắn và giảm nhẹ ngang một tiếng khinh âm Chẳng hạn, nhà văn [01] khi
nói chậm có thể phát âm gần như [11], nhưng nhà cửa [11] không bao giờ có
thể phát âm thành [01] được.1
Khi xét trọng âm trong các tổ hợp gồm hai tiếng “thực từ”, cụ thể là
trọng âm trong kết cấu chủ-vị (Đề-Thuyết) gồm hai tiếng, tác giả Cao Xuân
Hạo nhận định rằng: “Một tổ hợp hai tiếng gồm có một chủ ngữ và một vị
ngữ (một chủ đề và một phần thuyết) có mô hình trọng âm [11] nếu chủ ngữ (chủ đề) là danh từ, và có mô hình trọng âm [01] nếu chủ ngữ (chủ đề) là đại
từ nhân xưng hay hồi chỉ.” Chẳng hạn:
(1.12) a Ng ựa ăn [11] nhưng
b Nó ăn [01]
1Tác giả Cao Xuân Hạo dùng số [0] để chỉ các tiếng khinh âm, và số [1] để chỉ các tiếng có trọng âm