Đây là loại văn có tác dụng rất lớn trong việc tái hiện đời sống; hình thành và phát triển trí t-ởng tợng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá của con ngời.Với đặc trng của mình,
Trang 1Khoa giáo dục tiểu học
-*** -Khoá luận tốt nghiệp đại học
Giáo viên hớng dẫn: TS Chu thị hà thanh
Sinh viên thực hiện : hà thị thu thái
Lớp : 45A1 - Tiểu học
Vinh - 2008
Lời nói đầu
Phơng pháp dạy học văn miêu tả lớp 4, 5
Trang 2Với sự yêu thích bộ môn Tiếng Việt cộng với lòng mong muốn học hỏi
tự tìm tòi nghiên cứu nhằm nâng cao hiểu biết về Lý thuyết Văn miêu tả cũng
nh việc ứng dụng nó vào việc dạy học Tập làm văn ở trờng Tiểu học, tôi đã chọn đề tài "Phơng pháp dạy học văn miêu tả lớp 4, 5"
Đề tài chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu ứng dụng các kỹ năng quan sát, liên tởng và tởng tợng, phát triển tình cảm và cảm xúc, sử dụng ngôn từ vào rèn luyện hệ thống tạo lập bài văn miêu tả thông qua hệ thống phơng pháp dạy học cụ thể
Rèn luyện hệ thống kỹ năng tạo lập bài văn cho học sinh là cả một quá trình Do đó chỉ trong một thời gian ngắn thực hiện nên chúng tôi gặp không ít khó khăn, nhất là trong vấn đề thực nghiệm Bằng sự nỗ lực của bản thân trong việc thu thập tài liệu, tìm tòi, suy nghĩ, cố gắng liên hệ trờng Tiểu học dự giờ, tham khảo ý kiến của các giáo viên nhất là có sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cô giáo Chu Thị Hà Thanh cùng với sự động viên, khích lệ của bạn bè tôi
đã làm xong đề tài Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo hớng dẫn và những ngời đã giúp tôi hoàn thành xong luận văn này
Vì đây là công trình tập duyệt nghiên cứu luận văn khoa học giáo dục nên kết quả bớc đầu không tránh khỏi những thiết sót; rất mong nhận đợc những lời nhận xét, bổ sung từ phía thầy cô và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn
Vinh, ngày 12 tháng 05 năm 2008 Sinh viên
Hà Thị Thu Thái
Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trang 31.1 Phân môn Tập làm văn ở tiểu học đợc dạy với t cách vừa là một
môn khoa học (nghiên cứu về tiếng Việt) đồng thời là một môn trang bị cho học sinh một công cụ để giao tiếp và phát triển t duy tạo cơ sở cho việc học tập các môn khác Môn Tiếng Việt ở tiểu học đợc dạy và học thông qua bảy phân môn khác nhau: Học vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện
từ và câu, Kể chuyện và Tập làm văn
Tập làm văn là môn học mang tính tổng hợp, do đó việc dạy Tập làm văn dựa trên cơ sở nghiên cứu của nhiều môn khoa học Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn ở tiểu học là trang bị cho học sinh những tri thức về
hệ thống Tiếng Việt, về chuẩn Tiếng Việt, rèn luyện trong quá trình hoạt
động giao tiếp với các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết
1.2 Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản rất quen thuộc và phổ
biến trong cuộc sống cũng nh trong sáng tạo văn chơng Đây là loại văn có tác dụng rất lớn trong việc tái hiện đời sống; hình thành và phát triển trí t-ởng tợng, óc quan sát và khả năng nhận xét, đánh giá của con ngời.Với đặc trng của mình, những trang văn miêu tả làm cho tâm hồn và trí tuệ ngời
đọc thêm phong phú, giúp cho ta có thể cảm nhận văn học và cuộc sống một cách tinh tế hơn, sâu sắc hơn
Chính vì thế mà văn miêu tả đợc đa vào nhà trờng từ rất lâu và ngay từ bậc tiểu học Đặc biệt, trong chơng trình Tập làm văn lớp 4,5 của bậc tiểu học văn miêu tả là thể loại tập làm văn chiếm vị trí quan trọng, là một trong những nội dung chủ yếu của phân môn Tập làm văn
1.3 Muốn viết bài văn miêu tả hay, ngời viết phải có tài quan sát và thể
hiện bằng các từ ngữ, hình ảnh, bằng lối so sánh, ví von độc đáo, và đặc…biệt là phải có cái tình (cái tình có thể là tấm lòng say đắm, là thái độ và tình cảm trân trọng mến yêu đối với cái đẹp, cái thiện, cái trong sáng, cái cao thợng nh… ng cũng có thể là sự căm ghét, khinh bỉ đối với cái ác, cái xấu, cái lố lăng, kệch cỡm ở đời)
Trang 4Thế nhng trong thực tế dạy và học văn miêu tả ở tiểu học còn nhiều hạn chế Hầu hết giáo viên còn lúng túng trong phơng pháp giảng dạy Bài làm của học sinh còn nhiều khiếm khuyết từ nội dung đến hình thức Nguyên nhân chủ yếu là giáo viên cha nắm vững lí thuyết về văn miêu tả một cách toàn diện, đầy đủ Học sinh ch… a đợc tiếp cận với một phơng pháp làm bài khoa học, hệ thống…
Từ tầm quan trọng của lý thuyết văn miêu tả và thực tiễn của việc dạy học tập làm văn ở lớp 4, lớp 5, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Phơng pháp dạy học văn miêu tả lớp 4, 5”
2 Lịch sử vấn đề
Về phơng pháp dạy Tập làm văn là vấn đề đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ lâu song cha hề có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào tìm hiểu về phơng pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học với t cách là một công trình chuyên biệt, độc lập Bàn về phơng pháp dạy văn miêu tả mới đợc đề cập trong một vài cuốn sách chung về phơng pháp dạy Tiếng Việt ở bậc tiểu học Do đó những vấn
đề về văn miêu tả cũng nh phơng pháp dạy học văn miêu tả và những biện pháp nhằm nâng cao chất lợng dạy học cha đợc nghiên cứu một cách thoả đáng Cụ thể có các tài liệu nh sau:
- Phơng pháp dạy học Tiếng việt ở Tiểu học (2 tập) – Lê Phơng Nga, Nguyễn Trí – NXB Trờng ĐHSP Hà Nội I – Hà Nội 1995
Nội dung cuốn sách gồm có hai phần:
Phần I: Bàn về những vấn đề chung của phơng pháp dạy học Tiếng Việt
Trang 5sâu vào phơng pháp dạy văn miêu tả mà chỉ chú trọng vào việc đề ra quy trình lên lớp của tiết dạy văn miêu tả.
- Phơng pháp dạy học Tiếng Việt – Lê A , Lê Phơng Nga , Nguyễn Trí – NXB Giáo dục – Hà Nội 1997
Cuốn sách này nhằm phục vụ cho việc đào tạo giáo viên tiểu học nên cấu trúc chơng trình không có sự xê dịch thay đổi bao nhiêu Mặt khác về phần phơng pháp dạy học Tập làm văn cũng do một tác giả là Nguyễn Trí biên soạn nên nội dung không có gì thay đổi Bài viết có cấu tạo gần với việc hớng dẫn giáo án lên lớp qua các tiết dạy hơn là việc đề ra những ph-
ơng pháp chung mang tính khái quát
- Phơng pháp dạy học Tiếng Việt - Lê A, Thành Thị Yên Mỹ, Lê Phơng Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến – NXB Giáo dục – Hà Nội 1997
Cũng giống nh hai cuốn sách trên nhằm phục vụ cho sinh viên Tiểu học ở phần phơng pháp dạy học tập làm văn các tác giả không phân loại riêng cho từng thể loại văn mà gộp lại chung gọi là Tập làm văn lớp 4 và lớp 5 Do vậy phơng pháp dạy học văn miêu tả không đợc bàn kĩ mà chỉ nêu phơng pháp dạy tiết tìm ý, tiết làm dàn bài, tiết làm bài miệng, tiết làm bài viết, tiết trả bài
- Văn miêu tả và kể chuyện – Vũ Tú Nam, Phạm Hổ , Bùi Hiển – NXB Giáo dục - Hà Nội 1991
Cuốn sách này không phải là công trình nghiên cứu về phơng pháp dạy học Tập làm văn mà thiên về giới thiệu cái hay, cái đẹp của văn miêu tả và bàn về mẹo viết văn miêu tả và văn kể chuyện của một số nhà văn nổi tiếng Cuốn sách giành phần lớn cho việc trích dẫn những đoạn văn miêu tả
và văn kể chuyện điển hình của một số nhà văn
- Văn miêu tả trong nhà trờng phổ thông - Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu – NXB Giáo dục – Hà Nội 2002
Sách gồm ba chơng và một phần phụ lục:
Trang 6Chơng I: Phân tích chỉ ra những đặc điểm và yêu cầu của văn miêu tả
Qua đó sẽ giúp mọi ngời thấy rõ hơn vẻ đẹp của văn miêu tả
Chơng II: Giới thiệu một số ý kiến và một số trang văn miêu tả của các
nhà văn, chủ yếu là các nhà văn viết cho thiếu nhi, có nhiều tác phẩm đa vào nhà trờng
Chơng III: Tập trung giới thiệu văn miêu tả trong nhà trờng phổ thông
theo yêu cầu của chơng trình và SGK mới Từ đó chỉ ra phơng hớng để học
và làm tốt văn miêu tả Cũng ở chơng này, tác giả còn giới thiệu hệ thống
95 bài tập và 20 đề văn miêu tả với yêu cầu kết hợp với các phơng thức biểu đạt khác
Phần phụ lục: Tập hợp 54 đoạn văn, bài văn miêu tả đợc chuyển từ các
sách trong khoảng hơn nửa thế kỉ qua, sau đó bình giảng một số đoạn văn miêu tả của các nhà văn
Đây là cuốn sách giới thiệu về văn miêu tả tơng đối toàn diện và đầy đủ, song nó cha phải là cuốn sách về phơng pháp dạy học văn miêu tả, đặc biệt
là dạy học văn miêu tả cho đối tợng là học sinh tiểu học
Nh vậy việc nghiên cứu ứng dụng lý thuyết văn miêu tả vào hệ thống kĩ năng làm văn trong dạy học văn miêu tả ở trờng tiểu học còn ít ngời đề cập hoặc nghiên cứu cha sâu Do đó đề tài “Phơng pháp dạy học văn miêu tả lớp 4, 5 “ là một đề tài mới mẻ và cần thiết
Với công trình nhỏ bé này, chúng tôi muốn đóng góp một phần công sức của mình vào việc giúp cho học sinh viết đợc nhiều bài văn hay với lời
lẽ trong sáng, giàu cảm xúc, nội dung súc tích, bố cục chặt chẽ, kết cấu rõ ràng hơn
3 Mục đích nghiên cứu
- Giúp giáo viên tiểu học nắm vững lý thuyết văn miêu tả, đặc biệt là các đặc điểm và các yêu cầu về quan sát, tởng tợng và liên tởng, tình cảm
Trang 7và cảm xúc, sử dụng ngôn từ trong văn miêu tả để ứng dụng linh hoạt vào dạy học văn miêu tả ở tiểu học.
- Rèn luyện, bồi dỡng và nâng cao các kĩ năng và năng lực cần có của học sinh để có thể làm một bài văn miêu tả hay, có cảm xúc
- Góp phần bổ sung về mặt lý thuyết đối với phơng pháp dạy học Tập làm văn ở tiểu học
4 Khách thể và đối tợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Văn miêu tả trong nhà trờng tiểu học
- Đối tợng nghiên cứu: Vai trò, đặc điểm, yêu cầu của quan sát, liên ởng và tởng tợng, tình cảm và cảm xúc, ngôn từ trong văn miêu tả và quá trình dạy học văn miêu tả ở trờng tiểu học
t-5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
- Đề xuất hệ thống phơng pháp dạy văn miêu tả và cấu tạo bài văn miêu tả ở tiểu học
- Thực nghiệm s phạm
6 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học Tập làm văn ở lớp 4, lớp 5 nếu giáo viên nắm vững lý thuyết văn miêu tả - đặc biệt là vai trò, yêu cầu, đặc điểm của quan sát, liên tởng và tởng tợng, tình cảm và cảm xúc, ngôn từ trong văn miêu tả
và ứng dụng linh hoạt vào dạy học tập làm văn, kết hợp với tổ chức hớng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng đó trong tạo lập bài văn sẽ nâng cao chất lợng dạy học
Trang 88 Ph¹m vi nghiªn cøu
Ch¬ng tr×nh TËp lµm v¨n miªu t¶ líp 4, líp 5
NéI DUNG
Ch¬ng 1
Trang 9cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.Kháí niệm văn miêu tả
Miêu tả là lấy “nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tớng của sự vật ra” (Đào Duy Anh) Văn miêu tả không đa ra những lời nhận xét chung, đánh giá trừu tợng mà vẽ ra các sự vật, hiện tợng con ngời bằng ngôn ngữ một cách cụ thể, sinh động Nó là kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc qua khả năng quan sát nhạy bén, óc tởng tợng phong phú và tâm hồn nhạy cảm
Thông qua văn miêu tả bằng ngôn ngữ thì ngời ta có thể hình dung ra quá trình vận động, tởng tợng ra những thứ vô hình nh âm thanh, tiếng
động, hơng vị, , và những t… tởng, tình cảm của con ngời
1.1.2.Đặc điểm của văn miêu tả
1.1.2.1.Văn miêu tả là thể văn sáng tác
Văn miêu tả không phải là sự sao chép, chụp lại những sự vật, sự việc, con ngời một cách máy móc mà là kết quả của sự nhận xét, tởng t-ợng, đánh giá hết sức phong phú
Đó là sự miêu tả thể hiện đợc cái mới mẻ, riêng biệt của ngời viết Nếu nh miêu tả một em bé, một con mèo, hay một cái cặp mà ai cũng…tả nh nhau thì không ai thích đọc cả Khi ta bắt gặp một đoạn văn miêu tả ta đọc cảm thấy rất hay và khâm phục ngời viết Nhng lần sau ta lại bắt gặp cũng đoạn văn miêu tả đó thì ta sẽ thấy không hay nữa Cũng
nh khi ta nhớ lại những cách miêu tả về nắng ma: nắng to, nắng già, nắng non thật là hay nh… ng ta chỉ dừng lại ở cách nhìn đó thì ngời đọc
sẽ thấy bình thờng, chẳng có gì mới mẻ và hấp dẫn Vich-to Huy-go nhìn một bầu trời đầy sao thấy nh một cánh đồng lúa chín Mai-a-cốp-
Trang 10xki thì lại thấy ngôi sao nh giọt nớc mắt của ngời da đen đang khóc Lênin khi biết Lênin vừa qua đời Còn I.Ga-ga-rin thì lại thấy những vì sao nh những hạt giống mới mà loài ngời gieo vào vũ trụ Cả 3 hình…
ảnh về những vì sao đều rất khác nhau nhng đều đúng, đều hay và là cái mới của mỗi tác giả nên tạo ra cái riêng Nếu chỉ là sự sao chép chụp lại
mà không có cái mới, cái riêng thì không có văn học Phải có cái mới, cái riêng bắt đầu từ những quan sát, miêu tả sau đó mới tiến đến cái mới, cái riêng trong tình cảm, trong t tởng
1.1.2.2 Tính chân thật trong văn miêu tả
Văn miêu tả không hạn chế sự tởng tợng, không ngăn cản cái mới mẻ của ngời viết Nhng nh vậy không có nghĩa văn miêu tả cho phép ngời viết bịa một cách tuỳ tiện, muốn nói sao thì nói, viết sao thì viết
Khi miêu tả cái mới, cái riêng phải gắn chặt với cái chân thật Thấy
đúng nh thế nào thì tả nh vậy Không thể thấy con mèo rất nhỏ mà lại tả
to nh cái phích đợc Nhà thơ Xuân Diệu đã nói cái giả và cái thật nh sau:
Giả và thật nó cũng giống nh
vào đấy Nhng bấm một cái thì bóng điện này sáng còn bóng điện kia tối vì một bên có điện (thật) còn một bên thì không (giả) ” Còn Phạm
Hổ lại thấy có hiện tợng đặc biệt khi ông đọc những tác phẩm văn, thơ của những tác giả nổi tiếng: “Khi ng ời ta chân thật thì dù cái điều ngời
ta viết ra là vô lý, ngời đọc vẫn chấp nhận và vẫn thấy hay Có gì vô lý hơn khi cha ông mình trong lòng, trong tâm hồn cảm thấy điều ấy thật thì khi nói ra là đợc ngời nghe tiếp nhận một cách thích thú ” Nhờ sự
quan sát tinh tế của ngời viết mà giúp ngời đọc hiểu biết rộng hơn, sâu hơn và tinh tế hơn những cái đợc tả rất thật, khi đọc nó sẽ gợi lên cho ngời đọc rất nhiều điều Theo “Nghệ thuật làm văn của Vũ Ký”, Hoàng
Đạo đã có bài “Tả hai mẹ con hơu sao” nh sau:
Trang 11“Một đám mây vàng hiện ra ở Phơng Đông, nằm ngang chân trời
Lá cây nặng trĩu sơng đêm nghiêng mình và bỏ những giọt nớc trong vắt lốp bốp xuống nội cỏ Tiếng hai con chim thủ thỉ và thù thì nghe đã gần nhau lắm Trời đã rạng Đông.
Dới gốc cây trám nắng, trong bụi rậm con hơu nhỏ và gầy chập chững trên bốn chân còn run run và yếu ớt quá Một con chim chích choè ý chừng vừa mới ngủ dậy ở trên cành cao bay là là xuống đậu gần hai mẹ con hơu, vểnh đuôi lên mấy cái nhìn tả, nhìn hữu để làm duyên rồi nói:
- Mẹ tròn con vuông chứ ? Chích ! Chích ! Trông nó hay đấy nhỉ ! Nhng nó to lớn làm sao ! Và lông nó thô quá, ít ỏi quá ! Hôm nọ, chị tôi cũng vừa ở cữ một lứa, những năm đứa trẻ nhỏ xíu trông xinh lắm ! Chích ! Chích !
Hơu mẹ lơ đãng trả lời cô chích choè lắm điều:
- Chị nói gì kia ạ ! Xin lỗi chị, tôi không nghe chị nói gì cả!
Chích choè giơng mắt nhìn Hơu, vểnh đuôi lên rồi vỗ cánh bay đi
H-ơu mẹ không để ý đến điệu bộ tức giận của chích choè cứ rúc đầu vào con mà hun hít âu yếm Hơu con ngơ ngác nhìn xung quanh những hình
ảnh mới lạ, bên ngoài hỗn độn in vào trong trí khôn còn non nớt ánh nắng lọt qua lá cây, dịu dàng soi sáng một vùng rừng thẳm Những cây
cổ thụ dớn cao lên không, dới chân cây lá khô xào xạc trong gió nhẹ Mấy cây lau chốc chốc lại khẽ chạm đầu vào nhau nh thầm thì nói chuyện riêng Dới nội cỏ ớt sơng có muôn vàn tiếng động rất khẽ của côn trùng.ở trên bụi tre một con sáo sậu cãi chí cha chí chát Còn mấy con chim ri, chim sâu đậu chỗ này bay chỗ kia không lúc nào yên Xa xa
nh cầm nhịp, vọng đa lại tiếng chua ngoa của con chim thân yêu của những nơi nớc độc: Bắt cô trói cột ! Bắt cô trói cột ! ” ”
Trang 12Mọi vật trong rừng đều rung động theo một điệu sống mạnh mẽ, những con hơu sao mới ra đời cha cảm thông đợc với khúc nhạc hoà hợp, nhịp nhàng ấy, nó chỉ biết nó khoan khoái trong ngời, con hơu mẹ
đứng yên một chỗ cho con bú, thỉnh thoảng nó mới cúi xuống liếm lông con và nói sẽ sẽ:
- Bú đi con ! Bú đi Búp Bú đi, Búp yêu dấu của mẹ ”
Đọc xong bài văn trên ta thấy những quan sát để miêu tả vẻ bên ngoài của các sự vật đều hoà quyện với lòng yêu thiên nhiên nhờ đó mà tạo đợc cái bên trong, cái hồn của các sự vật Tác giả tả hai mẹ con Hơu sao nhng khi đọc lên ta lại nghĩ tới những con ngời ở đây tác giả đã có
sự sáng tạo, với cách nhìn hóm hỉnh, với những quan sát tinh tế, tỉ mỉ tác giả đã miêu tả thật sinh động và thật hấp dẫn
1.1.2.3 Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình
Đây là một đặc điểm nổi bật của văn miêu tả Theo Gorki “ Dùng từ
để “tô điểm” cho ngời và vật là một việc Tả học một cách sinh động, cụ thể đến nỗi ngời ta nh muốn sờ mó các nhân vật trong “Chiến tranh và hoà bình” của Lep.Tônxtôi đó là một việc khác” Nét sinh động và tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống, gây ấn tợng nhng khi tớc bỏ chúng đi bài văn sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị Đọc lại bài văn “tởng nh bắt gặp nụ cời nhợt nhạt của một ngời không còn sinh khí”
Trong miêu tả ngời ta thờng hay so sánh So sánh thì vô cùng Có khi ngời ta so sánh ngời với ngời: ”Cô giáo có dáng ng ời mềm mại, thanh thoát nh một diễn viên múa ” hay “Bạn ấy hát chẳng khác nào một ca sĩ chuyên nghiệp” hoặc ng… ời ta có thể so sánh ngời với vật: ”Trông anh
ta nh một con gấu, dáng vẻ ngơ ngác nh một con nai”…
Có trờng hợp ngời viết lấy nhỏ để so sánh với to hoặc ngợc lại hay so sánh tơng đồng: ”Sông rộng lắm, lồng lộng mênh mông nh vầng trán
Trang 13mẹ ; Dòng sông mềm mại uốn l” “ ợn nh dải lụa vắt qua cánh đồng ;”
Sóng vỗ mạn thuyền rì rầm nh
đI ; Bến cảng dang rộng cánh tay chào đón thuyền nh” “ vòng tay ân tình của những ngời mẹ ôm ấp những đứa con thân yêu”…
Trong miêu tả ngời ta thờng hay nhân hoá Điều đó ai cũng biết
Nh-ng chỉ cần chú ý là Nh-ngời ta có thể nhân hoá theo nhiều cách Nhân hoá
để tả bên ngoài, có khi nhân hoá để tả tâm trạng Ví dụ: “Giản dị nhất là cây na với chiếc áo xanh bàng bạc Hoa na trắng xanh khéo léo núp sau
đám lá nh e thẹn nh ngợng ngùng, khi ngời ta ngửi thấy hơng thơm ngọt ngào của mình ; Chị gió đánh nhịp cho cây hát rì rào, vào bản nhạc” “
đầu tiên của một ngày mới ; Dòng sông chảy lặng lờ nh” “ một con đò nhớ về năm xa ; Hay chiếc lá úa dính đầy bụi, thân lá nh” “ đang thoi thóp, gân lá nổi cao nh lu luyến khung trời mà ngày nào lá cũng reo vui với chim chóc”….
Có khi vừa so sánh vừa nhân hoá: “Nh để khoe hết vẻ đẹp của mình những bông hoa từ từ hé nở để lộ nhụy hoa vàng toả hơng thơm ngát khiến ong bớm về đây tụ hội…” …
Có thể nói miêu tả giỏi là khi đọc những gì chúng ta viết, ngời đọc
nh thấy cái đó hiện ra trớc mắt mình: một con ngời, một con vật, một dòng sông Ng… ời đọc còn có thể nghe thấy đợc cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nớc chảy Thậm chí còn ngửi thấy đợc mùi mồ hôi, mùi sữa, mùi hơng hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc Nh… ng đó mới chỉ là sự miêu tả bên ngoài Còn có sự miêu tả bên trong nữa, nghĩa là miêu tả về tâm trạng vui, buồn, yêu, ghét của con ngời, con vật và cỏ cây
Do đó, khi viết một bài văn miêu tả, ngời viết phải huy động, chọn lọc kiến thức về ngôn ngữ của mình để “tô điểm” cho ngời và sự vật làm
Trang 14cho chúng hiện lên qua từng trang miêu tả sống động nh trong đời sống thực.
1.1.2.4 Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mỹ và chứa đựng tình cảm của ngời viết
Bất kỳ một sự vật hiện tợng nào trong thực tế khách quan cũng có thể trở thành đối tợng của văn miêu tả Nhng không phải bất kỳ một hiện t-ợng miêu tả nào cũng trở thành văn miêu tả Văn miêu tả phải là loại văn giàu những cảm xúc, những rung động, những nhận xét tinh tế, dồi dào sáng tạo nhằm mục đích thông báo thẩm mỹ Ngời đọc qua văn bản miêu tả nhận thức thực tế khách quan không phải bằng con đờng lý trí
mà chủ yếu bằng những cảm xúc, những rung động mạnh mẽ của tâm hồn
Trong đời sống chúng ta gặp nhiều sự vật, sự việc, con ngời khác…nhau đều có thể trở thành của đối tợng của việc miêu tả Chính vì sự khác nhau đó ngời ta chia văn miêu tả thành: tả đồ vật, tả cây cối, tả cảnh, tả ngời, tả cảnh sinh hoạt Mỗi loại khi miêu tả đều có đối tợng là những vật gần gũi, thân thiết với đời sống con ngời Trong “Tiếng m… a” Nguyễn Thị Nh Trang có đoạn ’’Ma mùa xuân” tả về ma mùa xuân: “M -
a mùa xuân xôn xao phơi phới Những hạt ma bé nhỏ mềm mại, rơi mà
nh nhảy nhót Hạt nọ tiếp hạt kia đan xuống lá cây ổi cong mọc lả xuống mặt ao Mùa đông xám xịt và khô héo đã qua Mặt đất đã kiệt sức bỗng thức dậy, âu yếm đón lấy những giọt ma ấm áp trong ngày Đất trời lại dịu mềm, lại cần mẫn tiếp nhựa cho cây Ma mùa xuân đã đem lại cho chúng cái sức sống ứ đầy, tràn lên các nhánh lá, mầm non Và cây trả nghĩa cho ma bằng cả mùi hoa thơm, trái ngọt ” Còn Vic-to Huy-gô có đối tợng là những cây cỏ, hoa lá, chim muông sau trận ma rào: “… Không gì đẹp bằng cây lá vừa tắm xong đang đ ợc mặt trời lau ráo, lúc ấy trông nó vừa tơi mát, vừa ấm áp Khóm cây, luống cành…
Trang 15trong đổi hơng thơm và tia sáng Trong tán lá mấy cây sung, chích choè huyên náo, chim sẻ tung hoành, gõ kiến leo dịch thân cây giẻ, bửa mỏ lách cách trên vỏ Hoa cẩm chớng có mùi thơm nồng nồng ánh sáng mạ vàng những đoá hoa kim hơng làm cho nó sáng rực nh những ngọn
đèn Quanh các luống hoa kim hơng vô số bớm chập chờn nh những tia sáng lập loè của các đoá đèn hoa ấy…” (Trích - Những ngời khốn khổ -
Vich-to Huy-gô)
1.1.2.5 Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh
Ngôn ngữ trong văn miêu tả là sự phong phú, đa dạng của các tính từ
Có thể thấy đủ loại tính từ: màu sắc, tính chất, đánh giá đan xen nhau…tạo thành những chùm sáng ngôn ngữ lung linh“ ” trong văn miêu tả Ngôn ngữ miêu tả là giai điệu chủ đạo trong văn bản miêu tả Và ngời viết còn đan xen giai điệu phụ trợ nh: tờng thuật , kể chuyện làm cho…việc trình bày nội dung sinh động hơn giúp ngời đọc hứng thú trong việc tiếp nhận văn bản ở bài “Sầu riêng” (Tiếng Việt 4, tập 2) tác giả Mai Văn Tạo đã sử dụng ngôn ngữ khá đặc sắc:
“Sầu riêng là loại trái quý, trái hiếm của Miền Nam Hơng vị nó hết
sức đặc biệt, mùi thơm đậm bay rất xa, lâu tan trong không khí Còn hàng chục mét mới tới nơi để sầu riêng, hơng đã ngào ngạt xông vào cánh mũi Sầu riêng thơm mùi thơm của mít chín quyện với hơng bởi, béo cái béo của trứng gà, ngọt cái vị của mật ong già hạn Hơng vị quyến rũ kỳ lạ.
Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm Gió đa hơng thơm ngát nh hơng cau, hơng bởi toả khắp khu vờn Hoa đậu từng chùm màu tím ngát Cánh hoa nh vảy cá hao hao cánh sen con, lác đác vài nhụy li ti giữa những cánh hoa Mỗi cuống hoa ra một trái Nhìn trái sầu riêng lủng
Trang 16lẳng dới cành trông giống nh những tổ kiến Mùa trái rộ vào tháng t, tháng năm ta.
Đứng ngắm sầu riêng tôi cứ nghĩ mãi về cái giống cây kỳ lạ này Thân nó khẳng khiu cao vút, cành ngang thẳng duột, thiếu cái dáng cong, dáng nghiêng, chiều quằn, chiều lợn, hơng toả ngạt ngào, vị ngọt
đến đam mê ”
Ngôn ngữ miêu tả ở bài này đợc tác giả sử dụng ở nhiều mức độ khác nhau và nhiều hình thức khác nhau Để chỉ mức độ cao của phẩm chất, tác giả dùng nhiều hình thức diễn đạt: hết sức đặc biệt, bay rất xa, thơm ngát, thơm đậm, cao vút, thẳng duột, hơng đã ngào ngạt Để so sánh,…tác giả dùng nhiều từ khác nhau: thơm ngát nh hơng cau, cánh hoa… hao hao giống cánh sen, nhìn trái sầu riêng trông giống những tổ kiến,…lá nhỏ xanh vàng t…ởng nh là héo, thơm mùi thơm của mít, béo cái béo của trứng gà, ngọt cái vị của mật ong già
Chúng tôi đã điều tra 40 giáo viên đang trực tiếp dạy học khối lớp 4 và
5 ở trờng Tiểu học Hà Huy Tập 2 và trờng Tiểu học Lê Lợi thông qua 40 phiếu trắc nghiệm (xem phụ lục) Kết quả điều tra đợc đánh giá theo điểm
số từ 1 đến 5, nghĩa là thang điểm tối đa là 5 điểm Nếu trả lời đúng 5 câu -
5 điểm, 4 câu - 4 điểm, 3 câu - 3 điểm, 2 câu , 0 điểm không có câu nào trả lời đúng
Từ kết quả, chúng tôi lập bảng phân phối theo chiều nh sau:
Trang 17Điểm Đi 1 2 3 4 5
Trong đó: Điểm Đi: Số điểm giáo viên đạt đợc.
Tần số Ti: Tần số xuất hiện điểm Đi
Qua bảng trên ta thấy số giáo viên đạt điểm tối đa: không có
Trong lúc đó tần số xuất hiện điểm thấp nhiều
Từ đó tính tỷ số giáo viên đạt điểm tơng đối từ 0 đến 5 ra % theo công
Nh vậy, số giáo viên đạt điểm 3 là nhiều nhất chiếm 35%
Giáo viên đạt điểm 4 ít nhất, chiếm 20 % Hầu hết giáo viên chỉ đạt mức trung bình Điểm trung bình còn thấp: 2,75
Chứng tỏ giáo viên cha nắm vững lý thuyết văn miêu tả
Qua kết quả điều tra cũng nh dự giờ và tiếp xúc với giáo viên và học sinh, chúng tôi đa ra những nhận định sau:
Trang 18- Một số giáo viên cha nắm vững lý thuyết văn miêu tả nên trong quá trình dạy học Tập làm văn, giáo viên còn có nhiều thiếu sót.
- Một số giáo viên còn lúng túng trong việc hớng dẫn học sinh quan sát, tìm ý, chọn lọc từ ngữ, hình ảnh hay viết câu văn miêu tả dẫn đến là giáo viên rất ngại dạy học phân môn Tập làm văn này
- Một số giáo viên xem nhẹ tiết trả bài Xem tiết này chủ yếu là báo cáo kết quả (phát vở) cho học sinh, cha đi sâu vào việc chữa lỗi, phân tích lỗi hay tìm ra những u điểm của những bài viết tốt
- Một số giáo viên quan niệm rằng kết quả viết văn miêu tả của học sinh chủ yếu là do năng lực sở trờng vốn có của các em nên đã coi nhẹ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc hớng dẫn học sinh viết văn miêu tả
- Một số giáo viên không đợc đào tạo đúng chuyên ngành nên cũng gặp không ít khó khăn trong việc dạy học văn miêu tả (Giáo viên đào tạo Toán -
Lý, Hoá - Sinh )
1.2.2 Thực trạng bài viết của học sinh
Mặc dù học sinh đã đợc rèn luyện các kỹ năng: quan sát, tìm ý, viết
đoạn, tiết cuối cùng là viết một bài văn hoàn chỉnh và trả bài (ở mỗi thể loại văn miêu tả), thế nhng trong bài văn của học sinh thờng mắc một số sai lầm sau:
- Đa số bài viết còn mang tính liệt kê, lắp ghép các phần đã đợc học,
đ-ợc rèn luyện với nhau Học sinh không biết liên kết đoạn văn nên bố cục cha
rõ ràng, lời văn lủng củng, khô khan, thiếu ý, hay sắp xếp ý lộn xộn
- Bên cạnh việc hầu hết học sinh đều biết viết một bài văn có đầy đủ bố cục 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài thì học sinh còn mắc rất nhiều lỗi khác
Đó là các lỗi: Lỗi chính tả, lỗi dùng từ đặt câu, sắp xếp ý lộn xộn, lặp ý, thiếu
ý
- Vốn từ của các em còn nghèo và hiểu nghĩa từ một cách mơ hồ Các
em cha hiểu đợc đặc tính, bản chất, chức năng của từ cho nên sử dụng từ của
Trang 19các em còn hạn chế dẫn đến diễn đạt không trôi chảy, có khi sai nội dung Vốn hiểu biết thực tế của các em còn quá ít, nhất là học sinh thành phố.
- Bài làm thiếu tính chân thực và sinh động Các em cha biết kết hợp miêu tả, cảm xúc và sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong khi làm bài, nhiều
mở bài, kết bài cha tự nhiên
- Tập làm văn là môn học khó đối với học sinh tiểu học, bởi nó đòi hỏi sự tổng hợp kiến thức của nhiều môn học khác nhau và sử dụng nhiều loại kỹ năng Mặt khác đa số học sinh không yêu thích học môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Tập làm văn Phụ huynh học sinh thì coi trọng Toán, xem nhẹ Tiếng Việt
Qua một bài văn sau trong số rất nhiều bài khác của học sinh chúng ta
sẽ thấy rõ điều đó
Đề bài: Hãy tả lại một cây hoa mà em yêu thích.
Bài làm:
Nói về hoa thì rất nhiều Nhng em thích nhất vẫn là cây hoa hồng.
Cây hoa hồng gồm có bốn bộ phận Đó là bốn bộ phận chính Bốn bộ phận đó là: Rễ, thân, lá, hoa Rễ cây là rễ chùm Thân và lá có màu xanh Màu hồng đậm là hoa Mỗi ngày 20-11 em lại ra ngoài vờn ngắt từng bông hoa để tặng cô.
Vì vậy em rất yêu cây hoa hồng.
Trong thời gian gần 40 phút, học sinh làm một bài văn nh vậy là hơi ngắn Nhng vấn đề ngắn, dài không quan trọng, học sinh đã biết cách làm một bài văn đúng và hay cha Bài văn trên đây (nhất là phần thân bài) học sinh nghiêng về phần phân tích các bộ phận của cây hoa giống trong phân môn tự nhiên - xã hội Bài làm thiếu cảm xúc, hình ảnh cũng nh sử dụng các biện pháp tu từ Nếu có hình ảnh so sánh cũng thiếu chính xác Có em so sánh "cái búp của cây hoa hồng giống nh một chiếc đũa dài"; "khi lá rơi nh là tuyết rơi" Qua đó cho thấy học sinh nghèo vốn sống, vốn hiểu biết, ngôn từ kém
phong phú Học sinh không hứng thú với phân môn Tập làm văn Phải chăng
Trang 20học sinh không đợc quan sát trớc khi miêu tả, nếu đợc quan sát cũng không phát hiện đợc điểm nổi bật của đối tợng miêu tả.
Có một điều đáng mừng hay đáng lo, học sinh ít tham khảo bài văn mẫu Nh thế một mặt học sinh sẽ rèn luyện đợc tính độc lập, sáng tạo Mặt khác, nếu đọc văn mẫu các em sẽ có vốn từ, vốn hiểu biết nhất định ở đây giáo viên cần hớng dẫn học sinh dùng, tham khảo các bài văn mẫu nh thế nào
để nâng cao chất lợng bài làm cho học sinh
1.3 Khảo sát chơng trình sách giáo khoa về văn miêu tả
Phân môn Tập làm văn đóng vai trò quan trọng trong chơng trình Tiếng Việt ở tiểu học Đây là phân môn có tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp
và sáng tạo Nó là kết quả của nhiều phân môn Tiếng Việt hợp lại Do đó nó huy động kiến thức về nhiều mặt, sử dụng nhiều loại kỹ năng để hình thành một năng lực mới
So với chơng trình trớc đây, chơng trình Tập làm văn mới có sự mở rộng
đề tài sát với thực tế cuộc sống, chú trọng các kỹ năng giao tiếp (nghe - nói -
đọc - viết) để khi ra đời học sinh có khả năng thích ứng cao, năng động, linh hoạt trong các lĩnh vực khác nhau
Xét về Tập làm văn viết, học sinh đợc học các thể loại văn bản nghệ thuật và văn bản phi nghệ thuật Trong đó văn miêu tả chiếm vị trí lớn về thời lợng (Lớp 4: 30/62 tiết, lớp 5: 36/62 tiết) bao gồm các kiểu bài: tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật, tả cảnh, tả ngời
Văn miêu tả đợc các em làm quen ngay từ lớp đầu bậc tiểu học (lớp 2, lớp 3) nh: Tập quan sát để trả lời câu hỏi, các bài tả ngắn Văn miêu tả phù hợp với đặc điểm tâm lý tuổi thơ (a quan sát, thích nhận xét, sự nhận xét, thiên
về cảm tính ) góp phần phát triển nhân cách ở trẻ
Học văn miêu tả, học sinh có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa t duy và và tình cảm, ngôn ngữ và cách sống, con ngời với thiên nhiên, với xã hội để khêu gợi ra những tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thợng, đẹp đẽ Theo
Trang 21Kh.Xukhômlixki - nhà giáo dục Xô Viết đã từng cho rằng việc học sinh tiếp xúc với thiên nhiên, việc dạy các em miêu tả cảnh vật: nhìn, thấy, nghe thấy là con đờng hiệu quả nhất để giáo dục các em và phát triển ngôn ngữ ở trẻ.
Văn miêu tả chủ yếu đợc học ở lớp 4 và lớp 5 rèn luyện cho học sinh cả
4 kỹ năng: nói – viết – nghe - đọc Nội dung chơng trình văn miêu tả ở lớp
Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật
Luyện tập xây dựng đoạn văn
Kiểm tra viết
Trả bài
612111
4
211
101211311
* Miêu tả cây cối
Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối
Luyện tập miêu tả cây cối
Quan sát miêu tả các bộ phận của cây cối
Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối
Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả cây cối
Luỵên tập miêu tả cây cối
Kiểm tra viết
Trả bài
1111213111
1111213111
* Miêu tả con vật
Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật
Luyện tập quan sát con vật
811
811
Trang 22Luyện tập miêu tả các bộ phận của con vật
Luyện tập xây dựng đoạn văn
Kiểm tra viết
Trả bài
1311
1311
Cấu tạo của bài văn tả ngời
Luyện tập (quan sát và chọn lọc chi tiết)
Luyện tập tả ngoại hình
Luyện tập tả hoạt động
Kiểm tra viết
Trả bài
Luyện tập xây dựng đoạn văn
* Ôn tập về miêu tả (tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật,
tả cảnh, tả ngời)
15110228112211
4
10
1511022121122222
10Qua nội dung thống kê trên ta nhận thấy:
Chơng trình chú trọng luyện tập và thực hành nhằm rèn luyện các kỹ năng miêu tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật, tả cảnh, tả ngời
Điểm mới của chơng trình là các bài tập làm văn đều gắn với các chủ
điểm Do vậy quá trình thực hiện các kỹ năng trên là dịp để học sinh mở rộng vốn từ, nói lên tâm sự, tình cảm của mình, mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống Qua đó giúp học sinh phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại,
t duy hình tợng của trẻ cũng có dịp đợc rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp
so sánh, nhân hoá, nhờ quan sát huy động vốn sống, trí tởng tợng
Trang 23Ngoài ra học sinh còn có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con ngời và thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình Từ đó học sinh gắn bó với thiên nhiên, với con ngời và sự vật xung quanh, tâm hồn tình cảm thêm phong phú.
Chơng 2 Phơng pháp dạy học văn miêu tả lớp 4, 5
2.1 Phơng pháp dạy học văn miêu tả lớp 4, 5
2.1.1 Phơng pháp hớng dẫn học sinh quan sát trong văn miêu tả
2.1.1.1 Kỹ năng quan sát
Trang 24Quan sát là sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật Khi quan sát
ng-ời ta sử dụng các giác quan nh: mũi, tai, mắt, lỡi để ngửi, nghe, nhìn, nếm nhằm nhận biết sự vật về hình dáng, màu sắc, âm thanh, mùi vị
Khác với sự quan sát trong tiết tự nhiên - xã hội, vật lý, hoá học quan sát để làm bài văn miêu tả nhằm nhận ra những nét độc đáo đặc biệt của đối t-ợng
Sự quan sát để miêu tả trong Tập làm văn còn luôn luôn gắn bó với cảm xúc, với kỷ niệm, với cuộc sống cá nhân của ngời quan sát Do đó việc quan sát để miêu tả gắn chặt với các hoạt động liên tởng, so sánh, tởng tợng, hồi t-ởng của từng cá nhân
Sự quan sát để miêu tả gắn với việc tìm từ ngữ để diễn tả đúng và sinh
động điều đã quan sát đợc
2.1.1.2 Phơng pháp hớng dẫn học sinh quan sát
Trong tiết quan sát và tìm ý chúng ta cần tiến hành các công việc sau:
2.1.1.2.1 Hớng dẫn học sinh lựa chọn trình tự quan sát
Nên để cho học sinh tự tìm cho mình một trình tự quan sát thích hợp Trờng hợp các em gặp khó khăn, giáo viên có thể hớng dẫn các em quan sát theo trình tự mà giáo viên đã chuẩn bị hoặc gợi ý để học sinh lựa chọn
+ Trình tự không gian:
Từ quan sát toàn bộ đến quan sát từng bộ phận hoặc ngợc lại, từ trái sang phải, từ xa đến gần, từ trên xuống dới, từ trớc ra sau, từ ngoài vào trong hoặc ngợc lại
Tuy nhiên tuỳ vào từng đối tợng miêu tả mà chúng ta chọn những vị trí thích hợp để quan sát, không nhất thiết khi nào cũng phải chọn tất cả các vị trí miêu tả đồ vật theo trình tự không gian
Ví dụ: Quan sát đồ vật (Tuần 15 - TV4, T1)
Yêu cầu: Quan sát một đồ chơi em thích và ghi lại những điều quan sát đợc
Quan sát theo trình tự Quan sát bằng nhiều Quan sát đặc điểm
Trang 25giác quan riêng
Dùng tai để nghe đồ vật
đợc sử dụng có phát ra tiếng động ấy
Đặc điểm riêng của đồ vật
Phân biệt nó với những
đồ vật khác, nhất là những đồ vật cùng loại
+ Trình tự thời gian:
Quan sát theo diễn biến của thời gian từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc, từ mùa này sang mùa khác, từ tháng này sang tháng khác , từ ngày này sang ngày khác
Miêu tả cây cối, tả cảnh thờng theo trình tự thời gian vì bất kỳ cây nào cũng có sự sống của nó, nghĩa là quá trình phát sinh, phát triển, rồi lụi tàn và chết Cây phát triển theo thời kỳ và biến đổi theo mùa, theo ma nắng, ngày, giờ
Ví dụ: Luyện tập quan sát cây cối (Tuần 22 - TV4, T2)
Bài tập 1: Dựa vào các bài văn tả cây cối: Sầu riêng, bãi ngô, cây gạo,
hãy cho biết tác giả mỗi bài văn quan sát cây cối theo trình tự nào?
+ Trình tự quan sát:
1 Tả bao quát và nói lên nét
đặc sắc của cây sầu riêng
Cây ngô từ nhỏ tới lúc trởng thành
Cây gạo vào mùa hoa
2 Hoa và trái sầu riêng Cây ngô và bắp non Cây gạo lúc hết mùa hoa
3 Thân, cành, lá sầu riêng Cây ngô vào lúc thu hoạch Cây gạo lúc quả đã già
+ Trình tự tâm lý:
Trang 26Thấy nét đẹp gì nổi bật thu hút bản thân, gây cảm xúc mạnh cho bản thân (hứng thú, khó chịu hay yêu ghét) thì quan sát trớc, các bộ phận khác quan sát sau
Ví dụ: ấn tợng về màu đỏ cháy rực của hoa phợng, mùi thơm của hoa
chămpa, những giọt sơng mai long lanh trên cành cây, chiếc lá hay một đôi mắt, một ánh nhìn dịu hiền của một ai đó
Dù quan sát theo trình tự nào thì cũng cần biết dừng lại ở bộ phận chủ yếu, trọng tâm để quan sát kỹ lỡng hơn
2.1.1.2.2 Hớng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát
Đây là thao tác quan trọng nhất, có tính chất quyết định về nhiều mặt.Quan sát bằng nhiều giác quan:
Mắt thấy
(Thị giác) Tai nghe
(Thính giác) Mũi ngửi
(Khứu giác) Miệng nếm
(Vị giác) Tay cầm
(Xúc giác)Hình dáng:
Nhịp điệu:
chầm chậm
Mùi: thơm, ngào ngạt, phng phức, ngầy ngậy
Vị: ngọt, bùi, chua, cay,
đắng
Cảm giác: mềm mại, nặng, nhẹ tênh, thô ráp
Thông qua các giác quan sẽ giúp học sinh:
+ Thu nhận các điểm đặc sắc hay độc đáo ở cảnh, đồ vật, ngời định tả
do từng giác quan mang lại
+ Thu nhận các cảm xúc, các liên tởng, hồi tởng so sánh do các đặc
điểm trên của cảnh, vật, ngời gợi ra cho bản thân ngời quan sát
+ Tìm tòi các từ ngữ thích hợp để diễn đạt các điều thu nhận trên
Ví dụ: Quan sát trái sầu riêng, tác giả đã tả:
Trang 27"Trái sầu riêng thơm mùi thơm của mít chín, quyện với hơng bởi, vị ngọt của nó béo ngậy của trứng gà, ngọt cái vị ngọt của mật ong già hạn, trái cây lủng lẳng dới cành trông giống những tổ kiến"
Tác giả đã tả hoa "Hoa sầu riêng có hơng thơm ngát nh hơng cau, hơng
bởi Cánh hoa nhỏ nh vây cá, hao hao giống cánh sen con".
Rõ ràng qua cách quan sát, ta nhận thấy tác giả đã nắm đợc cái "thần" của cây, nét riêng và độc đáo ở trái sầu riêng và hoa sầu riêng qua thị giác, khứu giác, vị giác Cách dùng từ rất ấn tợng và sử dụng biện pháp so sánh "trái sầu riêng" với "tổ kiến", "cánh hoa" với "vẩy cá, cánh sen con"
Cũng tuỳ vào đối tợng miêu tả mà chúng ta sử dụng các giác quan nào
có liên quan đến việc quan sát Cần tập trung vào giác quan nào có tầm quan trọng đối với đồ vật đợc quan sát
- Khi học sinh thực hành quan sát, giáo viên cần đa ra câu hỏi gợi ý Từ
đó hớng dẫn các em cách ghi chép các nhận xét do quan sát mang lại
+ Đối với học sinh còn nhiều bỡ ngỡ trong công việc, giáo viên cần có
sự hớng dẫn tỉ mỉ, cụ thể
Tách riêng một số giác quan quan trọng, cần thiết cho việc quan sát
đối tợng mà đề bài yêu cầu
Hớng dẫn các em vận dụng các giác quan qua các yêu cầu sau:
- Em hãy dùng mắt để quan sát cây bàng trớc sân
- Em có nhận xét gì khi có làn gió thổi qua lá bàng? (Tiếng rì rào và những chiếc lá vàng từ từ rụng xuống )
- Em hãy thoa lên thân bàng, lá cây bàng, em có cảm giác gì?
Đồng thời gợi ý những từ ngữ cần dùng để ghi chép các nhận xét
Tiến lên ở mức độ cao hơn: vừa gợi ý quan sát nhận xét trực tiếp cảnh, vật, ngời vừa gợi ý các em so sánh, liên tởng trong lúc quan sát.…
Ví dụ: Nhìn cây bàng, em có liên tởng điều gì không? (nh cái ô lớn che
nắng cho chúng em, giải trí mỗi lúc ra chơi)
Trang 28Đối với những học sinh đã biết cách vận dụng giác quan để quan sát, giáo viên cần hớng dẫn học sinh đi vào trọng tâm của cảnh, vật, ngời nhằm rèn luyện sự tinh tế, độc đáo trong quan sát.
2.1.1.2.3 Tổ chức tiết dạy quan sát
- Hớng dẫn học sinh quan sát trực tiếp cảnh, vật, ngời qua nhiều cách thức và biện pháp:
+ Tổ chức tiết học ngay tại địa điểm có cảnh, vật, ngời cần quan sát (tả cây phi lao, cảnh vờn hoa, tả con vật ở vờn bách thú ) để học sinh trực tiếp quan sát
+ Tổ chức cho học sinh trực tiếp quan sát đồ vật, cảnh vật ngay tại lớp thông qua vật thật, tranh ảnh Ví dụ: quan sát chiếc cặp, cái bàn, cái bút, tranh
ảnh, con mèo, con chó, cây trong sân trờng
+ Hớng dẫn học sinh quan sát trực tiếp đối tợng miêu tả trớc khi lên lớp
Đến lớp các em chỉ nhớ lại (hồi tởng) các nhận xét thu nhận đợc rồi ghi chép lại
ở cách quan sát nào, giáo viên và học sinh cũng phải triệt để khai thác mọi khía cạnh của đối tợng miêu tả theo trình tự hợp lý bằng nhiều giác quan
- Học sinh tự làm việc, tự quan sát, tự ghi chép là chính:
+ Dành nhiều thời gian cho hoạt động này
+ T thế quan sát của học sinh ở nhiều góc độ khác nhau
- Sự quan sát của học sinh đợc hứng dẫn bằng các gợi ý:
+ Khi hớng dẫn chung cả lớp, giáo viên nêu câu gợi ý có tính "gợi mở", chỉ dẫn, không yêu cầu học sinh trả lời miệng
+ Khi hớng dẫn cá nhân, giáo viên chỉ cần gợi ý với riêng em đó
Ví dụ: Hãy quan sát và ghi lại cảnh một cơn ma.
Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý:
- Khi cơn ma kéo đến:
+ Bầu trời nh thế nào?
Trang 29+ Âm thanh tiếng ma thế nào?
+ Quang cảnh xung quang nh thế nào?
- Khi cơn ma kết thúc, bầu trời và vạn vật thay đổi nh thế nào?
2.1.1.3 Lu ý
- Cách tốt nhất là tổ chức cho học sinh quan sát trực tiếp đối tợng miêu tả ngay tại nơi lớp học, tại nơi có đối tợng đó Tuy nhiên để làm đợc điều này, học sinh còn gặp nhiều khó khăn, bởi đối tợng miêu tả không dễ dàng có đợc
mà mang đến lớp Hiện nay để đa học sinh đi quan sát trực tiếp đối tợng miêu tả cũng không dễ dàng bởi thực tế điều này rất khó thực hiện Vì vậy, để dạy cho học sinh học văn miêu tả vừa đảm bảo lên lớp đúng thời gian, vừa đảm bảo yêu cầu học sinh đợc trực tiếp quan sát chúng ta nên làm nh sau:
Tuỳ theo từng kiểu bài, loại bài mà có sự sắp xếp dặn dò học sinh quan sát trớc Ví dụ: Học sinh quan sát miêu tả cái cặp, học sinh có thể quan sát miêu tả ngay tại lớp, quan sát chính cái cặp của em đó Nhng với bài "tả con
gà trống" , giáo viên hớng dẫn và dặn các em quan sát con gà trống ở nhà,
định hớng cho các em quan sát con gà trống mà em biết, em chọn để tả; dặn học sinh quan sát trực tiếp con vật, mang bút giấy ra vị trí thích hợp gần nơi có
gà trống để quan sát, quan sát đến đâu ghi chép tới đó vào giấy nháp Quan sát theo không gian: xa-gần, theo thời gian: sáng, tra, chiều , theo dõi, nhớ kỹ những hoạt động của nó
Ví dụ: Tả vờn rau cũng vậy Giáo viên dặn học sinh ra ngay vờn rau
mình định tả, vừa nhìn ngắm kỹ vừa ghi chép ý vào giấy nháp Sau đó đến lớp
ở giờ học quan sát tìm ý, giáo viên dùng tranh định hớng cho học sinh quan sát theo hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị theo một quy trình chung Học sinh hồi tởng lại và tự làm bài quan sát của mình theo cách miêu tả riêng của từng em Giáo viên chỉ bổ sung hoặc sữa chữa và động viên, khen ngợi Một điều chú ý
là giáo viên giao việc quan sát ở nhà cần rõ ràng, có kiểm tra, nhận xét chặt chẽ để đảm bảo tất cả học sinh đều thực hiện tốt
Trang 30- Quan sát có chọn lọc - đặc tả - làm nổi bật đặc trng (đặc điểm riêng) của đối tợng miêu tả.
Ví dụ:
Quan sát nhận biết màu hoa hồng: có em nhận thấy màu đỏ thắm, có
em nhận thấy màu đỏ tía hoặc màu đỏ rực…
Quan sát cảm nhận hơng hoa của hoa hồng: có em nghe nồng nàn, có
em nghe ngan ngát, có em lại nghe thoang thoảng…
Quan sát ánh trăng: Khi vui em thấy trăng cời, mời gọi nô đùa với em
Khi buồn em thấy trăng lặng lẽ, trầm t, muốn chia sẻ với em
Quan sát gió: Khi gió nhẹ, em có cảm giác gió vuốt ve, vỗ về mơn man
trên da thịt, có em thì có cảm giác gió thì thầm trò chuyện, gió hát ru cùng em…
Từ quan sát tởng tợng, em có cảm nhận riêng, mới mẻ về sự vật, về ngời cả những khía cạnh, những nét mà bằng mắt thờng không nhìn thấy đợc nh tình cảm, sở thích, lơng tâm , lẽ sống (… Ví dụ: Thích đợc vuốt ve, vỗ về, thích
nũng nịu, thích tắm nắng, thích ánh trăng, thích đùa với bé, hay giận dỗi Đó…
là những nét riêng của mỗi ngời, mỗi sự vật
- Quan sát đi liền với nhận xét:
Ví dụ:
Quan sát loài vật: Quan sát con mèo khi ngủ, khi sởi nắng, bắt chuột,
rình mồi, khi leo cây, để thấy những nét khác nhau từ ánh mắt, b… ớc đi, cách vẫy đuôi, tiếng kêu, của nó Cụ thể hơn nữa bình th… ờng con mèo kêu meo meo nhng khi đánh nhau, vồ chuột nó lại kêu ngao ngao, gừ gừ Mèo ngủ… …cũng có nhiều cách ngủ: Khi thì cắm đầu xuống giấu hai chân vào phía trớc, khi lại ngửa mặt vểnh râu lên Trời nóng, lạnh, khi ốm, khoẻ mèo có những…chỗ ngủ, cách ngủ khác nhau
Trang 31Quan sát con gà, con chó cũng vậy Con chó khi sợ cụp đuôi xuống, tiếng sủa cũng khác khi nó sủa doạ ngời Con ng… ời khi buồn khi vui, khi làm một việc thông thạo hay một việc cha thông thạo cũng khác nhau.
2.1.2 Phơng pháp hớng dẫn học sinh liên tởng, tởng tợng trong văn miêu tả
2.1.2.1 Vai trò của liên tởng, tởng tợng trong văn miêu tả
Tởng tợng cũng đợc coi là một quá trình nhận thức, bắt đầu và thực
hiện chủ yếu bằng hình ảnh So với t duy, tởng tợng không phản ảnh bản chất lô-gic của sự vật Tuy vậy, nó vẫn mang tính khát quát cao Tởng tợng liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính, nó sử dụng những biểu tợng của trí nhớ do quan sát cung cấp Biểu tợng do tởng tợng xây dựng nên là một hình ảnh đợc xây dựng từ biểu tợng của trí nhớ, nó là biểu tợng của biểu tợng
Các nhà tâm lí học đã chia tởng tợng ra làm các loại: Tởng tợng tích cực
và tởng tợng itêu cực Tởng tợng tích cực là loại tởng tợng kích thích tình yêu
cuộc sống, hớng tới tơng lai; còn tởng tợng tiêu cực là loại tởng tợng khiến
ng-ời ta nghĩ tới những thất vọng, bi quan, xa lánh với cuộc sống, Cũng có thể…phân loại tởng tợng theo một cách khác, gồm có: tởng tợng tái tạo và tởng t-
ợng sáng tạo Tởng tợng tái tạo là sự hình dung để nhớ lại các đối tợng, với
những đặc điểm của nó về hình dáng, màu sắc, âm thanh; còn tởng tợng sáng tạo là cách xây dựng nên một hình tợng hoàn toàn mới dựa trên cơ sở những biểu tợng đã có trong trí nhớ
Tởng tợng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển tài năng, tâm hồn, nhân cách của con ngời V.Lê-nin đã có lần cho rằng,
Nếu không có t
phẩm văn học, mà thậm chí còn không có cả các bài toán vi phân và tích phân nữa ”
Trang 32Tởng tợng đóng một vai trò rất tích cực trong cuộc sống, nó tạo nên những hình ảnh rực rỡ, phản ảnh những ớc mơ, lí tởng của con ngời, kích thích lòng ham muốn và tình yêu lao động.
Đối với văn miêu tả, tởng tợng cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Nhờ có tởng tợng mà tất cả những hình ảnh, màu sắc, âm thanh, đều có thể…
đợc tái hiện trớc mắt chúng ta trong điều kiện chúng không nhất thiết phải xuất hiện Chẳng hạn khi miêu tả một dòng sông, không nhất thiết dòng sông
ấy phải ở ngay trớc mắt ta Hơn thế nữa, tất cả những chi tiết đặc trng nhất của
sự vật, trong thực tế không phải lúc nào cũng đợc bộc lộ, và lại càng không phải bộc lộ một cách tập trung, nhng nhờ có tởng tợng mà sự vật mới đợc hiện
ra nguyên hình với tất cả những nét đặc trng nhất của nó Ví dụ: Con đờng từ nhà đến trờng không phải lúc nào cũng đẹp, tuy vậy, nhờ có tởng tợng, trong bài viết của em con đờng ấy có thể hiện lên với những nét tơi đẹp nhất của nó Cuối cùng, nhờ có tởng tợng mà con ngời có thể sáng tạo nên những hình ảnh lung linh, rực rỡ tuyệt vời, cha bao giờ có trong thực tế, để tợng trng cho khát vọng, cho tình yêu, cho giấc mơ hạnh phúc của nhân loại Đó là chính là…những nhân vật quen thuộc nh Thạch Sanh, cô Tấm, trong truyện cổ tích đ… -
ợc xây dựng nên nhờ có óc tởng tợng tuyệt vời của nhân dân lao động, hun
đúc trong đó biết bao phẩm chất cao quý của con ngời Việt Nam thời xa xa
Văn miêu tả nhằm dựng ngời, dựng cảnh, dựng không khí, giúp ngời
đọc hình dung ra sự vật, sự việc một cách sinh động, cụ thể Vì thế khi viết văn miêu tả ngời ta thờng dùng liên tởng, ví von, so sánh, Nhờ có liên tởng,
ví von, so sánh mà văn miêu tả khơi gợi đợc trí tởng tợng, kích thích đợc óc sáng tạo của ngời đọc Hầu nh giở bất kì một trang văn miêu tả nào, chúng ta cũng sẽ dẫn ra đợc những liên tởng, so sánh thú vị Đó là những so sánh, liên tởng vừa gần gũi vừa quen thuộc, lại vừa bất ngờ, mới lạ khiến ngời đọc không khỏi ngẫm nghĩ, ngỡ ngàng, thậm chí kinh ngạc
Trang 33Ví dụ: Bác Hồ ở chiến khu, đêm không ngủ đã nghe Tiếng suối trong“
nh tiếng hát xa ” và thấy Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa “ ”
Hay Ma Văn Kháng miêu tả anh chàng miền núi lực lỡng, đã viết: “A Cháng đẹp ngời thật Mời tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ nh lim, bắp tay,
bắp chân rắn chắc nh trắc gụ Vóc cao, vai rộng, ngời đứng thẳng nh cái cột
đá trời trồng…” (Tiếng Việt 5, Tập 1)
2.1.2.2 Phơng pháp hớng dẫn học sinh liên tởng, tởng tợng trong văn miêu tả
Muốn cho trí tởng tợng đợc bay bổng thì tâm hồn cần phóng khoáng, hồn nhiên và do đó khi miêu tả mới có thể thâu tóm đợc cái “thần” của đối t-ợng Vậy, rèn luyện năng lực tởng tợng là rèn luyện những gì và rèn luyện nh thế nào? Theo chúng tôi đó là rèn luyện phẩm chất tởng tợng và cách thức (hay kĩ năng) tởng tợng
2.1.2.2.1 Hớng dẫn học sinh rèn luyện phẩm chất tởng tợng
Phẩm chất tởng tợng đợc hiểu là những thuộc tính cần thiết giúp cho sự tởng tợng có đợc ý nghĩa mới mẻ và sâu sắc đối với cuộc sống
Dựa theo các nhân tố chi phối hoạt động tởng tợng, ta thấy có những phẩm chất sau đây cần đợc quan tâm trong văn miêu tả:
+ Phẩm chất thực tế: Là phẩm chất phản ánh mối quan hệ giữa tởng ợng của cá nhân với thực tế Ngời ta thờng ví trí tởng tợng nh cánh diều bay bổng, nhng dù có bay trên chín tầng cao, thì chiếc diều vẫn phải gắn chặt với mặt đất bằng một sợi dây Thiếu sợi dây cánh diều không thể bay cao và không thể tồn tại Mặt đất chính là cuộc sống hiện thực, là cội nguồn của trí t-ởng tợng Thực tiễn sinh động của cuộc sống sẽ chắp cánh cho trí tởng tợng và nuôi dỡng trí tởng tợng trong suốt hành trình sáng tạo
t-Tuy nhiên cần hiểu “cơ sở thực tế” một cách rộng rãi: các hình ảnh, chi tiết, trong thực tế có thể không còn nguyên hình của nó khi đi qua trí t… ởng t-ợng; ngời viết có quyền h cấu sáng tạo , trên cơ sở của những gì có thật.…
Trang 34Muốn rèn luyện phẩm chất thực tế trong tởng tợng, điều quan trọng là phải tập quan sát, phải đi nhiều, biết rộng, phải tìm hiểu thực tế một cách có ý thức, có thói quen, có phơng pháp tốt…
+ Phẩm chất trí tuệ: Phản ánh mối quan hệ giữa tởng tợng của cá nhân với vốn kiến thức, kinh nghiệm, trình độ t duy của chính mình.…
Trí tởng tợng phóng túng của một ngời có trình độ kiến thức uyên bác bao giờ cũng đáng tin cậy hơn sự tởng tợng của chính anh ta nếu có trình độ văn hoá thấp Tởng tợng đợc trí tuệ nâng đỡ sẽ giúp cho nó định hớng đợc
đúng đắn
Muốn có đợc phẩm chất trí tuệ, tất nhiên, trớc hết phải bằng con đờng học tập và rèn luyện Trong quá trình đó sẽ nảy sinh mâu thuẫn tất yếu giữa trí tuệ với tởng tợng Cần liên tục xử lí thật tốt mối quan hệ này, không để cho trí tởng tợng bị “thui chột” bởi trí tuệ
+ Phẩm chất cá tính: Phản ánh mối quan hệ giữa tởng tợng của cá nhân với chính mình Nó thuộc về cái riêng của ngời viết Phẩm chất cá tính có vị trí rất quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật Nó làm nên sự mới mẻ, độc đáo, hấp dẫn riêng của tác phẩm
Để có cá tính trong tởng tợng, trớc hết, ngời học văn miêu tả cần tập cho mình một thói quen không lặp lại ý tởng của ngời khác và đặc biệt là cần phải biết suy nghĩ để từng bớc đi tìm cá tính của chính mình Phát hiện đợc một cách đúng đắn cái riêng của mình, đó là một sự thành công có tính quyết
định trong rèn luyện năng lực tởng tợng
L u ý : Giáo viên cần lu ý trong khâu chữa bài, khâu làm mẫu, khâu đọc
bài văn mẫu, hay trong cách hớng dẫn học sinh đọc sách tham khảo; tránh tình trạng học sinh bắt chớc một cách máy móc không phát huy đợc cá tính sáng tạo của mình trong làm văn
+ Phẩm chất tập thể: Phản ánh mối quan hệ giữa tởng tợng của cá nhân với cộng đồng dân tộc, xã hội và thời đại Chính tính tập thể đã giúp cho cá
Trang 35tính trong tởng tợng không bị rơi vào hoang tởng, và cũng chính nó mới làm nên giá trị xã hội cho sáng tạo mới của tởng tợng Nó là sợi dây kết nối trí t-ởng tợng độc đáo đầy cá tính của nhà văn với thói quen tiếp nhận của bạn đọc Chính tính tập thể đã khiến cho các cá nhân không thể bỏ qua đặc trng của dân tộc, tính chất của thời đại mình trong suy nghĩ và tởng tợng.
Ví dụ: Trong truyện Con rắn vuông (Truyện cời dân gian), anh chồng
nói khoác, trong khi vô ý giữ nguyên “bề ngang”, đã thay đổi dần dần “bề dài” của con rắn cho đến khi nó thành ra “vuông” Truyện c… ời này đã dựa trên thay đổi kích thớc của đối tợng miêu tả
Hay trong truyện Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn (Truyện cổ tích): Sao lại có bảy chú lùn? Cùng với các chú lùn là ngôi nhà nhỏ xíu, cho đến tất cả đồ dùng trong nhà cũng theo đó mà nhỏ theo Sự hấp dẫn là ở chỗ: trí t ởng tợng dân gian dã tạo ra một thế giới khác, bên cạnh thế giới bình thờng của
Trang 36công chúa Bạch Tuyết và của chúng ta ở đây tác giả dân gian đã sáng tạo theo cách thay đổi kích thớc của đối tợng: từ những con ngời của thế giới bình thờng, thông qua trí tởng tợng mà trở thành một thế giới tí hon.
+ Nhấn mạnh (tức c ờng điệu hoặc tô đậm, chú ý hàng đầu):
Cách rèn luyện kĩ năng nhấn mạnh: Tập miêu tả ngời (hay một cảnh,
một vật, ) thật đẹp, rồi thật xấu, một cảnh t… ợng nào đó thật dữ dội, hay thơ mộng cha từng thấy,v.v Trong quá trình miêu tả, hãy chú ý nhấn mạnh một…
số chi tiết thật đặc trng, khiến cho đối tợng miêu tả nổi bật lên theo đúng mục
đích nghệ thuật mà mình mong muốn
Ví dụ: Để rèn luyện kỹ năng này cho học sinh, giáo viên có thể ra một
+ Chắp ghép và liên hợp: Các bộ phận thuộc những sự vật khác nhau
đ-ợc liên kết lại trong một quan hệ mới Chẳng hạn nh miêu tả một con quỷ, hình dáng thì của ngời, nhng mặt thì của cá sấu, tay chân thì của con đời ơi, móng vuốt thì của hổ, v.v Trong tập truyện Tây du kí của Ngô Thừa Ân…(Truyện cổ Trung Quốc đã rất quen thuộc với các bạn nhỏ), rất nhiều nhân vật
nh Tôn Ngộ Không, Tr Bát Giới, Ngu Ma Vơng, v.v đều đ… ợc sáng tạo theo cách thức này
Cách rèn luyện kĩ năng chắp ghép và liên hợp:
Trang 37* Dùng đồ chơi bằng hình vẽ, trong đó các bộ phận nh đầu, mình, tay, chân, của ng… ời và động vật đợc vẽ tách rời, cùng kích cỡ để có thể ghép các
bộ phận này lại, tạo ra những hình thù động vật khác nhau
* Dùng các đoạn văn để lắp ghép có cải biến
* Luyện tập bằng những bài làm văn miêu tả theo các yêu cầu này Đây
là phơng pháp quan trọng nhất
* Tìm ra ý nghĩa thẩm mĩ trong các thao tác ấy
Ví dụ: Để rèn luyện kỹ năng này cho học sinh, giáo viên có thể ra một
số đề bài tập làm văn nh sau:
1 Thử lựa chọn các chi tiết sau đây (bằng các khoanh tròn dấu cộng
đầu dòng) để lắp ghép thành hình tợng một kẻ độc ác theo tởng tợng của em:
Trang 38+ Điển hình hoá: Là cách tổng hợp nhiều sự vật, hiện tợng, tạo ra một hình ảnh mới vừa có tính riêng vừa có tính chung.
Cách rèn luyện kĩ năng điển hình hoá:
* Tập cảm thụ và phân tích ý nghĩa nghệ thuật của các hình tợng điển hình trong văn học
* Tập chỉ ra những sáng tạo theo cách điển hình hoá của nhà văn
* Tập sáng tạo tổng hợp trên cơ sở những chi tiết đã quan sát đuợc về những đối tợng khác nhau theo những mục đích nhất định
+ Biến hoá: Là cách thức trong đó con ngời hay sự vật bất ngờ bị thay
đổi hoàn toàn Có hai dạng thức của biến hoá: sự vật bị biến mất, hoặc sự vật
bị hoá thành sự vật khác Biến hoá có thể mang lại nhiều bất ngờ, thú vị trong sáng tạo Nó thờng dùng để thể hiện ớc mơ, khát vọng hoặc làm phơng tiện để thể hiện ý tởng nào đó của ngời viết Cái khó của biến hoá là phải xác định hoặc cảm nhận đợc đúng cái hay, cái hấp dẫn của ớc mơ, khát vọng hoặc ý t-ởng ấy
Ví dụ: Trong truyện cổ tích, khi nào có ông Bụt hiện lên? ấy thờng là
khi ngời tốt gặp nguy hiểm, hay bất hạnh đặc biệt Khi nào thì con quỷ dữ hoá phép? ấy là khi nó trổ hết tài ác quỷ để tiêu diệt ngời lành Những lúc đó, ngời hiền lành cũng phải biết hoá phép mới thắng đợc Thế là biến hoá đã trở thành phơng tiện để giúp đỡ ngời hiền, để ủng hộ cái thiện Truyện Thạch Sanh, Tấm Cám, đều sử dụng biến hoá nh… thế
2.1.3 Phơng pháp hớng dẫn học sinh phát triển tình cảm, cảm xúc trong văn miêu tả
2.1.3.1 Vai trò của tình cảm, cảm xúc trong văn miêu tả
- Văn miêu tả cố nhiên phải có mục đích tái hiện đối tợng, song mỗi
ng-ời một vẻ Tâm hồn ngng-ời viết bao giờ cũng đợc thể hiện đằng sau "bức tranh" cảnh, vật, con ngời Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết: "Ngời buồn cảnh
có vui đâu bao giờ" Đúng vậy, và ở đây không chỉ có cảnh mà còn là tất cả
Trang 39sản phẩm sáng tạo trong văn miêu tả đều nhuốm một màu sắc cá tính, không chỉ là nỗi buồn mà còn là tất cả tâm hồn, trí tuệ, nhân cách, ớc nguyện của ngời viết.
- Văn miêu tả muốn hay, ngời viết không chỉ có tài quan sát và thể hiện bằng các từ ngữ, hình ảnh, bằng lối so sánh, ví von độc đáo mà còn phải có
tình, cái tình ấy nh trên đã nói, có thể là tấm lòng say đắm, là thái độ và tình
cảm trân trọng mến yêu đối với cái đẹp, cái thiện, cái trong sáng, cao thợng nhng cũng có thể là sự căm ghét, khinh bỉ đối với cái ác, cái xấu, cái lố lăng, kệnh cỡm ở đời Không có cái tình, trong mọi sự miêu tả dù ngôn ngữ có sắc sảo, phong phú và mới mẻ đến bao nhiêu cũng chỉ là làm xiếc ngôn từ Trong trờng hợp này, bài văn miêu tả chỉ là cái xác không hồn, không gây đợc xúc
động trong lòng ngời đọc Nhìn chung trong văn xuôi, khi miêu tả, thái độ và tình cảm của ngời viết thể hiện một cách gián tiếp thông qua cách nhìn nhận
sự vật, cách dùng từ ngữ, ví von, so sánh
2.1.3.2 Hớng dẫn học sinh phát triển tình cảm, cảm xúc trong văn miêu tả
2.1.3.2.1 Đặc điểm tình cảm của học sinh tiểu học
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý nói chung và nhân cách nói riêng Đối với học sinh tiểu học, tình cảm còn có một vị trí đặc biệt vì nó là khâu quan trọng gắn liền nhận thức với hoạt động của trẻ em Tình cảm tích cực không chỉ kích thích trẻ em nhận thức mà còn thúc đẩy trẻ
em hoạt động
Đặc điểm về sự phát triển tình cảm của trẻ em:
+ Tình cảm, cảm xúc của học sinh tiểu học thờng là sự vật hiện tợng cụ thể, sinh động
+ Xúc cảm, tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan, hình
ảnh cụ thể
Trang 40+ Học sinh tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình.
+ Tình cảm của học sinh tiểu học còn mỏng manh, cha bền vững, cha sâu sắc
2.1.3.2.2 Hớng dẫn học sinh phát triển tình cảm, cảm xúc trong văn miêu tả
Muốn phát triển tình cảm, cảm xúc cho học sinh tiểu học cần phải đi từ những hình ảnh trực quan sinh động Bởi chỉ những hình ảnh trực quan sinh
động (sự vật, hiện tợng, con ngời, việc làm, lời nói sinh động, giàu hình ảnh ) mới dễ gây xúc cảm và tác động đến xúc cảm của các em
* Một số biện pháp hớng dẫn học sinh phát triển tình cảm, cảm xúc trong văn miêu tả:
- Phải quan sát trực tiếp đối tợng miêu tả
Để hớng dẫn học sinh viết văn miêu tả có hiệu quả trớc hết ngời giáo viên cần bồi đắp tâm hồn, tình cảm cho các em Các em biết cảm nhận vẻ đẹp của thế giới xung quanh, nhận thức tinh tế và biết yêu cảnh vật, yêu tất cả mọi ngời Tình yêu ấy giúp các em say sa quan sát, phát hiện những cái mới lạ, những điểm riêng biệt để các em lại thêm yêu mến và trân trọng từ loài vật, cây cỏ, trời đất, sông núi, con ngời
Muốn làm văn miêu tả trớc hết các em cần phải có cái gì để viết, để tả Muốn tả đúng, tả hay thì nhất thiết các em phải biết quan sát Vì thế mà đòi hỏi các em phải biết quan sát và quan sát công phu để tìm ra cái mới, cái riêng biệt của sự vật Từ đó có những sáng tạo độc đáo trong viết văn miêu tả
- Thông qua các tác phẩm văn học: đó là các tác phẩm văn học đợc học
trong các phân môn của môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn tập đọc, kể chuyện Ngoài ra cần phải hớng dẫn học sinh đọc sách tham khảo góp phần trau dồi t tởng, tình cảm cảm xúc cho các em