Tuy vÉn cßn mét sè Ýt bµi viÕt kh« cøng, liÖt kª c¸c chi tiÕt cña ®èi tîng miªu t¶ nhng kh«ng cã hiÖn tîng sao chÐp v¨n mÉu, kh«ng cã bµi lµm na n¸ nh nhau.. kÕt luËn:[r]
Trang 1Phần Mở đầu
I/ Lý do chọn đề tài
- Môn Tiếng Việt có vai trò hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt
động của lứa tuổi, thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của t duy
- Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt
và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con ngời, về văn hóa, văn học Việt Nam
và nớc ngoài
- Học Tiếng Việt, học sinh đợc trang bị những kiến thức cơ bản và tối thiểu cần thiết giúp các em hòa nhập với cộng đồng và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Cùng với môn Toán và một số môn khác, những kiến thức của môn Tiếng Việt sẽ là những hành trang trên bớc đờng đa các em đi khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu thế giới xung quanh và kho tàng tri thức vô tận của loài ngời Trong đó phân môn Tập làm văn
là phân môn thực hành, tổng hợp của tất cả các phân môn thuộc môn Tiếng Việt (tập
đọc, luyện từ và câu, chính tả, kể chuyện) Chính vì thế, việc dạy và học Tập làm văn là vấn đề luôn cần có sự đổi mới Không thể cứ áp dụng mãi phơng pháp học hôm qua vào hôm nay và mai sau
- Thời đại hiện nay, trớc sự bùng nổ của công nghệ thông tin, học sinh chúng ta không còn nh chúng ta ở độ tuổi đó, học sinh ngày càng năng động, nhạy bén với cái mới Cách nghĩ, cách cảm của các em cũng đã thay đổi Ngời giáo viên phải nắm bắt
đ-ợc điều này để có phơng pháp dạy học cho phù hợp tránh bị tụt hậu
II CƠ Sở THựC TIễN:
Hiện nay chơng trình của Bộ GD đang áp dụng kĩ năng sống vào dạy học, hay dạy học theo hớng tích cực hoá để học sinh đợc hoạt động nhiều hơn, học sinh đợc giao tiếp nhiều hơn trong quá trình học tập Chính vì vậy, ngời giáo viên phải đổi mới phơng pháp dạy học cho phù hợp Đổi mới việc dạy học, trong việc thừa kế cái cũ, cái vốn có
đòi hỏi phải là một sự sáng tạo Với các phân môn khác của Tiếng Việt trong việc đổi mới nội dung và phơng pháp dạy học chỉ rõ quy trình các bớc lên lớp rất cụ thể rõ ràng Còn với phân môn Tập làm văn, các nhà nghiên cứu chỉ đa ra quy trình chung nhất cho mỗi loại bài, chủ yếu vẫn là sự sáng tạo của giáo viên khi lên lớp Còn việc học thì sao? Ngoài SGK Tiếng Việt thì hiện nay có rất nhiều loại sách tham khảo cho học sinh, giúp cho học sinh có cái nhìn đa dang, phong phú hơn Song những cuốn sách tham khảo của phân môn Tập làm văn lại thờng đa ra các bài văn mẫu hoàn chỉnh nên khi làm văn các
em thờng dựa dẫm, ỉ lại vào bài mẫu, có khi còn sao chép y nguyên bài văn mẫu vào bài làm của mình Cách cảm, cách nghĩ của các em không phong phú mà còn đi theo lối mòn khuôn sáo, tẻ nhạt Từ những lý do khách quan và chủ quan trên để khắc phục
Trang 2những hạn chế trong việc dạy văn miêu tả ở lớp 4, góp phần nâng cao chất lợng dạy học
trong nhà trờng, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: "Một số biện pháp dạy tốt dạng văn miêu tả ở lớp 4".
phần Nội dung
Bài văn miêu tả đợc xây dựng trên cơ sở sự cảm nhận của ngời viết về những hình
ảnh, đối tợng mà ngời viết thu lợm, cảm nhận đợc thông qua quá trình quan sát của các giác quan trực tiếp của mình Văn miêu tả là thể loại văn bản mang tính nghệ thuật cao, mang tính sáng tạo, tính cá thể của ngời viết Ngôn ngữ trong văn miêu tả là thứ ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ giàu sức gợi cảm và là ngôn ngữ của những biện pháp tu từ
Kết cấu bài văn miêu tả gồm 3 phần:
+ Mở bài: Giới thiệu đối tợng miêu tả, thể hiện tình cảm, quan hệ của ngời miêu
tả với đối tợng miêu tả
+ Thân bài: Tái hiện, sao chụp chân dung của đối tợng miêu tả ở những góc nhìn
nhất định
+ Kết bài: Nêu những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ trực tiếp của ngời
miêu tả và của mọi ngời nói chung đối với đối tợng miêu tả
Văn miêu tả là sự vận dụng hiểu biết về ngôn từ để thể hiện sự cảm nhận về cái
đẹp Bài văn miêu tả phải có hồn, phải có chất văn trong đó Điều này rất khó đối với học sinh lớp 4 Do đó, trách nhiệm của ngời dạy là thổi hồn, thổi chất văn vào đầu óc non nớt của học sinh và hớng cho các em cách thể hiện
Học sinh nắm đợc kiến thức cơ bản của phân môn luyện từ và câu, nắm đợc cấu trúc của bài văn miêu tả nhng khi áp dụng vào viết văn thì các em thờng mắc các lỗi về dùng từ đặt câu, kết hợp với việc cha biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật đã học nh so sánh, nhân hoá, vốn từ lại nghèo nàn nên bài văn miêu tả của các em còn khô khan, lủng củng, nghèo cảm xúc Bài văn trở thành một bảng liệt kê các chi tiết của đối tợng miêu tả, thờng mắc lỗi dùng từ và đặt câu
* Chơng trình Tập làm văn lớp 4 gồm 68 tiết, trong đó văn miêu tả chiếm 38 tiết
gồm các mảng kiến thức sau:
- Thế nào là miêu tả?
- Quan sát để miêu tả cho sinh động
- Trình tự miêu tả ( Ngời, cảnh, đồ vật, con vật, cây cối )
- Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả ( Ngời, cảnh, đồ vật, con vật, cây cối)
Các kiến thức trên đợc cụ thể hóa thành hai loại bài Đó là, loại bài hình thành kiến thức và loại bài luyện tập thực hành
I/ Thực trạng việc dạy Tập làm văn - Thể loại văn miêu tả lớp 4.
Trang 31/ Tình hình chất lợng học tập môn Tiếng Việt và phân môn Tập làm văn của học sinh.
Qua quá trình giảng dạy ban đầu, tôi thấy học sinh viết văn miêu tả cha hay, cha có hình anh Một số học sinh chỉ kể lại các chi tiết của đối tợng miêu tả Bài văn thiếu chất nghệ thuật
Kết quả cụ thể nh sau:
Lớp Số HS Điểm giỏiSL TL% Điểm kháSL TL% Điểm TBSL TL% Điểm dới TBSL TL%
Từ thực trạng trên tôi thấy cần thiết phải có những biện pháp sáng tạo trong dạy văn miêu tả lớp 4 góp phần nâng cao chất lợng dạy học ở Tiểu học
II/ Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lợng dạy học văn miêu tả lớp 4.
1 Ngời giáo viên phải nắm đợc tâm lí lứa tuổi học sinh của mình:
Văn miêu tả là một dạng văn mới mẻ đối với học sinh do đó giáo viên phải hớng dẫn một cách tỉ mỉ cho các em Tâm lí chung của học sinh tiểu học là thích cái mới, thích khám phá Căn cứ vào điều này mà ngời dạy cần phải hình thành và rèn luyện cho các em quan sát, cách t duy về đối tợng miêu tả một cách bao quát, toàn diện và cụ thể tức là quan sát sự vật hiện tợng về nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, từ đó các
em có cách cảm, cách nghĩa sâu sắc khi miêu tả
Đối với các em mọi cái mới chỉ là sự bắt đầu của một quá trình Trí tởng tợng càng phong phú bao nhiêu thì việc làm văn miêu tả sẽ càng thuận lợi bấy nhiêu Để viết văn miêu tả, học sinh phải có cái hồn, có chất văn trong bài viết Muốn vậy giáo viên phải luôn luôn nuôi dỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm lòng dễ xúc động và luôn hớng tới cái thiện, biết cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống xung quanh từ những gì gần gũi, thân thơng nhất
2 Giáo viên cần làm cho học sinh nắm đợc bản chất của dạng văn miêu tả:
Văn miêu tả mang tính nghệ thuật cao do đó nó phải có sự sáng tạo, sự đánh giá hết sức phong phú của ngời viết Mỗi bài văn là tác phẩm của mỗi ngời nên không có sự sao chép của ngời khác Ngời viết phải gợi ra cho ngời đọc cái hay, cái đẹp của đối tơngj mặc dù nó không mới Mỗi đối tợng lại có những nét riêng
Nhà văn Phạm Hổ cho rằng: "Cái riêng, cái mới trong văn miêu tả phải gắn với
cái chân thật" Văn miêu tả không hạn chế sự tởng tợng, không ngăn cản sự sáng tạo
của ngờu viết nhng nh vậy không có nghĩa là cho phép ngời viết "bịa" một cách tùy ý.
Để tả hay, tả đúng thì phải tả chân thật, giáo viên cần uốn nắn để học sinh tránh thái độ giả tạo, giả dối, bệnh công thức sáo rỗng, thói già trớc tuổi
Mặt khác giáo viên cần giúp các em nắm đợc: trong văn miêu tả, ngôn ngữ sử dụng phải là ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, giàu nhịp điệu âm thanh, đây là một trong những miêu tả trong sinh học, địa lý… và các thể loại văn khác
Trang 4Từ việc hiểu rõ đặc điểm của thể loại văn miêu tả, hiểu rõ con đờng mình cần đi
và đích mình cần tới, chắc chắn học sinh sẽ thận trọng hơn khi chọn lọc từ ngữ, sẽ gọt giũa kỹ hơn từng lời, từng ý trong bài văn và nh vậy chất lợng bài làm của các em sẽ tốt hơn
3 Giáo viên cung cấp cho học sinh vốn từ giàu sức miêu tả, có hình ảnh và sáng tạo:
Học sinh tiểu học vốn từ cha phong phú, còn hạn chế nhất là vốn từ để miêu tả
Do vậy ngời giáo viên trớc hết phải cung cấp cho các em vốn từ miêu tả, để học sinh có vốn sống cho mình
Vốn từ không phải đâu xa lạ mà chính là vốn từ khi dạy bài tập đọc, dạy
mở rộng vốn từ, dạy chính tả… Khi các em đợc cung cấp vốn từ này giáo viên nên khuyến khích học sinh ghi lại vào sổ tay văn học
Ngoài ra, ngời giáo viên phải có vốn từ phong phú thì mới cung cấp cho học sinh Giáo viên có thể lấy trên sách báo, các phơng tiện thông tin khác Tuỳ theo dạng bài miêu tả ( ngời, đồ vật, cảnh, con vật, cây cối ) mà giáo viên cung cấp vốn từ và học sinh sử dụng khác nhau:
- Tả ngời: gồm có tầm vóc( cân đối, thon thả, vạm vỡ, cao lớn, khệnh khạng, dòng dỏng…); diện mạo( chững chạc, cởi mở, kín đáo, khắc khổ, thông minh, linh hoạt, lém lỉnh…); khôn mặt ( tròn, trái xoan, hồng hào, phúc hậu, sáng sủa, chữ điền, ủ rũ…); đầu( tròn, dài, bẹp, to, nhỏ, hói, cao , thấp…);đôi mắt ( bồ câu,lá răm, lóng lánh, lanh lợi, sắc sảo, trong sáng, thơ ngây, nhân từ…); nớc da( trắng trẻo,trắng hồng, ngăm ngăm, rám nắng, xanh xao, thô ráp, xù xì…); thân hình( mập ú, gầy guộc, mảnh mai, béo phệ, ); mái tóc( óng ả, đên nhánh, vàng nh râu ngô, đên mợt, dày kì lạ…); lời nói( dịu dàng, lịch sự, chân tình, khiếm nhã…);nụ c -ời( hồn nhiên, vui vẻ, khúc khích, hiền dịu, toe toét, gợng gạo…); trang phục( giản dị, lôi thôi, bảnh bao, lịch sự, dơ bẩn, sang trọng, loè loẹt…)
…
- Tả cảnh: buổi sáng( dịu dàng, dễ chịu, trong lành, mát mẻ, xanh mớt, long lanh, tràn trề…); buổi tra( chói chang, trơ trọi, nhộn nhịp, chen chúc, oi bức, nắng nh đổ lửa, quang đãng…); buổi chiều( tim tím, nhè nhẹ, xa xa, ồn ào, …); buổi tối( yên tĩnh, chìm vào giấc ngủ, đen kịt, vắng vẻ, … …)
- Tả đồ vật: hình dáng( tròn trịa, dài dài, tròn trùng trục, mập mạp, dong dỏng,…); màu sắc( đo đỏ, vàng vọt, xanh ngát, trăng trắng, hồng hào, tím biếc…)
………
Trang 5Giáo viên cần tiến hành theo mức độ yêu cầu tăng dần, bớc đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt câu đúng, song yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay những từ biểu lộ tình cảm
+ Giáo viên cần đa ra các câu miêu tả sinh động và có sự so sánh với các bài miêu tả khác nhau:
- Chú ta có cái đuôi thon dài nh một cái măng ngọc
- Lúc chú ngồi, hai chân sau xếp lại, hai chân trớc chống lên, đăm chiêu nhìn và nghe ngóng, cái đuôi mềm mại, phe phẩy nh làm duyên ( tả đuôi con mèo)
- Hay: Cái đuôi dài trắng điểm đen phe phất thớt tha cùng với tấm thân thon dài
mềm mại, uyển chuyển trông thật đáng yêu ( tả cái đuôi con gà trống)
Nh vậy cùng là miêu tả về bộ lông của chú gà trống, cái đuôi của chú mèo nhng những câu văn sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ gợi tả, gợi cảm nh các câu trên thì hiệu quả khác hẳn, ta thấy miêu tả nh vậy vừa sinh động, tinh tế vừa rất tình cảm và sẽ cuốn hút ngời đọc, ngời nghe
4 Cần dạy tốt phân môn của Tiếng Việt nhất là LTVC (các dạng câu kể; MRVT):
Thông qua các tiết LTVC có nội dung MRVT, học sinh đợc củng cố thêm về vốn
từ ngữ của mình, nắm đợc ý nghĩa của chúng Từ đó các em biết cách sử dụng đúng hơn, hay hơn Mặt khác các chủ điểm trong chơng trình đợc kết cấu chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau nên rất phù hợp cho dạng văn miêu tả( MRVT Đồ chơi – Trò chơi; Tài năng; Ước mơ; )
…
Một lỗi phổ biến nhất trong các bài văn miêu tả của học sinh tiểu học là đặt câu
cũ không rõ ràng, có phần lủng củng Bài văn trở thành bài liệt kê các chi tiết của vật
đ-ợc tả Để khắc phục tình trạng này trớc hết phải cho học sinh thực hành thật thành thạo các mẫu câu này rồi vận dụng vào văn miêu tả
- Trần Quốc Toản là vị anh hùng thiếu niên dũng cảm.
- Chim én là sứ giả của mùa xuân.( kiểu câu Ai là gì? )
- Hạng A Cháng cày ruộng nh ngời nghệ sĩ biểu diễn trên sân khấu.
- Anh trăng nh muôn ngàn ánh ngọc toả xuống trần gian.( kiểu câu Ai thế
nào? )…… Chính tả giúp học sinh viết đúng, viết nhanh, viết đẹp và trình bày rõ ràng, sạch
sẽ Tập đọc rèn kỹ năng cảm thụ cho học sinh, chính tả rèn kỹ năng viết cho học sinh thì phân môn kể chuyện rèn kỹ năng nói hay cách nói khác là kỹ năng sản sinh văn bản dới dạng nói của học sinh Kể chuyện vừa bồi dỡng tình cảm, giúp học sinh biết quý trọng ngời tốt, phê phán cái xấu, vừa giúp học sinh học tập cách miêu tả, cách diễn đạt trong mỗi câu chuyện Mỗi một phân môn của Tiếng Việt co vai trò riêng nhng lại hỗ trợ cho nhau Ngời dạy cần phải có sự liên hệ trong khi dạy Tiếng Việt Với phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của những phân môn khác, muốn học tốt Tập làm văn học sinh cần học tốt các phân môn còn lại
5- Hớng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn mở bài và kết bài.
Bài văn không thể thiếu phần mở bài và kết bài, những phần này thờng thu hút
ng-ời đọc, ngng-ời nghe chú ý cách đặt vấn đề và cách cảm nghĩ về vấn đề mà ngng-ời trình bày
Trang 6Chính vì vậy việc rèn luyện cho học sinh xây dựng một đoạn văn mở bài và kết bài là rất cần thiết
- Đoạn văn mở bài: Có hai cách mở bài mà học sinh đợc học đó là mở bài
trực tiếp và mở bài gián tiếp Không nhất thiết phải gò bó học sinh làm
mở bài theo cách nào để cho các em tự chọn cho mình cách mở bài hợp
lý nhất và phù hợp với khả năng của từng em Khi viết theo kiểu mở bài nào cũng cần phải thổi đợc cái hồn cho nó Cần cho hoc sinh viết nhiều lần với những mở bài khác nhau đối với cùng một đề bài
''Hè vừa rồi, mẹ em đi chợ mua đợc một con mèo tam thể Chú ta là thành viên thứ năm của gia đình em, nay đã đợc bốn tháng."
" Nhà em đã từ lâu không có một chú chuột nào dám bén mảng tới vì có một chú lính
gác cừ khôi, đó chính là chú Mớp Mớp ta đã đợc một năm tuổi, nó thật hiền dịu nhng cũng thật tinh nhanh, nó nh ngời bạn thân của em."
Hay với đề tả cây đa cổ thụ: "ở đầu làng em có một cây đa cổ thụ nó dễ phải
bằng trăm năm tuổi Cả làng gọi đó là cây đa ông Đài , vì ông Đài là ngời trồng ra nó, nhng ông Đài là ai, sống và chết từ bao giờ thì cả làng không ai nhớ cả."
Từ bến đò phía xa em đã nhìn thấy làng em Phải qua một cánh đồng bao la,
“
một con đờng liên xã dài hơn hai cây số, em đã nhìn thấy làng quê yêu dấu: Cây đa cổ thụ in bóng xanh thẫm trên bầu trời Mỗi lần đi xa về, em cảm động tởng nh cây đa làng quê đang giơ tay vẫy chào, đón đợi."
Đôi khi cách mở bài trực tiếp nhng cũng rất đáng ghi nhận: “ Nếu có ai hỏi ngời
em yêu quý nhất trong nhà là ai? Thì em sẽ trả lời ngay: Đó là mẹ em.( Đề bài tả một
ngời thân trong gia đình.)
Từ các cách mở bài khác nhau các em nhận xét và tìm ra ý đúng, ý hay để mở bài một cách hợp lý nhất
- Đoạn văn kết bài: Kết bài tuy chỉ là một phần nhỏ trong bài văn nhng lại rất
quan trọng bởi đoạn kết bài thể hiện đợc nhiều nhất tình cảm của ngời viết với đối tợng miêu tả Thực tế cho thấy học sinh thờng hay liệt kê cảm xúc của mình làm phần kết luận khô cứng, gò bó, thiếu tính chân thực Chủ yếu các em thờng làm kết bài không mở rộng, kết bài nh vậy không sai nhng cha hay, cha hấp dẫn ngời đọc Vì vậy đòi hỏi ngời giáo viên phải gợi ý để học sinh biết cách làm phần kết bài có mở rộng bằng cảm xúc của mình một cách tự nhiên thông qua những câu hỏi mở, sau đó cho các em nhận xét, sửa sai và chắt lọc để có đợc những kết bài hay
"Cây gạo có thể sống đến nghìn năm Nó là nhân chứng thầm lặng của dòng đời Cô
giáo em nói thế Đi học về, đứng trên bên đò, hoặc đi xa về, ngắm nhìn ba cây gạo, em thấy lòng bồn chồn xôn xao Cây gạo là hồn quê, là tình quê vơi đầy."( tả cây gạo )
Bài văn không thể hay nếu thiếu cảm xúc của ngời viết, cảm xúc không chỉ bộc lộ
ở phần kết bài mà còn thể hiện ở từng câu, từng đoạn của bài Vì vậy giáo viên cần chú
ý rèn cho học sinh cách bộc lộ cảm xúc trong bài văn một cách thờng xuyên liên tục, từ tiết đầu tiên của mỗi loại bài đến những tiết luyện tập xây dựng đoạn văn, tiết viết bài và ngay trong tiết trả bài nữa
6 Giáo viên cần hoàn thành nhiệm vụ của mình trong mỗi tiết dạy.
Trang 7Văn kể chuyện là một dạng văn khó do đó đòi hỏi ngời dạy phải biết sử dụng tối
đa khoảng thời gian của mỗi tiết học để truyền tri thức cho học sinh Học sinh hiểu kiến thức đã khó, sử dụng kiến thức đó để viết cho hay, cho ra chất văn còn khó hơn Với mỗi tiết học ngời dạy cần phải đặt ra cho mình câu hỏi “Dạy cái gì? Dạy nh thế nào? Hiệu quả ra sao? Học sinh nắm đợc những gì?” Có nh thế thì giờ dạy mới đạt hiệu quả Giáo viên cần truyền “lửa miêu tả” trong lòng mình sang cho học sinh Nh trên đã nói, cần giúp học sinh nhìn nhận mọi sự vật ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, kích thích trí tởng tợng, sáng tạo của các em
7 Cần cung cấp phơng tiện trực quan cho học sinh khi dạy dạng bài văn miêu tả.
Miêu tả tức là tả lại những gì đã thấy sao cho hay, cho đẹp Do đó muốn học sinh tả đợc cần phải để các em quan sát thật nhiều vật mẫu Thời đại ngày nay khi công nghệ thông tin bùng nổ thì vật mẫu cho các em quan sát không phải là điều khó khăn
- Học sinh có thể miêu tả những cái gần gũi xung quanh cuộc sống của mình Bởi vì hầu hết các đề văn miêu tả ở lớp 4 đều là miêu tả đò vật quen thuộc gần gũi với các em nh cái cặp, món đồ chơi mà em yêu thích, con vật nuôi trong nhà, ngôi trờng, cây đa, mái đình làng, cánh đồng quê hơng… Tuy nhiên vì học sinh tiểu học t duy phải dựa vào vật trớc mắt mà khi ở lớp thì không thể có mà quan sát Chính vì vậy giáo viên phải chuẩn bị khâu đồ dùng thật chu đáo và đầy đủ
- Đồ dùng cho học sinh quan sát có thể là tranh về đồ vật, con vật, cảnh, ngời… có trong bộ tranh của các trờng khá phong phú và đầy đủ Thực tiễn các trờng ở địa phơng đã cung cấp đầy đủ cho yêu cầu này
- Ngoài ra ngời dạy còn có thể đa thêm những tranh ảnh mình su tầm đợc qua sách báo, tạp chi Nguồn này hiện nay rất đa dạng
- Một biện pháp tối u cho việc sử dụng đò dung dạy học trực quan đó là ứng dụng công nghệ thông tin Chỉ cần chúng ta dành chút thời gian vào internet là tất cả những gì chung ta cần đều đợc nhà mạng cung cấp hết sức đầy đủ
Trớc hết là tranh về những đối tợng gần gũi bên cạnh học sinh: con gà, con mèo, con trâu, con chó…
Trang 9Ngoài ra giáo viên có thể cung cấp cho học sinh hình ảnh những con vật khác để các em mở rộng đề tài
Trang 10Những hình ảnh quen thuộc của làng quê có tác dụng rất lớn khi các em viết văn miêu tả cảnh Nhng khả năng ghi nhớ của học sinh còn kém nên trong các tiết quan sát giáo viên nên cho các em xem kĩ hơn
đồng lúa chín