1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG LOGIC HOC

52 402 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 308,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dấu hiệu của đối tượng là các thuộc tính, các quan hệ, các trạng thái giúp cho con người nhận thức đúng đắn, tách sự vật hiện tượng ra khỏi tập hợp các sự vật hiện tượng.Các dấu hiệu của

Trang 1

Lời nói đầu

Dạy nghề là đào tạo cho ngời học các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp ở trình độ nhất định, đồng thời giáo dục cho họ những phẩm chất nghề nghiệp nh: lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật trong lao động sản xuất để họ có thể sống và làm việc theo nghề đó sau khi tốt nghiệp

Đó cũng chính là phẩm chất, năng lực tạo nên nhân cách ngời lao động mới mà

ng-ời giáo viên dạy nghề phải rèn luyện cho ngng-ời học trong quá trình đào tạo nghề

Nhằm góp phần nâng cao chất lợng đào tạo đội ngũ giáo viên dạy nghề vững

về lý thuyết, giỏi về tay nghề, có năng lực s phạm kỹ thuật nghề nghiệp đáp ứng

đ-ợc yêu cầu đòi hỏi của đổi mới giáo dục, chúng tôi biờn soạn tập tài liệu về logic học hình thức

Tập bài giảng “Logic học’’ biên soạn theo chơng trình đào tạo s phạm dạy nghề của Tổng cục dạy nghề nhằm chuẩn bị cho giáo sinh, giáo viên dạy nghề các kiến thức cơ bản nhất của logic học đại cơng, những cơ sở lý luận chung phơng pháp nhận thức khoa học giúp ngời đọc nắm đợc toàn bộ những kiến thức và phơng pháp cần thiết để nhận thức các tri thức khoa học, cách thức ứng dụng và khuynh hớng phát triển của logic học hiện nay

Trong quá trình biên soạn chúng tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ về mọi mặt của các giáo s, các giảng viên và cán bộ quản lý các cấp Chúng tôi hết sức trân trọng các ý kiến đóng góp quý báu đó Do biên soạn lần đầu, chắc chắn tập bài giảng này không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của độc giả để tập bài giảng ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 2

1.1 Đối tượng và ý nghĩa của logic học

1.1.1 Khái niệm về logic học hình thức

Thuật ngữ logic bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “Logos”

Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ:

- Tính quy luật của thế giới khách quan: Logic của sự vật, logic của sự kiện, logic của sự phát triển xã hội Theo nghĩa đó, logic được hiểu là “Logic khách quan” Đây chính là đối tượng nghiên cứu của logic biện chứng

- Tập hợp các quy luật của tư duy, những qui tắc và những hình thức của sự lập luận mà con người phải tuân theo nhằm phản ánh đúng đắn thế giới khách quan Theo nghĩa này logic được hiểu là “Logic chủ quan” Đây chính là đối tượng nghiên cứu của logic học hình thức

Logic học hình thức là khoa học nghiên cứu về các quy luật và hình thức của tư duy nhằm nhận thức đúng đắn thế giới khách quan

1.1.2 Đối tượng nghiên cứu của Lôgíc học hình thức

Bất kỳ một khoa học nào cũng đều có đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, hệ thống các khái niệm, phạm trù và kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của lĩnh vực khoa học đó

Đối tượng nghiên cứu của lôgíc học hình thức là các hình thức và các quy luật logic của tư duy

1.1.3 Nhiệm vụ của lôgíc học

Nhiệm vụ cơ bản của lôgíc học hình thức là làm sáng tỏ những điều kiện nhằm đạt tới tri thức chân thực, phân tích kết cấu của quá trình tư duy, vạch ra thao tác lôgíc của tư duy và phương pháp luận nhận thức đúng đắn

1.2.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lôgíc học

Mỗi văn bản (văn bản nói cũng như văn bản viết) đều là một thể thống nhất bao gồm hai mặt: nội dung và hình thức Về phương diện hình thức, ngoài ngôn ngữ, lôgíc là một yếu tố quan trọng Xét hình thức ngôn ngữ của một văn bản

Trang 3

là xét xem nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong văn bản đó như thế nào, có tinh vi, điêu luyện và chuẩn xác không Còn xét hình thức lôgíc của văn bản đó là xét xem cách thức tổ chức liên kết tư tưởng trong văn bản đó ra sao, có chặt chẽ nhất quán, giàu sức thuyết phục không.

Như vậy, việc nghiên cứu lôgíc nhằm nắm vững các hình thức, các quy luật, quy tắc và các thao tác tư duy có ý nghĩa rất lớn:

- Đối với con người và mọi hoạt động nói chung:

+ Tạo thói quen suy nghĩ “thông minh” hơn góp phần vào việc nâng cao tính chính xác, tính liên tục và triệt để, các lập luận có cơ sở, có căn cứ, tăng cường hiệu quả và niềm tin của lời nói

+ Hỗ trợ tốt cho việc tiếp thu tri thức mới, nghiên cứu khoa học, không phạm phải sai lầm trong văn viết và văn nói, phát triển tư duy, phát hiện những mâu thuẫn

+ Lôgíc học có ý nghĩa lớn trong giao tiếp:

- Đối với hoạt động giáo dục

+ Giúp cho giáo viên lựa chọn nội dung một cách hợp lý, xây dựng cấu trúc bài giảng, chương trình một cách khoa học, truyền thụ kiến thức một cách chính xác và lựa chọn phương pháp dạy học tối ưu cho bài giảng

+ Bồi dưỡng năng lực tư duy lôgíc cho học sinh, phát triển năng lực nhận thức và tích cực hóa quá trình học tập của học sinh

1.2 Khái niệm về hình thức lôgíc và quy luật lôgíc, tính chân thực của tư tưởng và tính đúng đắn của hình thức lập luận

1.2.1 Khái niệm về hình thức Lôgíc của tư duy

Trong quá trình tư duy, nội dung và hình thức của tư tưởng liên kết chặt chẽ với nhau; không có hình thức lôgíc thiếu nội dung và cũng không có nội dung

Trang 4

tách khỏi hình thức Tuy nhiên, lôgíc học hình thức chỉ tập trung nghiên cứu hình thức của tư tưởng.

Hình thức lôgíc của một tư tưởng cụ thể là cấu trúc của tư tưởng đó là phương thức liên kết giữa các thành phần của tư tưởng Phương thức liên kết đó phản ánh cấu trúc của các mối liên hệ, các quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với các thuộc tính của chúng.

Cấu trúc của tư tưởng thường được biểu diễn bằng các ký hiệu

Ví dụ: A là một sinh viên

Một số sinh viên là sinh viên giỏi

Có thể biểu diễn như sau:

Tất cả S là PMột số S là P

=> Cấu trúc hai tiền đề giống nhau (đều là câu đơn) => hình thức lôgíc là như nhau nhưng có nội dung tư tưởng khác nhau

1.2.2 Khái niệm về quy luật lôgíc của tư duy

* Quy luật lôgíc của tư duy là mối liên hệ bản chất, tất yếu của các tư tưởng trong quá trình tư duy

* Các quy luật của lôgíc hình thức được gọi là các quy luật cơ bản, gồm:

- Quy luật đống nhất;

- Quy luật không mâu thuẫn (quy luật mâu thuẫn);

- Quy luật luật loại trừ cái thứ ba (quy luật bài trung);

- Quy luật lí do đầy đủ

1.2.3 Tính chân thực của tư tưởng và tính đúng đắn về hình thức của lập luận

Nếu nội dung của phán đoán phản ánh chính xác hiện thực thì phán đoán

là chân thực, đây là điều kiện cần thiết để đạt tới các kết quả chân thực trong quá

trình lập luận

Trang 5

Ngoài ra, tính đúng đắn lôgíc của lập luận (do các quy tắc của tư duy/các

quy luật không cơ bản của tư duy quy định) cũng là điều kiện cần thiết để có phán đoán chân thực

Tính đúng đắn thể hiện sự tuân theo các quy luật và quy tắc của lôgíc học;

còn tính chân thực thể hiện sự phù hợp của nó với hiện thực

Ví dụ1: Tất cả kim loại là chất rắn

Thuỷ ngân không phải là kim loại

Thuỷ ngân không phải là kim loại

=> Kết luận là giả dối vì tiền đề thứ nhất không chân thực (vì thực tế sẽ có những kim loại không phải là chất rắn)

Ví dụ 2: Vợ mình là con người ta

Con mình do vợ đẻ ra

Suy đi tính lại chẳng bà con chi (Con mình là con người ta)

=> Kết luận là giả dối vì vi phạm quy tắc lập luận

CHƯƠNG II

CÁC HÌNH THỨC CƠ BẢN CỦA TƯ DUY

§ 2.1 KHÁI NIỆM 2.1.1 Hình thức ngôn ngữ biểu thị khái niệm

2.1.1.1 Định nghĩa

Trang 6

Tất cả cái gì con người suy nghĩ tới gọi là đối tượng của tư duy, mỗi đối tượng có các dấu hiệu nhất định Dấu hiệu của đối tượng là các thuộc tính, các quan hệ, các trạng thái giúp cho con người nhận thức đúng đắn, tách sự vật hiện tượng ra khỏi tập hợp các sự vật hiện tượng.

Các dấu hiệu của đối tượng được chia thành dấu hiệu cơ bản và không cơ bản :

- Dấu hiệu cơ bản : những dấu hiệu quy định bản chất bên trong, đặc trưng của sự vật hiện tượng

+ Dấu hiệu cơ bản tồn tại trong nhiều đối tượng hay trong một lớp sự vật hiện tượng gọi là dấu hiệu cơ bản chung

+ Dấu hiệu cơ bản chỉ tồn tại trong một sự vật gọi là dấu hiệu cơ bản đơn

nhất;

+ Có sự vật chỉ có một dấu hiệu cơ bản đơn nhất, có sự vật lại có nhiều

hơn một dấu hiệu cơ bản đơn nhất -> dấu hiệu cơ bản đơn nhất còn gọi là dấu hiệu khác biệt

+ Dấu hiệu cơ bản không khác biệt là các dấu hiệu chỉ thuộc các sự vật

trong cùng một lớp sự vật xác định

Ví dụ: Lớp Điện 34 trường CĐNCĐHN có 30 sinh viên

-> sinh viên A có dấu hiệu cơ bản đơn nhất khác sinh viên B, nói cách khác sinh viên A có dấu hiệu cơ bản đơn nhất khác biệt khác với sinh viên B (có thể dấu hiệu cơ bản đơn nhất ở đây là một hoặc một vài)

-> Giữa 30 sinh viên này lại có các dấu hiệu giống nhau nhưng không giống với bất kỳ sinh viên nào ở lớp khác, đây chính là những dấu hiệu cơ bản không khác biệt

- Dấu hiệu không cơ bản : những dấu hiệu không quy định bản chất bên trong, chất lượng của sự vật hiện tượng

Trang 7

Các dấu hiệu cơ bản khác biệt của sự vật được nhận thức của con người phản ánh một cách xác định tạo thành các dấu hiệu của khái niệm biểu thị sự vật đó.

Khái niệm: Là hình thức của tư duy trong đó phản ánh các dấu hiệu cơ bản khác biệt của một sự vật đơn nhất hay lớp các sự vật đồng nhất và được diễn đạt

bằng từ hoặc cụm từ

2.1.1.2 Đặc điểm của khái niệm

Khái niệm có các đặc điểm sau :

* Đặc điểm phản ánh : Khái niệm phản ánh những dấu hiệu bản chất khác biệt của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Ví dụ : Khái niệm vận tốc ánh sáng là 300.000 km/giây, nhờ đó có thể phân

biệt vận tốc ánh sáng với mọi vận tốc khác

* Đặc điểm phát triển : Khái niệm phản ánh những dấu hiệu bản chất khác biệt của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan mà sự vật, hiện tượng đó lại không ngừng vận động và phát triển, nên khái niệm cũng luôn vận động và phát triển Mặt khác, sự vận động đó còn phụ thuộc vào trình độ nhận thức của con người

* Đặc điểm về giá trị : Trong những khái niệm mà con người đã lĩnh hội được thì có những khái niệm chân thực và khái niệm giả dối Tính chân thực và giả dối của khái niệm được xác định bởi sự phù hợp hay không phù hợp của khái niệm với hiện thực khách quan

Khái niệm là một hình thức của tư duy trừu tượng : Bất kỳ một hành động

tư duy nào của con người cũng mang đặc trưng của tư duy khái niệm, tư duy dựa trên khái niệm để đạt tới những khái niệm mới Để giải quyết tình huống có vấn

đề, con người phải huy động vốn tri thức, kinh nghiệm đã có để phát hiện các mâu thuẫn và giải quyết các mâu thuẫn đó

2.1.1.3 Hình thức ngôn ngữ biểu thị khái niệm

Trang 8

Từ là cơ sở vật chất của ngôn ngữ Khái niệm chỉ có thể được biểu thị bằng từ và cụm từ -> nếu không có từ và cụm từ thì không thể hình thành và sử dụng khái niệm.

- Nếu dùng một từ để biểu thị khái niệm ta gọi đó là thuật ngữ :

+ Từ đồng nghĩa : cùng một đối tượng lại có nhiều từ diễn đạt:

Ví dụ: Tàu hoả, xe lửa

- Hoặc các từ như nhau nhưng được sắp xếp theo thứ tự khác nhau cũng biểu thị khái niệm khác nhau

Ví dụ: “vôi tôi’’ và ‘tôi vôi” ; “ngôn ngữ’’ và ‘ ngữ ngôn”…

- Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau người ta sử dụng hệ thống ngôn ngữ riêng biệt để biểu thị chính xác khái niệm Ví dụ : ‘Đĩa đệm’’, ‘RAM’’, ‘cơ cấu bánh răng’’…

2.1 2 Phương pháp cơ bản thành lập khái niệm

- Các thao tác tư duy (phân tích, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá) có

diễn ra hay không khi con người nhận thức về thế giới là điều kiện tiên quyết để có thể thành lập khái niệm

+ So sánh: Là thao tác logic, nhờ đó mà xác lập được sự giống nhau hay khác nhau của một sự vật trong hiện tượng khách quan

Trang 9

+ Phân tích: Là thao tác logic chia nhỏ “mổ xẻ” một đối tượng thành nhiều mặt hay nhiều bộ phận, nhiều giai đoạn, nhiều phương diện để xem xét và nghiên cứu.

+ Tổng hợp: Là thao tác logic liên kết các bộ phận , các dấu hiệu thuộc tính riêng lẻ thành một chỉnh thể trọn vẹn

+ Khái quát hoá: Là thao tác logic trong đó người ta tìm ra cái chung trong

cá sự vật hiện tượng của hiện thực rồi trên cơ sở đó lại liên kết chúng lại với nhau

+ Trừu tượng hoá: Là thao tác gạt bỏ, trục xuất những mặt khía cạnh thuộc tính dấu hiệu thứ yếu, riêng biệt, không bản chất ra khỏi đối tượng để khảo sát cái chung đã tìm được

- Việc thành lập khái niệm chính là việc con người đã có sự diễn ra các thao tác tư duy trừu tượng mà sản phẩm của nó là: phát hiện sự giống nhau giữa các đối tượng, chia chúng thành các thành phần, tách ra các dấu hiệu cơ bản, kết hợp các dấu hiệu cơ bản, đưa các đối tượng có hiệu cơ bản như nhau đó vào thành một lớp và biểu thị nó bằng tên gọi

2.2.3 Kết cấu lôgic của khái niệm

- Mỗi khái niệm bao giờ cũng có nội hàm và ngoại diên

+ Nội hàm: Nội hàm của khái niệm là tập hợp các dấu hiệu cơ bản của đối

tượng hay lớp đối tượng được phản ánh trong khái niệm đó

Nội hàm phản ánh mặt chất của khái niệm Nó trả lời cho câu hỏi đối tượng là gì

Ví dụ:

Phản ứng hóa học là quá trình biến đổi chất này thành chất khác

Khái niệm Nội hàm

+ Ngoại diên: Là đối tượng hay tập hợp đối tượng được khái quát trong

khái niệm

Trang 10

Ngoại diên thể hiện mặt lượng của khái niệm Nó trả lời cho câu hỏi đối tượng gồm những gì.

Ví dụ: Sông - Tất cả các con sông trên trái đất

Khái niệm Ngoại diên

- Nội hàm và ngoại diên của khái niệm liên hệ chặt chẽ, biểu thị tư tưởng thống nhất, phản ánh tập hợp đối tượng có dấu hiệu cơ bản chung Mối quan hệ

giữa nội hàm và ngoại diên là mối quan hệ ngược (nghịch biến): Nội hàm của

khái niệm càng hẹp thì ngoại diên của nó càng rộng và ngược lại.

Ví dụ: Ghế: khái niệm này có nội hàm rất hẹp – đồ vật dùng đề ngồi nó

sẽ gồm rất nhiều loại ghế làm bằng các chất liệu khác nhau, màu sắc, kích thước khác nhau… -> ngoại diên của khái niệm rất rộng vì nội hàm không xác định cụ

thể nó làm bằng chất liệu gì, màu sắc, kích thước… ra sao Nếu khái niệm là: Ghế

gỗ -> nội hàm rộng hơn vì lượng thông tin trong khái niệm rộng hơn -> ngoại diên

hẹp hơn -> số cái ghế thuộc khái niệm sẽ ít hơn

- Nếu khái niệm được trình bày bởi câu thì trong một số trường hợp khái niệm còn có thể có các từ giữ vai trò là các lượng từ và các từ giữ vai trò là các từ quan hệ làm cho khái niệm tường minh hơn

Ví dụ: Phần lớn sinh viên học cao đẳng là người chăm học.

lượng từ từ quan hệ

* Lưu ý: Có khái niệm giống và khái niệm loài: thông thường một khái

niệm giống có nhiều khái niệm loài, một khái niệm loài có nhiều lớp thuộc nó

=> Khái niệm giống là khái niệm có ngoại diên phân chia được thành các

lớp con; các khái niệm thuộc các lớp con đó gọi là khái niệm loài

=> Lớp là tập hợp đối tượng xác định có dấu hiệu chung nào đó.

=> Việc phân chia giống loài chỉ có tính chất tương đối

Ví dụ: Cây lan (khái niệm giống) gồm các loại lan: địa lan, lan chồn, lan

báo… (khái niệm loài)

Trang 11

Người ta sử dụng diện tích hình tròn (hình tròn ây rơ le) để diễn tả ngoại diên của khái niệm, mỗi đơn vị trên diện tích hình tròn biểu thị một đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm đó

2.1.4 Các loại khái niệm

 Căn cứ vào nội hàm cña kh¸i niÖm:

a Khái niệm cụ thể và khái niệm trừu tượng

- Khái niệm phản ánh đối tượng hay lớp đối tượng thực tế gọi là khái niệm

cụ thể

Ví dụ: Ngôi trường ; tòa nhà ….

- Khái niệm phản ánh các thuộc tính hay các quan hệ của các đối tượng gọi là khái niệm trừu tượng

Ví dụ: tích cực, dũng cảm…

b Khái niệm khẳng định và khái niệm phủ định

- Khái niệm khẳng định là khái niệm phản ánh sự tồn tại thực tế của đối tượng, các thuộc tính hay các quan hệ của đối tượng

Ví dụ: "văn hóa", ‘lịch sự’’…

- Khái niệm phản ánh sự không tồn tại dấu hiệu khẳng định của đối tượng

là khái niệm phủ định

Ví dụ: ‘vô văn hóa’, ‘bất lịch sự’’…

c Khái niệm quan hệ và khái niệm không quan hệ

- Khái niệm quan hệ là khái niệm phản ánh các đối tượng mà sự tồn tại của chúng quy định sự tồn tại của khái niệm khác

Ví dụ: “thực từ” – “hư từ”; “tử số” – “mẫu số” ; “giáo viên’’ - “học

sinh’’…

- Khái niệm không quan hệ là các khái niệm phản ánh đối tượng tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào khái niệm khác

Ví dụ: “bác sĩ”, “ Cái bàn”, “cây”

Trang 12

 Căn cứ vào ngoại diên của khái niệm

a) Khái niệm đơn nhất

- Khái niệm đơn nhất là khái niệm có ngoại diên chỉ chứa một đối tượng duy nhất

Ví du: mặt trời, Hà Nội…

b) Khái niệm chung

Khái niệm có ngoại diên chứa từ hai đối tượng trở lên gọi là khái niệm chung

Ví du: “bác sĩ” ; “giáo viên’’ ; “thủ đô’’

Ví dụ : Người lao động và nhà thơ

* Các quan hệ cụ thể của khái niệm hợp: đồng nhất, bao hàm, giao nhau

Trang 13

Mô hình hoá quan hệ (Hình 2.1)

+ Các khái niệm có ngoại diên nằm trong ngoại diên của

khái niệm khác gọi là quan hệ bao hàm hay phụ thuộc

Ví dụ: Khái niệm "Giáo viên" - A

và "Giáo viên dạy nghề" - B

Mô hình hoá quan hệ (Hình 2.2)

+ Các khái niệm có ngoại diên trùng nhau một phần

gọi là quan hệ giao nhau

Ví dụ: Khái niệm "Giáo viên" - A

và "Đảng viên" – B

Mô hình hoá quan hệ (Hình 2.3)

* Các khái niệm không hợp được chia thành:

khái niệm tách rời, đối lập, mâu thuẫn

- Hai khái niệm được gọi là tách rời nếu ngoại diên của chúng không có phần nào trùng nhau

Ví dụ: Khái niệm "Giáo viên" - A

và "Mặt trời" - B

Mô hình hoá quan hệ (Hình 2.4)

- Hai khái niệm gọi là đối lập nếu ngoại diên của chúng không có phần nào trùng nhau và tổng ngoại diên của hai khái niệm nhỏ hơn ngoại diên của khái niệm giống chung

Ví dụ: Khái niệm "Đen" - A

và "Trắng" - B

Mô hình hoá quan hệ (Hình 2.5)

C là khái niệm giống chung

- Hai khái niệm được gọi là mâu thuẫn nếu ngoại diên của chúng không có phần nào trùng nhau và tổng ngoại diên của chúng bằng ngoại diên của khái niệm giống chung

A

B

Hình 2.2

A

B

B

Hình 2.3

A

Hình 2.5 Hình 2.4

Hình 2.1

Trang 14

Ví dụ: Khái niệm "Chiến tranh chính nghĩa" - A

và "Chiến tranh phi nghĩa" - B

Mô hình hoá quan hệ (Hình 2.6)

* Ngoài các trường hợp trên, các khái niệm còn có quan hệ đồng thuộc: là các khái niệm cùng phụ thuộc vào khái niệm giống

2.1.6 Các thao tác lôgic đối với khái niệm

2.1.6.1 Mở rộng và thu hẹp khái niệm

* Cơ sở của phép mở rộng và thu hẹp khái niệm là mối quan hệ ngược giữa nội hàm và ngoại diên

Mở rộng khái niệm: Loại bỏ bớt những dấu hiệu

cơ bản của đối tượng hay lớp đối tượng

được phản ánh trong khái niệm đó

Đây là cách thu hẹp nội hàm của khái niệm

* Việc thu hẹp khái niệm ta làm ngược lại

* Khái niệm được mở rộng nhất hay quá trình mở rộng khái niệm kết thúc

sẽ thu được phạm trù.

2.1.6.2 Định nghĩa khái niệm

 Bản chất của định nghĩa khái niệm

- Bản chất của định nghĩa khái niệm là việc diễn ra các thao tác lôgíc để phát hiện nội hàm của khái niệm, nghĩa là xác định các dấu hiệu bản chất hoặc ý nghĩa của từ (hoặc thuật ngữ)

- Trong định nghĩa bao giờ cũng có 2 thành phần: khái niệm được định

nghĩa (tức khái niệm cần phát hiện ra nội hàm) và khái niệm để định nghĩa.

A B

A B

Trang 15

 Các quy tắc của định nghĩa

a) Định nghĩa phải cân đối: nghĩa là ngoại diên của khái niệm được định

nghĩa trùng với ngoại diên của khái niệm để định nghĩa => 2 khái niệm này có quan hệ đồng nhất : Dfd = Dfn

Nếu ngoại diên của khái niệm được định nghĩa lớn hơn ngoại diên của khái niệm để định nghĩa thì khái niệm quá hẹp và ngược lại

Ví dụ: Lôgíc học hình thức là khoa học nghiên cứu về tư duy

b) Định nghĩa không được luẩn quẩn: nghĩa là không dùng khái niệm được

định nghĩa để giải thích cho khái niệm để định nghĩa

Ví dụ: ‘Tài sản là của cải nói chung

Của cải là tài sản nói chung’’

c) Định nghĩa phải rõ ràng, chính xác, ngắn gọn

Trong định nghĩa không nên dùng những thuật ngữ mà muốn hiểu nó lại phải triết tự hoặc dùng tới định nghĩa khác mới hiểu được hay định nghĩa ví von

Ví dụ: ‘Tuổi trẻ là mùa xuân của cuộc đời’ => không rõ ràng.

Tam giác là hình tạo nên do một đường gấp khúc khép kín có

ba cạnh’ => định nghĩa không ngắn gọn vì ta có thể thay khái niệm loại ‘đa giác” để cho định nghĩa gọn : ‘Tam giác là đa giác có ba cạnh’

d) Định nghĩa không được phủ định: nghĩa là không dùng sự phủ định của

khái niệm được định nghĩa thành khái niệm để định nghĩa vì làm như vậy người

đọc không thể tìm ra nội hàm của khái niệm

Ví dụ : ‘số chẳn không phải là số lẻ’’ ; ‘tình yêu không phải là tội lỗi’’…

2.1.6.3 Phân chia khái niệm

 Bản chất và các loại phân chia khái niệm

a) Bản chất của việc phân chia khái niệm: thực chất của quá trình phân chia

là phân chia ngoại diên của khái niệm, là việc xác định ngoại diên của khái niệm

Trang 16

Muốn phân chia khái niệm một cách chính xác, đáp ứng yêu cầu của nghiên cứu, thì phải vạch ra được thuộc tính của đối tượng làm cơ sở cho sự phân chia ngoại diên của khái niệm (cần phân chia thành những bộ phận lấp đầy ngoại diên).

b) Kết cấu của phân chia khái niệm

Gồm ba bộ phận :

- Khái niệm bị phân chia: là khái niệm mà ta cần tìm hiểu ngoại diên của nó

có bao nhiêu đối tượng hợp thành (khái niệm giống)

- Khái niệm phân chia (thành phần phân chia): là những khái niệm được tạo

thành sau quá trình phân chia (khái niệm loài)

- Cơ sở phân chia : là dấu hiệu dùng để phân chia khái niệm (thuộc tính mà

dựa vào đó để phân chia khái niệm) Tùy theo mục đích khác nhau mà cơ sở phân chia cũng khác nhau

Ví dụ : phân chia khái niệm ‘ rừng’’

* Theo khí hậu phân chia thành:

- Rừng nhiệt đới

- Rừng ôn đới

* Theo tác động của con người phân chia thành :

- Rừng nguyên sinh

- Rừng nhân tạo (rừng tái sinh)

* Theo giống cây phân chia thành:

- Rừng cọ

- Rừng thông

…………

c) Các loại phân chia khái niệm

- Thứ nhất: Phân chia khái niệm theo sự biến đổi dấu hiệu: nghĩa là phân

chia khái niệm giống thành các khái niệm loài nhưng vấn đảm bảo mỗi khái niệm loài đó đều chứa đựng dấu hiệu của khái niệm giống

Ví dụ: Khái niệm "người" được chia thành:

Trang 17

+ Người châu Á

+ Người châu Âu

+ Người châu Phi

+ Người châu Mỹ

+ Người châu Úc

- Thứ hai: Phân đôi khái niệm: nghĩa là khái niệm ban đầu được tách thành

hai khái niệm sao cho 2 khai niệm mới mâu thuẫn với nhau

Ví dụ: khái niệm “câu” thành “câu đơn” và “câu phức/ghép”

* Phân loại khái niệm: Là phân chia khái niệm một cách liên tục

Ví dụ : Phân loại ‘phán đoán’’ thành ‘phán đoán đơn’’ và ‘phán đoán

phức’’ Sau đó tiếp tục phân chia ‘phán đoán đơn’’ thành ‘phán đoán đặc tính’’,

‘phán đoán quan hệ’’….và phân chia ‘phán đoán phức’’ thành ‘phán đoán liên kết’’, ‘phán đoán phân liệt’’…

* Các quy tắc phân chia khái niệm

- Phân chia phải cân đối: nghĩa là tổng ngoại diên của các thành phần

được phân chia phải bằng ngoại diên của khái niệm bị phân chia Nếu vi phạm quy

tắc này sẽ dẫn đến phân chia thừa hoặc phân chia thiếu.

Ví dụ 1 : Khái niệm ‘tam giác’’ được chia thành : ‘tam giác có ba góc

nhọn’’, ‘tam giác có một góc vuông’’, ‘tam giác có một góc tù’’ và ‘tam giác đều’’ - phân chia thừa vì tam giác đều được nhắc đến hai lần (trong khái niệm

‘tam giác có ba góc nhọn’’ có cả ‘tam giác đều’’)

Ví dụ 2 : Khái niệm ‘tam giác’’ nếu chỉ phân chia thành ‘tam giác tù’’ và

‘tam giác vuông’’ là phân chia thiếu

- Phân chia phải theo một cơ sở nhất định

Ví dụ : Phân chia khái niệm ‘người’’ thành ‘người châu Á’’, ‘người châu

Âu’’, ‘người tóc vàng’’, ‘người tóc đen’’ … Là vi phạm quy tắc

- Phân chia phải tạo ra các thành phần loại trừ nhau

Trang 18

Ví dụ : phân chia khái niệm ‘tóc’’ thành ‘tóc thường’’, ‘tóc yếu’’, ‘tóc

khỏe’’ và ‘tóc hư tổn’’ là vi phạm quy tắc

- Phân chia phải liên tục: nghĩa là giữa khái niệm ban đầu và khai niệm

được tạo mới không được có khoảng cách để có thể đưa được khái niệm khác vào giữa (Nếu có khoảng cách thì đó là sự phân chia nhảy vọt)

Ví dụ: Phân chia khái niệm trên nếu giữa các khái niệm "Người châu Á";

"Người châu Mỹ"… ta đặt khái niệm "Người Việt nam" ngang hàng là vi phạm quy tắc

CÂU HỎI BÀI TẬP

A Câu hỏi:

1 Thế nào là khái niệm, phân tích cấu trúc của khái niệm?

2 Phân loại khái niệm theo nội hàm và ngoại diên của chúng, cho ví dụ minh hoạ

3 Trình bày quan hệ của các khái niệm? Lấy ví dụ nghề nghiệp để minh hoạ

4 Nêu bản chất của việc định nghĩa khái niệm, có bao nhiêu hình thức định nghĩa

5 Trình bày các quy tắc định nghĩa khái niệm? Lấy ví dụ trong lĩnh vực nghề minh hoạ?

6 Thế nào là phân chia khái niệm, phát biểu và minh hoạ các quy tắc phân chia khái niệm?

B Bài tập:

1 Tìm nội hàm và ngoại diên của các khái niệm sau

“ Học sinh”, “Sinh viên” , “giáo viên” , “phương pháp dạy học”

2 ‘Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng chúng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa’’Theo lôgíc học, đoạn viết trên là một định nghĩa khái niệm Anh (chị) hãy xác định :

- Khái niệm được định nghĩa (Dfd) và khái niệm dùng để định nghĩa (Dfn)

Trang 19

- Các dấu hiệu nội hàm khái niệm được định nghĩa (Dfd) đã xác định.

4 Xác định quan hệ và mô hình hóa quan hệ của các khái niệm sau:

a “Học sinh” và “giáo viên”

b ‘Ngày’’, ‘ngày chẳn’’, ‘ngày lẻ’’, ‘ngày lễ’’, ‘ngày chủ nhật

5 Khi nghiên cứu về khái niệm ‘phương pháp dạy học’’, anh chị thường đặt nó trong mối quan hệ với các khái niệm nào ? hãy xác định rõ quan hệ giữa các khái niệm đó và mô hình hóa mối quan hệ giữa chúng

6 Mở rộng và thu hẹp khái niệm

“ Trường cao đẳng nghề cơ điện” , “học sinh”

§ 2.2 PHÁN ĐOÁN 2.2.1 Khái niệm chung

Trong quá trình nhận thức hiện thực khách quan việc tìm ra những thuộc tính dấu hiệu cơ bản của đối tượng để hình thành nên khái niệm chưa đầy đủ, con người phải kết hợp các khái niệm lại với nhau theo mọi quy luật nhất định để biểu đạt tư tưởng Sự liên kết những khái niệm đó chính là phán đoán

2.2.1.1 Định nghĩa phán đoán: Phán đoán là một hình thức của tư duy mà nhờ đó

các khái niệm được kết hợp lại để khẳng định hoặc phủ định vấn đề nào đó của bản thân sự vật và hiện tượng

Phán đoán có thể là chân thực, giả dối hay không xác định

Ví dụ: Quả đất quay quanh mặt trời - là chân thực

2 + 3 = 5, là giả dốiTổng thống Mỹ sang thăm Việt Nam vào đầu năm tới – là không xác định

2.2.1.2 Hình thức ngôn ngữ biểu thị phán đoán

Phán đoán được biểu thị bằng câu tường thuật có chứa một lượng thông tin xác định Tất cả các phán đoán là câu nhưng không phải câu nào cũng là phán đoán Câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm thán thường không biểu thị phán đoán

2.2.2 Phân loại phán đoán

Trang 20

Tùy theo sự liên kết khái niệm từ hai hay ba khái niệm trở lên mà trong lôgíc học hình thức người ta chia thành hai loại phán đoán : phán đoán đơn và phán đoán phức.

2.2.2.1 Phán đoán đơn

a Định nghĩa: Phán đoán đơn là phán đoán được tạo thành từ sự liên kết hai

khái niệm để khẳng định hay phủ định một thuộc tính, một quan hệ nào đó của đối tượng

Là loại phán đoán được cấu tạo bởi một cụm chủ ngữ và vị ngữ logic: S – P

Ví dụ : Từ hai khái niệm : ‘Giáo viên’’ và ‘giáo viên dạy nghề’’ ta có thể

xây dựng được một phán đoán đơn : ‘Một số giáo viên là giáo viên dạy nghề’’

b Các loại phán đoán đơn

Tùy thuộc vào sự khẳng định hay phủ định dấu hiệu của đối tượng tư tưởng (đặc điểm, thuộc tính, quan hệ) mà người ta chia phán đoán đơn thành : phán đoán đặc tính, phán đoán quan hệ, phán đoán hiện thực…

*Phán đoán quan hệ: Là loại phán đoán biểu thị mối quan hệ của các đối

tượng theo vị trí, kích thước, thời gian, nguyên nhân phụ thuộc

Ví dụ: Hải Dương nằm giữa Hà Nội - Hải Phòng

* Phán đoán đặc tính: Là loại phán đoán nói về sự phụ thuộc của đối tượng

này đối với lớp đối tượng khác

Ví dụ : Hoa hồng có mùi thơm

* Phán đoán hiện thực : Là loại phán đoán nói về sự phụ thuộc của đối

tượng này đối với lớp đối tượng khác

Ví dụ : An hôm nay được điểm 10

c Phán đoán đơn đặc tính

* Định nghĩa : Phán đoán đơn đặc tính là phán đoán đơn trong đó khẳng

định hay phủ định một đặc tính nào đó của đối tượng

Ví dụ : Hoa hồng có mùi thơm

Cô Hà dạy toán rất giỏi

Trang 21

Công thức của phán đoán đơn đặc tính :

S là P

S không là P

* Các loại phán đoán đơn đặc tính

Có những căn cứ khác nhau để phân loại phán đoán đơn đặc tính :

- Căn cứ theo đặc trưng của từ nối (phân chia theo chất lượng) chia thành :

+ Phán đoán khẳng định: dạng S là P

+ Phán đoán phủ định: dạng S không là P

- Căn cứ vào ngoại diên của khái niệm đứng làm chủ từ (phân chia theo số lượng) chia thành :

+ Phán đoán chung (phán đoán toàn thể) : Là phán đoán mà ngoại diên

của khái niệm đứng làm chủ từ được nêu lên toàn bộ ngoại diên

Ví dụ : Tất cả học viên lớp SPKT A2 là giáo viên

+ Phán đoán đơn nhất: Là phán đoán mà ngoại diên của khái niệm đứng

làm chủ từ chỉ nêu lên một đối tượng duy nhất

Ví dụ : Hà Nội – Thủ đô nước CHXHCNVN

Công thức : S này là (không là) P

Lưu ý : Phán đoán đơn nhất được quy về phán đoán chung, trong tiếng

Việt đôi khi diễn đạt không dùng từ ‘tất cả’’, ‘mọi’’…

- Căn cứ theo đặc trưng chất lượng và số lượng chia thành 4 loại cơ

bản :

+ Phán đoán khẳng định chung (A): Là phán đoán vừa khẳng định về

chất lượng vừa chung về số lượng

Ví dụ : Tất cả kim loại đều là nguyên tố hóa học

Trang 22

Công thức : Tất cả S là P

+ Phán đoán phủ định chung (E): Là phán đoán vừa phủ định về chất

lượng vừa chung về số lượng

Ví dụ : Tất cả học sinh lớp điện K33 A đều không lười học

Công thức : Tất cả S không là P

+ Phán đoán khẳng định riêng (I): Là phán đoán vừa khẳng định về

chất lượng vừa riêng về số lượng

Ví dụ : Một số giáo viên là giáo viên dạy giỏi

Công thức : Một số S là P

+ Phán đoán phủ định riêng (O)

Ví dụ : Một số giáo viên không là giáo viên dạy giỏi

Công thức : Một số S không là P

* Tính chu diên của thuật ngữ trong phán đoán đặc tính

Tính chu diên đó là sự hiểu biết về mức độ quan hệ giữa ngoại diên của khái niệm đứng làm chủ từ và ngoại diên của khái niệm đứng làm vị từ

Thuật ngữ là chu diên, nếu nó nói lên toàn bộ ngoại diên (ký hiệu +) Thuật ngữ là không chu diên, nếu nó nói lên một phần ngoại diên (ký hiệu -)

Ví dụ : Tất cả kim loại đều là nguyên tố hóa học

-Trong phán đoán trên S chu diên, P không chu diên (S, P nằm trong quan hệ bao hàm)

* Quan hệ giữa các phán đoán đơn đặc tính.

Quan hệ giữa các phán đoán nhất quyết đơn được biểu diễn bằng sơ đồ gọi là hình vuông lôgíc

Hình vuông lôgíc là hình vuông mà các đỉnh của nó là các phán đoán đơn đặc tính a, e, i, o; các cạnh và các đường chéo là quan hệ của các phán đoán

Đối lậpchung

Phụ Thuộc

Phụ Thuộc

Mâu thuẫn

Trang 23

Dựa vào hình vuông lôgíc, ta có thể xác định được giá trị lôgíc của các phán đoán còn lại mà không cần dựa vào nội dung tư tưởng của nó.

Quan hệ đối lập chung: Là quan hệ giữa a và e trong đó các phán

đoán có thể cùng giả dối nhưng không cùng chân thực

oc, ic = => a,e không xác định

Quan hệ mâu thuẫn: Là quan hệ giữa các phán đoán a với o và e

với i

ac <=> og hoặc ngược lại

eg <=> ic hoặc ngược lại

* Phủ đinh phán đoán đơn

Phủ định phán đoán đơn là phán đoán phủ định của phán đoán đơn cho trước, nó

là chân thực khi phán đoán trước là giả dối và ngược lại

Đối lậpriêng

Mâu thuẫn

Trang 24

Phủ định phán đoán đơn có các trường hợp sau:

1) a - o: ‘Tất cả S là P” và “Một số S là P”

2) e - i: “Không S nào là P” và “một số S là P”

3) a - e: “S này là P” và “S này không là P”

2.2.2.2 Phán đoán phức

a Định nghĩa: là phán đoán được tạo thành từ hai hay nhiều phán đoán đơn

ghép lại với nhau bằng liên từ logic (và, hoặc, nếu…thì, )

Các phán đoán đơn gọi là các phán đoán thành phần Một phán đoán phức bao giờ cũng được tách thành hai hay nhiều phán đoán đơn có nghĩa

Ví dụ: Chất lượng đào tạo được nâng cao nhờ đổi mới nội dung và phương pháp dạy

học - Là một phán đoán phức

Hoa và Thủy là hai chị em ruột - Không phải là phán đoán phức

b Phân loại phán đoán phức

* Phán đoán liên kết (phép hội): Là loại phán đoán bao gồm các phán đoán đơn

ghép lại với nhau bằng liên từ logic “và” (Λ)

Ví dụ: Dây đồng và dây chì dẫn điện

Gọi P, Q phán đoán đơn Công thức phán đoán P và Q hoặc P Λ Q

Gọi 1 là chân thực, 0 là giả dối, ta có bảng giá trị lôgíc (bảng chân lý)

1100

1010

1000

Nhận xét: P và Q đúng khi cả P và Q đúng Sai trong mọi trường hợp khácLưu ý: Trong điều kịên nhất định cho phép hội còn được biểu đạt bằng từ nối khác như “ đồng thời”, “nhưng mà” , “song vẫn”, cũng, “dấu phảy”

Trang 25

* Phán đoán phức tuyển (Phép tuyển): Là loại phán đoán phức bao gồm các

phán đoán đơn ghép lại với nhau bằng liên từ logic “Hoăc” còn gọi là phán đoán phân liệt

+ Phán đoán tuyển loại: ký hiệu v

Ví dụ: Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai

( Diễn đạt: Sinh con đầu lòng là trai hoặc sinh con đầu lòng là gái)

1010

0111

+ Phán đoán tuyển không loại: ký hiệu “ V” là phán đoán đơn ghép lại với nhau bằng liên từ logic “hoặc” nhưng cho phép đối tượng đồng thời có các thuộc tính trong các phán đoán đơn

Ví dụ: Lợi nhuận tăng nhờ nâng cao năng suất lao động hoặc hạ giá thành sản phẩm

Lập bảng chân lý

1100

1010

1110

Trang 26

* Phán đoán có điều kiện (phép kéo theo): Là loại phán đoán phức mà các phán

đoán đơn ghép lạ với nhau bằng các liên từ logic “ Nếu….Thì” Ký hiệu là “→” Phán đoán có điều kiện phản ánh mối quan hệ nhân quả giữa các sự vật, hiện tượng

Ví dụ: Nếu trời mưa thì đường ướt

Nếu An học giỏi thì An được thưởng Chú ý: Loại phán đoán này cần xem xét đến điều kiện đủ, điều kiện cần và điều

kiện cần và đủ

Ví dụ: Nếu anh có sáng kiến thì anh được thưởng

Nếu em không khoẻ mạnh thì em không học giỏi

Công thức phán đoán P → Q

Trong đó vế I là điều kiện của vế thứ II, còn vế thứ II là hệ quả của vế I

Những phán đoán phức không có từ nối

- Phán đoán nhấn mạnh

Dạng : Chỉ có S là PVD: Chỉ có động vật có vú là có tuyến sữa

- Phán đoán loại trừ

Dạng Không có S nào trừ PVD: Không có nơi nào có sự sống trừ trái đất

Phủ định các loại phán đoán (Ký hiêu ~ )

Xét phán đoán: Dây đồng dẫn điện (1P)

Lập phán đoán mới bằng cách phủ đinh phán đoán trên

Không phải dây đồng dẫn điện (0)Lập bảng chân lý

Ta lại tiến hành phủ định của phủ định : P = ~ (~ P)

Ngày đăng: 04/04/2017, 14:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng chân lý: - BÀI GIẢNG LOGIC HOC
Bảng ch ân lý: (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w