Định nghĩa: Là loại suy luận suy diễn rút ra kết luận trực tiếp từ một tiền đề là một phán đoán
Chẳng hạn: Tất cả S là P. → Một số S là P.
Suy luận trực tiếp được chia thành bốn dạng cơ bản: phép đảo ngược, phép chuyển hoá, phép đối lập vị ngữ và suy luận theo “hình vuông logic”.
Phép đảo ngược: Là phép suy luận trực tiếp từ một phán đoán làm tiên đề, với sự thay đổỉ vị trí của chủ ngữ và vị ngữ logic mà chất lượng phán đoán mới không đổi (chất lượng ở đây là tính chân thực, hợp lý hay giả dối phi lý của phán đoán mới so với tiền đề)
+ Phán đảo của phán đoán đặc tính:
Loại a: Tất cả S là P.
Phán đảo: Một số P là S . a → i
Ví dụ : Tất cả máy tiện là máy cắt gọt kim loại.
Một số máy cắt gọt kim loại là máy tiện.
Loại e: Tất cả S không là P.
Phán đảo: Tất cả P không là S. e → e Ví dụ: Tất cả học sinh lớp A không có học bổng.
Tất cả người có học bổng không phải là học sinh lớp A.
Loại i : Một số S là P.
Phán đảo: Một số P là S. i → i Ví dụ: Một số giáo viên là nam giới.
Một số nam giới là giáo viên.
Loại o: Không phán đảo được
Ví dụ: Một số người không phải là kiến trúc sư.
+ Phán đảo của phán đoán có điều kiện:
Công thức: Nếu S là P thì S1 là P1
Chuyển: Nếu S1 không phải là P1 thì S không phải là P
Ví dụ: Nếu anh (S) làm việc vượt chỉ tiêu (P) thì S1 được thưởng P1 Nếu anh (S1) không được thưởng (P1) thì S không vượt chỉ tiêu (P)
Phép chuyển hoá : Là một dạng diễn dịch trực tiếp trong đó, từ một phán đoán tiền đề ta thu đựợc phán đoán mới nhờ chuyển hoá chất của phán đoán sang chất đối lập và chuyển hoá đối lập vị từ mà nội dung của phán đoán không thay đổi.
Thực chất của phép chuyển hoá là tìm một cách diễn đạt khác thay thế cách diễn đạt ban đầu mà nội dung vẫn được bảo toàn dựa trên tính chất của phép phủ định là phủ định của phủ định ta thu được giá trị ban đầu và nguyên tắc có thể chuyển dấu phủ định vị từ sang từ nối hoặc ngược lại thì nội dung phán đoán không thay đổi.
Phép chuyển hoá không làm chủ từ thay đổi cả về ngoại diên lẫn nội hàm của nó.
Có hai dạng chuyển hoá: chuyển hoá hai lần phủ định và chuyển hoá chuyển nghĩa phủ định của từ nối và vị từ.
• Thực hiện phủ định hai lần
• Chuyển nghĩa phủ định từ vị từ sang từ nối ; hay ngược lại
Đương nhiên trong khi nói và viết cần thực hiện sao cho phù hợp với ngôn ngữ tiếng Việt.
Đối với bốn dạng chung cơ bản của phán đoán nhất quyết đơn phép chuyển hoá được thực hiện như sau :
1/ a → e
“Danh từ là từ“, nên, “Không danh từ nào không là từ“.
2/ e → a
“Không hình chữ nhật nào không là hình bình hành“, do đó, “Mọi hình chữ nhật là hình bình hành“.
3/ i → o
“Một số động vật là động vật không xương sống “, vì vậy, “Một số động vật không là động vật có xương sống“.4/ o → i
“Một số mâu thuẫn không là mâu thuẫn đối kháng“, suy ra, “Một số mâu thuẫn là mâu thuẫn không đối kháng“.
S là P - S không là không P
S là không P - S không là P; hay S không là P - S là không P
Phép đối lập vị từ : Là diễn dịch trực tiếp từ một phán đoán ban đầu ta thu được phán đoán mới, trong đó khái niệm đối lập với vị từ của tiền đề trở thành chủ từ của kết luận, khái niệmc hủ từ của tiền đề trở thành vị từ của kết luận, chất của phán đoán chuyển sag chất đối lập, còn giá trị không thay đổi.
Thực chất phép đối lập vị từ là từ dạng diễn dịch trực tiếp từ một tiền đề trên cơ sở kết hợp phép chuyển hoá vfa phép đảo ngược. Vì vậy, phép đối lập vị từ còn có thể định nghĩa như sau :
Đối lập vị từ là diễn dịch trực tiếp từ một phán đoán ban đầu ta thu được phán đoán mới có giá trị chân lý không thay đổi trên cơ sở thực hiện phép chuyển hoá và phép đảo ngược.
Phép đối lập vị từ được thực hiện theo các bước sau :
+ Thực hiện phép chuyển hoá bằng cách đưa hai dấu phủ định, một vào vị từ, một vào từ nối hoặc chuyển nghĩa phủ định từ từ nối (nếu có) sang vị từ.
+ Thực hiện phép đảo ngược vị trí vai trò của chủ từ và vị trí của phán đoán thu đựợc sau phép chuyển hoá.
Ví du 1: “Mọi kim loại là nguyên tố hoá học”.
“Mọi kim loại không thể là những chất không phải là nguyên tố hoá học”.
“Mọi chất không phải là nguyên tố hoá học không là kim loại”.
Ví du 2: “Tất cả những người hiện đại không phải là người cổ đại”.
“Tất cả những người hiện đại là những người không cổ đại ”.
“Một số người không cổ đại là người hiện đại”.
Ví du 3: “Một số sinh viên không là hoa hậu”.
“Một số sinh viên là những người không phải hoa hậu ”.
“Một số người không phải hoa hậu là sinh viên”.
Suy luận theo “hình vuông logic:
Dựa vào quan hệ giữa các phán đoán a, e, i, o có cùng các thuật ngữ có thể xây dựng các suy luận trực tiếp tin cậy. Đương nhiên, để rút ra được kết luận chính xác, tin
cậy từ tiền đề, chúng ta cần nắm vững quan hệ giữa các phán đoán đã được nghiên cứu ở chương Phán đoán.
2.3.3.2. Suy diễn gián tiếp
Định nghĩa: Suy diễn gián tiếp là suy luận suy diễn mà kết luận là phán đoán mới được rút ra trên cơ sở mối liên hệ logic giữa hai hay nhiều phán đoán tiền đề.
Như vậy, dấu hiệu căn bản để phân biệt suy luận trực tiếp và suy luận gián tiếp là số lượng phán đoán tiền đề là một (trực tiếp) hay nhiều (gián tiếp).
Suy luận gián tiếp có rất nhiiều dạng với những cấu trúc logic khác nhau. Sau đay ta nghiên cứu một số dạng cơ bản sau: tam đoạn luận, tam đoạn luận rút gọn tam đoạn luận phức, tam đoạn luận ba đoạn hợp hai, suy luận có điều kiện, suy luận phân liệt và suy luận phân liệt có điều kiện.
a. Tam đoạn luận
Định nghĩa và đặc trưng của tam đoan luận
Tam đoạn luận hay luận ba đoạn nhất quyết đơn là suy luận diễn dịch gián tiép trong đó có kết luận là phán đoán nhất quyết đơn được rút ra từ mối liên hệ logic tất yếu giữa hai tiền đề là các phán nhất quyết đơn.
Ví dụ: “Mọi công dân Việt Nam đều có nghĩa vụ đối với tổ quốc Việt Nam”. (1)
“Thanh niên Việt nam là những công dân Việt Nam” . (2)
“Thanh niên Việt Nam có nghĩa vụ đối với tổ quốc Việt Nam”. (3) Suy luận trên có thể biểu diễn dưới dạng tổng quát:
Mọi M là P (1) Mọi S là M (2) Mọi S là P (3)
Trong đó, phán đoán (1) và (2) là các tiền đề, phán đoán (3) là kết luận, M, S, P là các thuật ngữ.
Trong suy luận tam đoạn luận, người ta quy ước lấy chữ “S ” biểu diễn chủ từ của kết luận, chữ “P ” biểu diễn vị từ của kết luận, chữ “M ” biểu diễn thuật ngữ giữa không xuất hiện ở kết luận nhưng lặp lại ở hai tiền đề.
Thuật ngữ “M ” là thuật ngữu trung gian, nhờ nó mà hai phán đoán tiền đề có mối liên hệ với nhau và từu đó hai thuật ngữ “S ” và “P ” tìm được quan hệ của mình trong kết luận.
Tiền đề nào chứa thuật ngữ “S ” được gọi là tiền đề nhỏ, tiền đề nào chứa thuật ngữ “P ” gọi là tiề đề lớn.
Các quy tắc của suy luận tam đoạn luận
Trong bất kỳ một suy luận nào, muốn bảo đảm một cách tất yếu lôgic rút ra được kết luận chân thực từ nội dung chân thựuc của các phán đoán tiền đề thì suy luận đó buộc phải tuân thủ chặt chẽ những quy tắc xác định.