GIẢ THUYẾT – CHỨNG MINH
4.1.1. Quy luật đồng nhất
1. Nội dung quy luật đồng nhất: Mọi tư tưởng phải đồng nhất với chính nó
2. Yêu cầu của quy luật đồng nhất:
Trong quá trình suy luận, tranh luận, biện luận về một vấn đề gì đó, ta phải bám sát đối tượng, phải nói chính về nó, không được thay thế khái niệm (đối tượng) này bằng khái niệm khác; phải xác định rõ khái niệm dùng làm cơ sở; mọi khái niệm phải dùng trong một ý nghĩa.
Như chúng ta vừa nói ở trên, sự vật hiện tượng luận luôn vận động, biến đổi và phát triển. Vì vậy luật đồng nhất chỉ yêu cầu khi nào chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác thì chúng ta phải có ý thức về sự chuyển biến đó và yêu cầu
khi tư tưởng đã chuyển sang bước khác thì trong bước này, tư tưởng về đối tượng phải giữ nguyên.
Nghiên cứu quy luật này chúng ta phải lưu ý một điểm là dù ta xét sự vật ở trạng thái ổn định tạm thời nhưng phải có cách nhìn rộng, phải đảm bảo sự phát triển của tư tưởng, nhanh chóng thấy được sự phát triển của đối tượng, tránh cách nhận xét đánh giá sự vật một cách cứng đờ, máy móc dẫn đến hiện tượng thiếu khách quan trong đánh giá.
Vi phạm luật này ta dễ mắc sai lầm là đánh tráo khái niệm. Trong thực tế, có nhiều trường hợp cố ý trái luật đồng nhất mà ta gọi là ngụy biện.
Trong thực tế thường gặp hai lỗi logic sau:
- Đánh tráo tư tưởng đồng nhất thành hai tư tưởng khác biệt.
- Đánh tráo tư tưởng hai tư tưởng khác biệt thành hai tư tưởng đồng nhất.
Ví dụ về loại lỗi thứ nhất:
Ví dụ : Tên nhà giàu hỏi người đầy tớ:
- Nghe nói thiên hạ bảo ta giống một con khỉ lắm hả?
- Đâu có, họ chỉ bảo rằng có một con khỉ giống ngài thôi ạ!
- Có thế chứ! Nói xong, nét mặt tên nhà giàu không còn giận gjữ như trước nữa.
Ví dụ về loại lỗi thứ hai:
Chính trị gia hỏi một chiến sĩ::
- Cha của anh chết như thế nào?
- Ông ấy chết trong một trận chiến.
- Thế người anh của anh?
- Cũng vậy.
- Vậy thì tại sao anh lại còn dám tham gia quân đội?
Chiến sĩ hỏi lại chính trị gia:
- Thân sinh của ngài chết như thế nào?
- Ông ấy chết trên giường - Thế ông nội của ngài?
- Cũng vậy.
- Vậy thì tại sao ngài còn dám ngủ trên giường?
(Bạn đọc tự phân tích lỗi lôgíc trong văn bản trên) 4.2.2. Quy luật cấm mâu thuẫn:
Nội dung quy luật: Hai phán đoán, trong đó một phán đoán khẳng định và một phán đoán phủ định về cùng một đối tượng tư tưởng, thì không thể đồng thời là chân thực
Quy luật cấm mâu thuẫn nói lên tính nhất quán của tư tưởng
Nói đến mâu thuẫn ta thường nghĩ đó là sự bất đồng ý kiến. Là sự không thống nhất với nhau về một vấn đề gì đó hoặc là sự đối lập nhau của sự vật hiện tượng. Nghiên cứu lôgíc học chúng ta cần nhận biết mâu thuẫn trong thực tế và mâu thuẫn lôgíc. Mâu thuẫn trong thực tế là mâu thuẫn tư tưởng về sự vật. Luật mâu thuẫn được phát triển như sau:
- Đối với một sự vật trong cùng một thời gian, một quan hệ không thể có 2 ý kiến đối lập nhau đều đúng cả. Một trong hai ý kiến đó phải sai.
- Muốn xác định 1 phán đoán này mâu thuẫn với phán đoán kia thì chúng ta phải căn cứ vào cùng một thời gian, một mối quan hệ
Ví dụ: Anh A là đoàn viên
Anh A không phải là đoàn viên
Trong hai phán đoán trên nhất định một phán đoán là chân thực. Tuy nhiên, để xác định phán đoán nào là chân thực ta phải xét trong cùng một thời gian.
Ví dụ trên là trường hợp đơn giản. Trong thực tế tư duy, nhiều hiện tượng vi phạm quy luật này khó nhận diện hơn.
Quy luật mâu thuẫn lôgíc không những được sử dụng trong tư duy suy luận mà cả trong chứng minh và bác bỏ.
4.2.3. Quy luật bài trung (quy luật loại trừ cái thứ ba) Quy luật này nói lên tính rõ ràng, minh bạch của tư tưởng.
Nội dung quy luật: Trong 2 phán đoán phủ định lẫn nhau cùng phản ánh một dấu hiệu của một đối tượng trong những điều kiện xác định thì 1 phán đoán là đúng, 1 phán đoán là sai, không thể có cái thứ 3 vừa đúng vừa sai được.
Cả luật mâu thuẫn và luật bài trung đều thể hiện yêu cầu: Đó là tính mâu thuẫn của tư tưởng, nhưng có chỗ khác nhau. Cụ thể là luật mâu thuẫn chỉ nêu ra được nội dung: Giữa 2 tư tưởng mâu thuẫn, nhất định là có 1 cái sai, không cho biết cái còn lại là sai hay đúng. Còn luật bài trung vạch ra sâu hơn là trong 2 phán đoán phủ định lẫn có 1 cái sai, 1 cái đúng. Giữa tư tưởng khẳng định và phủ định với một sự vật, giữa 1 cái đúng và 1 cái sai phải chọn lấy 1.
Ví dụ: Có một lần Sôcrát nói với môn đệ của mình rằng “ta và vợ ta đều là những nhà thiên văn học tài ba, dự đoán của một trong hai người không bao giờ sai”. Học trò không tin, xin thầy cho ví dụ minh chứng. Ông nói: “Thì đấy, cứ mỗi lần mây mù kéo đến, nếu ta nói trời mưa thì vợ ta nói trời không mưa”
Luật bài trung có ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó giúp ta lựa chọn tư tưởng, tình cảm, hành động trong qua trình hoạt động. Nó chỉ rõ con đường suy nghĩ chính xác, thoát khỏi trạng thái mâu thuẫn hỗn loạn của tư tưởng. Nó đưa ra chỗ dựa vững chắc quả quyết để tư tưởng tìm ra kết quả chính xác.
4.2.4. Quy luật lý do đầy đủ
Quy luật này nói lên tính chất có căn cứ và tính có thể chứng minh được của tư tưởng.
Sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan liên hệ với nhau bằng nhiều mối quan hệ trong đó có mối quan hệ nhân quả. Không có kết quả nào không có nguyên nhân, không có căn cứ.
Nội dung của quy luật: Mọi luận điểm, mọi phán đoán muốn được tin cậy cần phải có đầy đủ lý do xác đáng làm căn cứ cho nó.
Theo quy luật này mỗi tư tưởng đúng đắn chính xác phải có cơ sở là những tư tưởng khác đã được chứng minh là đúng đắn. Những tư tưởng này gọi là cơ sở