1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương bài giảng logic học

88 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 804,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng của lôgíc biện chứng là nghiên cứu tư duy biện chứng: - Nghiên cứu các dạng vận động của tư duy bằng các phạm trù động ở trạng thái vận động phát triển, trong mối quan hệ tương

Trang 1

Đối tượng và ý nghĩa của Logic học

1.1 Lôgíc học với tư cách là một khoa học

1.1.1 Sơ lược về lịch sử lôgíc học

Cũng như các khoa học khác, Lôgíc học ra đời do nhu cầu tìm hiểu và cải tạo thế giới, do yêu cầu phát triển của thực tiễn và trí tuệ chung toàn nhân loại

Từ buổi bình minh của xã hội loài người, con người đã có nhu cầu nhận thức thế giới, phản ánh thế giới Các đối tượng nghiên cứu tập trung cả vào việc nghiên cứu tự nhiên, xã hội và tư duy Mỗi một đối tượng đòi hỏi có phương pháp nghiên cứu riêng và từ một đối tượng cụ thể, xác định đó, với một số phương pháp nghiên cứu đặc thù đã cho ra đời một ngành khoa học

Tư duy cũng là lĩnh vực nhiều ngành khoa học lấy làm đối tượng nghiên cứu:

- Tâm lý học nghiên cứu tư duy như là bộ phận cấu thành thế giới bên trong con người (ý chí, tình cảm,…);

- Sinh lý học nghiên cứu cơ chế sinh lý tư duy

Vấn đề đặt ra là tư duy có tuân theo quy luật nào không? Cấu trúc của nó thế nào?

Mô hình của nó ra sao? Hàng loạt câu hỏi xoay quanh vấn đề đó được nêu ra

Ví dụ: “Sức mạnh bắt buộc của lời nói dựa trên cái gì, bằng những biện pháp nào để nắm chắc lời nói để làm cho người ta tin tưởng buộc họ phải đồng ý với cái gì đó, hay phải công nhận cái gì đó là chân thực” (lôgíc hình thức và triết học)

Vào thế kỷ thứ 4 TCN, nhà triết học cổ vĩ đại Aristốt được coi là người sáng lập ra lôgíc học Ông là người đầu tên nghiên cứu tỷ mỷ khái niệm, phán đoán, suy luận và chứng minh Ông đã mô tả hàng loạt thao tác, nêu lên các quy luật cơ bản trong tác phẩm “siêu hình học”

Những tác phẩm chủ yếu về lôgíc học của Aristốt là “Phân tích thứ nhất” và

“Phân tích thứ hai”, trong đó ông nêu lên thuyết về luận ba đoạn, định nghĩa

và phân chia khái niệm, chứng minh,… Toàn bộ tác phẩm của ông sau này

Trang 2

Lôgíc học do Aristốt sáng lập có tên gọi là lôgíc hình thức hay lôgíc truyền thống, vì nó xuất hiện và phát triển với tư cách là một khoa học về hình thức của tư duy phản ánh nội dung

Học thuyết của ông được phát triển tiếp tục ở thời kỳ Trung thế kỷ và thời đại Phục Hưng bởi các nhà khoa học: Bê-cơn (1561- 1626/Anh); Đề-các (1596-1650/ Pháp); Cant (1724-1804/Đức); Lômôlôxôp (1711-1765/Nga); Carinski (1840-1917/Nga),…

Nhà triết học Đức, Lepnitz (1646- 1716) được coi là người sáng lập lôgíc ký hiệu và bổ sung vào lôgic học của Aristốt quy luật lý do đầy đủ Lôgíc toán phát triển mạnh mẽ cùng với tên tuổi của các nhà bác học: Bul, Srioderer, Poreski, Pirzer,…

Trong lôgíc ký hiệu người ta sử dụng các thuật ngữ (hằng lôgíc) được biểu thị như sau:

- a, b, c,…- Mệnh đề tuỳ ý, còn gọi là các biến của mệnh đề;

- A, B, C – Tên đối tượng;

- Các liên từ lôgíc:

 - Phép hội tương ứng với liên từ “và”;

 - Phép tuyển tương ứng với liên từ “hay”,“hoặc”

 - Phép kéo theo tương ứng với liên từ “nếu…thì”

 ≡ hoặc - Phép tương đương, tương ứng với liên từ “khi và chỉ khi”

 ~ hoặc , hoặc - Phép phủ định, tương ứng với liên từ “không”,“không phải”

- Các lượng từ:

 v- Lượng từ phổ dụng tương ứng với “mọi”, “tất cả”;

 - Lượng từ tồn tại tương ứng với “một số”, “phần lớn”,…

- Các dấu hiệu kỹ thuật: (, ) - mở và đóng ngoặc

Từ quá trình tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề trên, khoa học lôgíc ra đời Thuật ngữ lôgíc có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp “Logos” có nghĩa là lời nói, ý nghĩa, lý lẽ Thuật ngữ đó được hiểu theo hai nghĩa:

Trang 3

- Nghĩa thứ nhất: Nó được biểu thị tập hợp các quy luật bắt buộc quá trình

tư duy phải tuân theo nhằm phản ánh đúng đắn hiện thực, cũng như để biểu thị các quy tắc lập luận khoa học và những hình thức trong đó lập luận tồn tại;

- Nghĩa thứ hai: “Lôgíc” còn để biểu thị tính quy luật của thế giới khách quan như “Lôgíc của sự vật”, “Lôgíc của các sự kiện”,…

Thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên trong các tác phẩm của các triết gia cổ đại như Hêracrit (530-470 tr.cn), Đêmôcrit (460-370 tr.cn) Thuật ngữ này xuất hiện sớm như vậy nhưng danh hiệu “Người sáng lập khoa học lôgíc” lại dành cho Aristốt (384-322 tr.cn), nhà đại học giả cổ Hy Lạp Bởi vì cho đến ông, đối tượng nghiên cứu Lôgíc học mới được xác định cụ thể Ông đã trình bày một cách hệ thống các quy tắc lôgíc Đó là những hình thức và quy luật

tư duy Cho nên Aristốt xứng đáng là người đặt nền móng cho khoa học lôgíc, đánh dấu sự ra đời của lôgíc học với tư cách là khoa học độc lập Qua hơn 2000 năm lịch sử, cùng với sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học khác, Lôgíc học đã có những bước đi dài trên con đường phát triển của mình Đó là việc Lôgíc học đã nghiên cứu đối tượng một cách sâu sắc hơn, khách quan và đầy đủ hơn

Những thành tựu của toán học như sự xuất hiện của hình học phiơcơlit, lý thuyết tập hợp, tôpô gắn liền với sự xuất hiện lôgíc toán (đối tượng là lôgíc học, phương pháp là toán học) có vai trò quan trọng khi xây dựng các phương pháp trong điều khiển khoa học, ngôn ngữ học và các lĩnh vực khác

Sự xuất hiện phép biện chứng của Hêghen (1770-1831), sự ra đời của phép biện chứng duy vật của Mác- Ănghen dẫn tới sự ra đời của lôgíc biện chứng (nghiên cứu tư duy trên quan điểm vận động và phát triển)

Mọi tư tưởng phản ánh hiện thực đều bao gồm hai phần: Nội dung và hình thức Nội dung của tư tưởng là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan Hình thức của tư tưởng chính là cấu trúc lôgíc của nó

Ví dụ :

Trang 4

- Tất cả những tên địa chủ đều là kẻ bóc lột;

- Toàn thể sinh viên lớp ta đều là đoàn viên

Ba tư tưởng trên đây có nội dung hoàn toàn khác nhau nhưng lại giống nhau

về hình thức Chúng đều có chung cấu trúc lôgíc: Tất cả S là P

Lôgíc học còn có một phần cơ bản là lôgíc hình thức: Nghiên cứu các hình thức của tư duy (khái niệm, phán đoán, suy luận), tuy vậy nó cũng nghiên cứu các quy luật của tư duy ở trạng thái tĩnh Nói cách khác nó nghiên cứu cấu tạo tư tưởng con người về mặt hình thức mà không nghiên cứu nội dung

tư tưởng Xem xét sự vật ở trạng thái tĩnh, tương đối bền vững, tách khỏi sự hình thành, biến đổi và phát triển của các khái niệm, tư tưởng đó

Lôgíc biện chứng không bác bỏ lôgíc hình thức, mà chỉ vạch rõ ranh giới của nó, coi nó như một hình thức cần thiết nhưng không đầy đủ của tư duy lôgíc Trong lôgíc biện chứng, học thuyết về tồn tại và học thuyết về sự phản ánh tồn tại trong ý thức liên quan chặt chẽ với nhau

Nếu như Lôgíc hình thức nghiên cứu những hình thức và quy luật của tư duy phản ánh sự vật trong trạng thái tĩnh, trong sự ổn định tương đối của chúng thì Lôgíc biện chứng lại nghiên cứu những hình thức và quy luật của tư duy

phản ánh sự vận động và phát triển của thế giới khách quan

Quan điểm lôgíc biện chứng: Sự vật vừa là nó, vừa không phải là nó (Hêghen phát hiện)

Đối tượng của lôgíc biện chứng là nghiên cứu tư duy biện chứng:

- Nghiên cứu các dạng vận động của tư duy bằng các phạm trù động ở trạng thái vận động phát triển, trong mối quan hệ tương hỗ biện chứng (vận động là tuyệt đối);

- Nghiên cứu diễn biến của tư tưởng nhờ các khái niệm, phán đoán, suy luận và các phương tiện lôgíc khác để hình thành khái niệm, nghĩa là nghiên cứu quá trình xuất hiện, vận động và phát triển của khái niệm;

- Nghiên cứu nội dung của tư tưởng phản ánh sự vật hiện tượng khách quan

Quan điểm lôgíc hình thức: Sự vật là sự vật (Aristốt phát hiện)

Trang 5

Đối tượng của lôgíc hình thức là nghiên cứu tư duy chính xác:

- Nghiên cứu các hình thức, quy luật tư duy bằng các phạm trù bất động ở trạng thái tĩnh, cô lập, tách khỏi sự phát triển biến đổi (đứng im tương đối);

- Nghiên cứu những khái niệm có sẵn;

- Nghiên cứu những tư tưởng đạt đến mức độ nào hiểu biết về sự vật hiện tượng khách quan;

- Nghiên cứu cấu tạo của tư tưởng trong quá trình phản ánh sự vật hiện tượng khách quan

1.1.2 Định nghĩa khoa học lôgíc

Lôgíc học là khoa học về cấu trúc hình thức của tư duy và các quy luật tư duy chính xác

Nói cách khác: Lôgíc học là khoa học nghiên cứu những tư tưởng con người

về mặt hình thức lôgíc của chúng và xây dựng những quy luật, quy tắc mà việc tuân theo những quy luật, quy tắc ấy là điều kiện cần để đạt tới chân lý trong quá trình rút ra tri thức suy diễn

1.1.3 Ý nghĩa của Lôgíc học

Có người nói: “Không cần nghiên cứu lôgíc học cũng vẫn tư duy được chính xác, vẫn phát triển được những tư tưởng đúng đắn”

Về điều này Hêghen trả lời rất đúng như sau: “Muốn suy nghĩ đúng không nhất thiết phải biết Lôgíc học, cũng như con người, không cần biết Sinh lý học, biết cơ sở của sự tiêu hóa rồi mới biết ăn”

Cũng để trả lời câu nói tương tự, Lépnit chế diễu: “Nếu nói rằng, trước khi nghiên cứu Lôgíc học, con người không có khả năng suy nghĩ, như vậy là đã

hạ thấp vai trò tự nhiên và coi con người chỉ là con vật có hai chân mà Aristốt đã chuyển thành con vật có lý trí”

Sống trong xã hội, mỗi người không tồn tại một cách cô lập mà luôn có mối quan hệ với nhau và quan hệ với tự nhiên Cùng với ngôn ngữ, lôgíc giúp con người hiểu biết nhau một cách chính xác và nhận thức tự nhiên đúng đắn hơn

Trang 6

Trải qua quá trình lao động, tư duy lôgíc của con người được hình thành trước khi có khoa học về lôgíc Tuy nhiên tư duy lôgíc được hình thành bằng cách như vậy là tư duy lôgíc tự phát Nếu chúng ta chỉ sử dụng một cách tự phát những quy luật, quy tắc Lôgíc học, không tự giác nghiên cứu nó thì nhiều lắm chúng ta cũng chỉ suy nghĩ đúng, phát biểu đúng, hành động đúng những vấn đề đơn giản trong phạm vi sinh hoạt, còn trong những tình huống phức tạp ta không thể không gặp khó khăn và sai lầm mà kết quả là không thực hiện được nhiệm vụ

Nghiên cứu Lôgíc học chính là ta đã bồi dưỡng cho mình thế giới quan khoa học, năng lực nhận thức, năng lực tư duy để suy nghĩ hợp quy luật, phản ánh thế giới một cách đầy đủ và sâu sắc nhất; lập luận chặt chẽ, có căn cứ; trình bày các quan điểm, tư tưởng một cách rõ ràng, chính xác, mạch lạc hơn nhờ

đó làm tăng khả năng nhận thức, khám phá của con người đối với thế giới Nắm vững Lôgíc học còn giúp chúng ta trong khi tranh luận, chứng minh hay bác bỏ một luận điểm nào đó, tránh được những mập mờ mâu thuẫn đồng thời phát hiện được những ngụy biện của đối phương cố ý xây dựng những trật tự lôgíc sai lầm để gây ra tư tưởng phức tạp

Ví dụ: - Theo anh nói thì không có cái gì là lòng tin cả?

- Đúng thế, không có

- Đó là lòng tin của anh ư?

- Vâng

- Thế tại sao anh lại nói là không có lòng tin? Ở đây trước hết anh đã

có lòng tin rồi còn gì nữa

Lôgíc học còn có ý nghĩa lớn trong giao tiếp, các dân tộc có tiếng nói và chữ viết khác nhau nhưng đều giống nhau ở cách suy nghĩ Nói cách khác, các dân tộc ở trên toàn thế giới phải tuân theo những quy luật lôgíc Có như vậy con người mới hiểu biết lẫn nhau và xã hội loài người mới tồn tại được Lôgíc học còn có ý nghĩa đặc biệt đối với một số lĩnh vực, một số ngành khoa học khác nhau như: Toán học, Điều khiển học, Ngôn ngữ học, Luật học,…việc nắm vững Lôgíc học càng có ý nghĩa quan trọng đặc biệt với

Trang 7

nghề dạy học, bởi vì nó giúp người dạy có khả năng lựa chọn nội dung một cách hợp lý, cấu trúc bài giảng, chương trình một cách khoa học, biết cách truyền thụ các khái niệm khoa học một cách chính xác và lựa chọn các phương pháp tối ưu cho bài giảng Từ đó người dạy có thể bồi dưỡng năng lực tư duy lôgíc cho người học, phát triển năng lực nhận thức và tích cực hoá quá trình học tập của người học, nâng cao hiệu quả công tác

Tóm lại, việc nắm vững khoa học lôgíc giúp ích cho mọi người trong công tác của mình Tuy nhiên không phải cứ biết Lôgíc học là có suy nghĩ đúng

và thu được kết quả chính xác trong nghiên cứu thực tiễn Kết quả chỉ có được khi con người biết sử dụng những tri thức cụ thể, vốn sống, vốn kinh nghiệm theo quy luật Lôgíc học Cho nên song song với việc nghiên cứu Lôgíc học, chúng ta phải nắm chắc các khoa học cơ sở, tích lũy kinh nghiệm trong lao động sản xuất và đời sống

1.2 Đặc điểm chung của quá trình nhận thức

Nhận thức là quá trình phản ánh sự vật hiện tượng ở xung quanh ta và chính bản thân ta Nó phản ánh những thuộc tính bên ngoài hay thuộc tính bản chất bên trong

Bằng các giác quan, con người đã trực giác sự vật, hiện tượng trong thế giới hình thành biểu tượng về đối tượng phản ánh nhưng không thể khám phá những mối liên hệ có tính quy luật, tất yếu của sự vật, hiện tượng

Trong quá trình nhận thức, con người chuyển từ phản ánh hiện thực một cách trực tiếp sang quá trình phản ánh hiện thực một cách gián tiếp và khái quát Con người sử dụng đầu óc của mình để tìm hiểu sự vật hiện tượng, nghĩa là bằng tư duy để nhận thức, trong đó tư duy trừu tượng là cấp độ cao nhất Sản phẩm của tư duy là khái niệm, phán đoán, suy luận và nhờ đó mà ta nhận biết được bản chất của sự vật hiện tượng xung quanh và mối liên hệ giữa chúng

1.3 Khái niệm về tri thức suy diễn và tư duy đúng đắn

1.3.1 Tri thức suy diễn

Trang 8

Là tri thức mới thu được từ những tri thức đã tích lũy được trước đây bằng con đường gián tiếp

Mục đích của khoa học là khám phá ra những quy luật của thế giới xung quanh, là nhận thức thế giới ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn

Trong quá trình đào sâu những tri thức của mình về thế giới xung quanh, chúng ta không chỉ dựa vào kinh nghiệm trực tiếp của bản thân mà còn dựa vào những tri thức mà loài người đã tích lũy được trong quá trình phát triển trước đây của khoa học kỹ thuật và của thực tiễn

Mặt khác trong khoa học và cuộc sống hàng ngày, ở bất kỳ chỗ nào, những luận điểm mới đều phải rút ra từ những luận điểm trước đây đã thu được và

đã kiểm tra được trong thực tiễn Những tri thức thu nhận bằng con đường gián tiếp này được gọi là tri thức suy diễn

1.3.2 Tư duy đúng đắn

Là quá trình vận dụng những tư tưởng có nội dung chân thực đã được chứng minh phù hợp với những quy luật của Lôgíc học để suy ra một chân lý mới Muốn tư duy đúng đắn nhằm rút ra tri thức mới chính xác chúng ta phải tuân theo hai điều kiện:

- Những luận điểm xuất phát phải là những luận điểm chân thực và tính chân thực của chúng đã được chứng minh, đã được xác định;

Ví dụ: Tất cả các kim loại là vật thể rắn

Thủy Ngân không phải là vật thể rắn Thủy Ngân không phải là kim loại Kết luận là giả dối vì một trong những tiền đề xuất phát là giả dối

- Trong quá trình suy luận, chúng phải liên kết với nhau một cách chặt chẽ theo những quy luật, quy tắc của Lôgíc học

Ví dụ: Tất cả các số chia hết cho 4 đều chia hết cho 2

Trang 9

Số 16 chia hết cho 4 Kết luận này chỉ đúng một cách ngẫu nhiên Chỉ cần thay số 16 bằng số

14, kết luận này sai

1.4 Khái niệm về hình thức lôgic

Hình thức lôgíc của một tư tưởng cụ thể nào đó là cấu tạo của nó, khi cấu tạo này là phương thức liên hệ giữa các thành phần của tư tưởng (hình thức liên

hệ giữa các khái niệm trong một phán đoán, giữa các phán đoán trong một suy luận)

Có thể nghiên cứu tư tưởng của con người đang hướng vào việc đạt tới chân

lý theo các khía cạnh khác nhau:

- Nghiên cứu tư tưởng đạt tới mức độ nào về sự vật, hiện tượng khách quan;

- Nghiên cứu nội dung mà sự vật, hiện tượng khách quan phản ánh vào trong tư tưởng;

- Nghiên cứu cấu tạo tư tưởng trong quá trình phản ánh sự vật, hiện tượng khách quan

Lôgíc học nghiên cứu tư tưởng của con người thể hiện dưới dạng những khái niệm, những phán đoán, những suy luận về các khía cạnh khác nhau Tức là nghiên cứu theo quan điểm cấu trúc tư tưởng của chúng được gọi là hình thức lôgíc của tư duy

Ví dụ: Tất cả các nhà tư bản đều là những kẻ bóc lột

Tất cả các loài nấm đều là thực vật

Nếu chúng ta ký hiệu đối tượng bằng chữ S và thuộc tính tư tưởng bằng chữ P thì thấy mối liên hệ giữa đối tượng tư tưởng và thuộc tính tư tưởng được phản ánh qua từ “là”

Những phán đoán trên có nội dung khác nhau nhưng đều có cấu tạo giống nhau, có hình thức lôgíc thống nhất có dạng: Tất cả S đều là P

Trang 10

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

1 Lôgíc học là gì? Phân biệt lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng

2 Tư duy đúng đắn là gì? Điều kiện để trong quá trình tư duy rút ra tri thức suy diễn đúng đắn Lấy ví dụ minh hoạ

3 Nêu ý nghĩa của Lôgíc học đối với nhận thức của sinh viên

4 Viết hình thức lôgíc của các tư tưởng sau:

a Trăm sông đều đổ ra biển

b Sai lầm lớn nhất của con người là đánh mất mình

c Một bộ phận không nhỏ trong xã hội coi tiêu cực là tất yếu

d Mọi người Việt Nam đều yêu tổ quốc

e Không ai lại muốn đất nước mình tụt hậu về kinh tế

f Một trong những phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam là tinh thần cần cù lao động

g Phần lớn những sản phẩm do chúng ta sản xuất ra đã đạt yêu cầu chất lượng

h Lòng tự hào dân tộc đã trở thành phẩm chất cao quý của người dân Đất Việt

i Không công dân nào không tuân theo pháp luật

Trang 11

Chương 2 Các hình thức logic cơ bản 2.1 Khái niệm

2.1.1 Những vấn đề chung của khái niệm

a Khái niệm là hình thức phản ánh hiện thực khách quan

Khái niệm là một hình thức tư duy, trong đó các sự vật và hiện tượng được khái quát và phân chia theo các dấu hiệu bản chất của chúng

Hay khái niệm là sự đúc kết những hiểu biết về một loại sự vật, hiện tượng nhất định và được thể hiện bằng một từ hoặc cụm từ

Thế giới xung quanh bao gồm vô vàn các sự vật và hiện tượng Những sự vật hiện tượng nào là đối tượng để con người suy nghĩ, Lôgíc học gọi là đối tượng tư duy (có thể là những vật thể, những hiện tượng hay các quá trình, các thuộc tính và quan hệ của chúng)

Trước một đối tượng mới, con người muốn nhận thức được trước hết phải bằng cảm giác, tri giác để nhận biết những dấu hiệu bên ngoài Sau đó với kết quả cảm giác, tri giác, bằng những thao tác tư duy phức tạp, con người tìm ra những dấu hiệu bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của các

sự vật, hiện tượng trong hiện thực Khái niệm về một đối tượng là toàn bộ những hiểu biết của con người về những dấu hiệu, những thuộc tính, những mối quan hệ bản chất nhất chứa đựng trong đối tượng đó Đó là toàn bộ tri thức dùng để phân biệt sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác Khái niệm mang tính khách quan bởi lẽ cuộc sống con người là quá trình tiếp xúc thường xuyên với hiện thực mà đối tượng tư duy bao giờ cũng tồn tại khách quan với những thuộc tính bản chất của nó

Khái niệm về đối tượng phản ánh trình độ nhận thức của con người trong một thời điểm nhất định và được hình hành ở mức độ nhất định Ở mức độ nhận thức cao là tư duy trừu tượng, khái niệm mới được hình thành (ví dụ:

Trang 12

Con người có khái niệm về tốc độ ánh sáng là 30 vạn km/s, còn biểu tượng

về tốc độ ánh sáng không bao giờ có được)

Hoạt động thực tiễn có vai trò quan trọng trong việc hình thành khái niệm Qua tiếp xúc với thực tiễn con người có nhiều khả năng hình thành những khái niệm mới và tìm hiểu về đối tượng sâu sắc hơn, khám phá được nhiều hơn những thuộc tính và dấu hiệu bản chất, từ đó khái niệm về đối tượng ngày càng được hoàn thiện

b Ngôn ngữ là hình thức biểu hiện khái niệm

Một khái niệm được biểu đạt bằng một hay một cụm từ gọi là từ khái niệm

Từ hay cụm từ đều là đơn vị cơ sở của ngôn ngữ Vì vậy ngôn ngữ và khái niệm có quan hệ mất thiết với nhau

Ngôn ngữ bao giờ cũng có nội dung sinh động bên trong Đó là tri thức về hiện thực, là các khái niệm

Khái niệm mang tính khách quan, còn từ ngữ, tên gọi của khái niệm lại do con người quy ước nên mang tính chủ quan Bởi vậy trong ngôn ngữ học có

“Tư duy”, “Suy nghĩ” đều nói đến một giai đoạn của quá trình nhận thức

Sự lưu ý về loại từ này giúp cho con người giữ được tính nhất quán trong suy nghĩ, đảm bảo sự thống nhất các thuật ngữ tránh mọi lẫn lộn về đối tượng, xáo trộn về khái niệm Mỗi khái niệm khoa học phải được vạch rõ phạm vi, nội hàm của nó và diễn đạt bằng một thuật ngữ khoa học chính xác

2.1.2 Cấu trúc lôgíc của khái niệm

a Nội hàm của khái niệm

Là tập hợp tất cả các dấu hiệu bản chất của đối tượng mà khái niệm đó phản ánh

Trang 13

Ví dụ: Nội hàm của khái niệm “Con người”: Là động vật bậc cao, có khả năng chế tạo và sử dụng công cụ lao động, có tư duy trừu tượng, giao tiếp bằng ngôn ngữ

b Ngoại diên của khái niệm

Là tập hợp tất cả các đối tượng cùng có những dấu hiệu được phản ánh trong nội hàm khái niệm

Ví dụ: Ngoại diên của khái niệm “Con người”: Xét về màu da có người da trắng, da vàng, da đen, da đỏ Xét về giới tính có nam, nữ,…

Lưu ý: Với mỗi khái niệm để tìm ngoại diên người ta có thể lập một hàm

phán đoán tương ứng mà khi thay vào biến thì làm cho hàm phán đoán đúng

Ví dụ: Tìm ngoại diên khái niệm: “Thành phố”?

Lập hàm phán đoán tương ứng: “x là thành phố”

Ngoại diện của khái niệm “Thành phố” là lớp (tập hợp) tất cả những đối tượng

mà thay vào x làm cho hàm phán đoán trên là đúng Chẳng hạn x là Hà Nội, ta được “Hà Nội là thành phố” – đúng , tương tự như Pa-ris, Luân Đôn,… ta được một lớp đối tượng đồng nhất của ngoại diên khái niệm “Thành phố”

c Quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên khái niệm

Nội hàm và ngoại diên của khái niệm luôn có mối quan hệ với nhau theo quy luật: Nếu ngoại diên của một khái niệm chứa ngoại diên của khái niệm khác (thuộc giống của loài) thì nội hàm của khái niệm thứ nhất là một phần nội hàm của khái niệm thứ hai Hay nội hàm rộng thì ngoại diên hẹp, nội hàm hẹp thì ngoại diên rộng

Ví dụ: Khái niệm “Nhà trường” A và “Trường sư phạm” B

Ngoại diên của A chứa ngoại diên của B

Nội hàm của A là một phần nội hàm của B vì ngoài dấu hiệu của A, B còn thêm dấu hiệu đào tạo người giáo viên

2.1.3 Phân loại khái niệm

a Xét theo ngoại diên

- Khái niệm trống (rỗng):

Là khái niệm mà ngoại diên của nó không chứa một đối tượng thật sự nào

Trang 14

Ví dụ: Ma, trời, động cơ vĩnh cửu,…

- Khái niệm đơn nhất:

Là khái niệm mà ngoại diên của nó chỉ bao gồm một đối tượng duy nhất

Ví dụ: Hà Nội

- Khái niệm chung:

Là khái niệm mà ngoại diên của nó bao hàm một nhóm các đối tượng đồng nhất, khi nói tới ta coi chúng như một chỉnh thể duy nhất

Ví dụ: Loài người, chòm sao bắc đẩu,…

Khái niệm chung được chia thành 2 loại:

 Khái niệm hữu hạn:

Là khái niệm mà phạm vi của nó là một tập hợp đối tượng có thể tính được, đếm được

Ví dụ: Các thành phố của Việt Nam

 Khái niệm vô hạn:

Là khái niệm mà ngoại diên của nó là một tập hợp đối tượng không thể liệt kê được

Ví dụ: Sinh viên, công nhân, tập thể,…

- Khái niệm trừu tượng:

Là khái niệm chỉ phản ánh các dấu hiệu, thuộc tính, các mối quan hệ của đối tượng còn bản thân đối tượng bị tách ra

Ví dụ: Tích cực, dũng cảm,…

- Khái niệm khẳng định:

Là khái niệm biểu thị sự tồn tại của các dấu hiệu có trong đối tượng

Ví dụ: Tính tổ chức, tính kỷ luật, tính nhân đạo, tính anh hùng,…

Trang 15

- Khái niệm phủ định:

Là khái niệm trong đó biểu thị sự vắng mặt của các dấu hiệu đã tạo nên nội hàm của khái niệm khẳng định

Ví dụ: Vô tổ chức, vô kỷ luật,…

Lưu ý: Một khái niệm nào đó có thể đồng thời nằm trong phạm vi hàm chứa của nhiều khái niệm khác nhau

Ví dụ: “Tư duy” vừa là khái niệm khẳng định, vừa là khái niệm trừu tượng

“Nhà du hành” đồng thời là các khái niệm chung, cụ thể, trừu tượng, hữu hạn

2.1.4 Mở rộng và thu hẹp khái niệm

a Mở rộng khái niệm

Là thao tác lôgíc chuyển khái niệm có ngoại diên hẹp sang khái niệm có ngoại diên rộng hơn, tức là chuyển khái niệm có nội hàm rộng sang khái niệm có nội hàm hẹp hơn

Ví dụ: Nhà viết kịch Văn nghệ sỹ Người lao động trí óc

Khái niệm được mở rộng đến giới hạn cuối cùng thì gọi là phạm trù (vật chất, ý thức,…) Phạm trù là khái niệm có ngoại diên rộng nhất nhưng nội hàm nghèo nhất

b Thu hẹp khái niệm

Là thao tác lôgic chuyển khái niệm có ngoại diên rộng sang khái niệm có ngoại diên hẹp hơn, tức là chuyển khái niệm có nội hàm hẹp sang khái niệm

có nội hàm rộng hơn

Ví dụ: Thành thị Thủ đô Hà Nội

Khái niệm được thu hẹp đến giới hạn cuối cùng gọi là khái niệm đơn nhất Trong quá trình mở rộng và thu hẹp khái niệm, con người đã đi đến một số khái niệm: Có khái niệm phổ biến hơn gọi là khái niệm loài và khái niệm ít phổ biến hơn gọi là khái niệm giống Khái niệm loài và giống chỉ mang tính chất tương đối vì một khái niệm (thủ đô) là giống trong trường hợp này là loài trong trường hợp khác

2.1.5 Quan hệ giữa các khái niệm

Trang 16

Là quan hệ giữa những khái niệm mà ngoại diên của chúng ít nhất có một bộ phận chung nhau (trùng nhau) Gồm có ba mối quan hệ:

- Quan hệ đồng nhất:

Là quan hệ giữa những khái niệm có ngoại diên hoàn toàn trùng nhau (ngoại diên bằng nhau) nhưng nội hàm của chúng có thể khác nhau

Ví dụ: - “Bác Hồ là người sáng lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” (A)

- “Bác Hồ là vị cha già của dân tộc” (B)

- Quan hệ phụ thuộc:

Là quan hệ giữa những khái niệm trong đó ngoại diên của khái niệm này chứa hoàn toàn ngoại diên của khái niệm kia

Ví dụ: Công dân (A) và công nhân (B)

- Quan hệ giao nhau:

Là quan hệ giữa những khái niệm mà ngoại diên của chúng có những thành phần chung nhau

Ví dụ: Sinh viên (S) và đoàn viên (Đ)

b Quan hệ bất tương thích

Là quan hệ giữa những khái niệm mà ngoại diên của chúng không có thành phần nào chung nhau Gồm có ba mối quan hệ:

- Quan hệ mâu thuẫn:

Là quan hệ giữa hai khái niệm mà nội hàm của chúng phủ định nhau và ở đây chỉ biết chính xác nội hàm của một khái niệm Khi kết hợp ngoại diên của hai khái niệm này bao giờ cũng lấp đầy lớp các sự vật mà ta đang xét đến

Ví dụ: - Giáo viên nam (A)

- Giáo viên nữ (A)

A U A = Giáo viên (B) Hoặc: - Trắng (A)

- Không phải trắng (A)

A U A = Màu sắc (B) Hoặc: - Cá (A)

Trang 17

2.1.6 Cách định nghĩa và phân chia khái niệm

* Định nghĩa khái niệm

a Bản chất của định nghĩa khái niệm

Mỗi định nghĩa bao giờ cũng được biểu thị bằng từ hay một cụm từ Từ ngữ chỉ là tên gọi của đối tượng chưa phản ánh được nội hàm của khái niệm Trong khoa học và cuộc sống mỗi khi gặp một khái niệm mới chưa hiểu người ta thường giải thích ý nghĩa của từ ngữ gặp phải, phân biệt nó với những đối tượng khác, nghĩa là phải vạch rõ nội hàm của khái niệm để hiểu đúng khái niệm

- Định nghĩa khái niệm:

Trang 18

Là thao tác lôgíc để vạch rõ nội hàm của một khái niệm, phân biệt đối tượng được phản ánh trong khái niệm với các đối tượng khác giống nó và làm rõ nghĩa cho thuật ngữ biểu thị nó

Ví dụ: “Hình vuông là một hình bình hành mà trong đó tất cả các cạnh và góc bằng nhau” Trong định nghĩa ta phân biệt hình vuông với các hình bình hành khác nhờ một thuộc tính chỉ có ở hình vuông mà không có ở các loại hình bình hành khác

Hoặc: “Hình vuông là một tứ giác có các đường chéo bằng nhau, vuông góc với nhau và chia đôi mỗi đường tại giao điểm của chúng” Trong định nghĩa

ta phân biệt hình vuông với các hình tứ giác nhờ những thuộc tính chỉ có ở hình vuông mà không có ở các loại hình tứ giác khác

- Cấu trúc của định nghĩa khái niệm:

Một định nghĩa bao giờ cũng tồn tại hai thành phần:

 Khái niệm được định nghĩa (difiniendum, viết tắt Dfd):

Là đối tượng cần phải làm sáng tỏ

 Khái niệm định nghĩa (difinience, viết tắt Dfn):

Là toàn bộ tri thức dùng để làm sáng tỏ đối tượng cần phản ánh

Ví dụ: Lôgíc học là khoa học về các quy luật và hình thức tư duy chính xác

Lôgíc học là khái niệm được định nghĩa Khoa học về các quy luật và hình thức tư duy chính xác là khái niệm định nghĩa

Lưu ý: Nhiều khi người ta đưa ra định nghĩa bằng cách nêu phần khái niệm

định nghĩa trước, khái niệm được định nghĩa sau và thay từ “là” bằng “được gọi là” hay trong toán học được thay bằng “khi và chỉ khi”

Ví dụ: Giá trị của hàng hóa biểu hiện bằng tiền mặt được gọi là giá cả

Hoặc hai đường thẳng song song khi và chỉ khi chúng đồng phẳng và không cắt nhau

b Các hình thức định nghĩa cơ bản

- Định nghĩa tường minh:

Trang 19

Là hình thức định nghĩa mà nội hàm của khái niệm được định nghĩa được xác định rõ ràng, vạch ra những dấu hiệu bản chất

 Định nghĩa thông qua loài để phân biệt sự khác nhau về giống:

Đây là hình thức định nghĩa phổ biến nhất trong thực tiễn Bản chất là thông qua loài gần nhất của giống và vạch ra những dấu hiệu bản chất của giống để phân biệt nó với những khái niệm giống khác nó cùng nằm trong loài

Ví dụ: Lôgíc học là khoa học về các quy luật và hình thức tư duy chính xác

a = A + n

a: Khái niệm giống (khái niệm được định nghĩa)

A: Loài gần nhất của giống

n: Dấu hiệu bản chất đặc trưng

 Định nghĩa xây dựng (phát sinh):

Là hình thức định nghĩa vạch ra phương thức tạo thành (phát sinh) của đối tượng được định nghĩa

Ví dụ: Đường tròn là một đường cong khép kín do điểm B của đoạn thẳng AB chuyển động quanh một điểm A tạo thành trên mặt phẳng Loại này cũng có dạng: hay A(b)

Nếu ký hiệu loài gần gũi qua A và dấu hiệu khác biệt về giống qua b có thể biểu thị định nghĩa này a = A(b), trong đó a = Dfd, A(b) = Dfn

Ví dụ: “Hình cầu (a) là hình hình học (A) được tạo thành bằng cách quay nửa hình tròn xung quanh đường kính của nó (b)

- Định nghĩa không tường minh:

Là một hình thức định nghĩa mà nội hàm của khái niệm được định nghĩa (definiendum) được chỉ ra nhờ việc vạch ra quan hệ của nó với các khái niệm khác (không vạch ra những dấu hiệu bản chất của nó)

Ví dụ: Số 0 là một số khi cộng với a sẽ cho kết quả là a (0 + a = a)

Trong định nghĩa không tường minh có các loại định nghĩa sau:

a = A+n

a = A+n

Trang 20

 Định nghĩa duy danh:

Là định nghĩa mà trong đó ý nghĩa của một thuật ngữ được giải thích bằng một tập hợp những thuật ngữ, những mệnh đề khác

Ví dụ: Mâu thuẫn là đối lập, trái ngược

Phát sinh là nguồn gốc, căn nguyên, phương thức hình thành

 Định nghĩa tiền đề:

Là định nghĩa các khái niệm lý thuyết thông qua các tiền đề

Ví dụ: Đường thẳng là tập hợp của nhiều điểm

Định nghĩa bằng cách liệt kê các đối tượng của khái niệm

Ví dụ: Những người thân thích là cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em ruột

c Các quy tắc định nghĩa khái niệm

- Quy tắc 1: Định nghĩa phải cân đối

Nghĩa là ngoại diên của khái niệm được định nghĩa bằng ngoại diên của khái niệm định nghĩa

Ngoại diên Definiendum = Ngoại diên Definience

- Quy tắc 2: Khái niệm loài dùng để định nghĩa không được vượt cấp

Nghĩa là khái niệm loài dùng để định nghĩa phải là loài gần nhất của giống

Trang 21

Ví dụ: Nước là “vật thể” không màu, không mùi, không vị và trong suốt là

sai, dễ nhầm lẫn với pha lê

- Quy tắc 3: Định nghĩa không được vòng quanh (luẩn quẩn)

Khái niệm được định nghĩa không được thông qua chính bản thân nó

Ví dụ: Tội phạm là kẻ phạm tội

Vi phạm quy tắc này dẫn đến hai sai lầm:

 Khái niệm cần định nghĩa được định nghĩa thông qua một khái niệm mà nội hàm của nó chỉ trở nên rõ ràng nhờ khái niệm cần định nghĩa

Ví dụ: Sự quay là sự chuyển động xung quanh trục của nó (trục là một đường thẳng mà xung quanh nó có diễn ra sự quay)

 Khái niệm được định nghĩa và khái niệm định nghĩa đồng nhất về nội hàm nhưng được diễn đạt bằng các từ khác nhau

Ví dụ: Sự hài hước là sự đáng buồn cười

- Quy tắc 4: Định nghĩa không được phủ định

Khi định nghĩa khái niệm không được bằng cách phủ định một khái niệm khác Vì như vậy chưa vạch ra được nội hàm của khái niệm được định nghĩa

Ví dụ: Động vật không phải là thực vật

Quên là không nhớ Tuy nhiên trong toán học đôi khi định nghĩa phủ định vẫn được chấp nhận

Ví dụ: Hai đường thẳng song song là hai đường thẳng nằm trong một mặt phẳng nhưng không cắt nhau khi ta kéo dài chúng đến vô tận ở cả hai phía

- Quy tắc 5: Định nghĩa phải rõ ràng chính xác, không được hiểu với hai nghĩa, không đượ dùng hình ảnh nghệ thuật, văn chương bóng bẩy so sánh

Ví dụ: Tuổi trẻ là mùa xuân cuộc đời

Vĩ cầm là ông hoàng của dàn nhạc

* Phân chia khái niệm

a Bản chất của phân chia khái niệm

Trang 22

Tri thức về một khái niệm không chỉ là dấu hiệu tạo nên nội hàm của khái niệm ấy mà còn là sự hiểu biết về phạm vi khái niệm Nghĩa là phải biết khái niệm ấy có những đối tượng nào, cùng mang những dấu hiệu nào tạo nên nội hàm khái niệm

Ngoại diên của khái niệm bao giờ cũng chứa những đối tượng mà ta có thể chia thành các nhóm Toàn bộ những đối tượng nằm trong ngoại diên của khái niệm chính là loài còn các nhóm chính là giống của loài Việc làm như vậy chính là phân chia khái niệm

Phân chia khái niệm là thao tác lôgíc giúp ta phát hiện ra các giống nằm trong phạm vi của khái niệm loài bị phân chia

Ví dụ: Các số chia thành số thực và số ảo

Các số: Khái niệm loài bị phân chia (khái niệm được phân chia)

Số thực, số ảo: Khái niệm giống thu được sau khi phân chia (các thành phần phân chia)

Dấu hiệu mà ta dùng để phân chia gọi là cơ sở phân chia

Cần phân biệt sự phân chia khái niệm có quan hệ loài - giống với sự phân chia cái toàn bộ thành các bộ phận (một năm có 12 tháng, quyển sách này có

7 chương)

b Các quy tắc phân chia khái niệm

- Quy tắc 1: Phân chia phải cân đối

Nghĩa là khi phân chia, ngoại diên của khái niệm được phân chia phải bằng tổng ngoại diên của các thành phần phân chia

Ví dụ: Các hình thái kinh tế xã hội (A) chia thành: Xã hội Cộng sản nguyên thuỷ (a), xã hội Chiếm hữu nô lệ (b), xã hội Phong kiến (c), xã hội Tư bản (d), xã hội Xã hội chủ nghĩa (e)

A = a + b + c +d + e

Vi phạm quy tắc này dẫn đến hai sai lầm:

 Phân chia thiếu thành phần: A > a + b + c +d + e

 Phân chia thừa thành phần: A < a + b + c +d + e

- Quy tắc 2: Phân chia phải tiến hành trên cùng một cơ sở

Trang 23

Muốn phân chia đúng phải chọn cơ sở chủ yếu nhất để phân chia và khi đã phân chia không được sử dụng lẫn lộn các cơ sở

Ví dụ: Phân chia khái niệm “người” (A)

Căn cứ theo giới tính: Đàn ông (a), đàn bà (b)

A = a + b

Theo cơ sở nghề nghiệp: Công nhân (a), nông dân (b), trí thức (c)

A = a + b + c

- Quy tắc 3: Phân chia phải đảm bảo các thành phần loại trừ nhau

Có nghĩa là sau khi phân chia, các thành phần phân chia không phải là những khái niệm giao nhau hoặc phụ thuộc

Ví dụ: Học sinh (A) chia thành: Học sinh nam (a), học sinh nữ (b) và học

sinh giỏi (c) là sai vì học sinh giỏi có thể là nam, nữ

- Quy tắc 4: Phân chia phải liên tục không được nhảy vọt

Nghĩa là khi phân chia khái niệm các thành phần phân chia phải là giống gần nhất của khái niệm bị phân chia chứ không được nhảy vọt và phân chia cho đến hết

Vi phạm quy tắc này dẫn đến sự lẫn lộn giữa loài và giống:

Ví dụ: Các nhà triết học chia thành: Nhà triết học cổ đại, nhà triết học duy tâm, nhà triết học duy vật, nhà duy tâm khách quan,…

c Các phép chia khái niệm

- Phép phân đôi:

Là phép phân chia khái niệm thành hai phần có ngoại diên loại trừ nhau Phân đôi khái niệm luôn cân đối và được tiến hành theo một cơ sở nhất định Người ta thường sử dụng cách phân chia này khi có một lớp sự vật không quen biết và cần phải biết những thuộc tính mà chúng ta phát hiện ra có thuộc về tất cả sự vật trong lớp này hay chỉ thuộc về một bộ phận của nó

Ví dụ: Sinh viên (A) chia thành sinh viên nam (B) và sinh viên nữ (B)

Hoặc: Phản xạ chia thành phản xạ có điều kiện và không điều kiện

- Phép phân loại:

Trang 24

Là sự sắp xếp các đối tượng theo một hệ thống dựa trên cơ sở một dấu hiệu chung Mỗi thành phần phân chia có vị trí xác định, vững chắc so với thành phần khác (phân loại động vật, thực vật thành: Ngành, lớp, bộ, họ, giống, loài)

 Đặc điểm của phân loại:

 Cơ sở hay nguyên tắc của phân loại phải là dấu hiệu thuận lợi nhất để tìm các đối tượng hay xác định các thuộc tính của chúng;

 Có tính vững chắc, tương đối bền vững trong một thời gian dài;

 Phân ra các giống của nhiều thứ bậc, tiến hành liên tục từ lớp cao đến lớp dưới và là hệ thống chia nhánh các khái niệm giống

 Các loại phân loại:

 Phân loại hỗ trợ:

Được thực hiện nhằm mục đích phát hiện nhanh nhất đối tượng cá biệt nào đó trong các đối tượng được phân loại Cơ sở của phân loại hỗ trợ thường là các dấu hiệu bên ngoài, không bản chất nhưng lại có lợi cho việc tìm kiếm đối tượng

Ví dụ: Phân loại theo thứ tự vần chữ cái của tên gọi học sinh trong một lớp, tên tác giả tại các thư viện,…

 Phân loại tự nhiên:

Là sự sắp xếp các đối tượng theo lớp xác định dựa trên cơ sở các dấu hiệu bản chất của chúng Phân loại tự nhiên cho phép xác định thuộc tính của đối tượng mà không cần kiểm tra bằng thực nghiệm Nhiều khi nó giúp phát hiện tính quy luật của sự biến đổi các thuộc tính của đối tượng được phân loại và do đó cho phép phát hiện, tiên đoán sự tồn tại của các đối tượng chưa được biết tới cùng với các thuộc tính của chúng

Ví dụ: Nhà bác học Menđêlêep đã sắp xếp các nguyên tố hoá học theo nguyên tử lượng, nhờ đó ông đã tiên đoán được sự tồn tại của các nguyên tố hoá học mà sau này mới phát hiện ra

Trang 25

2.1.7 Các phép toán đối với các lớp (ngoại diên) của khái niệm

a Phép hợp (cộng) các lớp (tập hợp)

Hợp hay tổng của hai hay một số lớp là lớp mới gồm tất cả các phần tử của chúng

Ví dụ: Hợp lớp “người lao động trí óc” với “người lao đông chân tay” được lớp “ người lao động” Phép hợp được biểu thị: A U B hay A + B

Có thể gặp 6 trường hợp sau:

A + B = A = B A + B = A A + B

A + B A + B A + B

b Phép giao (nhân) của các lớp (tập hợp)

Giao của hai hay một số lớp mới gồm các phần tử chung cho các lớp đó

Ví dụ: Giao của lớp “sinh viên” và lớp “vận động viên” là lớp “người vừa là sinh viên vừa là vận động viên” Phép giao được biểu thị A∩B; A.B, Φ - lớp rỗng

Trang 26

Hiệu của các lớp A và B là lớp gồm các phần tử của A không thuộc B Phép trừ được biểu thị A - B

Nếu các lớp A và B không rỗng và không phổ dụng thì có thể có 5 trường hợp xảy ra

A

A A-B=Φ

B

A A-B

B

Trang 27

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

1 Khái niệm là gì? Trình bày bản chất, cấu trúc lôgíc và quan hệ của khái niệm Lấy ví dụ minh hoạ mối quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên

2 Phân biệt giữa định nghĩa và khái niệm Lấy ví dụ minh hoạ

3 Trình bày các quy tắc định nghĩa khái niệm? Lấy ví dụ minh họa?

4 Thế nào là phân chia khái niệm? Nêu và minh họa các quy tắc phân chia khái niệm?

5 Cho các khái niệm: “Học sinh”, “Sinh viên”, “Trí thức”, “Giáo viên”, “Công nhân”; “Nhà trường”; “Trường sư phạm”, “Con người”, “Lao động

a) Xác định nội hàm và ngoại diên của khái niệm;

b) Mở rộng và thu hẹp khái niệm trên

6 Xác định quan hệ và mô hình hoá quan hệ giữa các khái niệm sau:

a) Học sinh- Sinh viên- Trí thức- Giáo viên;

b) Học sinh- Đoàn viên- Phụ nữ- Cán bộ đi học;

c) Sách- Đề cương- Giáo trình-Tài liệu dạy học;

d) Biển– Lãnh thổ- Lãnh địa- Đảo;

e) Sinh viên- Giảng viên- Trí thức- Giáo sư- Đảng viên

f) Quản lý- Quản lý giáo dục- Quản lý xã hội-Quản lý chất lượng giáo dục g) Khái niệm- Khái niệm khẳng định-Khái niệm phủ định-Khái niệm đơn nhất

7 Cho các mệnh đề:

“Đường kính là đường thẳng nối 2 điểm trên đường tròn và đi qua tâm”;

“Sự quay là sự chuyển động quanh một trục”;

“Nước nguyên chất là chất không màu, không mùi, không vị và trong suốt”;

“Nguỵ biện là cố ý làm cho người khác nhận thức sai lầm”;

“Giáo viên là người dạy ở trường phổ thông”;

“Nhân cách là một con người cụ thể đang sống trong xã hội”;

“Hoạt động của con người nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội gọi là lao động”;

“Khái niệm là sự đúc kết những hiểu biết của con người về một loại sự vật, hiện tượng nhất định và được thể hiện bằng một từ”;

Trang 28

“Pháp luật là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung được Nhà nước quy định

và bảo đảm thi hành bằng sức mạnh của Nhà nước”

a) Xác định mệnh đề trên là định nghĩa đúng hay sai về mặt lôgíc?

b) Nếu sai hãy sửa lại cho đúng;

c) Phân tích cấu trúc của định nghĩa đã sửa;

d) Xác định quan hệ và mô hình hóa quan hệ giữa hai thuật ngữ trong phán đoán đã sửa

8 Cho các mệnh đề:

a) Lôgíc học là khoa học về tư duy

b) Lôgíc học là khoa học về các quy luật của tư duy

c) Lôgíc học là khoa học về các quy luật và các hình thức của tư duy

d) Lôgíc học là khoa học về các quy luật và hình thức của tư duy nhằm phản ánh đúng đắn hiện thực

Mệnh đề nào trong các mệnh đề đó là định nghĩa khái niệm đúng? Vì sao?

9 Cách phân chia khái niệm sau đúng hay sai? Nếu sai hãy phân chia lại

a) Tam giác chia thành: Tam giác vuông, đều, cân và thường;

b) Mỗi tuần lễ gồm ngày thứ hai, ba, tư,…thứ bảy và chủ nhật

10 Hãy phân chia khái niệm “lao động”, “sinh viên”, “giảng viên”, “quản lý”

Trang 29

Phán đoán: Là một hình thức của tư duy mà nhờ đó các khái niệm được kết hợp lại để khẳng định hoặc phủ định một vấn đề nào đó của đối tượng trong hiện thực khách quan hoặc là giả dối, hoặc là chân thực

b Phán đoán chân thực và phán đoán giả dối

Phán đoán là ý nghĩ của con người về đối tượng nên phán đoán bao giờ cũng phản ánh một đối tượng cụ thể Các phán đoán có thể là chân thực hay giả dối tuỳ theo sự phản ánh đúng hoặc không đúng hiện thực khách quan Không có phán đoán vừa đúng lại vừa sai, không có phán đoán nào không đúng cũng không sai

Ví dụ: - Hà Nội là thủ đô nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam Phán

đoán chân thực- ký hiệu (1)

- Sắt không thể dát mỏng được Phán đoán giả dối- ký hiệu (0)

Có những phán đoán đúng trong những điều kiện, hoàn cảnh này, nhưng lại sai trong điều kiện, hoàn cảnh khác Ví dụ phán đoán: “Anh A là cầu thủ bóng đá”, “Trời đang mưa”,…

Phán đoán là tư tưởng khẳng định hay phủ định một thuộc tính nào đó của đối tượng Mọi phán đoán đều phản ánh hiệu thực khách quan, vì vậy trong quá trình tư duy, muốn biết ý kiến của ta đúng hay sai ta phải kiểm nghiệm qua thực tiễn hoặc chứng minh

Trang 30

Phán đoán cũng như khái niệm đều là hình thức tư duy phản ánh hiện thực khách quan, tuy nhiên giữa chúng có những điểm khác nhau:

Các thuộc tính và quan hệ của đối tượng tư tưởng được phản ánh trong khái niệm không được quy định dưới dạng tường minh (ví dụ: Các nước Đông Nam Á- không chỉ rõ những nước được nói đến trong nội hàm của khái niệm) Còn trong phán đoán bao giờ cũng nêu rõ và quy định chính xác đối tượng của tư tưởng vốn có thuộc tính nào và quan hệ giữa chúng (Dầu mỏ là khoáng sản có ích)

Tính chân thực hay giả dối của khái niệm chỉ được bộc lộ ra nhờ các phán đoán Còn phán đoán bao giờ cũng là chân thực hoặc giả dối, hoặc đã được chứng minh, hoặc chưa được chứng minh

2.2.2 Cấu trúc của phán đoán

Mỗi phán đoán có ba bộ phận: Chủ ngữ, tính ngữ và từ nối

- Chủ ngữ/chủ từ: Là khái niệm về đối tượng tư tưởng mà ta cần nói tới Ký hiệu là “S” (nguyên âm đầu của chữ Latinh Subjectum- chủ thể)

- Vị ngữ/tân từ: Là khái niệm về thuộc tính của đối tượng được nói tới trong phán đoán Ký hiệu “P” (nguyên âm đầu của chữ Latinh Praedicatums- sự hiểu biết về cái gì đó)

- Từ nối/hệ từ: Nói lên mối quan hệ giữa đối tượng và thuộc tính của đối tượng, biểu đạt phẩm chất, đặc điểm lôgíc của phán đoán Từ nối thường là các từ: “là”, “không là”, “không phải là”, gạch ngang “-”,…Từ nối có thể ẩn

2.2.3 Phán đoán và câu ngữ pháp

Tư duy bộc lộ ra bên ngoài bằng cái vỏ vật chất của nó là ngôn ngữ

Khái niệm được biểu đạt bằng các từ riêng biệt và các cụm từ

Phán đoán bao giờ cũng được biểu đạt dưới dạng ngôn ngữ thành một câu ngữ pháp (hay mệnh đề)

Vì vậy câu là hình thức ngôn ngữ của phán đoán, còn phán đoán là nội dung lôgíc của câu Thế nhưng thành phần của phán đoán và câu không phải là đồng nhất, cấu trúc của phán đoán có thể không thích ứng với cấu trúc của câu

Trang 31

Cấu trúc của câu phán đoán là cấu trúc tư tưởng, còn cấu trúc của câu ngữ pháp

là cấu trúc biểu đạt Cấu trúc tư tưởng về một đối tượng là thống nhất đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, còn cấu trúc biểu đạt thì mang tính chủ quan tuỳ thuộc vào người sử dụng ngôn ngữ, tuỳ dân tộc Cho nên cùng một cấu trúc lôgíc tư tưởng có thể diễn đạt bằng nhiều hình thức ngữ pháp khác nhau Câu phán đoán bao giờ cũng tìm thấy sự khảng định hay phủ định một thuộc tính của một đối tượng nào đó mặc dù cấu trúc của phán đoán có phù hợp hay không phù hợp với cấu trúc câu ngữ pháp (anh A học giỏi- chưa phù hợp Nói đầy đủ câu phán đoán phải là: Anh A là người học giỏi)

Bất kỳ phán đoán nào cũng biểu thị bằng câu ngữ pháp nhưng không phải câu ngữ pháp nào cũng là phán đoán (ối!, trời ơi!, thế cơ à!, sao?, đúng không?, đi đi!, ngồi xuống!,…)

2.2.4 Phân loại phán đoán

2.2.5 Phán đoán đơn

Là loại phán đoán được cấu tạo bởi một cụm từ chủ ngữ và vị ngữ lôgíc: S - P

- Phán đoán quan hệ: Là loại phán đoán biểu thị mối quan hệ c ủa các đối tượng theo vị trí, kích thước, thời gian, nguyên nhân phụ thuộc

Ví dụ: - Hải Dương nằm giữa Hà Nội và Hải Phòng

- Sắt nặng hơn gỗ

- Đoạn thẳng a dài hơn đoạn thẳng b,…

- Phán đoán đặc tính/nhất quyết: Là phán đoán nói về sự phụ thuộc của đối tượng này với lớp đối tượng khác Căn cứ vào ngoại diên của chủ ngữ, chất lượng của phán đoán, mối quan hệ giữa chất lượng của phán đoán và ngoại diên của chủ ngữ, trình độ hiểu biết của con người, phán đoán đặc tính bao gồm:

 Phân chia theo chất lượng:

Trang 32

 Phán đoán chung/toàn thể:

Ví dụ: Tất cả sinh viên lớp ta (S) đều là đoàn viên (P)

Tất cả sinh viên lớp ta (S) đều không phải là đảng viên (P)

 Phán đoán riêng/bộ phận: Khác với phán đoán toàn thể, ngoại diên của chủ từ chỉ nói đến một bộ phận (nhóm) đối tượng của lớp sự vật

Ví dụ: Một số kim loại (S) là chất lỏng (P)

Một số đoàn viên (S) không đạt danh hiệu đoàn viên xuất sắc (P)

 Phán đoán đơn nhất: Ngoại diên của chủ từ bao gồm một đối tượng duy nhất

Ví dụ: Hà Nội (S) là thủ đô nước CHXHCN Việt Nam (P)

 Phân chia theo chất lượng và số lượng đối tượng của chủ từ phán đoán:

Loại A: Phán đoán khẳng định chung (affirmo: Khẳng định):

Ví dụ: Tất cả sinh viên lớp ta (S) đều tham gia công tác thực tế (P)

Loại E: Phán đoán phủ định chung (nego: Phủ định):

Ví dụ: Tất cả sinh viên lớp ta (S) không được lười học tập, nghiên cứu (P)

Loại I: Phán đoán khẳng định riêng:

Ví dụ: Một số sinh viên (S) được nhận học bổng (P)

Chỉ một S là P

Tất cả S đều là P Tất cả S đều không là P

Một số S là P Một số S không là P

Tất cả S đều là P

Tất cả S đều không là P

Một số S là P

Trang 33

Loại O: Phán đoán phủ định riêng

Ví dụ: Một số kim loại (S) không bị gỉ (P)

 Phân chia theo dạng thức (theo trình độ hiểu biết):

 Phán đoán xác suất: Dấu hiệu của đối tượng được khảng định hay phủ định ở mực độ giả định

Ví dụ: Trên sao hoả (S) có lẽ có sự sống (P)

 Phán đoán xác thực: Phản ánh sự hiểu biết chắc chắn về đối tượng và các thuộc tính của đối tượng là đúng hoặc sai

Gồm hai loại:

o Phán đoán hiện thực: Là phán đoán có được nhờ kinh nghiệm trực tiếp hoặc do một phép chứng minh, xác minh một người nào đó trong quá khứ đã thực hiện hành động nào đó

Ví dụ: Một số sinh viên lớp ta đã được điểm 10 môn Lôgíc học

o Phán đoán tất yếu: Là kết quả chứng minh và phát hiện các liên hệ tất yếu có tính quy luật của hiện thực Các phán đoán tất yếu là những định luật, quy tắc, tiền đề, nguyên lý rút ra từ quy luật tự nhiên và xã hội

Ví dụ: Mọi tam giác đều có các góc bằng nhau

Mâu thuẫn là nguồn gốc động lực của sự vận động và phát triển

- Tính chu diên của thuật ngữ trong phán đoán đặc tính:

Trang 34

ngoại diên của nó hay chỉ được nói đến một phần? Việc nghiên cứu vấn

đề này chính là ta đã nghiên cứu tính chu diên của cá thuật ngữ

Theo Khômmenkô: Thuật ngữ là chu diên (+) nếu được nói đến với toàn

bộ ngoại diên Thuật ngữ là không chu diên (-) nếu được nói đến một phần ngoại diên

Theo Gorki: Thuật ngữ được gọi là chu diên (+) khi ngoại diên của nó nằm trong hoàn toàn hay nằm ngoài hoàn toàn hoặc trùng khít ngoại diên thuật ngữ kia Thuật ngữ được gọi là không chu diên (-) khi ngoại diên của nó chỉ có một phần nằm trong hay nằm ngoài ngoại diên của thuật ngữ kia

Ví dụ: Giảng viên G

Sinh viên S

Thanh niên T Học sinh H

Giáo viên G

Cô giáo C

 Xét tính chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán đặc tính:

 Phán đoán loại A (tất cả S đều là P):

Chủ ngữ của phán đoán luôn chu diên vì nói đến toàn bộ ngoại diên (tất cả S) Đối với vị ngữ có hai trường hợp:

o Ngoại diên của vị ngữ lớn hơn ngoại diên của chủ ngữ

Ví dụ: Tất cả các nhà tư sản đều là những kẻ bóc lột

S+ P

-S nằm trong P, có mối quan hệ phụ thuộc vì các “nhà tư sản” chỉ là một bộ phận của những kẻ bóc lột (chủ nô - địa chủ - tư sản)

o Ngoại diên của chủ ngữ và vị ngữ như nhau:

Ví dụ: Tam giác đều là tam giác có ba cạnh bằng nhau

Trang 35

S+ P+

S và P có quan hệ đồng nhất nên đều chu diên

Trong phán đoán loại A, vị ngữ không chu diên nếu xảy ra quan hệ phụ thuộc và chu diên nếu xảy ra quan hệ đồng nhất

Loại A: S +, P +(-)

 Phán đoán loại E (tất cả S không là P/không một S nào là P):

S và P có quan hệ tách rời đều chu diên vì toàn bộ ngoại diên của S bị loại trừ khỏi toàn bộ ngoại diện của P và tất cả ngoại diên của P không nằm trong ngoại diên của S

Ví dụ: Tất cả loài cá đều không thể sống trên cạn

o Chủ ngữ và vị ngữ có quan hệ giao nhau:

Ví dụ: Một số công nhân là những người phát minh

 Phán đoán loại O (một số S không là P):

Trong phán đoán này một phần ngoại diên của S bị loại ra khỏi toàn

bộ ngoại diên của P Do đó S bao giờ cũng không chu diên, còn P bao giờ cũng chu diên

Ví dụ: Một số sinh viên chưa phải là đảng viên

Trang 36

A: Tất cả S + đều là P + (-)

E:Tất cả S + đều không là P +

I: Một số S - là P + (-)

O: Một số S - không là P +

- Quan hệ giữa các phán đoán đơn:

Giữa các phán đoán đơn tồn tại các quan hệ với nhau Quan hệ giữa các phán đoán đơn đƣợc biểu diễn qua bàn cờ lôgíc (hình vuông lôgíc) Đó là các quan hệ so sánh đƣợc và không so sánh đƣợc

 Quan hệ so sánh đƣợc: Là các phán đoán có cùng thuật ngữ nhƣng khác nhau về số lƣợng hoặc chất lƣợng

Ví dụ: “ Tất cả kim loại là chất rắn”;

Và “Một số kim loại không là chất rắn”

Quan hệ so sánh đƣợc giữa hai phán đoán nhất quyết đơn đƣợc chia thành quan hệ hợp và quan hệ không hợp

 Quan hệ hợp: Các phán đoán hợp là các phán đoán có cùng giá trị

Phụ thuộc

S + P +

P - S+

S - P+

Trang 37

o Các phán đoán tương đương (hợp hoàn toàn): Các phán đoán có cùng giá trị chân thực hoặc giả dối

Ví dụ: “Nguyễn Trãi- anh hùng dân tộc” và tác giả “Bình ngô đại cáo- anh hùng dân tộc” Loại phán đoán này thường dùng trong văn nói, viết,…để trình bày tư tưởng do đó không xét ở “hình vuông lôgíc”

o Quan hệ phụ thuộc: Là quan hệ giữa các phán đoán A- I, E- O Nếu A, E (phán đoán chi phối) đúng thì I, O (phán đoán phụ thuộc) cũng đúng và ngược lại từ tính giả dối của I, O suy ra tính giả dối của A, E

Ví dụ: A: Mọi kim loại đều có thể nấu lỏng (1)

I: Có những kim loại có thể nấu lỏng (1) Hoặc: O: Một số loài cá không sống dưới nước(0)

E: Tất cả các loài cá đều không sống dưới nước (0) Giá trị thực của A và E, I và O sẽ không xác định nếu giá trị của A,

E được suy ra từ tính chân thực của I, O và giá trị của I,O được suy

ra từ tính giả dối của A, E

Nếu phán đoán trên sai về lượng (ngoại diên) thì phán đoán dưới đúng:

Ví dụ: A: Tất cả sách đều vô ích (0)

I: Có những sách là vô ích (1) Nếu phán đoán trên sai về chất thì phán đoán dưới cũng sai:

Ví dụ: E: Tất cả động vật không cần không khí cũng sống (0)

O: Có những động vật không cần không khí cũng sống (0) Nếu phán đoán dưới I, O mà đúng thì phán đoán trên A, E không nhất định cũng đúng

o Quan hệ đối lập riêng (đối lập một phần): Là quan hệ giữa các phán đoán I- O có đặc trưng có thể cùng chân thực nhưng không thể cùng giả dối

Ví dụ: I: Một số học sinh là đoàn viên (1)

Trang 38

O: Một số học sinh không phải là đoàn viên (1) Nếu một trong hai phán đoán là giả dối thì có thể suy ra tính chân thực của phán đoán kia nhưng từ tính chân thực của một trong hai phán đoán không thể suy ra tính giả dối của phán đoán kia

Ví dụ: I: Một số nước trên thế giới là nước phát triển (1)

O: Một số nước trên thế giới không phải là nước phát triển (không rõ)

 Quan hệ không hợp: Các phán đoán không hợp là các phán đoán không thể đồng thời chân thực

o Quan hệ đối lập chung: Là quan hệ giữa các phán đoán A- E có đặc trưng có thể cùng giả dối nhưng không thể cùng chân thực

Ví dụ: A: Kim loại là chất rắn (0)

E: Không kim loại nào là chất rắn (0)

Từ tính chân thực của một trong hai phán đoán xác định được tính giả dối của phán đoán kia nhưng nếu một trong hai phán đoán là giả dối thì giá trị của phán đoán kia không xác định

Ví dụ: A: Mọi người chúng ta đều biết đánh cờ (0)

E: Mọi người chúng ta đều không biết đánh cờ (không rõ)

o Quan hệ mâu thuẫn: Là quan hệ giữa các phán đoán A- O, E- I có đặc trưng không thể cùng chân thực hoặc cùng giả dối

Ví dụ: A: Tất cả mọi người đều biết đánh cờ (0)

O: Có những người không biết đánh cờ (1)

 Quan hệ không so sánh được là các phán đoán có chủ ngữ hay vị ngữ khác nhau

Ví dụ: “Kim loại dẫn điện tốt”;

Và ” Khí trơ không tham gia phản ứng hoá học”

Theo bàn cờ lôgíc, từ trái sang phải (chiều kim đồng hồ) ta có bảng tổng kết sau đây:

A đúng E sai O sai I đúng

A sai E không rõ O đúng I không rõ

Trang 39

E đúng O đúng I sai A sai

E sai O không rõ I đúng A không rõ

O đúng I không rõ A sai E không rõ

- Phán đoán phức hội/liên kết (phép hội):

Là phán đoán phức được tạo thành từ các phán đoán đơn nhờ liên từ lôgíc

“và”

Ký hiệu phép hội: 

Ví dụ: Lao động là quyền lợi của mọi người (phán đoán đơn P)

Lao động là nghĩa vụ của mọi người (phán đoán đơn Q) Lao động là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người (P  Q phán đoán phức)

Tính chân thực hay giả dối của phán đoán

phức này phụ thuộc vào tính chân thực của

phán đoán thành phần Phán đoán chân thực

khi phán đoán thành phần chân thực và giả dối

“song vẫn”, “cũng”, “trong khi…thì…”, “ngoài…còn…”, “…thì…còn…”,

“cùng với…còn (có)…”, “không chỉ…mà còn…” và dấu “phẩy”

Phán đoán phức hội có thể có các dạng sau:

S1 và S2 là P

Trang 40

- Phán đoán phức tuyển/phân liệt (phép tuyển):

Là phán đoán phức đƣợc tạo thành từ các phán đoán đơn nhờ liên từ lôgíc

“hoặc”

Ký hiệu phép tuyển: 

 Phán đoán tuyển loại/phân liệt tuyệt đối (phép tuyển loại):

Là phán đoán phức đƣợc tạo thành từ các phán đoán đơn nhờ liên từ lôgíc

“hoặc” nhƣng không cho phép đối tƣợng đồng thời có các thuộc tính trong các phán đoán đơn

Ví dụ: Vật thể ở thể rắn (P)

Vật thể ở thể lỏng (Q) Vật thể hoặc ở thể rắn hoặc ở thể lỏng (P  Q) Phán đoán này không cho phép đối tƣợng đồng thời có các thuộc tính ở phán đoán đơn mà chỉ đƣợc lựa chọn một mà thôi Cùng một thời điểm nhất định vật thể nếu đã ở thể rắn không thể tồn tại ở thể lỏng

Phán đoán chân thực khi một trong các

phán đoán thành phần là chân thực và giả

dối khi phán đoán thành phần cùng chân

thực hay cùng giả dối

 Phán đoán tuyển không loại/phân liệt liên kết (phép tuyển không loại):

Là phán đoán phức đƣợc tạo thành từ các phán đoán đơn nhờ liên từ lôgíc

“hoặc” nhƣng cho phép đối tƣợng đồng thời có các thuộc tính trong các phán đoán đơn

Ví dụ: Sinh viên này rất có khả năng (P)

Sinh viên này chăm chỉ (Q) Sinh viên này hoặc rất có khả năng, hoặc chăm chỉ (P  Q) Phán đoán chân thực khi ít nhất một trong

các phán đoán thành phần là chân thực và

Ngày đăng: 24/10/2017, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN