Các tam đoạn luận được chia thành các dạng khác nhau căn cứ vào chất là lượng của các phán đoán tiền đề và cách thức kết hợp giữa các tiền đề tuy nhiên chỉ có 19 phương thức thoả mãn quy tắc:
Loại hình I: aaa, eae, aii, eio;
Loại hình II: eae, aee, eio, aoo;
Loại hình III: aai, iai, aii, eao, oao, eio;
Loại hình IV: aai, aee, iai, eao, eio.
Một số trường hợp ngoại lệ: Trong thực tiễn tư duy có những trường hợp, mặc dù vi phạm quy tắc chung của tam đoạn luận, nhưng kết luận chân thực vẫn được rút ra một cách tất yếu logic. Đó là do tính chu diên của các thuật ngữ được bảo đảm.
Ví dụ 1: “Một số kim loại là kim loại kiềm”. (1)
“Một số nguyên tố hoá học là kim loại”. (2)
“Một số nguyên tố hoá học là kim loại kiềm”. (3)
Hai tiền đề là phán đoán riêng, nhưng kết luận chân thực vì M trong tiền đề nhỏ chu diên (ngoại diên của M nằm trong ngoại diên của S). Ví dụ 2: “Động vật có xương sống là động vật”. (1)
“Một số động vật có xương sống là động vật ăn thịt”. (2) “Tất cả động vật ăn thịt là động vật” (3)
Suy luận không vi phạm quy tắc loại hình mà vi phạm quy tắc 8. Nhưng kết luận được suy ra tất yếu, vì thuật ngữ giữa chu diên ở một trong các tiền đề và thuật ngữ nhỏ S chu diên trong tiền đề nhỏ.
Các bước kiểm tra lụân 3 đoạn Bước 1: Xác định loại phán đoán tổ hợp
Bước 2: Xác định các thuật ngữ (S - M - P) và loại hình
Bước 3: Xác định quan hệ giữa các thuật ngữ (nếu có) và xét tính chu diên Bước 4: Đối chiếu với hệ thống các quy tắc
Bước 5: Kết luận chung
Một số suy luận dễ lầm tưởng là luận 3 đoạn
- Nếu tiên đề là phán đoán quan hệ thì không xét đó là luận 3 đoạn:
- Nếu tiên đề là phán đoán phức thì không xét đó là luận 3 đoạn
- Về hình thức có những suy luận mà kết luận mới nhìn tưởng là rút ra từ 2 tiên đề nhưng thực ra từ nhiều tiên đề.
- Có những suy luận, suy diễn không phải là luận 3 đoạn nhưng trong chứng minh và thực tiễn nó có vai trò quan trọng.
Tam đoạn luận rút gọn hay luận hai đoạn là tam đoạn luận trong đó các tiền đề hoặc kết luận của nó bị bỏ qua.
Ví dụ : “Cậu là người quân tử, phải độ lượng chứ”. (Tam đoạn luận rút gọn bỏ qua tiền đề lớn)
Ta có thể khôi phục lại tam đoạn luân đó như sau:
“Mọi người quân tử là người độ lượng”. (1) “Cậu là người quân tử”. (2)
“Cậu phải là người độ lượng”. (3)
Chú ý : Khi sử dụng luận hai đoạn dễ gặp sai lầm, vì vậy, để phát hiện sai lầm cần đưa luận hai đoạn về luận ba đoạn đầy đủ.
2.3.4. Suy luận quy nạp
2.3.4.1. Bản chất của suy luận quy nạp
Định nghĩa: là suy luận trong đó kết luận về toàn bộ một lớp đối tượng do kết quả của việc nghiên cứu những đối tượng riêng biệt thuộc lớp đó.
2.3.4.2. Các loại quy nạp (5 loại)
a. Quy nạp hoàn toàn: là loại quy nạp rút ra kết luận chung về những dấu hiệu (P) cho toàn lớp đối tượng (S) nhờ kết quả nghiên cứu một bộ phận đối tượng của lớp.
Công thức : S1 là P S2 là P Sn là P
S1,S2,S3…Sn thuộc S S là P
Ví dụ: Đồng là dẫn điện Nhôm dẫn điện Sắt dẫn điện …………
Đồng, nhôm, chì, sắt….. thuộc kim loại Kim loại dẫn điện
b. Quy nạp không hoàn toàn: là loại quy nạp trong đó khẳng định rằng tất cả các đại diện của lớp đang xét (S) có thuộc tính (P) trên cơ sở biết mỗi đại diện của lớp này thuộc tính P.
Công thức: S1 là P S2 là P S3 là P
Mà S1,S2,S3 hợp thành lớp S S là P
c. Quy nạp phổ thông: là loại quy nạp không gắn với suy diễn chỉ liệt kê đơn giản
d. Quy nạp khoa học: là phép quy nạp được sử dụng gắn trên với suy diễn.
Trong quy nạp này, suy diễn có thể có vai trò khác nhau tuỳ theo vai trò của suy diễn, người ta phân biệt thành các hình thức sau.
- Quy nạp qua việc lựa chọn các trường hợp, loại trừ khái quát hoá ngẫu nhiên.
- Quy nạp trong đó kết luận rút ra nhờ quy nạp không hoàn toàn được lý giải bằng suy diễn.
- Quy nạp trong đó kết luận sinh ra do nhờ phép tương tự được lý giải trực tiếp nhờ suy diễn trong đó bản thân quá trình xác định sự tương tự đã dựa trên sự phân tích tỷ mỷ các dấu hiệu được so sánh.
đ. Phép tương tự: là suy luận quy nạp trong đó hai đối tượng giống nhau ở một số dấu hiệu ta rút ra kết luận rằng các đối tượng này cũng có những dấu hiệu khác giống nhau.
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP