1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước

39 402 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 257,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để hoàn thành trọng trách đó, Đảng phải không ngừng đổi mới phươngthức lãnh đạo, vừa bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, vừa bảo đảm cho Nhà nước hoạtđộng theo đúng chức nă

Trang 1

Chuyên đề 1: NHÀ NƯỚC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Câu 2: Phân tích cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”?

Đảng lãnh đạo - yếu tố tiên quyết đảm bảo cho sự vận hành cơ chế có hiệu quả

Vai trò lãnh đạo của Đảng không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được Vaitrò đó đã được thử thách, kiểm nghiệm trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nướctrước đây cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Nhân dânViệt Nam thừa nhận, tin tưởng trao cho Đảng vai trò lãnh đạo toàn xã hội và dân tộc

Trong các bản Hiến Pháp Hiến Pháp 1946,1959,1980,1992,2013 đều Khẳng định vai tròlãnh đạo của Đảng Trong Hiến pháp Từ HP 1980 đến nay Sự lãnh đạo của Đảng không chỉđược tiếp tục khẳng định trong Hiến pháp mới mà sự hiến định ấy con được làm sâu sắc và toàn

diện hơn Điều 4 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “1 Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội 2 Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình 3 Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật." Quy định của Hiến pháp năm 2013 là kế

Trang 2

thừa quy định tại điều 4 Hiến pháp 1992, đồng thời bổ sung quy định làm rõ bản chất của Đảngtheo tinh thần mới của Cương lĩnh Chính do bản chất và nền tảng tư tưởng đó nên nhân dânmới thừa nhận vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng và được tiếp tục ghi nhận longtrọng vào Hiến pháp năm 2013.

Tuy nhiên, hiện nay, Đảng đang đứng trước nhiều thách thức, nguy cơ phải vượt qua.

Đảng ta là Đảng cầm quyền; Đảng không chấp nhận đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập làquyết định hoàn toàn đúng đắn Để đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng hoàn toàn phù hợp yêucầu của đất nước, cần có nhiều yếu tố, trong đó vai trò phản biện xã hội là hết sức quan trọng.Bởi lẽ, nếu không có sự phản biện xã hội sẽ dễ dẫn đến sự chủ quan, duy ý chí; đường lối chínhtrị dễ bị sai lầm; hành động thực tế dễ bị độc đoán, làm mất dân chủ trong xã hội và không bảođảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, không bảo đảm và phát huy tốt vai trò quản lý củaNhà nước Cùng với đó, Đảng phải phòng và chống nguy cơ thoái hoá, biến chất và chiến lược

“Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch

Sự lãnh đạo của Đảng hơn 80 năm qua đã đảm bảo cho dân tộc ta giành được nhữngthành tựu vô cùng to lớn; nhưng, những thành tựu đó có thể không còn ý nghĩa, nếu Đảng bịsuy thoái và không còn giữ được vai trò lãnh đạo đối với dân tộc; khi đó mọi thành quả cáchmạng mà Đảng và nhân dân ta đã giành được bằng bao xương, máu, mồ hôi và nước mắt, phútchốc sẽ đổ xuống sông, xuống biển; lúc đó, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhândân làm chủ” cũng bị tiêu tan Đây là lý do để khẳng định: Đảng đóng vai trò tiên quyết cho sựtồn tại, vận hành có hiệu quả của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làmchủ”

Nhà nước quản lý - yếu tố quyết định trực tiếp sự thành công trong vận hành cơ chế

Nhà nước của chúng ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để bảo đảm và phát huyvai trò quản lý của Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền? Về lý luận, trongnhà nước pháp quyền thì pháp luật chiếm vị trí, vai trò tối thượng đối với mọi mặt của đời sống

xã hội Ở Việt Nam, do tính chất XHCN, Nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng thì có mâuthuẫn với nhà nước pháp quyền không? Câu trả lời là không! Bởi lẽ, bên cạnh lãnh đạo đấtnước thông qua cương lĩnh, chủ trương, đường lối; sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội cónhiều nội dung được thể chế hoá qua hoạt động của Nhà nước Trong công tác cán bộ, Đảngthống nhất lãnh đạo, quản lý công tác cán bộ của cả hệ thống chính trị Điều đó là hoàn toànphù hợp; bởi vì, ĐCSVN là Đảng cầm quyền, là hạt nhân, là cơ quan lãnh đạo của hệ thống

Trang 3

chính trị Tuy nhiên, để hoàn thành trọng trách đó, Đảng phải không ngừng đổi mới phươngthức lãnh đạo, vừa bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, vừa bảo đảm cho Nhà nước hoạtđộng theo đúng chức năng của mình; trong đó, mọi công dân, mọi tổ chức và bản thân Đảngphải hoạt động theo đúng khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; Điều lệ, nghị quyết của Đảng phảiđúng với Hiến pháp và pháp luật.

Để cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” vận hành có hiệu quả, đòi

hỏi Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Nhân dân là yếu

tố trung tâm của mọi quyền lực, là cội nguồn của mọi sức mạnh Vì vậy, mọi biểu hiện xa dân,coi thường dân, ức hiếp dân, gây phiền phức cho dân đều là những biểu hiện của quá trìnhĐảng tự suy yếu, làm lỏng lẻo, thậm chí phá vỡ cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,

nhân dân làm chủ” Cùng với đó, Nhà nước phải làm tốt chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp Trong xã hội hiện đại, Nhà nước còn làm các dịch vụ xã hội để giữ ổn định chính trị-xã

hội và làm cho xã hội phát triển bền vững Nhà nước quản lý trên tất cả các lĩnh vực đối với tất

cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sửdụng 3 nhánh quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợiích chung của cả cộng đồng duy trì ổn định an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theođịnh hướng thống nhất của nhà nước Đảng lãnh đạo Nhà nước; đội ngũ cán bộ, công chức,nhất là cán bộ chủ chốt hầu hết là đảng viên, đều chịu sự quản lý của các tổ chức Đảng tươngứng Nhưng không vì thế mà Nhà nước hoạt động một cách thụ động; Nhà nước mạnh thì Đảngcầm quyền mới mạnh, và ngược lại; Nhà nước mạnh thì quyền làm chủ của nhân dân mới đượcbảo đảm và phát huy Nhà nước và hoạt động của nó ngày càng nhận được sự ủng hộ của mọitầng lớp nhân dân thì hiệu quả hoạt động càng cao, xã hội càng thể hiện tính chất dân chủ

Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp CNH,HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốcXHCN với nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn, thách thức Để tiếp tục vận hành có hiệuquả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, Đảng và Nhà nước cần tậptrung thực hiện tốt những vấn đề cơ bản sau đây:

Trước hết, cần thể chế hoá bằng pháp luật mọi chủ trương, đường lối của Đảng, tạo cơ

sở để thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”

Thứ hai, phải tạo mọi điều kiện để nhân dân trực tiếp thể hiện quyền làm chủ trong hoạt động của Đảng và Nhà nước

Trang 4

Thứ ba, cần xác định thật rõ những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân,

do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng

Có thể nêu lên ở đây một số nội dung cơ bản cần phải quy định rõ, như: Nhà nước quản

lý xã hội dựa trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật; mọi hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội(kể cả tổ chức đảng) đều phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước phải chịu sự lãnhđạo của Đảng và sự lãnh đạo ấy phải được thể chế bằng luật định Cấu tạo quyền lực của Nhànước cũng như hoạt động của nó phải bảo đảm tất cả mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân;nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước, có quyền bãi miễn những đại biểu do mình bầu ra, nếuđại biểu đó mất tư cách và không làm tròn nhiệm vụ; Nhà nước tôn trọng và khuyến khích sựhoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội theo đúng luật định; Nhà nước có chức năng quản lý

xã hội; đồng thời, có chức năng tổ chức các dịch vụ xã hội nhằm đáp ứng, chăm lo tất cả mọiyêu cầu của nhân dân Đây chính là sự biểu hiện rõ ràng nhất vai trò: “Nhà nước của dân, dodân, vì dân”; đồng thời, cũng là điểm biểu hiện rõ ràng tư cách “Nhân dân làm chủ” trong cơchế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”

Nhân dân làm chủ - yếu tố trung tâm của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”

Tầm quan trọng đặc biệt của yếu tố này biểu hiện ở chỗ: quyền lực của Đảng và Nhà nước đều từ quyền lực của nhân dân Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin khẳng định

rõ: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm:cách mạng là sự nghiệp chung của cả dân chúng Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam(ĐCSVN) là do dân lập nên để phục vụ nhân dân

Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 cũng như các bản Hiến pháp sau này (1959,

1980, 1992, và đặc biệt tại khoản 2, điều 2 Hiến Pháp 2013 cũng đã khẳng định rõ: Nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhândân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Nhờ vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn phát huy được sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân

để tiến hành đấu tranh giành và giữ vững độc lập, tự do của dân tộc và ngày nay đang tiến hànhthắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Trong giai đoạnhiện nay nhà nước đã có nhiều cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực hiện quyền làmchủ của mình thông qua hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Tuy nhiên, trongthực tế, có lúc, có nơi vai trò làm chủ của nhân dân vẫn còn mờ nhạt Việc nhân dân tham giaxây dựng Đảng chưa được nhiều, hiệu quả chưa cao, nhất là việc góp ý kiến, giám sát, kiểm

Trang 5

định đường lối, chủ trương của Đảng cũng như đối với cán bộ, đảng viên nơi công tác và nơi cưtrú Nhân dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp trong lựa chọn, bầu đại biểu Quốc hội và Quốchội cấu tạo các cơ quan Nhà nước để thay mặt mình quản lý xã hội, mới chủ yếu thông qua hiệpthương; trong thực tế ở một số nơi, quyền làm chủ của nhân dân vẫn bị vi phạm nghiêm trọng Đây chính là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta cần phải nghiên cứu, giải quyết, nhằm phát huytốt hơn nữa vai trò làm chủ của nhân dân.

Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là sản phẩm tất yếu của lịch

sử phát triển của dân tộc Việt Nam, đảm bảo cho sự thành công của công cuộc xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Xây dựng, hoàn thiện và phát huy đầy đủ cơ chế đó là tráchnhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, mà trước hết là của cấp uỷ, chính quyền cáccấp

Câu 4: Phân tích các đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền XHCN và chỉ ra sự khác biệt giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN?

*Khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN

Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước với sự phân công và phối hợpkhoa học, hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, đồng thời có cơ chế kiểm soátquyền lực Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, quản lý xã hội bằng phápluật có tính nhân đạo, công bằng, vì lợi ích chính đáng của con người

Tuy nhiên, với mỗi chế độ chính trị có hình thức biểu hiện của nhà nước pháp quyềnkhông giống nhau Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước XHCN thực sự củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảođảm tính tối cao của Hiến Pháp, quản lý xã hội theo pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnhphúc của nhân dân do Đảng tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời chịu tráchnhiệm trước nhân dân và sự giám sát của nhân dân

* Những đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN

Nhà nước pháp quyền XHCN có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân:

Phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra ngày càng được đưa vào cuộcsống Nhà nước đưa ra nhiều cơ chế và quy định để thừa nhận và đảm bảo cho nhân dân thựchiện quyền làm chủ của mình thông qua hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Để

Trang 6

xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng củanhân dân Mà nền tảng quyền lực của nhà nước là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấpnông dân và đội ngũ trí thức.

Ví dụ: Nhà nước ban hành và thừa nhận hàng loạt các văn bản luật như Luật tiếp công

dân 2013, Luật khiếu nại 2011, Luật tố cáo 2011, luật trưng cầu ý dân 2015, Luật tổ chức quốchội 2014, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015…

- Nhà nước pháp quyền XHCN được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật

Hiến pháp và pháp luật Việt Nam phản ánh đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ýchí và nguyện vọng của nhân dân, vì vậy, đó là thước đo giá trị phổ biến trong xã hội và cầnphải trở thành công cụ để quản lý của nhà nước

Nhà nước pháp quyền XHCNVN là nhà nước phải có hệ thống pháp luật đồng bộ,hoànchỉnh, chất lượng cao thể hiện được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân dưới sự lãnh đạo củaĐảng, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội, trong đó Hiến pháp và các đạo luậtphải giữ vị trí tối cao Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cán bộ, công chức nhà nước và mọithành viên trong xã hội phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước quản lý xã hội bằng phápluật, lấy pháp luật làm chuẩn mực cao nhất để quản lý hành vi của cá nhân và tổ chức trong xãhội

- Đó là nhà nước tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người, bảo đảm trách nhiệm giữa nhà nước và công dân, thực hiện dân chủ gắn với tăng cường kỉ cương, kỉ luật.

Nhằm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, xâm hại tới lợi ích hợp pháp của công dân.Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm minh Kịp thờimọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do dân chủ và lợi ích hợppháp của nhân dân Ngăn ngừa sự tùy tiện từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhànước, ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan vô kỉ luật, kỉ cương bảo đảm hiệu lực và hiệuquả hoạt động của nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được nhà nước bảo đảm

và bảo vệ trọn vẹn Nhà nước bảo đảm mối quan hệ giữa nhà nước và công dân là bình đẳng.Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực hiện được quản lý xã hội bằng pháp luật, tăngcường được pháp chế trong xã hội, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật, bảo đảm thực

Trang 7

hiện và bảo vệ được các quyền tự do và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, chịu tráchnhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình Chất lượng cuộc sống của nhân dân chính

là một thước đo hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước pháp quyềnXHCNViệt Nam của dân, do dân và vì dân

- Đó là nhà nước tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Tại khoản 3 điều 2 Hiến pháp 2013 cũng đã khẳng định:

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơquan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

Khác với Việt Nam các quốc gia trên thế giới áp dụng triệt để học thuyết tam quyền phânlập của Montesquieu Phân quyền cứng rắn về quyền lực, 3 nhánh Lập pháp - Hành pháp - Tưpháp tồn tại độc lập với nhau, kiềm chế đối trọng lẫn nhau như ở Hoa kỳ

=> Đây chính là đặc trưng về cách thức tổ chức quyền lực của nhà nước xã hội chủnghĩa

- Đó là nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận.

Đảng cộng sản VN là đảng duy nhất lãnh dạo toàn diện và tuyệt đối hệ thống chínhtrị Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở các hình thức sau: định ra chiến lược, mục tiêu cơ bản,đường lối chính sách phát triển XH làm cơ sở cho các hoạt động của các tổ chức trong hệ thốngchính trị Đảng tiến hành kiểm tra các hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiệnđường lối chính sách của Đảng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước do Đảngcộng sản Việt Nam lãnh đạo Đây là đặc điểm đặc trưng, cơ bản, rất quan trọng mang tính lýluận và đã được kiểm chứng bằng thực tế lịch sử của CM Việt Nam Hiến pháp nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tại điều 4 ghi rõ: “ Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiênphong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộcViệt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dântộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh

đạo Nhà nước và xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân

Trang 8

dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của

mình”

Đảng đã bố trí cán bộ, đảng viên của mình giữ những cương vị chủ chốt trong bộ máychính quyền các cấp, nhờ đó, giữ vững được sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảngđối với hệ thống chính trị Trong mỗi thời kỳ cách mạng, nhất là trước các bước ngoặtlịch sử, Đảng ta luôn luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành và sáng tạo,nêu cao tính độc lập tự chủ, trước hết ở việc xác định và tổ chức thực hiện Cương lĩnh,đường lối cách mạng đúng đắn và có hiệu quả Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhànước VN tiếp tục có những bước phát triển mới, xứng đáng là một nhà nước kiểu mới - Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đáp ứng

sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Bên cạnh 5 đặc điểm trên một số tài liệu còn có thêm một đặc điểm nữa:

- Đó là nhà nước thực hiện đường lối, hòa bình, hữu nghị với nhân dân các dân tộc

và các nhà nước trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi đồng thời tôn trọng và cam kết thực hiện các công ước, điều ước, hiệp ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn.

Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương: Mở rộng hoạt động đối ngoại, chủ động vàtích cực hội nhập quốc tế Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,

đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định cho sự pháttriển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế đấtnước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xãhội trên thế giới

Với những đặc trưng nêu trên, nhà nước pháp quyền XHCN VN thể hiện những tư tưởng quanđiểm tích cực, tiến bộ, phản ánh được ước mơ và khát vọng của nhân dân đối với công lý, tự do, bìnhđẳng trong một xã hội còn giai cấp

Sự khác biệt giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN:

Trang 9

Tiêu chí phân biệt Nhà nước pháp quyền XHCN Nhà nước pháp quyền tư sản

Nghị Viện Tổng thống Thừa nhận quyền lực của cá nhân Tổng thống hoặc cá nhân Thủ tướng có quyền giải tán Nghị viện, Quốc hội hoặc giải tán Chính Phủ.

Coi thuyết tam quyền phân lập là học thuyết cơ bản trong việc thực hiện quyền lực nhà nước các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp hoàn toàn độc lập, kiềm chế đối trọng lẫn nhau.

3 Bản chất nhà

nước

Thể hiện ý chý, nguyện vọng, bảo vệ quyền lợi của toàn thể nhân dân, Thuộc tính xã hội nhiều hơn thuộc tính giai cấp

Thể hiện ý chý, bảo vệ quyền lợi của một bộ phận nhân dân đó là giai cấp cầm quyền, giai cấp tư sản Thuộc tính giai cấp cao

4 Hệ thống pháp

luật

Chỉ công nhận các quy phạm pháp luật khi nó được xác lập và thông qua theo một trình tự, thủ tục nhất định

Bên cạnh pháp luật thành văn, nhà nước còn thừa nhận, co án

lệ, tập quán như một loại quy phạm pháp luật bất thành văn

5 Chế độ Sở hữu Công hữu về tư liệu sản xuất

Thừa nhận đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước là đại diện chủ

sở hữu

Tư hữu về tư liệu Sản xuất Thừa nhận đất đai thuộc sở hữu

tư nhân

Trang 10

Chuyên đề 3: CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

Câu 4: Những khó khăn trong thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của công chức ở Việt Nam hiện nay?

Nghĩa vụ của người làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và công chức nói riêng

là những gì nhà nước bắt buộc người làm việc cho mình phải tuân thủ và đó cũng chính là những

gì người làm việc cho nhà nước cam kết phải thực hiện khi họ trở thành thành viên của các cơquan nhà nước Đó là những nghĩa vụ này mang tính đơn phương, do nhà nước quy định vàngười lao động phải cam kết tuân theo Những nghĩa vụ đó mang tính pháp lý và không phải làmột sự thoả thuận giữa nhà nước và người làm việc cho nhà nước Nếu như với các tổ chức, bêncạnh những quy định mang tính chất chung của pháp luật, người sử dụng lao động và người laođộng có thể đi đến thoả thuận một số nội dung mang tính quy chế lao động, trong khi đó đối với

cơ quan nhà nước những quy chế đó đã hình thành từ trước và người lao động muốn tham gialàm việc phải cam kết thực hiện

Tuy nhiên trong thực hiện nghĩa vụ của công chức cũng có những khó khăn chúng ta có thể

kể đến Khó khăn do khách quan mang lại và khó khăn do chủ quan cán bộ công chức thực hiệnnghĩa vụ gặp phải

* Những khó khăn khách quan khi thực hiện nghĩa vụ:

+ Một số đơn vị người lãnh đạo còn lạm dụng chức quyền trong quá trình quản lý;

+ Văn bản quy định về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của công chức chưa rõ ràng cụ thể, dẫn đến tình trạng các công chức ỷ nại, đùn đẩy, khó quy kết được trách nhiệm gây mất đoàn kết nội bộ.

+ Khâu lựa chọn bố trí, tuyển dụng thực hiện chưa tốt, còn tuyển dụng ồ ạt, con ông cháu cha… chưa thực hiện đúng nguyên tắc tương xứng với yêu cầu công việc

+ Quy trình, thủ tục thực thi, giải quyết công việc còn rườm rà hoặc không thực chất + Định mức công việc, tiêu chí, đo lường, đánh giá năng lực của cán bộ, công chức chưa cụ thể, khó định lượng và phương pháp đánh giá chưa đa dạng

+ Sự hiện hữu của những xung đột trong tổ chức.

+ Trình độ nhận thức của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, gây khó khăn trong quá trình thực thi công vụ.

Trang 11

Những khó khăn chủ quan khi thực hiện nghĩa vụ:

+ Phẩm chất, năng lực đạo đức của một bộ phận công chức không đáp ứng được công việc, chưa thật sự cố gắng trong công việc còn tồn tại tâm lý hách dịch không tôn trọng, tận tụy phục vụ nhân dân.

+ Cán bộ, công chức còn chưa nắm vững được nghĩa vụ của mình dẫn đến thực hiện không đúng, hoặc không thực hiện.

+ Lợi dụng kẽ hở của pháp luật nhiều công chức ỷ nại, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau trong quá trình thực thi công vụ.

+ Tính tích cực tự giá không cao chưa chủ động phối hợp, đoàn kết với nhau trong giải quyết công việc giữa các đơn v trong cùng cơ quan và giữa các cơ quan với nhauị.

+ Năng lực, kiến thức chuyên môn vẫn còn nhiều hạn chế, chưa hiểu rõ và nắm vững các quy định pháp luật trong giải quyết công việc dẫn đến sai phạm.

+ Ý thức của cá nhân đôi lúc chưa cao dẫn đến việc chấp hành nội quy, quy chế, bảo vệ quản lý sử dụng hiệu quả tiết kiệm tài sản công chưa tốt còn có tâm lý của chung không ai tiếc.

* Những khó khăn khi thực hiện quyền của công chức

Khó khăn khách quan:

Hệ thống văn bản quy định về quyền của công chức còn chưa đồng bộ, rõ ràng, quy định còn rải rác ở nhiều văn bản, khiến cho đội ngũ công chức chưa nắm bắt kịp thời và hiểu rõ quyền bản thân được hưởng.

+ Nguồn ngân sách chi trả lương và các khoản phụ cấp, đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức còn eo hẹp.

+ Môi trường làm việc còn nhiều hạn chế, Trang thiết bị và các điều kiện làm việc đã được quan tâm tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng hết được yêu cầu công việc.

+ Thực hiện bình đẳng giới chưa tốt.

+ Khó khăn hạn chế về quy hoạch, chỉ tiêu đào tạo

+ Quỹ đất hỗ trợ cho công chức có nhà ở, phương tiện đi lại còn eo hẹp chưa đáp ứng nhu cầu.

Trang 12

+ Thời gian học tập của công chức không nhiều dẫn đến chất lượng không cao Do vừa học vừa làm.

2.2 Nghĩa vụ, quyền và quyền lợi của công chức

2.2.1 Nghĩa vụ của công chức

a) Những quy định chung

Nghĩa vụ của người làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và công chức nói riêng

là những gì nhà nước bắt buộc người làm việc cho mình phải tuân thủ và đó cũng chính là những

gì người làm việc cho nhà nước cam kết phải thực hịên khi họ trở thành thành viên của các cơquan nhà nước Đó là những nghĩa vụ này mang tính đơn phương, do nhà nước quy định vàngười lao động phải cam kết tuân theo Những nghĩa vụ đó mang tính pháp lý và không phải làmột sự thoả thuận giữa nhà nước và người làm việc cho nhà nước Nếu như với các tổ chức, bêncạnh những quy định mang tính chất chung của pháp luật, người sử dụng lao động và người laođộng có thể đi đến thoả thuận một số nội dung mang tính quy chế lao động, trong khi đó đối với

cơ quan nhà nước những quy chế đó đã hình thành từ trước và người lao động muốn tham gialàm việc phải cam kết thực hịên

Ở các quốc gia khác nhau, do thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế, điều kiện vănhóa, xã hội khác nhau mà có quy định khác nhau về nghĩa vụ của công chức Nhưng nhìn chungcác nghĩa vụ đó thường bao gồm các nghĩa vụ trung thành đối với Nhà nước, nghĩa vụ trongthực thi công vụ, trong mối quan hệ với cấp trên, nghĩa vụ trong mối quan hệ với nhân dân.Trong văn bản pháp luật, các nước đều xác định khá chi tiết và cụ thể các nghĩa vụ này Một sốnước công chức còn có nghĩa vụ đọc lời thề khi gia nhập công vụ Nếu công chức từ chối đọcthì sẽ bị thải hồi

Ở Việt Nam, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã xác định rõ nghĩa vụ của cán bộ côngchức bao gồm các nhóm nghĩa vụ: trung thành với Đảng, với nhà nước với nhân dân; nghĩa vụ

Trang 13

trong thực thi công vụ; nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan tổ chức Ngoài ra công chức cònphải thực hiện nghiêm những điều không được làm Điều 8, 9 và 10 của Luật quy định cụ thểcác nhóm nghĩa vụ của cán bộ, công chức như sau như sau:

Nghĩa vụ của công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân

- Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia

- Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân

- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân

- Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật củaNhà nước

Nghĩa vụ của công chức trong thi hành công vụ

- Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạnđược giao

- Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổchức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơquan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước

- Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổchức, đơn vị

- Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao

- Chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái phápluật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyếtđịnh vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưngkhông chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp củangười ra quyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết địnhcủa mình

- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Nghĩa vụ của công chức là người đứng đầu

Ngoài việc thực hiện quy định những nghĩa vụ trên, cán bộ, công chức là người đứng đầu

cơ quan, tổ chức, đơn vị còn phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

Trang 14

- Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt độngcủa cơ quan, tổ chức, đơn vị;

- Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức;

- Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiếtkiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phítrong cơ quan, tổ chức, đơn vị;

- Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơquan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý cóhành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà chocông dân;

- Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩmquyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức;

- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

b) Những điều công chức không được làm

Ngoài ra công chức phải thực hiện nghiêm những việc không được làm liên quan đến đạođức công vụ, đến bí mật nhà nước; những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tácnhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền

2.2.2 Quyền và quyền lợi của công chức

a) Quyền của công chức

Quyền của công chức bao gồm quyền lực pháp lý được Nhà nước trao cho để thực thicông vụ và quyền lợi của công chức được hưởng khi làm việc cho Nhà nước

Bản chất quyền lực pháp lý của công chức có được khi thực thi công vụ là:

- Được trao tương xứng với nhiệm vụ

- Không gắn liền với công chức mà gắn liền với vị trí công chức đảm nhiệm

- Không phục vụ công chức mà nhằm thực hiện công vụ mà công chức đảm nhận

b) Quyền lợi của công chức

Quyền lợi của người làm việc cho tổ chức hành chính nhà nước nói chung và công chức nóiriêng thường được xác định trong các văn bản pháp luật của các quốc gia thể hiện thái độ, sựquan tâm đến việc xây dựng được một nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính

Trang 15

nhà nước và xây dựng phát triển đất nước Quyền lợi là cơ sở bảo đảm, là điều kiện và phươngtiện để cán bộ, công chức thực thi công việc có hiệu quả Nhìn chung, các nước đều cố gắng đểđảm bảo được quyền lợi và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức sao cho họ có thể yên tâmthực hiện được công việc được giao, tận tâm với công việc mà không bị chi phối bởi cuộc sốngthường nhật Quyền lợi của cán bộ, công chức còn là cơ sở để đảm bảo cho người cán bộ, côngchức có cơ hội và điều kiện thăng tiến, tạo ra sự yên tâm, tận tình làm việc và ý chí phấn đấuvươn lên trong công việc

Quyền lợi của người làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước là những gì mà ngườilàm việc trong tổ chức hành chính nhà nước được hưởng từ Nhà nước Do người làm việc cho

tổ chức hành chính nhà nước trước hết, là người lao động theo quy định của pháp luật lao độngnên họ cũng được hưởng những quyền lợi của người lao động do pháp luật quy định Ngoài Bộluật Lao động, ở nhiều nước đều có Luật riêng về công vụ, công chức để quy định những vấn

đề liên quan đến công chức, trong đó có vấn về về quyền lợi của công chức Ở Việt Nam, cácquyền lợi cụ thể của người làm việc cho tổ chức hành chính nhà nước được quy định cụ thểtrong Luật Cán bộ, công chức

Quyền lợi của người làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước được hưởng không chỉbao gồm các quyền lợi về vật chất (tiền lương, phụ cấp ) mà còn bao gồm các quyền lợi vềtinh thần (quyền nghỉ ngơi, nghiên cứu khoa học, tham gia các tổ chức công đoàn )

Quyền lợi của người làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước không giống nhau ở cácquốc gia do ảnh hưởng bởi các điều kiện phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó Trong xu thếhội nhập quốc tế, với quan điểm đầu tư vào nguồn lực con người và thực hiện được mục tiêuxây dựng một nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của cải cách hành chính, nhiều nước đangrất quan tâm đến việc cam kết thực hiện ngày càng tốt các quyền lợi cho người làm việc trong

hệ thống hành chính nhà nước

Ở Việt Nam, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến cải cách tiềnlương, cải thiện chế độ và điều kiện làm việc, thực hiện chế độ nhà ở công vụ, hoàn thiện cácquy định về quản lý cán bộ công chức cũng chính là nhằm đảm bảo cho quyền lợi của cán bộ,công chức được đảm bảo và được thực hiện trong thực tiễn

Như vậy, quyền của công chức có thể được quy định thông qua quyền lực pháp lý để thựcthi công vụ của công chức và quyền lợi của công chức với tư cách là người làm việc cho nhà

Trang 16

nước Tuy nhiên, theo Luật Cán bộ, công chức, quyền của cán bộ, công chức được tiếp cậnchung theo 4 nhóm sau đây1:

Quyền của cán bộ, công chức được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ:

- Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ

- Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật

- Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao

- Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ

- Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ

Quyền của cán bộ, công chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương:

Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phùhợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Cán bộ, công chức làm việc ở miền núi, biêngiới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặcbiệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụcấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật

Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy địnhcủa pháp luật

Quyền của cán bộ, công chức về nghỉ ngơi:

Cán bộ, công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quyđịnh của pháp luật về lao động Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sửdụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toánthêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ

Các quyền khác của cán bộ, công chức:

Cán bộ, công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạtđộng kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hànhcông vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công

nhận là liệt sĩ và các quyền khác theo quy định của pháp luật

1 Điều 11, 12, 13, 14 Luật Cán bộ, công chức 2008

Trang 17

CHUYÊN ĐỀ 5: THỦ TỤC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Câu 7: Phân tích các nguyên tắc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính nhà nước Liên hệ thực tiễn để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính nhà nước.

Trả lời:

Thủ tục hành chính là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nướcđược quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính bao gồm trình tự, nội dung, mục đích,cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quá trình giải quyết các công việc của quản líhành chính nhà nước Trong quản lí hành chính nhà nước, thủ tục hành chính đóng vai trò quantrọng Thủ tục hành chính hợp lí sẽ tạo nên sự hài hòa, thống nhất trong bộ máy nhà nước, rútngắn thời gian giải quyết công việc, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Còn thủ tục hànhchính bất hợp lí là mảnh đất tốt cho tệ tham nhũng, cửa quyền, làm giảm lòng tin của nhân dânvào chính quyền Vậy xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính như thế nào để đạt hiệu quả tốtnhất là mối quan tâm hàng đầu của nhà nước ta hiện nay

1 Xây dựng thủ tục hành chính nhà nước

Xây dựng thủ tục hành chính là nghiên cứu để đề ra những cách thức giải quyết công việcnhằm giải quyết các quy định nội dung của luật pháp và đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tế.Việc xây dựng các thủ tục hành chính được đặt lên trên những nguyên tắc cơ bản do Hiến phápquy định Những nguyên tắc này có thể trực tiếp liên quan đến việc xây dựng các thủ tục hànhchính (ví dụ như quy định về các loại văn bản quy phạm pháp luật và thẩm quyền trình tự banhành chúng), nhưng cũng có thể chỉ được quy định trên những nguyên tắc chung và đòi hỏiphải được cụ thể hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật khác Sau đây là một số nguyên tắcchủ yếu cần được áp dụng thống nhất:

- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật

Thủ tục hành chính phải được xây dựng phù hợp pháp luật hiện hành của nhà nước, có tính

hệ thống, nhằm tạo được một công cụ quản lý hữu hiệu cho bộ máy nhà nước

Theo nguyên tắc này, chỉ có những cơ quan nhà nước có thẩm quyền do luật định mớiđược ban hành thủ tục hành chính

“Ngoài luật, pháp lệnh và các văn bản pháp quy của Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ,chỉ bộ trưởng mới có quyền quy định các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình và

Trang 18

chịu trách nhiệm trước chính phủ về các quy định đó Việc quy định mới hoặc bổ sung, sửa đổibãi bỏ các quy đình về thủ tục hành chính đã có phải được thể hiện bằng văn bản, đảm bảo tínhđồng bộ, chính xác, không được trái với luật, pháp lệnh và các văn bản pháp quy của Chính phủ

và Thủ tướng chính phủ Các quy định thủ tục hành chính phải đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện vàphải được công bố công khai để mọi người, cơ quan, đơn vị và nhân dân biết

Đối với một số quy định thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của bộ, ngành trung ươngnhưng cần phải có quy định riêng để phù hợp với các đặc điểm một số địa phương thì các bộ,ngành trung ương có văn bản ủy quyền cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương banhành quyết định Các quy định này của UBND tỉnh, thành phố phải có sự thống nhất của bộ,ngành quản lý về lĩnh vực đó và phải được công bố công khai như quy định thủ tục hành chính

của bộ, ngành” (Nghị quyết của Chính phủ số 38-CP ngày 04-05-1994 về cải cách một bước TTHC trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức).

Như vậy, việc xây dựng các thủ tục hành chính dù thuộc ngành nào cũng phải đảm bảocác thủ tục không trái pháp luật, không mâu thuẫn với các văn bản của cấp trên, phải thực hiệnđúng trình tự với phương tiện, biện pháp, hình thức được pháp luật cho phép Việc xây dựngcác thủ tục trái với nguyên tắc này sẽ dẫn đến việc phá vỡ tính hệ thống của các thủ tục hànhchính, làm rối loạn kỷ cương xã hội, tạo điều kiện cho nạn tham nhũng phát triển và gây ranhững hậu quả khôn lường khác Vì vậy, nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan và cá nhân cóthẩm quyền khi ban hành các thủ tục hành chính phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

- Nguyên tắc phù hợp với thực tế khách quan

Việc xây dựng thủ tục hành chính phải dựa trên cơ sở nhận thức đầy đủ những yêu cầukhách quan của tiến trình phát triển xã hội Với tinh thần đổi mới toàn diện đất nước, trongcông cuộc xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa một nên kinh tế mở, đaphương hóa và đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, việc xây dựng hệ thống thủ tục hành chính saocho tạo điều kiện tốt cho các hoạt động của nền kinh tế đó phát triển đúng hướng, đồng thờingăn ngừa, hạn chế và khắc phục được các mặt tiêu cực của nó là một yêu cầu bức xúc, mộtnhiệm vụ quan trọng trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước

Như vậy, thủ tục hành chính phải được xây dựng sao cho phù hợp với tình hình thực tế đểtạo điều kiện cho các hoạt động quản lý kinh tế, quản lý xã hội được thực thi hữu hiệu Ví dụ: thủtục hành chính mới không được trái nguyên tắc đã được khẳng định trong văn bản của nhà nước

Trang 19

“các cơ quan chính quyền không can thiệp vào những công việc thuộc chức năng quản trị kinhdoanh của doanh nghiệp” Nếu thiếu hiểu biết khách quan, tự mình đặt ra thủ tục hành chính thìchắc chắn quản lý nhà nước sẽ thất bại Hoặc thủ tục hành chính phải tạo điều kiện để thu hútcác nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước để phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ.

Cùng với việc xây dựng các thủ tục mới, chúng ta cũng cần kịp thời sửa đổi, bãi bỏ nhữngthủ tục xét thấy lỗi thời để tạo điều kiện tốt cho các hoạt động của nền kinh tế thị trường pháttriển đúng hướng

- Nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu, thực hiện thuận lợi

Thủ tục hành chính phải được xây dựng trên cơ sở quan tâm đầy đủ đến nguyện vọng và

sự thuận tiện cho nhân dân Cần nhanh chóng loại bỏ những thủ tục rườm rà, phức tạp quá mứccần thiết, bởi lẽ chúng làm cho người thực hiện cũng như người tham gia khó hiểu, khó thựchiện, khó chấp hành, và cũng chính những loại thủ tục như thế là mảnh đất màu mỡ cho bệnhquan liêu, cửa quyền phát triển Thủ tục đơn giản sẽ cho phép tiết kiệm sức lực, tiền của củanhân dân trong biệc thực hiện nghĩa vụ của mình, đồng thời, cũng hạn chế việc lợi dụng chứcquyền vi phạm tự do của công dân

Theo nguyên tắc này, các thủ tục hành chính khi ban hành cần có sự giải thích cụ thể, rõràng Phải chỉ rõ không những nội dung của thủ tục mà cả về phạm vi áp dụng nó Cần tránhtình trạng thủ tục hành chính sau khi ban hành không có điều kiện để thực thi do đối tượngkhông hiểu được thủ tục một cách rõ ràng hoặc do các yêu cầu đặt ra không phù hợp với thực

tế Cần đảm bảo rằng mọi thủ tục hành chính để được công khai cho mọi người biết để tuân thủ.Việc công khai như vậy còn có ý nghĩa là để kiểm tra được tính nghiêm túc của cơ quan nhànước khi giải quyết các công việc có liên quan đến tổ chức, công dân

- Nguyên tắc có tính hệ thống

Nguyên tắc này là hệ quả của nguyên tắc tuân thủ pháp luật và thực hiện được nguyên tắcnày sẽ tạo điều kiên thuân lới cho việc thực hiện nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu, thuận lợi choviệc thực hiện Nghĩa là, thủ tục hành chính của một lĩnh vực không được mâu thuẫn với nhau

và với các lĩnh vực liên quan Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì nếu mâu thuẫn nhau thìkhi thực hiện sẽ tạo ra một sự hỗn loạn trong công việc mà không thể kiểm soát được

2.Thực hiện thủ tục hành chính nhà nước

Muốn quản lý hành chính nhà nước có hiệu quả, các cơ quan quản lý hành chính nhà nướccần thực hiện đầy đủ các yêu cầu mang tính nguyên tắc như sau:

Ngày đăng: 03/04/2017, 13:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w