1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở nam định

157 558 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 6,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với định hướng này, đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử văn hóa tiêu biểu của một số di sản văn hóa tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Nam Định như nhà th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ ANH TÚ

PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI SẢN

VĂN HÓA Ở NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ ANH TÚ

PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI SẢN

VĂN HÓA Ở NAM ĐỊNH

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC BẢNG BIỂU 3

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 8

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

6 Phương pháp nghiên cứu 13

7 Bố cục của luận văn 15

Chương 1 DI SẢN VĂN HÓA CỦA TỈNH NAM ĐỊNH VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA 16

1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Nam Định 16

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Nam Định 16

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 18

1.1.2.1 Vị trí địa lý 18

1.1.2.2 Địa hình 18

1.1.2.3 Khí hậu 19

1.1.2.4 Nguồn nước 19

1.1.2.5 Sinh vật 19

1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 20

1.1.3.1 Về kinh tế 20

1.1.3.2 Về dân cư và lao động 21

1.1.3.3 Về cơ sở hạ tầng 22

1.2 Vấn đề bảo tồn văn hóa và việc bảo tồn văn hóa trong phát triển du lịch 25

1.2.1 Khái niệm bảo tồn 25

1.2.2 Vấn đề bảo tồn văn hóa 25

1.3 Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch Nam Định 28

1.3.1 Vai trò của các di sản văn hóa trong phát triển du lịch Nam Định 29

1.3.2 Những tác động của du lịch tới các di sản văn hóa ở Nam Định 32

1.3.2.1 Những tác động tích cực 32

1.3.2.2 Những tác động tiêu cực 34

1.3.3 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu bảo tồn di sản văn hóa trong phát triển du lịch Nam Định 36

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA Ở NAM ĐỊNH 39

Trang 5

2.1 Giới thiệu chung về các di sản văn hóa Nam Định 39

2.1.1 Về di sản văn hóa vật thể 39

2.1.1.1 Quần thể di tích lịch sử văn hóa Trần 39

2.1.1.3 Chùa Cổ Lễ 42

2.1.1.4 Chùa Keo Hành Thiện 43

2.1.1.5 Nhà lưu niệm Cố Tổng bí thư Trường Chinh 43

2.1.1.6 Nhà thờ Phú Nhai 43

2.1.2 Về di sản văn hóa phi vật thể 44

2.1.2.1 Hội chợ Viềng 44

2.1.2.2 Lễ hội đền Trần: 44

2.1.2.3 Lễ hội Phủ Dầy 45

2.1.2.6 Nghi lễ Chầu văn - Hát văn hầu đồng 45

2.1.3 Văn hóa ẩm thực 45

2.2 Thị trường - khách du lịch và vấn đề bảo tồn các di sản văn hóa Nam Định 47

2.2.1 Số lượng khách du lịch 47

2.2.2 Thị trường khách du lịch 48

2.2.3 Cơ cấu khách 52

2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch và vấn đề bảo tồn di sản văn hóa Nam Định 54

2.3.1 Hệ thống cơ sở lưu trú 54

2.3.2 Hệ thống cơ sở kinh doanh ăn uống 57

2.3.3 Cơ sở vui chơi giải trí 58

2.3.4 Hệ thống cơ sở kinh doanh lữ hành 58

2.3.5 Phương tiện vận chuyển khách du lịch 58

2.3.6 Các trung tâm văn hóa, thể thao phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí 59

2.4 Hình thức, sản phẩm du lịch và vấn đề bảo tồn di sản văn hóa Nam Định 60

2.4.1 Các tuyến, điểm du lịch 60

2.4.2 Các sản phẩm du lịch 62

2.4.2.1 Du lịch tham quan các di tích tôn giáo, tín ngưỡng 62

2.4.2.2 Sản phẩm du lịch lễ hội 66

2.4.2.3 Ẩm thực trong du lịch 72

2.4.2.4 Sản phẩm du lịch du khảo đồng quê 72

2.4.2.5 Du lịch làng nghề 73

2.5 Nhân lực du lịch và vấn đề bảo tồn di sản văn hóa Nam Định 74

2.6 Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch và vấn đề bảo tồn di sản văn hóa Nam Định 77

2.7 Quản lý du lịch và vấn đề bảo tồn di sản văn hóa Nam Định 81

2.7.1 Bộ máy quản lý du lịch 81

2.7.2 Chính sách phát triển du lịch 85

2.7.3 Quy hoạch phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa 85

2.7.4 Quản lý hoạt động kinh doanh du lịch 86

Trang 6

2.7.5 Vấn đề bảo tồn các di sản văn hóa trong phát triển du lịch 87

2.7.5.1 Kết quả đạt được 87

2.7.5.2 Hạn chế 90

2.7.5.3 Nguyên nhân 91

Tiểu kết chương 2 93

Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA Ở NAM ĐỊNH 94

3.1 Giải pháp phát triển thị trường du lịch gắn với bảo tồn các di sản văn hóa Nam Định 94

3.1.1 Thị trường quốc tế 94

3.1.2 Thị trường nội địa 96

3.2 Giải pháp phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa Nam Định 98

3.2.1 Giải pháp huy động vốn 99

3.2.2 Các lĩnh vực cần đầu tư 99

3.3 Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa Nam Định 100

3.4 Giải pháp phát triển nhân lực du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa Nam Định 103

3.4.1 Nâng cao trình độ đội ngũ quản lý nhà nước về du lịch 103

3.4.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp du lịch 104

3.4.3 Nâng cao nhận thức về du lịch cho người dân địa phương 105

3.5 Giải pháp xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa Nam Định 105

3.6 Giải pháp quản lý du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa Nam Định 108

3.6.1 Kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước về du lịch ở các cấp 108

3.6.2 Nâng cao trình độ quản lý du lịch theo quy hoạch cho các cấp, các ngành 109

3.6.3 Ban hành, bổ sung, điều chỉnh cơ chế chính sách có liên quan đến phát triển du lịch 109

3.6.4 Ứng dụng khoa học, công nghệ trong phát triển du lịch 109

3.6.5 Công tác quản lý, tổ chức lễ hội 110

3.6.6 Đảm bảo an ninh, trật tự đối với hoạt động du lịch 111

3.6.7 Tăng cường vai trò của các bên tham gia hoạt động du lịch trong việc bảo tồn các di sản văn hóa tại các điểm du lịch ở Nam Định 111

Tiểu kết chương 3 114

KẾT LUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

PHỤ LỤC 123

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Tăng trưởng kinh tế tỉnh Nam Định thời kỳ 2010 - 2014 21

Bảng 1.2 Một số chỉ tiêu dân số, nguồn nhân lực tỉnh Nam Định Giai đoạn 2010 - 2014 22

Bảng 2.1 Hiện trạng khách du lịch đến Nam Định 2011-2015 47

Biểu đồ 2.1 Hiện trạng khách du lịch đến Nam Định 2011-2015 48

Bảng 2.2 Hiện trạng khách du lịch đến Nam Định giai đoạn 2011-2015 49

Bảng 2.3 Khách du lịch nội địa đến Nam Định giai đoạn 2011-2015 50

Bảng 2.4 Khách du lịch quốc tế đến Nam Định giai đoạn 2011-2015 51

Bảng 2.5 Cơ cấu khách phân theo mục đích du lịch của Nam Định giai đoạn 2011 - 2015 52

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu khách phân theo mục đích du lịch của Nam Định giai đoạn 2011 - 2015 54

Bảng 2.6 Thống kê các cơ sở kinh doanh du lịch Nam Định 54

Bảng 2.7 Hiện trạng về cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Nam Định 55

Biểu đồ 2.3 Số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Nam Định 55

Bảng 2.8 Hiện trạng chất lượng cơ sở lưu trú ở Nam Định năm 2015 57

Bảng 2.9 Hiện trạng chất lượng lao động du lịch Nam Định 75

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu mở rộng và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới, đã và đang tạo ra những cơ hội đồng thời cũng là thách thức đối với phát triển du lịch Việt Nam Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, trong những năm qua ngành Du lịch đã có nhiều tiến bộ và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Những chỉ tiêu về khách, thu nhập, tỷ trọng GDP và việc làm đã khẳng định vai trò của ngành Du lịch trong nền kinh

tế quốc dân Không thể phủ nhận ngành Du lịch đã góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an ninh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh quốc phòng Trước bối cảnh và xu hướng đó, định hướng phát triển du lịch phải đáp ứng được những yêu cầu của thời đại

về tính chuyên nghiệp, tính hiện đại, hội nhập và hiệu quả đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, yếu tố truyền thống để phát triển bền vững xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước và đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế

Ngành du lịch ở Việt Nam đến nay đã có một vị trí trên bản đồ du lịch thế giới, Việt Nam hấp dẫn khách du lịch quốc tế không chỉ bởi vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn

do yếu tố văn hóa, với nhiều di sản văn hóa được UNESCO công nhận Nghị quyết

Trung ương 5 khóa VIII nêu rõ: " Văn hóa là nền tảng của xã hội, là mục tiêu, động

lực thúc đẩy phát triển kinh tế" Nghị quyết cũng đã xác định 10 nhiệm vụ để xây dựng

và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nhiệm

vụ thứ tư chỉ rõ: "Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi

của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Nghiên cứu

và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại" Ngày 18 tháng

12 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 2406/QĐ-Ttg ban hành: "Danh

mục các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012-2015", trong đó có văn hóa

Điều này khẳng định khai thác và bảo tồn văn hóa trong phát triển kinh tế không chỉ là mối quan tâm của ngành du lịch mà là vấn đề Đảng, Nhà nước và nhân dân coi trọng

Trang 9

Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, ngành Du lịch Nam Định cũng đang trên đà phát triển và thu được những thành quả đáng kể về kinh

tế, văn hóa và xã hội Số lượng khách du lịch; chất lượng dịch vụ ngày càng tăng; thu nhập từ du lịch và đóng góp cho nền kinh tế có mức tăng trưởng khá; du lịch đã tạo được nhiều công ăn việc làm cho cư dân địa phương Tuy nhiên, sự phát triển đó có gia tăng nhưng chưa ổn định Trong quá trình phát triển du lịch còn nảy sinh nhiều mặt tiêu cực như phá huy cảnh quan môi trường sinh thái, làm thay đổi bản sắc văn hóa dân tộc, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đang bị xâm hại một cách vô thức Điều này không những làm ảnh hưởng tới các giá trị văn hóa địa phương, dân tộc mà còn ảnh hưởng tới an ninh trật tự và an toàn xã hội Tất cả những yếu tố trên là nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến quá trình phát triển du lịch của địa phương Hoạt động du lịch và hoạt động bảo tồn phải luôn luôn tồn tại song song trong quỹ đạo của lịch sử và xã hội Hiện nay việc bảo tồn di sản văn hóa của Việt Nam nói chung và Nam Định nói riêng đang còn nhiều bất cập Trước sức ép của nền kinh tế thị trường cùng với sự thiếu hiểu biết của nhiều cơ quan chức năng, của cư dân địa phương đã khiến cho rất nhiều di sản văn hóa quý giá của dân tộc nói chung và của địa phương nói riêng bị mai một, biến dạng, thậm chí bị hủy hoại Việc làm này không những làm mất đi giá trị đích thực của

di sản văn hóa mà còn làm mất đi cơ hội phát triển kinh tế, trong đó có kinh tế du lịch

Có thể nói sức hấp dẫn của các di sản văn hóa đối với du lịch là ở sự khác biệt của tính nguyên bản, nguyên vẹn và nguyên nghĩa của nó Nếu mất đi sự khác biệt đó, tức là mất đi linh hồn của di sản, cũng đồng nghĩa với mất đi sức hấp dẫn du lịch Vì vậy, để tạo nên sản phẩm du lịch hấp dẫn, góp phần phát triển du lịch thì việc bảo tồn tính nguyên bản, nguyên nghĩa, nguyên vẹn di sản văn hóa là cấp thiết

Với định hướng này, đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử văn hóa tiêu biểu của một số di sản văn hóa tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Nam Định như nhà thờ Phú Nhai, quần thể di tích văn hóa lịch sử triều Trần, quần thể

di tích Phủ Dầy, nghi lễ chầu văn hầu đồng, lễ hội chùa Keo - Hành Thiện, lễ hội chùa

Cổ Lễ, lễ hội đền Trần, lễ hội Phủ Dầy, hội chợ Viềng, văn hóa ẩm thực Nam Định nhằm góp phần thúc đẩy du lịch địa phương phát triển Hiện nay ở tỉnh Nam Định chưa

có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về vấn đề này, do đó tác giả đã

Trang 10

chọn đề tài: "Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở Nam Định" làm

luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Du lịch của mình

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn góp phần khẳng định vai trò, tầm quan trọng của các di sản văn hóa tỉnh Nam Định trong đời sống và phát triển du lịch, giúp chính quyền địa phương và các doanh nghiệp du lịch định hướng sản phẩm du lịch mới nhằm hoàn thiện hệ thống sản phẩm du lịch tỉnh Nam Định; đồng thời có nhận định đúng mức đối với giá trị các

di sản trong tỉnh nhằm hoạch định những chủ trương, giải pháp bảo tồn phù hợp Từ đó luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần phát triển du lịch gắn với bảo tồn các

di sản văn hóa của Nam Định

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động khai thác du lịch và công tác bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Nam Định (bao gồm nhà thờ Phú Nhai, quần thể di tích văn hóa lịch sử triều Trần, quần thể di tích Phủ Dầy, cụm di tích lịch sử văn hóa xã Hành Thiện, nghi lễ chầu văn hầu đồng, lễ hội chùa Cổ

Lễ, lễ hội đền Trần, lễ hội Phủ Dầy, hội chợ Viềng, văn hóa ẩm thực Nam Định…)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa du lịch và vấn đề bảo vệ di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cả về lý luận và thực tiễn Các nghiên cứu thực tiễn được tiến hành tại các điểm di tích tại Nam Định - nơi lưu giữ những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

3.2.1 Phạm vi vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn của hoạt động du lịch gắn với bảo tồn

và phát huy giá trị của các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu tại tỉnh Nam Định

3.2.2 Phạm vi không gian

Nghiên cứu tại tỉnh Nam Định, tập trung vào những di sản văn hóa tiêu biểu như nhà thờ Phú Nhai, quần thể di tích văn hóa lịch sử triều Trần, quần thể di tích Phủ Dầy, cụm di tích lịch sử văn hóa xã Hành Thiện, nghi lễ chầu văn hầu đồng, lễ hội chùa Cổ

Lễ, lễ hội đền Trần, lễ hội Phủ Dầy, hội chợ Viềng, văn hóa ẩm thực

Trang 11

3.2.3 Phạm vi thời gian

- Thời gian nghiên cứu tài liệu: đề tài tập trung thu thập, phân tích thông tin chủ yếu từ năm 2010 đến năm 2015

- Thời gian nghiên cứu thực địa: Từ tháng 9/2015 - 4/2016

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

4.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài hướng tới giải quyết mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và bảo tồn tài nguyên du lịch nhân văn Nghiên cứu thực tế khai thác du lịch gắn với bảo tồn các di sản văn hóa tại tỉnh Nam Định

4.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về bảo tồn di sản văn hóa

- Nghiên cứu hoạt động bảo tồn di sản và mối tương quan trong khai thác di sản

để phục vụ phát triển du lịch cả tích cực và tiêu cực tại các di tích tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Nam Định

- Tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch tại Nam Định, việc khai thác giá trị văn hóa lịch sử tại các di tích trong phát triển du lịch; Nhận diện các vấn đề đặt ra cho công tác bảo tồn di sản văn hóa tại các di tích này

- Đưa ra một số giải pháp nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị của các di sản văn hóa Nam Định (nhà thờ Phú Nhai, quần thể di tích văn hóa lịch sử triều Trần, quần thể

di tích Phủ Dầy, cụm di tích lịch sử văn hóa xã Hành Thiện, nghi lễ chầu văn hầu đồng,

lễ hội chùa Cổ Lễ, lễ hội đền Trần, lễ hội Phủ Dầy, hội chợ Viềng, văn hóa ẩm thực Nam Định…) góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động du lịch

Trang 12

Trong cuốn "Văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam", tác giả

Nguyễn Thị Chiến đã nêu quan điểm: Yêu cầu cao nhất trong phát triển du lịch là phát triển bền vững và phân tích cách phát triển du lịch bền vững theo hướng nhấn mạnh yếu tố văn hóa

Trong cuốn "Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể - Quá trình nhận thức và bài học

thực tiễn" của tác giả Nguyễn Thị Minh Lý đã xây dựng cơ sở lý luận về bảo vệ di sản

văn hóa phi vật thể, khẳng định tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị di sản

Trong cuốn "Giáo trình Quản lý di sản với phát triển du lịch bền vững" do Lê

Hồng Lý chủ biên, tác giả đã hệ thống cơ sở lý luận về du lịch bền vững

Tác giả Doãn Minh Khôi đã phân tích trong "Bảo tồn di tích trong phát triển

không gian đô thị" về mối liên hệ giữa bảo tồn di tích và phát triển không gian đô thị,

bên cạnh đó còn nêu lên kinh nghiệm của một số nước đã tiến hành quy hoạch đô thị theo quan điểm tạo ra sự hài hòa giữa kiến trúc mới và kiến trúc cũ Tác giả cũng khẳng định cần phải làm cho các công trình di tích gần gũi và rộng mở hơn đối với các hoạt động đô thị ở Việt Nam

Năm 2005, Tổng cục Du lịch phê duyệt đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về

"Chủ trương và giải pháp để bảo tồn, phát huy có hiệu quả giá trị các di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch” đã xây dựng các nhóm giải pháp chung để bảo tồn và phát

huy di sản phục vụ du lịch

Nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị bàn luận để đưa ra chiến lược, mục tiêu, biện pháp bảo tồn các di sản, trùng tu các di tích có sự tham gia của cộng đồng được chính quyền địa phương và người dân đặc biệt quan tâm như:

Tại Đồng Tháp với chuyên đề "Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên

địa bàn tỉnh Đồng Tháp", xác định di sản văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc

giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống lịch sử văn hóa của dân tộc và tạo tiền đề cho chiến lược phát triển du lịch, góp phần tăng trưởng kinh tế - xã hội

Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức

hội thảo ngày 20/10/2012 tại Bảo tàng Không gian văn hóa Mường với tên gọi: "Phát

triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Hòa Bình" Hội thảo cũng đã xác định

Trang 13

được di sản văn hóa là nguồn tài nguyên vô giá, cần đẩy mạnh thu hút đầu tư, tăng tỷ trọng du lịch trong cơ cấu kinh tế, gắn phát triển du lịch với gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc

Tại hội thảo “Du lịch có trách nhiệm và Di sản văn hóa” diễn ra ngày 3/4/2015

tại Hà Nội, trong khuôn khổ Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam VITM Hà Nội 2015, đã

có nhiều tham luận nói tầm quan trọng của di sản văn hóa trong phát triển du lịch, các tác giả cũng đã nói tới hệ lụy của du lịch tác động tới di sản và cũng xác định rằng phát triển du lịch có trách nhiệm là một trong những giải pháp trụ cột nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, hướng tới sự phát triển bền vững

Trong báo cáo đề dẫn hội thảo khoa học "Bảo tồn di tích và cuộc sống đương

đại", ngày 16/1/2007, tại Hà Nội của Đặng Văn Bài, với bài viết "Bảo tồn di sản văn hóa trong quá trình phát triển" tác giả đã chỉ ra rằng việc bảo tồn di sản văn hóa đòi

hỏi một sự sáng tạo không ngừng nghỉ và khả năng linh hoạt trong việc vận dụng các nguyên tắc khoa học để lựa chọn phương án xử lý thích hợp cho từng di tích cụ thể, phải gắn di tích với đời sống đương đại, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, qua đó mở rộng giao lưu quốc tế

Trong hội thảo khoa học đào tạo du lịch trong trường đại học nghiên cứu diễn ra tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, PGS.TS Nguyễn Phạm

Hùng cũng đã có bài tham luận về vấn đề "Bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch"

Trong đó tác giả đã nêu lên thực trạng bảo tồn văn hóa ở Việt Nam hiện nay và đưa ra vấn đề muốn du lịch phát triển thì di sản phải được bảo tồn nguyên bản - nguyên vẹn - nguyên nghĩa của nó

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu, dự án về bảo tồn di sản và phát triển du lịch được tiến hành ở một số tỉnh trong cả nước như Bắc Giang, Quảng Ninh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam; tiêu biểu là công trình: Quảng Nam và hành trình bảo tồn các di sản văn hóa (Mỹ Châu), bảo tồn giá trị di sản gắn với phát triển du lịch: Góc nhìn từ cố đô Huế (Tổng cục du lịch) Các công trình này cho thấy nhận thức và hành động thực tiễn của Nhà nước về vấn đề bảo tồn di sản và phát triển du lịch

Bên cạnh đó còn nhiều bài viết được đăng trên tạp chí Du lịch Việt Nam và các báo cáo trong các cuộc hội thảo về du lịch của Việt Nam như:

Trang 14

Bài viết "Bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa - thiên nhiên thế giới phục

vụ phát triển ở nước ta" đăng trên tạp chí Di sản văn hóa số 1(14)-2006 của tác giả

Nguyễn Quốc Hùng nhấn mạnh: Tăng cường hợp tác giữa các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương, trước hết là giữa ngành du lịch và bảo tồn di sản văn hóa để tạo ra

sự phát triển du lịch thực sự bền vững

Bài viết "Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động có tính đặc

thù chuyên ngành" của tác giả Đặng Văn Bài, cho rằng công tác quản lý việc xây dựng

và thi công các dự án tu bổ, tôn tạo di tích là một hoạt động có tính chất chuyên ngành

có nhiều đặc điểm khác biệt so với việc quản lý các dự án xây dựng các công trình mới

Do đó, tất yếu phải có cơ chế quản lý mang tính chuyên biệt trên cơ sở tuân thủ nghiêm túc các quy định của Luật di sản văn hóa và Luật xây dựng

Ở đề tài "Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa phục vụ phát triển

du lịch thủ đô" đăng trên tạp chí nghiên cứu văn hóa Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

của tác giả Bùi Thanh Thủy, đã đưa ra những giải pháp cụ thể cũng như những yêu cầu

để thực hiện giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa để phục vụ cho phát triển du lịch

Trong bài viết "Hoạt động bảo tồn các di sản văn hóa trong phát triển du lịch"

của Đặng Hoàng Lan đăng trên Tạp chí Văn hoá và Du lịch, số 11, tháng 5 năm 2013, tác giả đã chỉ ra rằng bảo tồn di sản phục vụ du lịch trước hết phải đảm bảo đúng yêu cầu của Luật Di sản văn hóa Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cũng có nghĩa

là bảo vệ người kế thừa di sản văn hoá - những nghệ nhân dân gian Bảo vệ, tôn tạo di sản phải nhằm mục đích giới thiệu di sản đến với công chúng Bên cạnh đó cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác của người dân trong việc bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa Ngoài ra, bảo tồn các di sản văn hóa còn đồng nghĩa với

việc bảo vệ và tôn tạo môi trường tại các khu di sản

Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Tâm - Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội cũng đã có

bài viết về "Bảo tồn giá trị của di sản văn hóa trong phát triển du lịch" Trong bài viết

tác giả đã nói lên mối quan hệ tương hỗ giữa di sản văn hóa và phát triển du lịch Tác giả cũng nêu ra một số vấn đề trong công tác khai thác, bảo tồn các giá trị di sản văn hóa và đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy, bảo tồn giá trị của di sản văn hóa trong

phát triển du lịch

Trang 15

Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu khác như: "Phát triển du lịch gắn

với bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể tại Hải Dương" (Luận văn

tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành du lịch học của Nguyễn Thị Sao); "Bảo tồn và phát

huy các di tích lịch sử - văn hóa - danh thắng tỉnh Khánh Hòa trong hoạt động du lịch"

(Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành du lịch học Đỗ Phương Quyên); "Phát triển

du lịch gắn vớibảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng tỉnh Kiên Giang"

(Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành du lịch học Nguyễn Thị Ngọc Băng)

Những năm gần đây cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện nang cao, nhu cầu vui chơi, du lịch ngày càng lớn Nhiều lễ hội cổ truyền được phục dựng, các tua tuyến du lịch được hình thành Các công trình nghiên cứu lễ hội gắn với du lịch cũng được nhiều học giả quan tâm, đặc biệt là các lễ hội lớn ở các địa phương trên khắp địa bàn cả nước,

tiêu biểu: Nguyễn Quang Lê với "Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của

người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trong xã hội hiện nay" (Viện nghiên cứu văn hóa dân

gian, Hà Nội, 1999); Dương Văn Sáu với "Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch" (Trường Đại học văn hóa Hà Nội, Hà Nội 2004); Trần Mạnh Thường với "Việt Nam

văn hóa và du lịch" (NXB Thông Tấn, Hà Nội, 2005); Lê Thị Tuyết Mai với "Du lịch

lễ hội Việt Nam" (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 2006) Ngoài ra còn có nhiều bài

viết nghiên cứu về lễ hội và du lịch như "Du lịch lễ hội tiềm năng và hiện thực khả thi" (GS.TS Phan Đăng Nhật), "Lễ hội dân gian và du lịch Việt Nam trong giai đoạn hiện

nay" (PGS.TS Nguyễn Chí Bền), "Cần có chính sách phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn" (Cao Sỹ Kiêm), "Chính sách bảo tồn khai thác tài nguyên du lịch lễ hội" (Nguyễn Phương Lan)

5.2 Ở tỉnh Nam Định

Hiện nay về Nam Định có một số đề tài nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến

đề tài như:

"Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Nam Định góp phần thúc đẩy kinh tế

- xã hội phát triển" (Trần Minh Oanh); "Khai thác khu di tích lịch sử Đền Trần - Chùa Tháp trong phát triển du lịch Nam Định" (Khóa luận tốt nghiệp của Vũ Thị Kim Oanh);

"Phát triển du lịch Nam Định theo hướng bền vững" (Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

chuyên ngành du lịch học của Vũ Thị Hòa); Sách "Di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nam

Trang 16

Định" của Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nam Định; "Tác động của hoạt động

du lịch đến đời sống văn hóa - xã hội của cư dân địa phương tại khu di tích lịch sử đền Trần - Phủ Dầy Nam Định" (Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành văn hóa du lịch của

NguyễnThị Hằng); "Lễ hội Phủ Dầy và phát triển du lịch Nam Định" (Bài viết trên tạp chí du lịch của Đào Duy Tuấn); "Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại quần thể di

tích Phủ Dầy" (Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành văn hóa du lịch của Lê Thị

Hương)

Bên cạnh đó, có một số bài báo đăng tải trên các tạp chí trong nước và tạp chí Văn hóa, thể thao và Du lịch của Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Nam Định viết về du lịch Nam Định Các bài viết, nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa, lễ hội nói riêng tại Nam Định và những tác động tích cực

và tiêu cực của nó đối với đời sống xã hội Các công trình trên đã trình bày, đề cập đến vấn đề bảo tồn di sản văn hóa với nhiều hướng, nhiều nội dung khác nhau Ví dụ như

bài viết "Bảo tồn phát huy tiềm năng di sản văn hóa Trần tại Nam Định trong phát

triển du lịch đồng bằng sông Hồng" của tác giả Nguyễn Công Khương - Trưởng phòng

Nghiệp vụ du lịch Nam Định; "Bảo tồn, phát huy giá trị di sản lễ hội đền Trần trong

đời sống đương đại" của PGS.TS Lương Hồng Quang - Phó Viện trưởng Viện VHNT

Việt Nam, Bộ VHTTDL; "Những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý, tổ chức

lễ hội tại tỉnh Nam Định" của tác giả Hoàng Thanh Tuy nhiên chưa có công trình nào

nghiên cứu sâu về việc bảo tồn di sản văn hóa và sự phát triển du lịch ở Nam Định Vì vậy trong luận văn này tác giả kế thừa, tiếp thu, đúc kết các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước để đánh giá nghiên cứu vấn đề bảo tồn phát huy di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch ở Nam Định

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp

Phương pháp thu thập tài liệu được sử dụng để lựa chọn những tài liệu, số liệu, những thông tin có liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu của đề tài Phương pháp này rất quan trọng, là tiền đề giúp cho việc phân tích, đánh giá tổng hợp các nội dung và đối tượng nghiên cứu một cách khách quan, chính xác

Luận văn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp:

Trang 17

+ Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, sách báo, tạp chí, các trang web điện tử, các tài liệu, báo cáo của cơ quan quản lý du lịch và chính quyền địa phương Dựa trên cơ sở đó đưa ra được những khái niệm chung nhất liên quan đến

đề tài đang nghiên cứu, đưa ra được những đánh giá và những giải pháp để bảo tồn các

di sản văn hóa của Nam Định nhằm thúc đẩy du lịch Nam Định phát triển

+ Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng việc khảo sát thực địa, phỏng vấn các cán bộ chuyên trách du lịch của tỉnh Nam Định và một số người dân địa phương nơi có tài nguyên du lịch

6.2 Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra xã hội học là phương pháp điều tra quan điểm, thái độ của quần chúng về sự kiện chính trị, xã hội, hiện tượng văn hóa, thị hiếu Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả tiến hành điều tra xã hội học để chưng cầu ý kiến quần chúng

về vấn đề sử dụng, khai thác cũng như bảo tồn các giá trị văn hóa trong hoạt động du lịch tỉnh nhà bằng cách phỏng vấn trực tiếp, thảo luận, bằng hệ thống ankét (đóng,

mở )

6.3 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia là phương pháp quan trọng được vận dụng thông qua việc xin ý kiến chỉ đạo, góp ý về nội dung và phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả tham khảo ý kiến của các cán bộ, các nhà nghiên cứu trong vấn

đề khai thác và bảo tồn giá trị văn hóa trong hoạt động du lịch tỉnh nhà từ các cơ quan:

Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch, trung tâm quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nam Định, cán bộ quản lý tại khu du lịch, điểm du lịch trong tỉnh

6.5 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Trang 18

Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng trong suốt quá trình phân tích, đánh giá toàn diện các nội dung, các đối tượng nghiên cứu của đề tài như: thực trạng tiềm năng tài nguyên du lịch; thực trạng công tác tổ chức quản lý và khai thác các di sản văn hóa tiêu biểu của tỉnh Nam Định Thông qua phương pháp phân tích tổng hợp

đề tài phát hiện ra những vấn đề cần bảo tồn các di sản văn hóa tiêu biểu của địa phương gắn với phát triển du lịch, tìm ra những nguyên nhân của hạn chế và từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục

- Phương pháp thống kê: Trong khuôn khổ đề tài này, những thống kê về số liệu

có liên quan đến các hoạt động du lịch ở tỉnh Nam Định sẽ được thu thập, thống kê trong khoảng thời gian 5 năm (2010-2015) theo quy chuẩn chung của ngành Du lịch làm cơ sở cho việc xử lý, phân tích, đánh giá nhằm thực hiện những mục tiêu đã đề ra

- Phương pháp nghiên cứu, khảo sát thực địa: Phương pháp này được thực hiện

để điều tra bổ sung hoặc kiểm tra lại những thông tin quan trọng cần thiết cho quá trình phân tích, đánh giá và xử lý các tài liệu và số liệu Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm góp phần làm cho kết quả nghiên cứu có tính xác thực hơn

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương như sau:

Chương 1: Di sản văn hóa của tỉnh Nam Định và vấn đề phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở Nam Định

Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở Nam Định

Trang 19

Chương 1 DI SẢN VĂN HÓA CỦA TỈNH NAM ĐỊNH VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA

1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Nam Định

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Nam Định

Theo các công trình nghiên cứu khoa học, mảnh đất Nam Định được hình thành cách đây khoảng 70 triệu năm do ảnh hưởng tạo sơn thời kỳ Đại Tân sinh, nâng ghềnh

đá phía Nam sông Hồng cao lên, biển Đông lùi dần và từng bước hình thành vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Dấu tích các loài động thực vật có ở vùng biển và những hóa thạch tìm thấy trong lòng đất cho thấy đây là vùng đất màu mỡ, phì nhiêu, tạo cơ hội cho con người quần tụ thành cộng đồng

Thời thuộc Đường, thuộc huyện Chu Duyên Đời Trần được gọi là lộ Thiên Trường, sau lại chia làm ba lộ: Kiến Xương, An Tiêm, Hoàng Giang Thời thuộc Minh vùng đất này được chia làm ba phủ: Trần Nam, Phụng Hóa, Kiến Bình Đời Lê thuộc

xứ Sơn Nam, đến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 năm 1741, vùng đất này thuộc lộ Sơn Nam Hạ Đến triều Nguyễn, năm 1832 đổi tên thành tỉnh Nam Định với 4 phủ, 18 huyện bao gồm phần đất tỉnh Thái Bình hiện nay Năm 1890, Thái Bình tách ra thành tỉnh riêng, Nam Định còn lại 2 phủ và 9 huyện Từ năm 1926, tỉnh Nam Định có 2 phủ

và 7 huyện, 78 tổng, 708 xã, riêng thành phố Nam Định có 10 phường Đến những năm

1930, địa giới hành chính của tỉnh Nam Định không có thay đổi nhiều

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, các đơn vị hành chính trong tỉnh luôn có sự thay đổi Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tỉnh Nam Định thuộc Liên khu 3 Năm 1953, 7 xã phía Bắc sông Đào thuộc huyện Nghĩa Hưng được cắt nhập vào huyện

Ý Yên Đồng thời 3 huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên nhập vào tỉnh Hà Nam Đến tháng

4 năm 1956, 3 huyện này lại được cắt trả cho Nam Định Tháng 5 năm 1965, Nam Định hợp nhất với Hà Nam thành tỉnh Nam Hà Cuối năm 1967, 2 huyện Giao Thủy và Xuân Trường hợp thành huyện Xuân Thủy Tháng 3 năm 1968, 7 xã phía Nam sông Ninh Cơ thuộc huyện Trực Ninh nhập với huyện Hải Hậu, 2 huyện Trực Ninh và Nam Trực nhập thành huyện Nam Ninh Năm 1976, tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình hợp thành tỉnh Hà Nam Ninh Đến năm 1991 lại chia tách và tái lập tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình Tháng 11 năm 1996, tỉnh Nam Định, các huyện hợp nhất trước đây lại chia

Trang 20

tách và tái lập như cũ, đó là: Xuân Trường, Trực Ninh, Giao Thủy, Nam Trực và tái lập huyện Mỹ Lộc (gồm 10 xã) Năm 1997, xã Nam Vân, Nam Phong được cắt nhập từ huyện Nam Trực về thành phố Nam Định Như vậy, đến cuối thế kỷ XX tỉnh Nam Định có 10 đơn vị hành chính bao gồm: 1 thành phố và 9 huyện, 225 xã, phường, thị trấn

Nam Định là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi phát tích của triều Trần (thế kỷ XIII-XIV) và sinh dưỡng nhiều danh nhân, danh sĩ, võ tướng mà tên tuổi và sự nghiệp của họ đã được sử sách ghi công, nhân dân tôn thờ mà nổi bật nhất là Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Nam Định còn là mảnh đất văn hiến, có truyền thống hiếu học với trường thi được lập từ thời Lê ở làng Năng Tĩnh Trong chế

độ khoa bảng thời phong kiến Nam Định có 5 trạng nguyên, 3 bảng nhãn, 14 hoàng giáp, 62 tiến sĩ và phó bảng, riêng làng cổ Hành Thiện có 91 vị đỗ đại khoa và cử nhân, nổi danh là: Nguyễn Hiền, Lương Thế Vinh, Đào Sư Tích, Vũ Tuấn Chiêu, Trần Văn Bảo, Trần Bích San

Đời Trần, nhân dân Nam Định đã góp phần ba lần đánh thắng đế quốc Nguyên - Mông Thời thuộc Minh, nhân dân đã ủng hộ nghĩa quân của Trần Triệu Cơ đánh thắng trận Bồ Đề buộc tướng Mộc Thạnh tháo chạy về thành Cổ Lộng Trong khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, người dân Nam Định đã bí mật liên hệ với nghĩa quân để giết giặc cứu nước Đặc biệt, với nghề rèn truyền thống, người dân Vân Chàng đã ngày đêm rèn vũ khí cho nghĩa quân Ở Cổ Lộng - Chuế Cầu (Ý Yên), nhân dân còn tham gia nghĩa quân Lam Sơn đánh thành Cổ Lộng giúp nghĩa quân tiến lên phía Bắc tiêu diệt giặc Minh

Khi nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy kéo quân ra Bắc, người Nam Định đã tích cực tham gia lập phòng tuyến Tam Điệp góp phần làm cuộc thần tốc đánh đuổi giặc Thanh, giải phóng kinh thành Thăng Long Dưới triều Nguyễn, do chính sách cai trị hà khắc khiến nhân dân khổ cực, người dân Nam Định đã hợp sức nổi dậy chống lại quan quân triều đình Huế Trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của nông dân do Phan Bá Vành chỉ huy Năm 1858 giặc Pháp đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng)

mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta, Phạm Văn Nghị đã tập hợp nghĩa sĩ Nam Định tiến vào Nam diệt thù Thực dân Pháp đánh phá Bắc Kỳ và Nam Định, đề đốc Lê Văn Điểm, án sát Hồ Bá Ôn đã chỉ huy quân chiến đấu ngoan cường bao vây quân địch

Trang 21

Phong trào Cần Vương được nhân dân trong tỉnh hưởng ứng, trong dó có cuộc nổi dậy

ở Nam Trực do cụ nghè Cù Hữu Lợi và cụ Vũ Đình Lục chỉ huy

Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp câu kết với chế độ phong kiến tay sai ra sức khai thác, vơ vét tài nguyên, áp bức, bóc lột nhân dân ta thậm tệ Trong đó, thực dân Pháp

đã xây dựng nhà máy Dệt Nam Định lớn nhất Đông Dương, song chính sự ra đời của nhà máy này đã tạo điều kiện khách quan để giai cấp công nhân trong tỉnh hình thành

và không ngừng lớn mạnh Không cam chịu cảnh bần hàn, công nhân, nông dân và một

số tầng lớp dân cư đã đoàn kết đấu tranh đòi quyền lợi Đặc biệt, kể từ khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên lập cơ sở ở Nam Định (1926-1927), phong trào đấu tranh không ngừng lớn mạnh, với mục đích đòi quyền dân sinh, dân chủ, mang ý thức chính trị và giai cấp rõ rệt Tháng 6 năm 1929, tỉnh ủy lâm thời được thành lập và chi bộ Đảng đầu tiên ở Nam Định ra đời, phong trào đấu tranh diễn ra mạnh mẽ từ thành thị đến nông thôn Nam Định trở thành một trong những trung tâm đấu tranh chống thực dân Pháp và phong kiến mạnh nhất cả nước

Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Nam Định đã viết tiếp những trang sử vàng chói lọi về truyền thống chống ngoại xâm và lao động cần cù sáng tạo, xây dựng Nam Định ngày càng đàng hoàng hơn, giàu đẹp hơn

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

1.1.2.1 Vị trí địa lý

Nam Định là một tỉnh ở phía Nam của châu thổ sông Hồng, ở tọa độ 19o53' đến

20o vĩ độ Bắc và từ 105o55' đến 106o37' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình và biển Đông Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 165.145,72ha, bằng 0,52% diện tích cả nước, đứng hàng thứ 57 so với các tỉnh trong cả nước (Niên giám thống kê tỉnh Nam Định năm 2011)

1.1.2.2 Địa hình

Tỉnh Nam Định có chiều dài tính theo đường chim bay theo hướng Bắc - Nam là

68 km, theo hướng Đông - Tây là 72km, cạnh sống Đáy dài 88 km, bờ biển dài 72 km với nhiều điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng, đánh bắt hải sản, đóng tàu và du lịch biển , phần giáp tỉnh Hà Nam dài 56km Nam Định có địa hình tương đối bằng phẳng, chia là hai vùng chính: vùng đồng bằng thấp trũng (gồm các huyện Ý Yên, Mỹ Lộc, Vụ

Trang 22

Bản, thành phố Nam Định, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường) và vùng ven biển (gồm các huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy) và một số ít đồi núi thấp ở phía Tây Bắc, chỗ cao nhất từ đỉnh núi Gôi cao 122m, chỗ thấp nhất -3m (so với mặt biển) ở vùng đồng bằng chiêm trũng huyện Ý Yên

1.1.2.4 Nguồn nước

Nguồn tài nguyên nước của Nam Định khá phong phú cả về nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm Hệ thống sông ngòi khá dày đặc với ba sông lớn là sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ Ngoài ra, Nam Định còn có rất nhiều ao, hồ, đầm được phân bố rộng khắp địa bàn Sông ngòi ở Nam Định có vai trò cung cấp nước và tiêu ứng cho sản xuất nông nghiệp còn là tuyến giao thông đường thủy quan trọng của địa phương

và các tỉnh lân cận Không những thế đó còn là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị trong việc hình thành và khai thác các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước như các sản phẩm du lịch làng quê, du lịch sông nước

1.1.2.5 Sinh vật

Nam Định còn có diện tích rừng khá lớn và hệ sinh thái nhiệt đới - á nhiệt đới

đa dạng, phong phú với nhiều loại động, thực vật khá hiếm

- Rừng: Theo kết quả tổng kiểm kê đất đai tính đến năm 2010 toàn tỉnh có 4.240,46 ha rừng các loại Rừng ở Nam Định chủ yếu là rừng phòng hộ, cây trồng chính là sú, vẹt, phi lao, bần Rừng góp phần làm trong lành không khí cho khu vực

- Hệ sinh thái: Hệ thực vật chiếm khoảng 50%, hệ động vật chiếm khoảng 40% loài động thực vật của cả nước Đặc biệt là khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập Cồn Lu,

Trang 23

Cồn Ngạn (nay được công nhận là Vườn Quốc gia Xuân Thủy) có hệ động thực vật khá đa dạng và phong phú Nam Định có nguồn lợi thủy sản dồi dào (gồm thủy sản nước ngọt, nước mặn và nước lợ) Vùng ven biển Nam Định có nhiều bãi cá lớn với nhiều loài cá, hải sản có giá trị kinh tế cao như: tôm rảo, tôm vàng, cua tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển đồng thời hấp dẫn du khách đến thưởng thức những món ăn hải sản của vùng

Với những điều kiện tự nhiên như trên, Nam Định là một tỉnh có vị trí tương đối thuận tiện cho việc phát triển du lịch, lại nằm trong vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Nam Định được ví như điểm chốt của chiếc quạt khổng lồ của vùng châu thổ sông Hồng: với bán kính 200 km là các thành phố Hạ Long, Thái Nguyên, Sơn Tây, Vinh; với bán kính 100km là các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa; với bán kính 30km là các thành phố Ninh Bình,

Hà Nam, Thái Bình Nằm ở ví trí như thế nên Nam định có nhiều thuận lợi cho giao lưu giữa các vùng miền trong cả nước

1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.1.3.1 Về kinh tế

Nam Định có GDP bình quân ở mức trung bình so với mặt bằng chung của cả nước Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2000 - 2012 là 20,8% Trong đó ngành

công nghiệp, xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ba khối ngành (24,1%) (Bảng

1.1.) Tỷ trọng khu vực dịch vụ có sự tăng trưởng nhẹ qua các năm Điều này phản ánh

định hướng ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ (trong đó có du lịch) của tỉnh

Trang 24

Bảng 1.1 Tăng trưởng kinh tế tỉnh Nam Định thời kỳ 2010 - 2014

Đơn vị tính: Tỷ đồng

trưởng Tổng sản phẩm

Nông, lâm nghiệp, thủy

sản 7,327.7 9,594.8 10,424.6 11,425.4 13,560.3 16,6% Công nghiệp - Xây dựng 9,449.5 12,051.1 14,764.4 17,820.9 22,415.0 24,1% Dịch vụ 9,015.7 10,949.9 13,117.3 15,441.5 19,172.4 20,8%

Nguồn: Xử lý số liệu từ Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 1.1.3.2 Về dân cư và lao động

Nam Định là một tỉnh có lực lượng lao động dồi dào Dân số toàn tỉnh năm

2014 là 1.952.327 người, mật độ trung bình 1.200người/km2 Năm 2014 toàn tỉnh có 1.084 nghìn người trong độ tuổi lao động chiếm 58,7%, trong đó số người có việc làm

là 1.352 nghìn người (chiếm 69,3%) Lao động của tỉnh tập trung chủ yếu ở khu vực công nghiệp, xây dựng Trong những năm gần đây, tỷ lệ lao động ở khu vực dịch vụ có phần giảm sút Năm 2010 chiếm 18,6%, năm 2011 tăng lên 19,6%, năm 2012 lại giảm xuống còn 18,9%, năm 2013 giảm tiếp còn 18,4% và đến năm 2014 chỉ còn chiếm

18,0% (Bảng 1.2.) Nhìn chung, tỷ lệ lao động nam thấp hơn so với nữ Năm 2014 lao

động nam có 524.533 lao động (chiếm 48,41%), lao động nữ có 558.954 (chiếm 51,59%) Hầu hết những người này có trình độ chuyên môn không cao, do đó trong những năm gần đây tỉnh rất chú trọng đào tạo tay nghề, chuyên môn cho lao động ở cả

ba khối ngành

Trang 25

Nguồn: Xử lý số liệu từ Niên giám thống kê tỉnh Nam Định

Tuy nhiên, người dân Nam Định vốn có truyền thống hiếu học, trình độ học vấn cao, trình độ văn hóa của dân số theo các cấp học và nhóm tuổi đều có ưu thế so với các tỉnh trong vùng và trong cả nước Hàng năm, tỷ lệ sinh viên nhập học đại học, cao đẳng chiếm tỷ lệ cao so với cả nước Nhưng con số này sau khi học xong quay trở lại phục vụ quê hương rất ít Họ thường ở lại các thành phố lớn, những nơi có điều kiện,

cơ hội tìm kiếm việc làm tốt hơn cho sự nghiệp của mình

1,066

1,069

1,070

1,077

1,084

Người

1,830

1,834

1,835

1,840

1,846 Người lao động/ dân số

%

58.2

58.3

58.3

58.5

58.7 Lao động làm việc trong nền

kinh tế quốc dân ( Kêt quả ĐT

doanh nghiệp)

1000 Người 117.1 125.4 125.2 128.5 135.2

- Cơ cấu LĐ

%

100.0

100.0

100.0

100.0

100.0 + Nông, lâm nghiệp, thủy sản

%

8.6

7.2

7.0

6.6

6.3 + Công nghiệp, xây dựng

%

72.8

73.2

74.1

75.0

75.6 + Dịch vụ

%

18.6

19.6

18.9

18.4

18.0

Trang 26

Nam Định là một tỉnh có hệ thống cơ sở hạ tầng tươmg đối hoàn chỉnh, đồng bộ gồm: đường thủy, đường bộ, đường sắt phân bố hợp lý, thuận lợi giao thương giữa các vùng trong tỉnh và với các tỉnh lân cận khác Đây là một lợi thế giúp cho kinh tế xã hội của vùng phát triển trong đó có cả du lịch

- Giao thông đường bộ: Được hình thành theo dạng đường xuyên tâm, có đường

vành đai, các trục quốc lộ 10,21 đều đi qua trung tâm thành phố Nam Định Đoạn quốc

lộ 10 đi qua tỉnh Nam Định từ cầu Tân Đệ đến cầu Non nước dài 35,9km, qua thành phố Nam Định và 3 huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên tạo thành vành đai bao quanh thành phố Nam Định; đoạn quốc lộ 21 qua địa phận tỉnh Nam Định từ cầu họ đến thị trấn Thịnh Long qua thành phố Nam Định và 6 huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Hải Hậu dài 74,9km Tuyến đường bộ mới 21B song song với tuyến quốc lộ 21A đoạn Nam Định - Phủ Lý cũng đã chính thức thông tuyến Các đường liên tỉnh hầu hết đều có hướng từ trung tâm thành phố tỏa ra các huyện, thị, và được phân bố tương đối đồng đều Một số tuyến đường quan trọng như: tỉnh lộ 489B (51B cũ đoạn Lạc Quần - Quất Lâm), tỉnh lộ 486B (đoạn Mỹ Lộc - Thị trấn Gôi, Vụ Bản), tỉnh lộ 490C (đoạn Đò Quan - Thịnh Long), tỉnh lộ 489 (Đoạn Ngô Đồng - Vườn quốc gia Xuân Thủy) Mặc dù đa số các tuyến đường đã được sửa chữa, nâng cấp, giao thông thuận tiện, đi lại tương đối tốt nhưng vẫn còn một số tỉnh lộ đã bị xuống cấp nghiêm trọng, mặt đường xấu, cầu yếu, không đủ đáp ứng nhu cầu vận tải

- Giao thông đường thủy: Về phía đông, Nam Định có sông Hồng - con sông lớn

ở vùng Bắc Bộ, nối liền thủ đô Hà Nội với Nam Định và chảy ra biển Đông Về phía Tây, có dòng sông Đáy chảy xuôi từ địa phận Hà Nội (với thắng cảnh chùa Hương) qua Ninh Bình tới Nam Định và đổ ra biển Đông Đây là 2 tuyến giao thông đường thủy có tiềm năng lớn cho việc khai thác phục vụ du lịch Hiện nay, Nam Định đã đầu tư xây dựng các cảng (cảng biển Hải Thịnh và cảng sông tại thành phố Nam Định) với quy

Trang 27

mô hiện đại có thể đưa đón khách và háng hóa thuận lợi Ngoài ra, trên các triền sông lớn đã hình thành khoảng 80 bến, bãi xếp dỡ hàng hóa, vật liệu xây dựng

- Giao thông đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn tỉnh Nam

Định có chiều dài 42km, đi qua các huyện Mỹ Lộc, thành phố Nam Định, Vụ Bản, Ý Yên Trong đó ga Nam Định là một trong những ga chính Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch Nam Định khi đón các đoàn tàu khách thực hiện các chương trình

du lịch xuyên Việt bằng đường sắt

*Thông tin liên lạc:

Trong những năm qua cùng với sự phát triển của ngành bưu chính viễn thông cả nước, Nam Định đã đầu tư lắp đặt nhiều thiết bị mới, hiện đại, đảm bảo nhu cầu thông tin liên lạc cho nhân dân trong tỉnh Sóng điện thoại đã được phủ sóng toàn tỉnh đã góp phần phục vụ du lịch tốt hơn, thuận tiện hơn Ngoài ra tỉnh đã mở rộng nhiều loại hình dịch vụ để thuận lợi hơn cho khách du lịch trong thời gian tham quan, lưu trú trên địa bàn tỉnh như: điện hoa, chuyển phát nhanh, giải đáp thông tin cho khách, dịch vụ Internet

* Hệ thống điện, nước

Trong những năm gần đây chất lượng điện năng của tỉnh được nâng cao, sự cố điện giảm, không còn hiện tượng cắt điện luân phiên như những năm trước đây Nhờ

đó, các khu, các điểm du lịch trên địa bàn phục vụ nhu cầu kinh doanh, dịch vụ của các

cơ sở kinh doanh du lịch phục vụ khách du lịch được tốt hơn

Nguồn nước khai thác và sử dụng chủ yếu hiện nay trên địa bàn tỉnh Nam Định

là nguồn nước mặt của các sông và một số ao hồ, chỉ có thành phố Nam Định và vùng phụ cận là sử dụng nước sạch do Công ty cấp thoát nước Nam Định cung cấp còn tại một số xã, huyện vẫn sử dụng nguồn nước ngầm Nhìn chung nhân dân và du khách đều được đảm bảo sử dụng nguồn nước sạch để sinh hoạt Bên cạnh đó, ở các khu vực nông thôn nước sinh hoạt ở một vài nơi chưa đảm bảo an toàn, chưa được xử lý trước khi sử dụng Nước thải chảy tràn hoặc được đổ trực tiếp ra sông, suối, ao, hồ và những khu vực ven biển làm mất vệ sinh môi trường, gây ra nhiều bệnh như đường ruột, viêm

da, đau mắt hột, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân và cảnh quan du lịch trong vùng

* Các dịch vụ khác

Trang 28

Trên địa bàn tỉnh hiện nay có hầu hết chi nhánh các ngân hàng lớn như: Ngân hàng Công thương, ngân hàng Đầu tư và phát triển, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thông, ngân hàng ngoại thương giúp cho khách du lịch có thể đổi tiền, thanh toán, chuyển khoản dễ dàng, nhanh chóng Các dịch vụ bảo hiểm, tài chính, tư vấn pháp luật, vận tải đều có bước phát triển mới

1.2 Vấn đề bảo tồn văn hóa và việc bảo tồn văn hóa trong phát triển du lịch

1.2.1 Khái niệm bảo tồn

Trong giới nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay chưa có sự thống nhất về khái niệm bảo tồn Theo từ điển:

Bảo tồn: "Giữ cho không hư hỏng, mất mát" [37, tr.35]

Liên quan đến vấn đề bảo tồn còn có các hoạt động: Tôn tạo: "Sửa chữa chỗ hư hỏng để bảo tồn một di tích lịch sử" [37, tr.72] Trùng tu: "Sửa chữa lại công trình kiến trúc" [37, tr.826]…

1.2.2 Vấn đề bảo tồn văn hóa

Từ khi xuất hiện cho đến nay con người trên hành tinh này không ngừng thích nghi, lao động sản xuất, chiến đấu và xây dựng xã hội Tất cả các hoạt động trên đã để lại cho nhân loại một kho tàng văn hóa đồ sộ, trong đó các di tích lịch sử văn hóa chiếm tuyệt đại đa số Thông qua các giá trị của di tích lịch sử văn hóa, thế hệ sau lĩnh hội được nhiều tinh hoa, trí tuệ, tài năng, văn hóa nghệ thuật của tiền nhân Với hệ thống kiến thức đồ sộ như vậy, làm thế nào để gìn giữ, bảo tồn, khai thác, sử dụng những di sản văn hóa phục vụ cho quá trình phát triển của xã hội đã và đang là vấn đề được nhiều cấp ban ngành quan tâm

Văn hóa nhân loại muốn ngày càng đa dạng và phát triển thì chỉ có một phương pháp đó là con người phải luôn luôn sáng tạo ra văn hóa, đồng thời bên cạnh đó phải tích cực gìn giữ những tài sản văn hóa vốn có Từ thời cổ xa xưa đến thời kỳ hiện đại ngày nay, con người đã rút ra bài học quý giá là: không thể thiếu di sản văn hóa trong quá trình phát triển tri thức Lênin cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn

và khai thác di sản văn hóa như sau: "Phải tiếp thu toàn bộ nền văn hóa do chế độ tư

bản để lại và dùng những nền văn hóa để xây dựng chủ nghĩa xã hội Phải tiếp thu toàn bộ nền khoa học kỹ thuật, tất cả những tri thức, tất cả nghệ thuật, không có cái đó chúng ta không thể xây dựng cuộc sống xã hội cộng sản" [37,tr.67]

Trang 29

Ở nước ta, trong pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, công bố ngày 4/4/1984 thì di tích lịch sử văn hóa được quy định như

sau: "Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và

các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội"

Qua đây ta có thể thấy rằng cả di tích do bàn tay con người làm nên, đồng nghĩa chúng đều là sản phẩm văn hóa Di tích là sản phẩm do cá nhân hoặc tập thể để lại, đã được lịch sử khẳng định vai trò và giá trị, chúng tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của thế hệ sau Vì vậy, chúng ta chỉ có thể tiến hành bảo tồn sao cho đúng với đối tượng khách quan đó

Hoạt động bảo tồn văn hóa bao gồm hai chức năng:

- Chức năng giữ gìn: Chức năng này bắt đầu bằng công việc nghiên cứu, phát

hiện các giá trị văn hóa, lựa chọn gìn giữ những yếu tố góp phần chứng minh được đặc trưng của văn hóa dân tộc, của địa phương, của đất nước qua từng thời kỳ lịch sử Tiếp đến phải xác định các tiêu chuẩn nhằm gìn giữ các di tích Cuối cùng là sự kết hợp giữa nhà nước và nhân dân để bảo tồn văn hóa

- Chức năng khai thác: Muốn thực hiện hiệu quả chức năng này người khai thác

phải hiểu rõ nội dung giá trị của di tích Đối với cán bộ giới thiệu về di tích phải vừa là người thuyết minh, vừa là người nghệ sĩ đồng thời là một người thầy Có như vậy mới chủ động dẫn dắt khách tham quan cảm nhận sâu sắc, từ đó có ấn tượng đủ và đúng về giá trị văn hóa Một cách khai thác khác cũng phát huy hiệu quả đáng kể đó là kết hợp với những ngày kỷ niệm, dịp lễ tết gắn với di tích để tổ chức trưng bày giới thiệu, các hoạt động lễ hội, hoạt động sân khấu hóa

Điều 9 của Luật Du lịch quy định về Bảo vệ môi trường du lịch, trong đó có bảo

vệ di sản văn hóa như sau:

“1 Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn cần được bảo vệ, tôn tạo

và phát triển nhằm bảo đảm môi trường du lịch xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh

2 Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình ban hành các quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch

Trang 30

3 Ủy ban nhân dân các cấp có biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương

4 Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực

do hoạt động của mình gây ra đối với môi trường; có biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong cơ sở kinh doanh của mình

5 Khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương và các tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hoá, thuần phong

mỹ tục của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và du lịch Việt Nam”1

Tóm lại, bảo tồn văn hóa là giữ lại những không gian vật chất và tinh thần do

các thời kỳ trước tạo lập, điều này có nhiều ảnh hưởng đến quá trình xây dựng xã hội hiện đại Đây là mâu thuẫn tất yếu trong quá trình đi lên, tuy vậy không thể vì bảo tồn

mà cản trở sự phát triển xã hội, nhu cầu xây dựng khu dân cư, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần do cộng đồng nơi có di tích; ngược lại cũng không quá đề cao lợi ích hiện tại mà sao lãng hoặc coi nhẹ công việc bảo tồn văn hóa

Bảo tồn văn hóa trong du lịch là hoạt động mang tính cấp thiết hiện nay, bởi du lịch và di sản văn hóa luôn có sự gắn kết chặt chẽ với nhau Di sản văn hóa được bảo tồn tốt sẽ là nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn du khách, là cơ sở để phát triển du lịch, góp phần vào phát triển kinh tế của địa phương nói riêng và quốc gia nói chung Vì vậy, công tác bảo tồn di sản văn hóa được xác định là nhiệm vụ, trách nhiệm chung của toàn

xã hội

Du lịch và văn hóa di sản luôn có mối quan hệ cộng sinh Trong nhiều năm gần đây, du lịch đã trở thành hiện tượng kinh tế xã hội ở hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Sự ra đời của nhiều chương trình du lịch văn hóa là một minh chứng cho tầm quan trọng của di sản văn hóa và mối quan hệ giữa du lịch với văn hóa Thông qua du lịch, nhờ du lịch mà văn hóa, con người được cộng đồng biết đến Bên cạnh đó du lịch còn mang lại lợi ích kinh tế và góp phần bảo tồn văn hóa

Xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn nên việc nghiên cứu và phát triển du lịch đã và đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm Điều này được khẳng định

Trang 31

thông qua các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong những năm qua Phát biểu tại lễ kỷ niệm lần thứ 45 ngày thành lập ngành du lịch Việt Nam và đón

Huân chương Hồ Chí Minh, đồng chí Vũ Khoan đã chỉ rõ: "Du lịch Việt Nam đã thực

sự trở thành ngành kinh tế ngày càng quan trọng đem lại hàng tỉ đô la cho đất nước, tạo nên hàng triệu việc làm cho người lao động Hơn thế nữa, du lịch là một cách xuất khẩu tại chỗ, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu, là ngành kinh tế mũi nhọn của kinh tế đất nước Đặc biệt, thông qua con đường du lịch làm cho bạn bè thế giới hiểu biết về văn hóa, về phong tục tập quán con người Việt Nam; do đó, du lịch Việt Nam còn làm cho bạn bè gần xa trên thế giới hiểu biết hơn về đất nước con người, về lịch sử văn hóa, văn minh Việt Nam; từ đó nâng cao vị thế Việt Nam trên chính trường thế giới"

Muốn di sản có sức sống bền vững thì công tác bảo tồn văn hóa phải gắn với việc phát huy giá trị di sản Từ đó, phát triển du lịch văn hóa là sản phẩm cốt lõi, vừa phát huy được thế mạnh địa phương, vừa là công cụ để bảo tồn các giá trị di sản Hoạt động du lịch vừa khai thác văn hóa đồng thời nuôi dưỡng và truyền bá văn hóa Vậy, hoạt động bảo tồn văn hóa không chỉ diễn ra trong cộng đồng mà còn là hoạt động gắn liền với ngành kinh doanh du lịch

1.3 Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch Nam Định

Di sản được hiểu là những tài sản chúng ta kế thừa từ các thế hệ trước, bao gồm toàn bộ môi trường thiên nhiên và văn hóa: cảnh quan, các di tích lịch sử, tập tục truyền thống, tri thức và kinh nghiệm sống Chúng ta có trách nhiệm giữ gìn và phát huy, bởi đó là những tài sản quý báu, là nền tảng quan trọng cho sự phát triển xã hội hiện tại và tương lai Luật di sản văn hóa năm 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

của nước CHXHCN Việt Nam khẳng định: "Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý

giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta"

Theo quan niệm của UNESCO có 2 loại di sản văn hóa:

- Những di sản văn hóa hữu thể (Tangible) gồm: đình, chùa, đền, miếu, lăng mộ, nhà sàn

- Những di sản văn hóa vô hình (Intangible) gồm: các biểu hiện tượng trưng và

"không sờ thấy được" của văn hóa được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một

Trang 32

số quá trình tái tạo, "trùng tu" của cộng đồng rộng rãi Những di sản văn hóa tạm gọi

là vô hình này theo UNESCO bao gồm: âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tư thế (thư thái) nghi thức, phong tục, tập quán,

y dược cổ truyền, việc nấu ăn và các món ăn, lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ của các nghề truyền thống Cái hữu thể và cái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau như thân xác và tâm trí con người

Luật di sản văn hóa năm 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) của nước CHXHCN Việt Nam, tại điều 4.1 và 4.2 quy định:

- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác

- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Do đó, Luật di sản văn hóa năm 2001 đã định nghĩa: "Di sản văn hóa bao gồm

di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"

Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động đặc trưng của con người để nhằm đảm bảo

sự tồn tại lâu dài, ổn định duy trì tính xác thực của các quá trình phát triển và đa dạng của di sản văn hóa nhằm phát triển bền vững cho thế hệ hiện tại và tương lai [37, tr.84]

1.3.1 Vai trò của các di sản văn hóa trong phát triển du lịch Nam Định

Văn hóa luôn có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển về mọi mặt của đất nước, trong đó có du lịch Di sản văn hóa là nguồn lực để du lịch phát triển Cả

du lịch và văn hóa gặp nhau ở tính "lạ" Vì tính "lạ", tính khác biệt đó mà văn hóa tồn

tại và du lịch có cơ hội để phát triển, kích cầu Bởi nhu cầu được khám phá những điều mới lạ luôn là động lực để con người đi du lịch Những vẻ đẹp độc đáo, những giá trị của các công trình kiến trúc, của các di tích lịch sử, của các di sản văn hóa luôn thôi thúc con người thưởng thức, chiêm ngưỡng và khám phá

Trang 33

Trong Luật du lịch ban hành năm 2005 đã chỉ rõ tài nguyên du lịch bao gồm

"cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động

sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch"

Qua đây ta có thể khẳng định rằng phần lớn tài nguyên du lịch là các giá trị, các công trình kiến trúc, điêu khắc của dân tộc trong sự gắn bó với môi trường tự nhiên

và xã hội Hơn nữa, di sản văn hóa (tài nguyên du lịch) còn gắn trực tiếp với tiến trình lịch sử của đất nước, với truyền thống văn hóa của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Do đó di sản văn hóa trở thành nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn có chiều sâu nhất đối với du lịch Và sở dĩ du lịch là một ngành kinh tế có sức thu hút mạnh mẽ bởi

vì nó có hàm chứa nội dung văn hóa sâu sắc và phong phú

Di sản văn hóa ở mọi vùng miền của đất nước là nơi lưu giữ bao chiến công, hào hùng của dân tộc Việt Nam, nơi ẩn chứa với những giá trị nhân văn sâu sắc, độc đáo của dân tộc Việt Nam trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước, tất cả hợp thành những bản anh hùng bất hủ của dân tộc Đây là lợi thế để ngành du lịch phát huy các di sản văn hóa trong tổ chức hoạt động du lịch

Có thể nói rằng, di sản văn hóa là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch Môi trường thiên nhiên và môi trường văn hóa, nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với du lịch vì chúng chính là nguồn tài nguyên, là yếu tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch, phát triển các loại hình du lịch Di sản văn hóa mang những dấu ấn của quá khứ

và nó làm phong phú thêm cho nguồn tài nguyên du lịch nhân văn Di tích là mảng quan trọng của di sản vật thể và khi trở thành sản phẩm du lịch văn hóa thì giá trị khai thác không cạn kiệt mà ngày càng gia tăng theo thời gian Thực tế nhiều di tích sau khi

tu bổ đã thúc đẩy sự phát triển của du lịch, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế của địa phương và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cộng đồng dân cư như tại cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn

Di sản văn hóa góp phần cấu thành nên môi trường văn hóa cho hoạt động du lịch Ngày nay, du lịch văn hóa đang trở thành loại hình du lịch được nhiều du khách quan tâm Ở nhiều nước trên thế giới kinh nghiệm cho thấy rằng nếu quốc gia nào có

Trang 34

truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều di sản văn hóa thì quốc gia đó sẽ là điểm đến hấp dẫn

Nam Định là một tỉnh có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng Với bề dày lịch sử và do đặc điểm địa hình của lãnh thổ vùng đồng bằng sông Hồng, Nam Định là địa phương có tiềm năng du lịch đa dạng, có nhiều tài nguyên du lịch có giá trị đặc biệt mà tiêu biểu là quần thể di tích đền Trần, phủ Dầy Tiềm năng du lịch đa dạng này là một trong những điểm mạnh quan trọng của du lịch Nam Định so với một

số địa phương thuộc vùng đồng bằng sông Hồng như Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam Với tính đa dạng, đặc sắc của tài nguyên đó, Nam Định hoàn toàn có cơ sở để phát triển những sản phẩm du lịch không trùng lặp không chỉ đối với hoạt động phát triển

du lịch của bản thân địa phương Nam Định mà còn sẽ không trùng lặp với sản phẩm du lịch nhiều địa phương khác trong khu vực Điều này sẽ tạo cho du lịch Nam Định có được sức hấp dẫn du lịch riêng và đây sẽ là yếu tố quan trọng đối với phát triển du lịch Nam Định trong bối cảnh hiện nay của du lịch Việt Nam, khi mà tình trạng "trùng lặp"

về sản phẩm du lịch đang là yếu tố cản trở sự phát triển, làm hạn chế tính hấp dẫn du lịch Việt Nam nói chung, du lịch các "vùng miền" và các địa phương nói riêng

Hàng năm Nam Định thu hút hàng ngàn khách du lịch tới địa phương tham quan, nghỉ dưỡng Trong đó lượng du khách tới tỉnh với mục đích lễ hội, tham quan di tích lịch sử chiếm đa số Điều đó cho thấy di sản văn hóa có vai trò to lớn trong sự phát triển du lịch tỉnh nhà Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của các cấp ban ngành, Nam Định đã và đang có sự hoàn thiện đáng kể về cơ cấu sản phẩm du lịch, trong đó phải kể đến sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch tâm linh Các di sản văn hóa thực sự đã trở thành nguồn tài nguyên để ngành du lịch Nam Định khai thác, góp phần thu hút khách du lịch, làm đa dạng sản phẩm, tăng thêm sự lựa chọn cho khách, kéo dài thời gian tham quan và lưu lại tỉnh Di tích cũng tham gia vào chiến lược quảng bá điểm đến cho du lịch Nam Định

Tại Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa X kỳ họp thứ 9

thông qua Luật di sản đã khẳng định: "Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của

cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của Di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta" Di sản là những

bằng chứng có ý nghĩa quan trọng, chứng minh về lịch sử mà cha ông ta đã dày công

Trang 35

gây dựng Do đó, di sản giúp cho con người biết về cội nguồn, hiểu sâu rộng hơn về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hóa địa phương mình góp phần hoàn thiện nhân cách con người Nam Định hiện đại, tạo môi trường văn hóa lành mạnh phục vụ khách

1.3.2 Những tác động của du lịch tới các di sản văn hóa ở Nam Định

Di sản văn hóa là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch Môi trường thiên nhiên

và môi trường văn hóa, nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với du lịch vì chúng chính là nguồn tài nguyên, là yếu tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch, phát triển các loại hình du lịch Ngày nay, xu hướng du lịch sinh thái, du lịch cảnh quan và du lịch văn hóa đang trở thành những loại hình du lịch chủ yếu Trong đó di tích là mảng quan trọng của di sản văn hóa vật thể và khi đưa vào khai thác phục vụ kinh doanh du lịch thì giá trị khai thác không bị cạn kiệt mà ngày càng gia tăng theo thời gian Trên thực

tế, nhiều di tích sau khi được tu bổ đã thúc đẩy du lịch phát triển, mang lại nhiều lợi ích cho cư dân địa phương như cố đô Huế, phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn Chính vì vậy việc bảo tồn di sản có mối quan hệ mật thiết với phát triển du lịch chứ không phải chỉ mang ý nghĩa văn hóa đơn thuần Bên cạnh đó du lịch cũng được coi là phương tiện

để làm sống lại các giá trị của di sản và làm cho các giá trị của di sản được mọi người biết đến rộng rãi hơn

1.3.2.1 Những tác động tích cực

Giữa du lịch và văn hóa luôn có mối quan hệ biện chứng và trực tiếp, mối quan

hệ này càng thể hiện rõ hơn trong sự liên hệ giữa việc bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa Du lịch là cầu nối giữa các bộ phận dân cư thuộc các nền văn hóa khác nhau trên thế giới, đồng thời tạo lập mối quan hệ trực tiếp giữa quá khứ, hiện tại, tương lai của mỗi dân tộc Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp vào việc chấn hưng và bảo tồn các di sản văn hóa Doanh thu của các hoạt động du lịch được sử dụng

Trang 36

cho việc tu bổ di tích, chỉnh lý các bảo tàng, đồng thời khôi phục các di sản văn hóa

Trong thực tế, kinh doanh du lịch tại Nam Định trong những năm qua có nhiều tác động tích cực đối với di sản văn hóa của địa phương như:

- Hoạt động du lịch đã thu hút nhiều vốn đầu tư đến địa phương, tăng cơ hội việc làm tại địa phương, tạo thêm cơ hội kinh doanh cho cộng đồng cư dân địa phương

từ đó gia tăng thu nhập, chất lượng cơ sở và dịch vụ du lịch cũng được nâng lên nhờ các dự án đầu tư của ngành du lịch Tính riêng giai đoạn 2006 - 2010 Trung ương đã

hỗ trợ 94 tỷ đồng đầu tư cho hạ tầng du lịch Nhiều dự án đã được thực hiện, nhiều tuyến đường đã được nâng cấp nhằm phục vụ tốt hơn cho du lịch như: đường vào khu

di tích tưởng niệm Cố Tổng bí thư Trường Chinh và khu du lịch, lễ hội chùa Keo Hành Thiện; hạ tầng tuyến du lịch Bến Hữu Bị - Đền Bảo Lộc - Đền Trần - Chùa Tháp - công viên văn hóa Tức Mạc; hạ tầng kỹ thuật khu vực quần thể Phủ Dầy, chợ Viềng Năm 2011, các dự án đầu tư hạ tầng du lịch tiếp tục được triển khai thực hiện với 8 dự

án chuyển tiếp và 2 dự án mới khởi công, được Ngân sách Trung ương hỗ trợ với tổng

số vốn là 24 tỷ đồng Ngoài nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương còn có nguồn vốn địa phương đầu tư vào các dự án nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng du lịch nhằm đảm bảo sự thuận lợi trong nhu cầu đi lại của khách du lịch Bên cạnh đó nhiều dự án đầu tư xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng có quy mô lớn, chất lượng cao đã được triển khai, hoàn thành và đi vào phục vụ khách du lịch

- Cùng với sự nâng cao chất lượng phục vụ du lịch thì hoạt động du lịch cũng đã góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân địa phương Du lịch còn khích lệ, động viên lòng tự hào dân tộc và tạo động lực cho sự hồi sinh và phát triển các hoạt động văn hóa truyền thống (như phát triển nghề thủ công, các loại hình

Trang 37

biểu diễn nghệ thuật và âm nhạc) Du lịch cũng giúp cho việc gìn giữ, tôn tạo và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của người dân địa phương

- Hoạt động du lịch tham gia vào việc gìn giữ môi trường tự nhiên, bảo vệ các loài động vật hoang dã tại di tích giúp cải thiện môi trường sinh thái của địa phương;

du lịch cũng tạo ra nhiều động cơ để địa phương phục hồi các danh thắng mang giá trị độc đáo từ đó thay đổi diện mạo của địa phương thu hút ngày càng nhiều hơn du khách trong và ngoài nước

1.3.2.2 Những tác động tiêu cực

Bên cạnh những tác động tích cực của du lịch đối với các di sản văn hóa là những tác động tiêu cực mà hoạt động du lịch mang lại cho đối tượng này

- Đa số lợi nhuận từ kinh doanh du lịch địa phương thuộc sở hữu của cá nhân và

tổ chức ngoài địa phương; giá cả nhiều mặt hàng và dịch vụ tăng cao hơn Tại các điểm

du lịch ở Nam Định như khu di tích lịch sử đền Trần, phủ Dầy, đặc biệt ở các khu nghỉ dưỡng biển Hải Thịnh, Quất Lâm, giá cả các mặt hàng cũng có cao hơn các khu không phải điểm du lịch Mà đa số các cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch lại là tư nhân nên khoản thu này đương nhiên vào tay họ phần lớn, chỉ một phần nhỏ nộp cho ngân sách địa phương

- Do du lịch có tính mùa vụ nên số người thất nghiệp sẽ tăng cao khi vào mùa thấp điểm Điều này sẽ ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt của cư dân địa phương và tạo

ra gánh nặng cho các cấp chính quyền của địa phương Tỉnh Nam Định cũng không nằm ngoài quy luật này Vào dịp hè lượng khách tới nghỉ dưỡng tại bãi biển Thịnh Long, Quất Lâm tăng cao khiến cho cần một lượng lớn nhân viên phục vụ song sau đó khi mùa cao điểm đã qua, số nhân viên này lại trở về tình trạng thất nghiệp Tại các điểm du lịch khác cũng tương tự nhưng ít hơn Ví dụ như vào mùa lễ hội, lượng khách tới đền Trần và Phủ Dầy tăng cao, khiến cho lượng người cần để phục vụ cho lễ hội này đòi hỏi cao nên rất nhiều nhà dân xung quanh cũng vào cuộc với việc trông coi giữ

xe chẳng hạn hoặc bán hàng hương hoa quanh khu vực di tích Sau thời gian lễ hội, họ lại quay trở lại với công việc đồng áng, công việc chính của họ

- Việc thương mại hóa hoạt động du lịch sẽ làm biến dạng các di sản, thay đổi nét văn hóa cổ truyền của dân cư Thông qua du lịch, cư dân địa phương được tiếp thu nhiều nền văn hóa mới, từ đó kích thích người dân địa phương học theo cách ứng xử

Trang 38

của du khách dẫn tới tình trạng xa rời hoặc thậm chí còn từ bỏ những giá trị truyền thống văn hóa Trong quá trình phát triển du lịch, nhiều phong tục, tập quán, lễ hội, nghề truyền thống của địa phương bị thương mại hóa nhằm đáp ứng nhu cầu của khách

du lịch do đó dẫn đến việc mất dần những nét đặc trưng trong văn hóa truyền thống của địa phương

Du lịch cũng mang theo sự du nhập của nhiều loại hình tệ nạn xã hội như tội phạm, nghiện hút, mại dâm, rượu chè, buôn lậu Khi lượng khách du lịch vào địa phương tăng lên đồng nghĩa với việc mâu thuẫn giữa cộng đồng cư dân địa phương và

du khách càng trở nên gay gắt Nếu khách du lịch được cung cấp thông tin tại điểm du lịch bởi những hướng dẫn viên không chuyên, không có kiến thức cơ bản, không am hiểu văn hóa địa phương họ rất dễ có những thông tin sai lệch về di sản văn hóa làm hao mòn giá trị văn hóa của dân tộc hoặc có những du khách biết những thông tin đó được đưa ra không chính xác sẽ gây cảm giác khó chịu, không tin tưởng và dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như thiếu sự tôn trọng người hướng dẫn viên đó, ban quản lý nơi cung cấp người hướng dẫn viên này hoặc khi có điều kiện quay trở lại điểm du lịch đó thì họ sẽ mất cảm hứng và sẽ tìm đến điểm du lịch khác

Tình trạng trộm cắp, rượu chè, cờ bạc vẫn diễn ra thường xuyên trong nhiều lễ hội không chỉ Nam Định mà còn ở nhiều địa phương khác Khách du lịch tới Nam Định rất đa dạng, phong phú do đó việc đáp ứng nhu cầu của khách không phải dễ dàng, do đó nhiều khi xảy ra tình trạng cãi vã, xô xát giữa cư dân địa phương và khách

du lịch là điều không thể tránh khỏi Nam Định có nhiều điểm tham quan du lịch nhưng việc cấp thẻ hướng dẫn viên tại các điểm du lịch này còn hạn chế Đội ngũ hướng dẫn viên còn non trẻ, kinh nghiệm ít, kiến thức văn hóa truyền thống địa phương nắm chưa sâu nên đôi khi làm khách du lịch không được hài lòng trong việc tiếp nhận thông tin

- Việc bảo tồn, tôn tạo các di tích, các cơ sở dịch vụ du lịch sẽ ảnh hưởng tới cảnh quan môi trường tự nhiên của địa phương Việc san ủi mặt bằng, việc xây dựng các công trình mới sẽ gây ô nhiễm về: nguồn nước, không khí, tiếng ồn, chất thải rắn

và đất trồng; khi không gian du lịch mở rộng cũng đồng nghĩa với không gian của các ngành kinh tế truyền thống ở địa phương bị thu hẹp hoặc loại bỏ Bên cạnh đó du lịch phát triển sẽ làm cho tài nguyên du lịch của địa phương bị xuống cấp Nếu không được

Trang 39

bảo tồn, gìn giữ của khách du lịch và cư dân địa phương thì đến một ngày nào đó địa phương sẽ không còn tài nguyên mà thu hút khách

Trong nhiều năm qua, được sự quan tâm của các cấp ban ngành và cư dân địa phương đi làm ăn xa thành đạt quay trở lại quê hương báo đáp nên nhiều công trình xây dựng nhằm phục vụ du lịch được tiến hành Bên cạnh việc đem lại nhiều thuận lợi hơn cho ngành du lịch Nam Định thì cũng mang đến nhiều hệ lụy Ví dụ như một số tuyến đường được mở rộng để phục vụ việc đi lại của du khách trong các dịp lễ hội đã mang lại không ít khó khăn cho cư dân như việc bị thu hẹp đất nuôi trồng, nhà ở, việc sinh hoạt cũng bị ảnh hưởng do công trình kéo dài

1.3.3 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu bảo tồn di sản văn hóa trong phát triển du lịch Nam Định

Trong xu thế chung không chỉ của du lịch Nam Định mà của cả ngành du lịch Việt Nam trong việc phát triển du lịch di sản đã đem lại nhiều lợi thế cho ngành du lịch Nghiên cứu bảo tồn di sản văn hóa không chỉ có ý nghĩa về mặt khảo cổ học, mà nó còn có chức năng về kinh tế - xã hội Bảo tồn không phải là lưu giữ những hiện vật, di sản trong lồng kính khiến nó trở nên xa lạ với cuộc sống của con người mà nó cần phải được phát huy những giá trị về mặt thẩm mỹ, lịch sử, văn hóa cho xã hội hiện tại và tương lại

Vì vậy, cần phải coi việc bảo tồn di sản văn hóa là một nhân tố của phát triển kinh tế, việc đưa ra những quyết định chính thức về bảo tồn, sử dụng và tái sử dụng di sản văn hóa là một phần cốt lõi trong các chính sách liên kết xã hội, môi trường, văn hóa, giáo dục và kế hoạch phát triển của địa phương Bên cạnh đó bảo tồn di sản văn hóa cũng là một nhân tố thiết yếu trong hoạt động du lịch, là đối tượng của ngành du lịch tỉnh, là một phần quan trọng trong việc thay đổi cơ cấu kinh tế tỉnh nhà, nó phải được khai thác trở thành sản phẩm du lịch Việc bảo tồn được quan tâm còn giúp cho việc sử dụng tiết kiệm các tài nguyên, biết trân trọng nó, để tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy thương mại và du lịch phát triển

Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn các di sản văn hóa địa phương, tỉnh Nam Định cũng đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm hướng tới sự phát triển du lịch bền vững Việc bảo tồn di sản văn hóa địa phương luôn được gắn liền với công tác bảo

vệ môi trường, giúp giữ lại sự hấp dẫn của các cảnh quan thị trấn và thành phố, giữ lại

Trang 40

những nét đẹp truyền thống văn hóa riêng Để việc bảo tồn được diễn ra thường xuyên, tỉnh Nam Định cũng rất chú ý tới việc đưa ra những chính sách tốt nhất cho việc xây dựng các đồ án quy hoạch, những chính sách đổi mới đô thị

Ngày đăng: 30/03/2017, 06:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phó Đức An (2004), Để lễ hội luôn lành mạnh, in trong Báo văn hóa số 970, tr 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để lễ hội luôn lành mạnh
Tác giả: Phó Đức An
Năm: 2004
2. Trần Thúy Anh (chủ biên, 2004), Ứng xử văn hóa trong du lịch, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử văn hóa trong du lịch
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
3. Trần Thúy Anh (chủ biên 2011), Du lịch văn hóa, Nxb. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch văn hóa
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
4. Đặng Văn Bài (2004), "Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích", Tạp chí Văn hóa thông tin (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2004
5. Ban Quản lý Di tích và Danh thắng tỉnh Nam Định (2008), Di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nam Định, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nam Định
Tác giả: Ban Quản lý Di tích và Danh thắng tỉnh Nam Định
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Dân tộc
Năm: 2008
6. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2003
7. Chu Quang Chứ (1999), Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam, Nxb. Mỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Chứ
Nhà XB: Nxb. Mỹ Thuật
Năm: 1999
8. Chu Quang Chứ (1999), Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam, Nxb. Mỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Chứ
Nhà XB: Nxb. Mỹ Thuật
Năm: 1999
10. Nguyễn Viết Chức (2003), Báo cáo kết quả khảo sát về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam, Kỷ yếu hoạt động của UBGDTNTN và NĐ của Quốc hội khóa XI (2002-2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả khảo sát về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Viết Chức
Năm: 2003
11. Cục Di sản văn hóa (2007), Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Tập 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể
Tác giả: Cục Di sản văn hóa
Năm: 2007
13. Đoàn Bá Cử (2003), " Hệ thống giá trị đặc trưng và nguyên tắc tu bổ di tích kiến trúc Việt Nam", Tạp chí Di sản Văn hóa (Số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống giá trị đặc trưng và nguyên tắc tu bổ di tích kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Đoàn Bá Cử
Năm: 2003
14. Danh nhân Việt Nam qua các đời (Thời Trần), Nxb. Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Việt Nam qua các đời (Thời Trần)
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
15. Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam (1991), Nxb. KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam
Tác giả: Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 1991
16. Khoa Du lịch học (2015), Kỷ yếu hội thảo khoa học đào tạo du lịch trong trường đại học nghiên cứu, Nxb. Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học đào tạo du lịch trong trường đại học nghiên cứu
Tác giả: Khoa Du lịch học
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc Gia
Năm: 2015
17. Nguyễn Khoa Điềm (2001), "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
18. Nguyễn Xuân Đức - Nguyễn Đăng Duy (1993), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức - Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1993
19. Mai Văn Hai - Mai Kiệm (2003), Xã hội học văn hóa, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn hóa
Tác giả: Mai Văn Hai - Mai Kiệm
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2003
20. Nguyên Hồng - Trung Tín (2000), Chùa Cổ lễ văn hóa cách mạng, Nxb. Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Cổ lễ văn hóa cách mạng
Tác giả: Nguyên Hồng - Trung Tín
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2000
21. Nguyễn Phạm Hùng (1999), Du lịch tôn giáo và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch tôn giáo và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 1999
22. Nguyễn Phạm Hùng (2010), Đa dạng văn hóa và sự phát triển du lịch ở Việt Nam, Tạp chí Du lịch Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng văn hóa và sự phát triển du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tăng trưởng kinh tế tỉnh Nam Định thời kỳ 2010 - 2014 - Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở nam định
Bảng 1.1. Tăng trưởng kinh tế tỉnh Nam Định thời kỳ 2010 - 2014 (Trang 24)
Bảng 1.2. Một số chỉ tiêu dân số, nguồn nhân lực tỉnh Nam Định - Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở nam định
Bảng 1.2. Một số chỉ tiêu dân số, nguồn nhân lực tỉnh Nam Định (Trang 25)
Bảng 2.1. Hiện trạng khách du lịch đến Nam Định 2011-2015 - Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở nam định
Bảng 2.1. Hiện trạng khách du lịch đến Nam Định 2011-2015 (Trang 50)
Bảng 2.2. Hiện trạng khách du lịch đến Nam Định giai đoạn 2011-2015 - Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở nam định
Bảng 2.2. Hiện trạng khách du lịch đến Nam Định giai đoạn 2011-2015 (Trang 52)
Bảng 2.3. Khách du lịch nội địa đến Nam Định giai đoạn 2011 - 2015 - Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở nam định
Bảng 2.3. Khách du lịch nội địa đến Nam Định giai đoạn 2011 - 2015 (Trang 53)
Bảng 2.4. Khách du lịch quốc tế đến Nam Định giai đoạn 2011 - 2015 - Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở nam định
Bảng 2.4. Khách du lịch quốc tế đến Nam Định giai đoạn 2011 - 2015 (Trang 54)
Bảng 2.6. Thống kê các cơ sở kinh doanh du lịch Nam Định - Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở nam định
Bảng 2.6. Thống kê các cơ sở kinh doanh du lịch Nam Định (Trang 57)
Bảng 2.9. Hiện trạng chất lượng lao động du lịch Nam Định - Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa ở nam định
Bảng 2.9. Hiện trạng chất lượng lao động du lịch Nam Định (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm