THÔNG TIN CHUNG VỀ HUYỆN NẬM PỒ: Vị trí địa lý và dân sô: Huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên là huyện biên giới vùng sâu vùng xa, mới được thành lập, huyện có 15 xã, 131 bản dân số 50027 người,
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÀI TẬP THỰC ĐỊA 1
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ SỐ SỨC KHỎE CỦA
HUYỆN NẬM PỒ - TỈNH ĐIỆN BIÊN
……………
Bộ môn:(Tổ chức hệ thống y tế, Thống kê 1, Tâm lý y học & Y đức 1)
………….……………….
Nhóm sinh viên thực hiện:
1: Phạm Văn Thế
Trang 2A THÔNG TIN CHUNG VỀ HUYỆN NẬM PỒ:
Vị trí địa lý và dân sô: Huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên là huyện biên giới vùng sâu vùng xa, mới được thành lập, huyện có 15 xã, 131 bản dân số 50027 người, dân tộc Hmông chiếm 69,18%, dân tộc Thái 18,5%, còn lại là các dân tộc khác; là huyện
có địa bàn rộng, diện tích tự nhiên 149.812,96 ha, có 8/15 xã là xã biên giới ( Nà Bủng, Vàng Đán, Nà Hỳ, Nậm Nhừ, Na Cô Sa, Chà Nưa, Phìn Hồ, Si Pa Phìn ), đường biên giới quốc gia giáp với nước bạn Lào dài 117,9 km, địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều sông suối, các xã trên địa bàn huyện đều là các xã đặc biệt khó khăn của huyện Mường Nhé và huyện Mường Chà chia tách sang, kinh tế xã hội chậm phát triển, tỷ lệ hộ đói nghèo cao chiếm 58,52%, đường giao thông đến huyện
và đường giao thông liên xã, liên bản đi lại còn khó khăn nhất là về mùa mưa lũ; trình
độ dân trí không đồng đều, đồng bào dân tộc Hmông trên địa bàn của một số xã, bản theo tín đồ tôn giáo nên rất khó tuyên truyền vận động, nhận thức của người dân về vệ sinh phòng bệnh nói chung còn hạn chế, không hưởng ứng với công tác y tế
Văn hóa, xã hội: Còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan như cúng bái khi ốm đau hoặc ở nhà tự chữa bằng thuốc nam mà không đến cơ sở y tế để khám và điều trị, phần lớn người dân có thói quen tự sinh đẻ ở nhà mà không đến cơ
sở y tế Phần lớn các xã đã có đường ô tô đến trung tâm xã, hệ thống điện lưới và thông tin liên lạc như sóng điện thoại, mạng Internet đã được bao phủ đến tận các trung tâm xã
Giáo dục: Tỷ lệ mù chữ và tái mù còn khá cao, toàn huyện chỉ có một trường cấp III, một trường phổ thông dân tộc nội trú Các xã đều có trường cấp I, II, các bản đều có điểm trường, tuy đã được nhà nước đầu tư xây dựng về cơ sở hạ tầng nhưng
số trường học phải ở nhà tạm bợ còn khá cao, tỷ lệ trẻ đến trường còn thấp và nhiều học sinh phải bỏ học vì điều kiện khó khăn
I Thông tin về tình hình y tế:
Hệ thống y tế huyện gồm: 01 Phòng y tế, 01 Trung tâm dân số, 01 Trung tâm Y
tế (Bao gồm: 01 bệnh viện hạng 4, 01 đội y tế dự phòng, 01 đội chăm sóc sức khỏe sinh sản); 02 Phòng khám ĐKKV và 15 Trạm Y tế xã
* Công tác tổ chức:
Trung tâm Y tế có 04 phòng chức năng ( Phòng tổ chức hành chính, Phòng kế hoạch nghiệp vụ, Phòng điều dưỡng, Phòng tài chính kế toán ) tiếp tục được củng cố
và đi vào hoạt động có hiệu quả; 02 Đội chuyên môn ( Đội Y tế dự phòng, Đội Chăm sóc sức khỏe sinh sản ); 02 Phòng khám đa khoa khu vực, 15 Trạm Y tế xã
* Biên chế cán bộ:
Trung tâm Y tế huyện hiện có 213 biên chế, trong đó có 31 Bác sỹ đạt tỷ lệ 6,2 BS/vạn dân, chưa có dược sỹ đại học, phần lớn viên chức đều mới vào công tác chưa
có kinh nghiệm, năng lực và trình độ chuyên môn còn hạn chế
Trang 3Hiện có 105/131 bản có nhân viên y tế bản hoạt động đạt 80,1%, có 18/131 bản có cô đỡ thôn bản hoạt động đạt 13,7%, song trình độ và năng lực còn hạn chế, nhiều y tế bản không nhiệt tình với công việc, không thực hiện đúng chức năng nhiệm
vụ của y tế bản
* Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị:
- Trung tâm Y tế huyện:
Trung tâm Y tế huyện được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2013 trên cơ sở tiếp nhận địa điểm làm việc của phòng khám đa khoa khu vực
Nà Hỳ, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại chưa được đầu tư nâng cấp để có đủ điều kiện thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn và phân tuyến kỹ thuật
Trung tâm Y tế hiện có 18 phòng làm việc và chỉ kê được 16 giường bệnh; chưa bố trí được các khoa: khoa khám bệnh, khoa cận lâm sàng ( xét nghiệm, x quang), khoa truyền nhiễm, phòng mổ; kể từ khi được thành lập và đi vào hoạt động đến nay với 16 giường thực kê bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải
Các công trình phụ trợ: Bể nước, nhà vệ sinh ngoài, ga ra xe đã xuống cấp, chưa có nhà xác, chưa có khu xử lý rác thải, nước thải…v…vv
- Phòng khám đa khoa khu vực:
Trên địa bàn huyện hiện có phòng khám Quân - Dân Y khu vực Ba Chà quy mô
30 giường bệnh, thực kê 20 giường bệnh; phòng khám đa khoa khu vực Si Pa Phìn quy mô và thực kê 10 giường bệnh
Giường bệnh tuyến huyện và PKKV thực kê hiện có 46 giường, tỷ lệ giường bệnh đạt 9,67 giường bệnh/vạn dân
- Trạm Y tế xã:
Toàn huyện có 15 Trạm Y tế xã, trong đó có 04 Trạm Y tế xã mới thành lập( Nậm Tin, Nậm Nhừ, Nậm Chua, Vàng Đán) chưa được đầu tư xây dựng, Trạm Y tế
xã phải đi mượn cơ sở để làm việc; 02 Trạm Y tế xã cũ chưa có nhà trạm ( Trạm Y tế
xã Nà Hỳ phải làm việc nhờ UBND xã Nà Hỳ, Trạm Y tế xã Chà Cang phải làm việc lồng ghép với Phòng khám đa khoa Quân - Dân Y khu vực Ba Chà ), Trạm Y tế xã Na
Cô Sa là nhà gỗ 03 gian dựng tạm năm 2009 khi chia tách xã đã xuống cấp nghiêm trọng cần được xây dựng mới
- Sơ đồ hệ thống y tế tỉnh Điện Biên:
Trang 4SỞ ĐỒ HỆ THỐNG Y TẾ TỈNH ĐIỆN BIÊN
UBND
TỈNH
SỞ Y TẾ
Các đợn vị sự nghiệp trực thuộc sở
- Khám chữa bệnh:
+ Bệnh viện đa khoa tỉnh:
+ Bệnh viện Lao và bệnh phổi:
+ Bệnh viên Y học cổ truyền:
+ Bệnh viên tâm thần:
+ Bệnh viện TX Mường Lay
- Y tế dự phòng:
+ Trung tâm y tế dự phòng:
+ Trung tâm CSSKSS:
+ Trung tâm PC sốt rét:
+ Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội: + Trung tâm Nội tiết:
+ Trung tâm Truyền thông:
+ Giám định, kiểm nghiệm:
+ Chi cục dân số + Chi cục VSATTP
- Đào tạo:
+ Trường Cao đẳng Y tế:
UBND
HUYỆN
PHÒNG Y TẾ HUYỆN
TTYT HUYỆN Phòng khám ĐK BV đa khoa huyện
Cô đỡ thôn bản
Ghi chú
Quản lý trực tiếp
Quản lý nhà nước
Trang 5SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC TRUNG TÂM Y TẾ NẬM PỒ
BAN GIÁM ĐỐC
1 Phòng TC – HC
2 Phòng KH – NV
3 Phòng TC – KT
4 Phòng điều dưỡng
1 Đội YTDP
2 Đội CSSKSS
Các phòng
chức năng
Đội chuyên môn Bệnh viên Phòng khám ĐKKV Trạm y tế
xã
Khoa nội nhi
Khoa ngoại sản
Khoa XQ- XN
Khoa Dược
Khoa truyền nhiễm
Trang 6SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC TT CSSKSS TỈNH ĐIỆN BIÊN
II Hoạt động khám chữa bệnh tại huyện:
Năm 2015, toàn huyện đã khám bệnh cho 65.213 lượt người, điều trị nội trú cho 3.994 lượt bệnh nhân Trong đó các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp chiếm phần lớn, sau đó đến các bệnh đường tiêu hóa như dạ dày, tiêu chảy Đặt biệt đây là vùng sốt rét lưu hành, hàng năm Trung tâm Y tế đã chỉ đạo Đội y tế dự phòng tiến hành lập
và thực hiện phun tẩm hóa chất diệt muỗi cho 100% số hộ trên tất cả các xã trong địa bàn huyện, nhờ triển khai hiệu quả chương trình phòng chống sốt rét nên toàn huyện năm 2015 chí có 04 trường hợp mắc bệnh sốt rét và 0 có trường hợp nào tử vong do mắc sốt rét Cùng với chương trình phòng chống sốt rét, các chương trình y tế quốc gia đã và đang triển khai mang lại hiệu quả thiết thực như Chương trình phòng chống
BAN GIÁM ĐỐC
Phòng TC – HC
Các phòng chức năng
Các khoa chuyên môn
Khoa Sức khỏe bà mẹ và Kế hoạch hóa gia đình
Khoa Sức khỏe trẻ em và phòng, chống SDD
Khoa Sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên
Khoa Hỗ trợ sinh sản và
Nam học;
Phòng TC - KH
Trang 7HIV/AIDS, lao, phong, tâm thần, đái tháo đường , đặt biệt chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ đã đem lại nhiều chuyển biến mới, tỷ lệ phụ nữ đến cơ
sở y tế để sinh đẻ tăng lên rõ rệt Tuy nhiên tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở đây còn khá cao: tỷ lệ SDD cân nặng trẻ em dưới 5 tuổi : 26,09 % giảm 2% so với năm 2014, tỷ lệ SDD chiều trẻ em dưới 5 tuổi 38,6% Mặc dù rất cố gắng nhưng chương trình tiêm chủng mở rộng vẫn đạt kết quả khá khiêm tốn là 74.5% là do trình độ hiểu biết của người dân rất thấp, nhiều phong tục tập quán mê tín dị đoan, người dân theo đạo trái phép rất nhiều
B PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ SỐ SỨC KHỎE CỦA HUYỆN NẬM
PỒ – TỈNH ĐIỆN BIÊN NĂM 2015
I Tình hình sức khỏe của huyện Nậm Pồ
1 Cơ cấu dân số:
Dân số tại huyện Nậm Pồ tính đến ngày 31/12/2015 là: 50027 người
Biểu đồ tỷ lệ dân số theo giới tình
Nam 51.7%
Nữ 48.3%
Trang 8Biểu đồ số lượng dân số theo nhóm tuổi huyện Nậm Pồ năm 2015
2 Mô hình bệnh tật
2.1 Bệnh tật:
Biểu đồ số ca bệnh hiện mắc theo nhóm bệnh
0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000
Từ 0-9 Từ
10-19
Từ 20-29
Từ 30-39
Từ 40-49 Trên 50
13600
12200
9421
6395
4025 4386
Series1
8041
2000
1113
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000 9000
Viêm họng ,viêm Amydal
Viêm loét dạ dày,
tá tràng
Viêm phổi, viêm phế quản
Tiêu chảy do nhiễm khuẩn
Tai nạn thương tích
Trang 9- Viêm họng, viêm Amydal cấp:
3 10 - 14 tuổi 1608
- Viêm loét dạ dày tá tràng:
- Viêm phổi, viêm phế quản:
- Bệnh ỉa chảy do nhiễm khuẩn:
Trang 10- Tai nạn thương tích (không bao gổm tự tử ):
2.2 Nhận xét:
Qua biểu phân tích số liệu ta thấy:
- Bệnh viêm họng, viêm amydal có tỷ lệ hiện mắc cao ở nhóm 5 – 9 tuổi
- Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng có tỷ lệ hiện mắc cao ở nhóm 15 – 34 tuổi
- Bệnh viêm phổi, viêm phế quản có tỷ lệ hiện mắc cao ở nhóm 0 – 9 tuổi
- Bệnh ỉa chảy do nhiễm khuẩn có tỷ lệ hiện mắc cao ở nhóm tuổi( 0- 4; 5 – 9 tuổi)
- Tai nạn thương tích có tỷ lệ hiện mắc cao ở nhóm 15 – 34 tuổi
3 Phân tích đặc điểm tâm lý của các nhóm tuổi có tỷ lệ mắc cao
3.1 Nhóm tuổi có tỷ lệ hiện mắc cao ở bệnh viêm phổi và bệnh ỉa chảy do nhiễm khuẩn từ 0 – 9 tuổi do:
Trong giai đoạn này trẻ phát triển tính tự chủ và ngôn ngữ
Trẻ cảm nhận thế giới xung quanh qua sự vận động của miệng, tay, chân
Mối quan hệ xã hội chủ yếu với những người trong gia đình, đặc biệt là quan hệ gắn bó với mẹ
Thiếu sự chăm sóc của mẹ có thể dẫn đến sự sợ sệt, ám ảnh, và là nguyên nhân của những rối loạn hành vi rối nhiễu quan hệ xã hội sau này
- Ở nhóm tuổi này trẻ dễ mắc bệnh viêm phổi, tiêu chảy là do:
+ Sức đề kháng của trẻ còn yếu
+ Chế độ về dinh dưỡng, chăm sóc của người mẹ không được chu đáo
+ Điều kiện thời tiết thuận lợi: buổi sáng thì lạnh, trưa chiều thì nóng khiến cho
cơ thể trẻ chưa kịp thích nghi với môi trường xung quanh
Trang 113.2 Nhóm tuổi có tỷ lệ hiện mắc cao ở bệnh viêm họng, viêm amydal từ 5 –
9 tuổi do:
- Đặc điểm của giai đoạn này là trẻ bắt đầu phát triển nhân cách và các quá trình nhận thức
- Tìm hiểu thế giới xung quanh qua các hoạt động, vận động tay chân gắn với các thao tác cụ thể
- Ngôn ngữ phát triển phong phú hơn
- Quan hệ xã hội chủ yếu vẫn trong gia đình
- Trẻ muốn được độc lập, muốn tự mình làm mọi việc và muốn tự đáp ứng các nhu cầu cá nhân
- Trẻ bắt đầu đi học, gia nhập các mối quan hệ xã hội mới, xuất hiện dấu hiệu
tự khẳng định bản thân
- Trường học là môi trường xã hội thứ hai đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ
Ở nhóm tuổi này trẻ mắc các bệnh viêm họng, viêm amydal, là do:
+ Sức đề kháng của trẻ còn yếu trong khi đó trẻ lại có xu hướng độc lập
+ Chế độ dinh dưỡng kém, sự chăm sóc của người mẹ và gia đình giành cho trẻ trong giai đoạn này ít được chu đáo hơn
+ Điều kiện thời tiết trên địa bàn huyện thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển, đặt biệt vào mùa Thu – Đông: một ngày có thể có 4 mùa: buổi đêm và sáng sớm rất lạnh, trưa chiều thì rất nóng làm cho cơ thể trẻ chưa kịp thích nghi
3.3 Nhóm tuổi có tỷ lệ hiện mắc cao ở bệnh viêm phổi, viêm phế quản và tai nạn thưởng tích từ 15 – 34 tuổi do:
* Giai đoạn tử 15 đến 20 tuổi
- Đặc điểm của giai đoạn này là thời kỳ quá độ từ trẻ em sang giai đoạn người lớn
Thay đổi về thể chất kèm theo sự trưởng thành về tình dục
- Ở giai đoạn này bản thân rất muốn tự khẳng định mình mà không muốn phụ thuộc vào bố mẹ,gia đình Nhưng thực chất chúng chưa thực sự có khả năng tự lập, thiếu kinh nghiệm sống,chưa có việc làm rễ trở thành một trong những nguyên nhân
Trang 12- Mặc khác trình độ dân trí, văn hóa và nhận thức của một số đồng bào dân tộc
còn hạn chế, ít hiểu biết về phòng chống tai nạn thương tích
- Nguyên nhân làm gia tăng tình hình tai nạn thương tích đặt biệt là tai nạn giao
thông do địa hình nhiều đồi núi, giao thông chưa phát triển, sử dụng phương tiện giao
thông kém chất lượng, tỷ lệ người có giấy phép lái xe rất thấp
- Tình trạng sử dụng các chất kích thích đặt biệt là sử dụng ma túy trong thanh
thiếu niên vẫn còn rất cao
* Giai đoạn tuổi trưởng thành (từ 20 - 34 tuổi):
- Đây là giai đoạn mà các khía cạnh của sự phát triển đã dần dần đi vào ổn định
- Hoạt động chủ yếu nhằm phục vụ cho việc định hướng nghề nghiệp, chuẩn bị
cho cuộc sống tương lai
-Giai đoạn này được coi là thời kỳ rực rỡ nhất trong sự phát triển nhận thức,
xúc cảm, tình cảm, đạo đức xã hội và hoàn thiện nhân cách ở mỗi cá nhân
- Nguyên nhân mắc các bệnh phổi, phế quản ở giai đoạn này có thể là do môi
trường lao động nặng nhọc, độc hại, thiếu hiểu biết về bảo hộ
- Đây là lứa tuổi lao động chính trong gia đình
- Chế độ dinh dưỡng kém, sức đề kháng giảm, thời tiết khắc nghiệt, do đó các
bệnh về phế quản, phổi, đặt biệt là lao phổi vẫn còn khá phổ biến
- Đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn,trình độ dân trí thấp, còn tồn tại nhiều
các phong tục tập quán lạc hậu
3.4 Nhóm tuổi có tỷ lệ hiện mắc cao ở bệnh viêm loét dạ dày tá tràng từ 35
– 49 tuổi do:
- Đây là giai đoạn ổn định về vai trò trong nghề nghiệp và xã hội Các quan hệ
xã hội, đặc biệt là quan hệ nghề nghiệp trở nên rộng nhất Ổn định về hiệu suất lao
động, nghề nghiệp
- Tuy nhiên có một số biến đổi: cơ thể không còn được cân đối, vấn đề về tâm
lý có thể gặp: rắc rối trong hôn nhân (ly hôn ); yếu tố sức khỏe bệnh tật ; những ảnh
hưởng xấu: nghiện ngập, rượu chè
- Chế độ ăn của đồng bào dân tộc thường dụng nhiều gia vị kích thích, kèm
theo đó là uống rượu nhiều
4 Các hoạt động dự phòng đang áp dụng tại huyện Nậm Pồ đối với bệnh
tật có tỷ lệ hiện mắc cao nhất:
Huyện Nậm Pồ là một huyện nghèo thuộc vùng sâu, vùng xa, còn gặp nhiều
khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội Nhưng được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước
của HĐND, UBND huyện, đặc biệt là sự quan tâm của Sở Y tế tỉnh Điện Biên Trung
Trang 13tâm y tế đã triển khai các hoạt động về chăm sóc sức khỏe ban đầu đến tận các điểm bản xa nhất của huyện Đặc biệt là Đội Y tế dự phòng và Đội chăm sóc sức khỏe sinh sản dưới sự chỉ đạo của Ban Giám đốc Trung tâm Y tế hai đội đã thực hiện rất tốt công tác phòng chống dịch bệnh trên địa bàn huyện Hàng năm đã lập kế hoạch ngay
từ đầu năm, chỉ đạo các bộ phận chuyên môn, Phòng khám đa khoa khu vực, các Trạm y tế xã thực hiện công tác giám sát, phòng chống dịch Duy trì và củng cố hoạt động của đội cơ động phòng chống dịch từ huyện đến xã, phát huy vai trò phát hiện dịch của y tế bản Tăng cường giám sát chặt chẽ, khoanh vùng dịch và phát hiện sớm các ca bệnh
- Dự phòng căn nguyên, dự phòng cấp 1: tuyên truyền các biện pháp tăng cường sức khỏe như tập thể dục, tiêm chủng để phòng bệnh, không hút thuốc lá chính
là loại bỏ các yếu tố của ung thư phổi, của bệnh về tim mạch; Dự phòng cấp 2: phát hiện bệnh sớm để làm giảm tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ tử vong; Dự phòng cấp 3: điều trị bệnh kịp thời, loại bỏ bệnh truyền nhiễm, bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng
- Khám phát hiện chẩn đoán và điều trị, kịp thời, chuyển tuyến khi tình trạng bệnh vượt quá khả năng điều trị
- Tăng cường công tác truyên truyền về giáo dục sức khỏe dưới nhiều hình thức: truyền hình, báo chí, băng rôn, thông báo trên loa đài… giúp người dân hiểu và phòng chống dịch bệnh
II Tình hình tử vong: (phân theo tuổi và giới)
Tổng số tử vong của toàn huyện trong năm 2015 là 274 ca
Trong đó : Nam: 164
Nữ: 110
110
nam
nữ