1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân

140 304 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng xã hội học tập .... Trung tâm học tập cộng đồng TTHTCĐ - một trong những cơ s

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -

LÊ THỊ DUNG

PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG HUYỆN YÊN PHONG - BẮC NINH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỌC TẬP SUỐT ĐỜI CỦA NGƯỜI DÂN

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phan Văn Kha

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Ninh, Phòng Giáo dục huyện Yên Phong đã cung cấp tư liệu cũng như tư vấn khoa học cho luận án Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo cấp ủy, chính quyền các cấp trong huyện Yên Phong; các đồng chí trong Ban giám đốc, giáo viên/ báo cáo viên/ cộng tác viên/ hướng dẫn viên các Trung tâm học tập cộng đồng và đại diện các đồng chí ở các ban ngành, đoàn thể liên quan cũng như người dân ở các xã trên địa bàn huyện Yên Phong đã tạo điều kiện để tôi thực hiện được cuộc khảo sát thực trạng cho luận văn

Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực, cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự góp ý của các Thầy/ Cô giáo, các chuyên gia giáo dục và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2017

Tác giả

Lê Thị Dung

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của đề tài 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TTHTCĐ 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Các nghiên cứu về học tập suốt đời, xã hội học tập 6

1.1.2 Các nghiên cứu về Trung tâm học tập cộng đồng với việc xây dựng xã hội học tập 10

1.2 Một số khái niệm 14

1.2.1 Học tập suốt đời, Xã hội học tập 14

1.2.2 Giáo dục thường xuyên 18

1.2.3 Trung tâm học tập cộng đồng, Phát triển trung tâm học tập cộng đồng 20

1.3 Trung tâm học tập cộng đồng với việc đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng xã hội học tập 23

1.3.1 Vai trò của Trung tâm học tập cộng đồng 23

1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm học tập cộng đồng 25

1.3.3 Chương trình, nội dung và các loại hình hoạt động ở Trung tâm học tập cộng đồng 27 1.3.4 Các đối tượng người học ở các Trung tâm học tập cộng đồng 29

1.3.5 Đội ngũ cán bộ quản lý trong các Trung tâm học tập cộng đồng 30

1.3.6 Giáo viên/ hướng dẫn viên trong các Trung tâm học tập cộng đồng 31

1.3.7 Nguồn lực của Trung tâm học tập cộng đồng 32

Trang 4

1.4 Phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời

của người dân, góp phần xây dựng xã hội học tập 33

1.4.1 Điều kiện và các bước thành lập Trung tâm học tập cộng đồng 33

1.4.2 Mô hình tổ chức của các Trung tâm học tập cộng đồng 34

1.4.3 Xác định nhu cầu và tổ chức các hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng 35

1.4.4 Huy động các loại nguồn lực và xây dựng cơ chế phối hợp trong các hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng 36

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển Trung tâm học tập cộng đồng 38

1.5.1 Các yếu tố chủ quan 38

1.5.2 Các yếu tố khách quan 39

Tiểu kết Chương 1 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TTHTCĐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH 41

2.1 Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội, giáo dục huyện Yên Phong 41

2.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Yên Phong 41

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội năm 2015 và phương hướng phát triển năm 2020 của huyện Yên Phong 42

2.1.3 Tình hình giáo dục huyện Yên Phong năm học 2015 - 2016 43

2.2 Khái quát về các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong năm học 2015 - 2016 45

2.2.1 Về mạng lưới các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 45

2.2.2 Các loại hình và nội dung hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 45

2.2.3 Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất của các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 47

2.2.4 Quản lý các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 49

2.2.5 Kết quả tổ chức các hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng 52

Trang 5

2.2.6 Khái quát một số ưu điểm, hạn chế và xếp loại các Trung tâm học tập cộng

đồng huyện Yên Phong 53

2.3 Thực trạng phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 54

2.3.1 Một số thông tin chung về khảo sát thực trạng phát triển của các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 54

2.3.2 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 56

Tiểu kết Chương 2 79

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TTHTCĐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH ĐÁP ỨNG NHU CẦU HỌC TẬP SUỐT ĐỜI CỦA NGƯỜI DÂN, GÓP PHẦN XÂY DỰNG XHHT TỪ CƠ SỞ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN 82

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 82

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính lịch sử và kế thừa 82

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi 82

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính phối hợp, liên kết và đồng bộ 82

3.1.4 Nguyên tắc đáp ứng nhu cầu học tập ngay tại địa phương 83

3.1.5 Nguyên tắc bảo đảm tính bền vững 83

3.2 Các biện pháp phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn huyện Yên Phong 83

3.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân và các ban, ngành, đoàn thể của địa phương về lợi ích của việc tham gia các hoạt động học tập, sinh hoạt tại TTHTCĐ 84

3.2.2 Biện pháp 2: Xác định nhu cầu học tập của người dân tại cộng đồng 86

3.2.3 Biện pháp 3: Xây dựng kế hoạch hoạt động cho TTHTCĐ đáp ứng nhu cầu học tập của người dân tại cộng đồng 90

3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức linh hoạt các chương trình và hoạt động của TTHTCĐ phù hợp với nhu cầu của người học 92

Trang 6

3.2.5 Biện pháp 5: Phát triển mạng lưới liên kết với tất cả các ban, ngành, đoàn thể, chương trình, dự án trong và ngoài cộng đồng để huy động và sử dụng nguồn

lực một cách hiệu quả cho các hoạt động của TTHTCĐ 95

3.2.6 Biện pháp 6: Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động tại TTHTCĐ 98

3.2.7 Biện pháp 7: Bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên/ hướng dẫn viên của TTHTCĐ 101

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 102

3.4 Khảo nghiệm về sự cần thiết của các biện pháp đã đề xuất 103

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 103

3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 103

3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 103

3.4.4 Đối tượng khảo nghiệm 104

3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 104

Tiểu kết Chương 3 107

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 118

Trang 7

DANH MỤC BANG

Bảng 1: Kết quả tổ chức các lớp chuyên đề và số người tham gia học tập tại

TTHTCĐ (năm học 2015 – 2016) 46 Bảng 2: Cơ sở vật chất của các TTHTCĐ huyện Yên Phong (2015 – 2016) 47 Bảng 4: Kinh phí quyết toán hoạt động của TTHTCĐ huyện Yên Phong 48 Bảng 3: Kiện toàn bộ máy ban giám đốc TTHTCĐ (2015 – 2016) 51 Bảng 5: Một số thông tin về đối tượng điều tra được khảo sát 56 Bảng 6: Kết quả đạt được của người dân khi tham gia các hoạt động học tập,

sinh hoạt tại TTHTCĐ (N = 85) 57 Bảng 7: Lí do của người dân muốn tham gia các hoạt động, chuyên đề, lớp

học tại TTHTCĐ (N=85) 61 Bảng 8: Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về kết quả thực hiện công tác lập

kế hoạch tại TTHTCĐ (N = 171) 64 Bảng 9: Đánh giá của Giám đốc TTHTCĐ về mức độ thường xuyên tổ chức

các hoạt động/ chuyên đề/ lớp học tại trung tâm (N = 14) 67 Bảng 10: Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý về kết quả đạt được khi tổ chức

các hoạt động/ chuyên đề/ lớp học tại TTHTCĐ (N = 171) 68

Bảng 12: Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng kiểm tra, giám sát

và đánh giá các hoạt động tại TTHTCĐ (N = 171) 73 Bảng 13: Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý về thực trạng các điều kiện

đảm bảo cho các hoạt động/ lớp học tại TTHTCĐ (N = 171) 76 Bảng 14: Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về các yếu tố ảnh hưởng đến sự

phát triển của các TTHTCĐ (N = 171) 78 Bảng 15: Đánh giá sự cần thiết của các biện pháp được đề xuất (N = 171) 104 Bảng 16: Đánh giá tính khả thi của các biện pháp được đề xuất (N = 171) 106

Trang 8

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

TTHTCĐ trong thời gian tới (N=85) 60 Biểu đồ 3: Kế hoạch năm được cụ thể hóa cho từng quý, tháng trong năm 63

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

ĐƯYCNH Đáp ứng yêu cầu người học

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Bước vào thiên niên kỷ thứ hai của thế kỉ XXI, có thể thấy rằng, một trong những nhân tố quyết định, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế là chất lượng nguồn nhân lực của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, trong hoạch định chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội, Đảng và Nhà nước đã rất chú trọng đến nhân tố con người, coi sự phát triển con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực chính của phát triển xã hội Giáo dục

và đào tạo được xem là cơ sở để phát huy nguồn lực con người Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và phát triển xã hội học tập (XHHT) - là nơi mọi người dân đều được trang bị kiến thức, kĩ năng và tay nghề cao; được học tập thường xuyên, liên tục và suốt đời Hệ thống giáo dục thường xuyên ở Việt Nam đã trở thành công cụ để mở rộng tạo cơ hội học tập cho mọi người và xây dựng XHHT Mục tiêu

cụ thể trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám ban chấp hành trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (Ban hành kèm theo Nghị quyết số

44/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ) đã nhấn mạnh “Đối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xóa mù chữ bền vững”

Việt Nam đã hoàn thành đề án xây dựng XHHT giai đoạn 2005 - 2010 và hiện nay đang thực hiện đề án xây dựng XHHT giai đoạn 2012 - 2020 Thông qua công tác xây dựng xã hội học tập từ cơ sở (xã, phường, thị trấn) cho thấy nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời đã trở thành điều kiện thiết yếu đối với nhiều người dân Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) - một trong những cơ sở của hệ thống giáo dục thường xuyên đã được Luật hóa để xây dựng XHHT từ cơ sở, chính là nơi tạo cơ hội học tập thường xuyên, liên tục, học tập suốt đời cho mọi đối

Trang 11

tượng trong xã hội và nó đã được đánh giá là mô hình giáo dục có hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển cộng đồng một cách bền vững Điều này được thể hiện rõ trong nhiệm vụ và giải pháp của đề án xây

dựng XHHT giai đoạn 2012 - 2020 “Củng cố, phát triển bền vững các TTHTCĐ; tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng; mở rộng địa bàn hoạt động đến các thôn, bản, cụm dân cư; đa dạng hóa nội dung giáo dục; phấn đấu tăng số lượng TTHTCĐ hoạt động có hiệu quả; phát triển mô hình TTHTCĐ kết hợp với trung tâm văn hóa thể thao xã hoạt động

có hiệu quả.”

Theo thống kê của Vụ Giáo dục thường xuyên - Bộ Giáo dục và đào tạo, trong những năm gần đây, TTHTCĐ đã được thành lập ở hầu hết các xã, phường, thị trấn trên mọi miền tổ quốc Năm học 1998 - 1999, cả nước chỉ có 10 TTHTCĐ, nhưng đến năm học 2014 - 2015 đã có khoảng 10.998 TTHTCĐ được thành lập và đi vào hoạt động Điều này cho thấy việc phát triển các TTHTCĐ là cần thiết và đã trở thành xu thế phát triển tất yếu của xã hội Qua thực tế hoạt động trong những năm qua, TTHTCĐ là công cụ quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người Chính vì vậy, trong quá trình nước ta đang xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập, việc đổi mới tổ chức hoạt động của TTHTCĐ là rất cần thiết để tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân Bên cạnh những kết quả đã đạt được, TTHTCĐ bước đầu cũng đã bộc lộ một số yếu kém và hạn chế nhất định Một số TTHTCĐ còn hoạt động chưa hiệu quả; nội dung và hình thức hoạt động còn sơ sài;

cơ sở vật chất nghèo nàn; kinh phí duy trì cho các hoạt động thường xuyên còn hạn hẹp; cơ chế vận hành còn nhiều lúng túng; năng lực điều hành của ban giám đốc TTHTCĐ còn nhiều bất cập Còn nhiều trung tâm hoạt động chỉ mang tính hình thức, không có nội dung hoạt động, không thu hút được người dân đến tham gia.Từ những tồn tại trên đây, việc tìm ra biện pháp để phát triển hoạt động TTHTCĐ một cách hiệu quả đang là một đòi hỏi cấp bách cần giải quyết để đáp ứng nhu cầu học

Trang 12

tập suốt đời của người dân tại cộng đồng, tiến tới xây dựng thành công XHHT từ cơ

sở, góp phần phát triển cộng đồng bền vững

Huyện Yên Phong là một huyện nằm ở phía tây bắc của tỉnh Bắc Ninh (tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và nằm trên vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và là một trong những tỉnh đã có nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội) Trong những năm qua, các TTHTCĐ huyện Yên Phong nói riêng cũng như của cả tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều đóng góp đáng kể vào thành tích chung của giáo dục tỉnh, song cũng còn hạn chế đó là việc tổ chức các hoạt động của TTHTCĐ chưa mang lại hiệu quả cao về quản lý cũng như chất lượng hoạt động Thực tế cho thấy những nơi nào TTHTCĐ hoạt động hiệu quả thì nơi đó đã dần khẳng định được vị trí của trung tâm trong việc tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân và ngược lại Với các lý do

kể trên, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong - Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng phát triển của TTHTCĐ huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất được giải pháp phát triển TTHTCĐ trên địa bàn huyện Yên Phong, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng XHHT từ cơ sở (xã, phường, thị trấn)

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Tổ chức và hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Yên Phong

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Phát triển các TTHTCĐ huyện Yên Phong

4 Giả thuyết khoa học

TTHTCĐ trên địa bàn huyện Yên Phong đã được thành lập bước đầu hoạt động có hiệu quả, tuy nhiên trong quá trình tổ chức thực hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế Nếu các giải pháp phát triển các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Yên Phong được đề xuất trên cơ sở tiếp cận hệ thống và tiếp cận nhu cầu phát triển cộng đồng thì các hoạt động của TTHTCĐ sẽ được cải thiện, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng XHHT từ cơ sở xã, phường, thị trấn

Trang 13

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển TTHTCĐ

5.2 Đánh giá thực trạng phát triển của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh trong việc tạo cơ hội học tập cho người dân ở cộng đồng

5.3 Đề xuất các giải pháp phát triển TTHTCĐ trên địa bàn huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng XHHT từ cơ sở xã, phường, thị trấn

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

- Trong khuôn khổ là một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ nghiên cứu thực trạng

và các giải pháp phát triển TTHTCĐ đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng XHHT từ cơ sở xã, phường, thị trấn của huyện Yên Phong

- tỉnh Bắc Ninh

- Các giải pháp đề xuất dành cho các chủ thể quản lý là giám đốc TTHTCĐ

7 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

- Tiếp cận nhu cầu phát triển cộng đồng:

TTHTCĐ là một cơ sở học tập giúp người dân được học tập thường xuyên, liên tục, suốt cuộc đời ở cấp cơ sở xã, phường, thị trấn TTHTCĐ được xây dựng và phát triển là của dân, do dân và vì dân Xây dựng hệ thống giải pháp phát triển TTHTCĐ đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân sẽ giúp cộng đồng phát triển bền vững

- Tiếp cận thực tiễn hoạt động của TTHTCĐ:

Cách tiếp cận này xem xét tình hình thực tiễn về việc phát triển TTHTCĐ của cả nước nói chung và đặc thù phát triển TTHTCĐ của huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh nói riêng

Trang 14

- Tiếp cận đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam:

Phát triển TTHTCĐ phải đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục thường xuyên nói chung, góp phần đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam

7.2 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu khoa học để tổng quan cơ sở lý luận của đề tài;

- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Hồi cứu, phân tích, tổng hợp tư liệu, các báo

cáo tổng kết, báo cáo đánh giá thực tiễn các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài

- Phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học: bằng bảng hỏi để thu thập các

thông tin cần thiết liên quan đến đề tài

- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về tính khoa học của bộ

công cụ khảo sát và tính khả thi của các biện pháp

- Phương pháp xử lý thông tin, số liệu: Xử lý và phân tích các dữ liệu, thông

tin thu được qua điều tra khảo sát

8 Cấu trúc của đề tài

Chương 3 Giải pháp phát triển TTHTCĐ trên địa bàn huyện Yên Phong - tỉnh Bắc

Ninh đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng XHHT từ

cơ sở xã, phường, thị trấn

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TTHTCĐ

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỌC TẬP SUỐT ĐỜI CỦA NGƯỜI DÂN

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu về học tập suốt đời, xã hội học tập

1.1.1.1 Các nghiên cứu về học tập suốt đời, xã hội học tập ở nước ngoài

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khái niệm XHHT đã được các nhà khoa học thế giới bàn đến Năm 1972, khái niệm XHHT được gắn với khái niệm HTSĐ (lifelong learning) Khái niệm này lần đầu tiên xuất hiện trong bản báo cáo

“Learning to be” trình UNESCO của “Hội đồng Quốc tế về phát triển giáo dục” do ông Edgar Faure, nguyên Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ giáo dục Pháp làm Chủ tịch Nội dung bản báo cáo đã mở ra diễn đàn toàn cầu đầu thế kỷ XXI về phát triển giáo dục Trong đó, các học giả tập trung vào việc làm rõ nội hàm của hai khái niệm trên và bắt đầu đi tìm kiếm mô hình HTSĐ và XHHT Dưới sự chỉ đạo của ông Edgar Faure, Ủy ban Quốc tế về phát triển giáo dục thế kỷ XXI đã đề xuất những vấn đề cơ bản đối với HTSĐ trên quan điểm: trong điều kiện khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, không ai có thể coi kiến thức của giáo dục ban đầu là

đủ cho đến hết đời nên phải học tập không ngừng [7] Từ đó, khái niệm HTSĐ luôn được gắn với khái niệm XHHT

Tiếp theo, học giả Jacques Delors đã nêu lên 4 trụ cột giáo dục là: học để biết (learning to know), học để làm (learning to do), học để chung sống (learning to live together) và học để khẳng định mình (learning to be) - Người ta học qua bốn nhu cầu này trong suốt cuộc đời của họ [41]

Năm 1996 là năm đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử quá trình thúc đẩy nghiên cứu mô hình HTSĐ của cộng đồng quốc tế Trong năm này, hàng loạt các công trình nghiên cứu về HTSĐ được công bố, như: UNESCO xuất bản tác phẩm “Kho báu tiềm ẩn” (Delors và cộng sự, 1996); OECD xuất bản báo cáo HTSĐ cho mọi người; Liên minh Châu Âu tuyên bố lấy năm này làm “Năm châu Âu về học tập suốt đời” Nhờ những nỗ lực này, thành phố học tập

đã được định nghĩa: Một cộng đồng học tập là một thành phố, thị xã hoặc vùng mà

Trang 16

ở đó huy động được mọi nguồn lực nhằm phát triển, làm giàu thêm tiềm năng con người để nuôi dưỡng sự phát triển cá nhân, duy trì sự gắn kết xã hội và tạo ra

sự thịnh vượng Liên minh châu Âu đã đưa ra 8 năng lực cốt lõi của một công dân học tập suốt đời: (1) Giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ; (2) Giao tiếp bằng ngoại ngữ ; (3) Năng lực tính toán và những năng lực cốt lõi về khoa học và công nghệ; (4) Năng lực trong môi trường số (digital competence); (5) Năng lực học và tự học (learning

to learn); (6) Năng lực xã hội và năng lực công dân; (7) Ý thức về các sáng kiến và nghệ thuật kinh doanh là khả năng chuyển biến các ý tưởng thành hành động; (8) Nhận thức và biểu đạt văn hóa Đây là cơ sở để ngày nay, cộng đồng quốc tế bắt tay xây dựng các thành phố học tập (learning city), mô hình công dân học tập để tiến tới xây dựng quốc gia học tập [40] Để xây dựng XHHT, nhiều quốc gia đã chủ trương xây dựng các thành phố học tập (learning city) Vương quốc Anh là một quốc gia đóng vai trò quan trọng trong Liên minh châu Âu đã thể hiện các nỗ lực của tổ chức này về xây dựng thành phố học tập Bộ Giáo dục và Lao động Anh đã

đề ra mục tiêu làm cho mọi người có những cơ hội tốt nhất để được giáo dục, đào tạo và lao động, có vị trí trong xã hội và có quyền đóng góp vào sự cạnh tranh của Anh quốc trong thế kỷ XXI Từ năm 1996, thành phố Liverpool đã tự xác nhận mình là một “thành phố học tập” Đến nay, ở Anh có 80 thành phố và vùng xây dựng thành phố học tập Hội nghị châu Âu về thành phố học tập đã được tổ chức đúng dịp nước Anh giữ nhiệm kỳ Chủ tịch EU năm 1998 [40]

Tại Canada, từ năm 2003, thành phố Victoria đặt mục tiêu trở thành một

“cộng đồng học tập dẫn đầu” vào năm 2020 Sáng kiến này có phạm vi trải dài từ học tập ở bậc học mầm non cho đến việc khuyến khích những người cao tuổi tham gia các khóa học cao đẳng, đại học Thành phố Vancouver cũng hướng tới việc trở thành một “thành phố học tập” với mục tiêu đặt ra là: đạt tỷ lệ học sinh nhập học

và hoàn thành bậc học cao hơn, tỷ lệ biết đọc viết và tính toán cao hơn, có sự cộng tác hiệu quả hơn giữa các nhà giáo dục và đào tạo Chiến lược của Vancouver đặc biệt chú trọng tới các cơ hội học tập cho những người và nhóm dân cư thiệt thòi,

Trang 17

dễ gặp rủi ro và bị tách biệt về xã hội Các thành phố St John‟s và Emonton cũng

nỗ lực để trở thành những cộng đồng học tập [9]

Tại Nhật Bản, để xây dựng XHHT, Chính phủ đã lập ra “Uỷ ban Quốc gia

về giáo dục suốt đời” Theo luật định, Nhật Bản có hai hệ giáo dục: giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội Giáo dục nhà trường là hệ giáo dục ban đầu, gồm trường mẫu giáo, trường phổ thông (là loại trường phổ cập giáo dục) và các loại hình trường đào tạo nghề từ trung cấp đến đại học Chính sách giáo dục xã hội Nhật Bản bao gồm ba trụ cột chính: “Mở rộng mạng lưới cơ sở học tập để làm nền tảng học tập cho cộng đồng”, “hỗ trợ hoạt động trao đổi học tập trong cộng đồng” và “tổ chức các khóa học dựa trên nhu cầu của người dân” Bên cạnh các cơ sở học tập, như: TTHTCĐ (kominkan), thư viện, bảo tàng, thì các cơ sở học tập dành cho phụ

nữ và thanh thiếu niên cũng trở thành các cơ sở giáo dục, làm nền tảng cho việc học tập Ngay từ năm 1979, thành phố Kakegawa - một trong bảy thành phố tham gia

“các thành phố giáo dục” được công nhận là thành phố HTSĐ đầu tiên của Nhật Bản Từ đó, dự án thành phố HTSĐ của Nhật Bản đã được thực hiện như một phần trong chính sách thúc đẩy HTSĐ của các thành phố/thị xã/cộng đồng Thành phố HTSĐ có tác động rất tích cực đối với giáo dục địa phương, năng suất lao động, sự đổi mới và nền kinh tế trong bối cảnh kinh tế tri thức [10] Năm 1990, đạo luật về xây dựng các cơ chế và biện pháp thúc đẩy HTSĐ được ban hành Năm 2010, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành “Chiến lược mới để tăng trưởng - lộ trình hồi sinh Nhật Bản” nhằm định hướng chính sách và các chỉ tiêu cụ thể cần đạt được đến năm 2020 về tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực ở Nhật Bản

Tại Hàn Quốc, từ năm 1980, trong Hiến pháp sửa đổi đã quy định: “Nhà nước chịu trách nhiệm thúc đẩy giáo dục suốt đời” Hệ thống giáo dục Hàn Quốc hướng đến xây dựng một xã hội HTSĐ ở thế kỷ XXI Do đó, họ đã tiến hành cải cách giáo dục mạnh mẽ và toàn diện để phù hợp với kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa Năm 1999, thực thi Hiến pháp, Luật giáo dục suốt đời của Hàn Quốc được ban hành Theo đó, phải thúc đẩy giáo dục không chính quy nhằm thực hiện hai mục đích chính: liên kết GD với xã hội và biến xã hội thành nơi học tập, đồng

Trang 18

thời tăng cường sự trợ giúp của các tổ chức giáo dục liên quan đến giáo dục suốt đời Luật GD suốt đời (1999) còn chỉ rõ: “Chính phủ có thể chỉ định và hỗ trợ một số đô thị, quận, hạt để trở thành những thành phố học tập” Năm 2001, 3 thành phố đầu tiên của Hàn Quốc đã được công nhận “thành phố học tập” Đến năm 2008, đã có 76 đơn vị hành chính được công nhận là “thành phố học tập” Các nhà quản lý đã nhận thức “thành phố học tập” không chỉ đơn thuần cung cấp các cơ hội giáo dục, học tập mà còn làm cho thành phố đó trở nên thông minh hơn, cởi mở hơn Để xây dựng các thành phố học tập cần có những công dân học tập Họ xây dựng những phẩm chất, phát triển những năng lực công

dân phải có để hội nhập và cạnh tranh trong thế giới hiện đại [40]

1.1.1.2 Những nghiên cứu về học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về XHHT được theo tiếp cận theo các hướng sau:

Hướng thứ nhất, các học giả, các nhà nghiên cứu đi từ vấn đề kinh tế tri thức, từ đó đề xuất đổi mới nền giáo dục Trong đó, nội dung cốt lõi là nghiên cứu XHHT Đó là các tác giả: Vũ Đình Cự, Chu Hảo, Trần Đình Thiên, Nguyễn Viết Sự, Phạm Tất Dong,…

Hướng thứ hai, các học giả, các nhà nghiên cứu tiếp cận từ vấn đề nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế từ đó đề xuất xây dựng XHHT Đó là các tác giả: Nguyễn Minh Đường, Hoàng Tụy, Vũ Ngọc Hải, Thái Thị Xuân Đào, Hoàng Minh Luật, Tô Bá Trượng …

Về định hướng xây dựng XHHT Việt Nam giai đoạn 2011-2020, trong báo cáo

“Thực trạng và tầm nhìn 2020 về học tập suốt đời - xây dựng xã hội học tập tại

Việt Nam”, tác giả Nguyễn Vinh Hiển đã khẳng định: “Việt Nam tiếp tục xây dựng XHHT giai đoạn 2011- 2020 với những tiêu chí cơ bản sau đây: đảm bảo mọi điều kiện cần thiết nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học tập suốt đời góp phần nâng cao dân trí và năng lực công dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình và xã hội Trong đó, học tập suốt đời được coi vừa

Trang 19

là mục tiêu, vừa là giải pháp để xây dựng xã hội học tập và quan niệm về học trong xã hội học tập được mở rộng và tiếp cận sâu với “năm trụ cột” của học tập: “học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để cùng chung sống và học để quan tâm đến hành tinh”

Dưới ánh sáng Nghị quyết 29-NQ/TW của Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam, tác giả Phạm Tất Dong khẳng định: Vấn đề

cơ bản, then chốt nhất trong toàn bộ công việc xây dựng XHHT là xác lập được mục tiêu đào tạo của sự nghiệp giáo dục người lớn, đề xuất đưọc mô hình nhân cách của “công dân học tập” tại cộng đồng dân cư và “lao động tri thức” (knowledde worker) trong các cơ quan doanh nghiệp, cơ sở sản xuất Xây dựng XHHT thực chất là tiến hành một cuộc cách mạng giáo dục [12]

Tóm lại, các nghiên cứu về XHHT, HTSĐ đã được nhiều học giả trong nước và nước ngoài đề cập đến, ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, với nhiều cách tiếp cận khác nhau Từ khái niệm, định nghĩa, các học giả, các nhà nghiên cứu đã đề xuất ý tưởng xây dựng các cộng đồng học tập, thành phố học tập và giáo dục suốt đời cho người lớn Tuy nhiên, để sống với thế giới hiện đại và theo kịp các nước phát triển, các quốc gia phải tự xây dựng cho mình một kho tàng tri thức đồ sộ và phong phú, phải có được nguồn nhân lực chất lượng cao, có đủ năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, có đội ngũ “lao động tri thức” thích ứng cao với thế giới công nghệ hiện đại Trong XHHT, mỗi con người phải được đào tạo liên tục, HTSĐ Do đó, hệ thống giáo dục không chỉ bó hẹp trong các loại hình trường mà còn phải mở rộng các hình thức học ngoài nhà trường Đó là hệ thống giáo dục linh hoạt, tạo ra sự đa dạng các ngành học, các hình thức học, các kênh liên thông giữa các loại hình giáo dục khác nhau

1.1.2 Các nghiên cứu về Trung tâm học tập cộng đồng với việc xây dựng xã hội học tập

Việc thực hiện HTSĐ và xây dựng XHHT phải được gắn kết chặt chẽ với các phương thức giáo dục mở: Giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy, giáo dục phi chính quy hay giáo dục ban đầu và giáo dục tiếp tục hay là giáo dục thường xuyên với đặc trưng là giáo dục cộng đồng và được thực hiện bởi TTHTCĐ

Trang 20

1.1.2.1 Các nghiên cứu về Trung tâm học tập cộng đồng với việc xây dựng xã hội học tập ở nước ngoài

UNESCO xem mô hình TTHTCĐ là một công cụ, một cơ chế có hiệu quả nhất trong việc thực hiện giáo dục cho mọi người và mọi người cho giáo dục TTHTCĐ nổi lên như là mô hình lý tưởng để thực thi HTSĐ và tạo lập một XHHT Victor Odoner, nguyên Tổng giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, E.I Rous Emma (2007) đã đề cập đến việc quản lý phát triển mô hình TTHTCĐ như là một phần của giải pháp giáo dục thích hợp cho mọi người và để xây dựng một XHHT [1] Như vậy, phát triển TTHTCĐ là con đường tất yếu để thực hiện mục tiêu HTSĐ và xây dựng XHHT ở bất kỳ một quốc gia nào

Có thể nói, Nhật Bản là nước đi đầu trong nghiên cứu và triển khai phát triển

mô hình TTHTCĐ trên thế giới Ra đời từ thế kỷ XVII, từ phong trào xóa mù chữ cho người dân, các địa phương đã tự tổ chức hình thành các cơ sở xóa mù chữ với tên gọi là Têrakôya Đến sau đại chiến thế giới lần thứ hai, Bộ Giáo dục Nhật Bản hình thành mô hình giáo dục xã hội mới, gọi là Kôminkan Quản lý phát triển các Kôminkan không những do nhu cầu của cộng đồng mà còn được người dân tham gia tích cực Bên cạnh sự quản lý chỉ đạo của Nhà nước về Kôminkan còn có các

phong trào của quần chúng với khẩu hiệu: Phát triển Kôminkan trước hết để xây dựng làng xã Chính nhờ những chủ trương đó mà Kôminkan phát triển không

ngừng: năm 1947 mới chỉ có 3.537 trung tâm, đến năm 2002 là 17.947 và hiện nay trên khắp nước Nhật đã có 18.000 Kôminkan hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước trung ương và địa phương, 76.883 Kôminkan do người dân quản lý Kôminkan đã phủ khắp 90% làng xã/thị trấn trên toàn quốc và trở thành nền móng vững chắc trong việc xây dựng cộng đồng học tập tiến tới xây dựng XHHT Điều đáng chú ý là việc quản lý phát triển các Kôminkan của Nhật Bản có quy mô thôn (làng), gắn liền với đời sống của cộng đồng dân cư thôn/làng

Tại Thái Lan, năm 1977 Chính phủ Thái Lan đã triển khai Đề án giáo dục không chính quy, trong đó đề cập ngay đến việc quản lý phát triển nhanh các TTHTCĐ Đến năm 2006, Thái Lan đã phát triển được 7000 TTHTCĐ cấp xã Các

Trang 21

trung tâm này chịu sự quản lý của dân làng Trong các trung tâm có thư viện, phòng đọc sách báo, phòng hội họp, sinh hoạt câu lạc bộ, xem ti vi hoặc các sinh hoạt cộng đồng khác và TTHTCĐ chính là cơ sở giáo dục không chính quy cấp xã đặt nền móng cho việc xây dựng xã hội học tập ở những cấp hành chính cao hơn

Tại Ấn Độ, Chính phủ đã xác định muốn đẩy nhanh chiến lược xóa mù chữ, trước hết phải xây dựng được các cơ sở hạ tầng của giáo dục người lớn Năm 1988, Chính phủ đã ra quyết định thành lập hàng loạt các TTHTCĐ trong cả nước Những trung tâm này chủ yếu do cộng đồng tự cam kết thành lập và quản lý, là nơi chính thức tổ chức các hoạt động xóa mù chữ và giáo dục cộng đồng Từ công tác xóa mù chữ, người dân khi đến TTHTCĐ không những được biết đọc, biết viết mà còn được học các chương trình theo nhu cầu, sở thích cá nhân, được đáp ứng mọi nguyện vọng học tập Từ đó, công tác xây dựng XHHT dần được hình thành và trở thành xu thế phát triển không chỉ tại Ấn Độ mà nhiều nước Châu Á khoác

Tóm lại, tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà việc phát triển các TTHTCĐ có khác nhau, nhưng đều chung một mục đích là làm sao có được những cơ sở giáo dục của cộng đồng để cho mọi người dân được học tập và HTSĐ, góp phần xây dựng XHHT Một số nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách của một số quốc gia như Myanmar, Thái Lan, Ấn độ, Banglades, Nhật Bản, Trung Quốc… đã nghiên cứu về phát triển các TTHTCĐ với phương thức quản lý

thích hợp nhất đối với quốc gia của mình Các nghiên cứu đã chỉ ra Phương thức quản lý phát triển các TTHTCĐ là sự tổng hợp 2 hình thức quản lý: Quản lý công

và tự quản Phương thức quản lý phát triển TTHTCĐ của Myanmar và Ấn Độ là quản lý công; của Thái Lan là Cộng đồng quản lý (tự quản lý); của Banglades và Trung Quốc là Quản lý dựa vào cộng đồng Riêng tại Nhật Bản tồn tại song song hai phương thức quản lý TTHTCĐ là Quản lý dựa vào cộng đồng và Cộng đồng tự quản lý [31] Các phương thức quản lý này đã góp phần tích cực vào việc phát triển

các TTHTCĐ bền vững để xây dựng XHHT từ cấp cơ sở

Trang 22

1.1.2.2 Các nghiên cứu về Trung tâm học tập cộng đồng với việc xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu phát triển TTHTCĐ đã được triển khai từ rất sớm Năm 1995-1996, được sự hỗ trợ của UNESCO Băng Cốc, Trung tâm nghiên cứu xóa mù chữ và giáo dục thường xuyên đã tổ chức thử nghiệm 4 TTHTCĐ tại Cao Sơn (Hòa Bình), Pú Nhung (Lai Châu), Việt Thuận (Thái Bình) và An Lập (Bắc Giang) Cũng trong thời gian này, Trung tâm nghiên cứu xóa mù chữ và giáo dục thường xuyên đã tổ chức nghiên cứu đề tài cấp bộ: “Xây dựng mô hình thí điểm trung tâm học tập cộng đồng cấp xã ở nông thôn Bắc Bộ” [14] Đây chính là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho việc phát triển các TTHTCĐ ở Việt Nam Sau đó, Bộ Giáo dục

và Đào tạo đã cho phép triển khai đến các tỉnh và thành phố: Hà Nội, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Tiền Giang, Long An Những năm tiếp theo, được sự phối hợp của Hội Khuyến học Việt Nam, mô hình phát triển các TTHTCĐ đã phát triển mạnh mẽ trong toàn quốc Sau 15 năm xây dựng và phát triển ở Việt Nam đến nay TTHTCĐ đã có mạng lưới hình thành rộng khắp cả nước Từ 10 trung tâm được xây dựng thí điểm với sự

hỗ trợ kinh phí của Nhật Bản (năm học 1998 – 1999), đến năm học 2014 – 2015 cả nước đã có 10.998 TTHTCĐ trên 11.1333 xã, phường, thị trấn trên cả nước (đạt tỷ

lệ 98,78% xã, phường, thị trấn có TTHTCĐ) Đặc biệt ở một số tỉnh, 100% số xã, phường, thị trấn có TTHTCĐ (Thái Bình, Nam Định, Vĩnh Phúc, Thành phố Đà nẵng, Thành phố Hải Dương, )

Năm 2004, Vụ giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Trung tâm Nghiên cứu Xóa mù chữ và Giáo dục thường xuyên (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam) phối hợp với Hiệp hội Quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản (NFUAJ) đã cho xuất bản cuốn tài liệu: Phát triển trung tâm học tập cộng đồng [38] và Sổ tay thành lập trung tâm học tập cộng đồng [39] Ngoài việc xây dựng, phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng TTHTCĐ; các tổ chức, các nhà khoa học Việt Nam

đã tổ chức nghiên cứu và đóng góp lớn trong việc xây dựng cơ sở lý luận cho việc phát triển các TTHTCĐ như Tô Bá Trượng, Thái Thị Xuân Đào, Bế Hồng Hạnh, Hoàng Minh Luật, Ngô Quang Sơn, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Ngọc

Trang 23

Phú, Nguyễn Xuân Đường, Nguyễn Lê Vân Dung, đã nêu các thực trạng phát triển TTHTCĐ cũng như hệ thống các giải pháp phát triển TTHTCĐ, bước đầu góp phần xây dựng XHHT ở Việt Nam

Trong cuốn Kỷ yếu đổi mới giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời cho mọi người của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, rất nhiều các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đức Minh, Bùi Trọng Trâm, Nguyễn Lê Vân Dung… đã

có bài tham luận nêu rõ thực trạng phát triển và quản lý các TTHTCĐ, từ đó đề xuất

ra các giải pháp khả thi để phát triển các TTHTCĐ đáp ứng yêu cầu xây dựng XHHT từ cấp cơ sở xã, phường, thị trấn ở Việt Nam [34]

Tóm lại, các nội dung được nêu trong phần tổng quan ở trên là những nội dung cơ bản của các công trình nghiên cứu cả về lý luận cũng như thực tiễn ở Việt Nam cũng như trên thế giới về XHHT, HTSĐ và TTHTCĐ trong việc thúc đẩy xây dựng XHHT

1.2 Một số khái niệm

1.2.1 Học tập suốt đời, Xã hội học tập

1.2.1.1 Học tập suốt đời

Mặc dù ý tưởng giáo dục suốt đời đã xuất hiện trong một số diễn đàn quốc tế

từ những năm 60 của thế kỷ 20, song quan niệm chính thức về HTSĐ chỉ trở thành tâm điểm chú ý và chủ đề của nhiều cuộc thảo luận quốc tế sau khi có sự ra đời của các báo cáo mang tính đột phá như Báo cáo của Faure (1972) và của Delors (1996) Đặc biệt, với một loạt những phong trào, sáng kiến về HTSĐ do liên minh châu Âu

và các quốc gia thành viên khởi xướng và phát triển trong thập niên 90 (như mạng lưới thành phố/thị trấn học tập, năm Châu Âu về HTSĐ 1996, các dự án LILIPUT, PASCAL, ELLI về HTSĐ và xây dựng XHHT…), quan niệm về HTSĐ ngày càng sáng tỏ và được công nhận rộng rãi hơn ở trong cũng như ngoài phạm vi các quốc gia châu Âu

Hầu hết các quan điểm đều thống nhất rằng HTSĐ bao hàm mọi hình thức học tập, thực hiện ở mọi lứa tuổi (từ lúc trong nôi cho đến khi qua đời), nhằm mục tiêu phát triển con người, hoàn thiện nhân cách, cập nhật kiến thức và kĩ năng cần

Trang 24

thiết cho cuộc sống, công việc, giúp họ thích ứng được với môi trường kinh tế-xã hội luôn đổi thay nhanh chóng hiện nay Về bản chất, khái niệm HTSĐ cần được nhấn mạnh ở chỗ nó không chỉ giới hạn ở việc học của người lớn, như một số quan niệm trước đây Theo định nghĩa của Viện Học tập suốt đời UNESCO (2011),

HTSĐ bao gồm việc học của trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn, với phạm vi từ các hình thức học tập chính qui trong trường lớp đến các hình thức học không chính qui và phi chính qui Cách hiểu toàn diện về HTSĐ không chỉ hàm ý „chiều dài‟ suốt cuộc đời của việc học (lifelong learning), mà nó còn đề cấp đến tính chất và các hình thức đa dạng của học tập (life-wide learning), và „chiều sâu‟ (life-deep learning) hay tính hữu ích và độ sâu sắc của các kiến thức học được trong cuộc sống, phục vụ thực tế cuộc sống Do đó, mục đích của HTSĐ là không chỉ để biết, hay để có bằng cấp, chứng chỉ, mà còn là học để thỏa mãn nhu cầu hoàn thiện bản thân, để tồn tại và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của cuộc sống, của thời đại

Đối với Việt Nam, cho đến nay, định nghĩa cụ thể và những đặc trưng bản chất của HTSĐ trong điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam vẫn chưa được đề cập rõ ràng trong các văn bản chính thức của nhà nước, chưa được hiểu thống nhất cả trong giới nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và trong thực tiễn Quan điểm chung của một số nhà nghiên cứu cho rằng khi nói đến HTSĐ thì không nên có sự phân chia cứng nhắc, hạn hẹp về lứa tuổi, như tuổi thơ gắn với vườn trẻ và trường mẫu giáo, tuổi nhi đồng, tuổi thiếu niên và đầu tuổi thanh niên gắn với nhà trường, tuổi trưởng thành gắn với lao động, hay tuổi già gắn với nghỉ hưu Nói một cách đơn giản, HTSĐ tức là lứa tuổi nào cũng phải học (Phạm Tất Dong, 2011) Nhìn chung, ở Việt Nam cách hiểu thông thường nhất về HTSĐ là học mọi nơi, mọi lúc, với mọi người, ở mọi lứa tuổi và trình độ, không phân biệt hình thức học tập, đào tạo hay bằng cấp Đồng thời, vẫn tồn tại những quan điểm đồng nhất hoặc gắn liền HTSĐ với giáo dục người lớn, giáo dục thường xuyên, hay coi HTSĐ chỉ là phần kéo dài (học trong công việc, trong cuộc sống) sau khi đã kết thúc giáo dục phổ thông Ngay cả trong Đề án Xây dựng XHHT 2012-2020 với HTSĐ được coi là quan điểm

Trang 25

chỉ đạo, cũng không đề cập đến quan niệm cụ thể và phạm vi của HTSĐ Với khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả quan điểm HTSĐ là học mọi nơi, mọi lúc, với mọi người, ở mọi lứa tuổi và trình độ, không phân biệt hình thức học tập, đào tạo hay bằng cấp

Với những thay đổi không ngừng của cuộc sống, công việc và những tiến bộ từng ngày, từng giờ của khoa học – công nghệ trong thời đại ngày nay, HTSĐ ngày càng chứng tỏ tầm quan trọng của mình Người học không chỉ đặt mục tiêu có được

bằng cấp, chứng chỉ sau một khóa học, mà quan trọng hơn, họ còn phải học để biết,

để làm được công việc một cách hiệu quả, để cùng chung sống hòa hợp với những người xung quanh, và học để làm người - hoàn thiện nhân cách, phát triển chính bản

thân mình Đây là bốn trụ cột của học tập trong thế kỉ 21 mà Báo cáo của Delors đã khẳng định vào năm 1996, và cho đến nay vẫn thể hiện giá trị, tính đúng đắn Khi

xã hội ngày càng sung túc, văn minh và đạt đến một trình độ phát triển nhất định, HTSĐ không còn chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ, mà còn là niềm vui, ý nghĩa của sự sống còn, tồn tại đối với mỗi cá nhân và cộng đồng

HTSĐ mang lại những lợi ích cụ thể và lâu dài cho cả bản thân người học và các chủ thể khác xung quanh hoặc có liên quan, như gia đình, dòng họ; cơ quan, đơn vị sử dụng lao động; cộng đồng và xã hội

- Với cá nhân, gia đình, dòng họ: HTSĐ không chỉ mang lại những thành tựu cho bản thân người học, mà còn góp phần ảnh hưởng tích cực tới các cá nhân khác trong gia đình, dòng họ, đóng góp vào việc duy trì niềm tự hào gia tộc – một yếu tố văn hóa quan trọng trong các gia đình, cộng đồng người Việt Thực tế cho thấy, các phong trào xây dựng „Gia đình hiếu học‟, „Dòng họ khuyến học‟, „Cộng đồng khuyến học‟ của Hội khuyến học các cấp ở Việt Nam trong những năm vừa qua đã có tác dụng khích lệ to lớn đối với việc học tập của các thành viên trong từng gia đình, dòng họ và các cộng đồng dân cư nói chung

- Với cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng lao động: Năng lực HTSĐ của người lao động chính là một trong những yếu tố bảo đảm sự ổn định, tăng trưởng của các doanh nghiệp, sự phát triển bền vững của mỗi cơ quan, tổ chức trong bối cảnh hiện

Trang 26

nay Với những thay đổi, biến động từng ngày của khoa học – công nghệ và tác động của toàn cầu hóa, người lao động chỉ có thể thích ứng và khẳng định vị trí của mình khi thường xuyên có ý thức tự đào tạo, bồi dưỡng, học hỏi để bắt kịp với tiến

bộ của khoa học kĩ thuật Về phía cơ quan, doanh nghiệp, việc tạo cơ hội và điều kiện cho đội ngũ nhân lực của mình được HTSĐ, nâng cao trình độ, kĩ năng làm việc cũng chính là giải pháp cốt yếu để duy trì chất lượng vốn con người – yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong thế kỷ 21

- Với cộng đồng, xã hội: So với thế kỷ trước, những cộng đồng của thế kỷ

21 mang trong mình những nét đặc thù như thay đổi về nhân khẩu học (tình trạng dân số già), mức độ di dân tăng cao, tình trạng đa văn hóa – đa chủng tộc, xu hướng

cá nhân hóa, thời gian nhàn rỗi gia tăng, tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội, của các công nghệ hiện đại… Vì vậy, mỗi công dân của cộng đồng, xã hội ngày nay cũng sẽ phải luôn học hỏi để nhận thức, thích nghi với hoàn cảnh, điều kiện mới, để có thể chung sống khoan hòa với những cá nhân, tập thể khác quanh mình, với tự nhiên và môi trường Từng cá nhân có cơ hội và năng lực để HTSĐ sẽ góp phần làm cho cộng đồng ngày càng vững mạnh, đoàn kết và thịnh vượng, có khả năng thích ứng hiệu quả trước mọi thay đổi để từng bước trở thành những „cộng đồng học tập‟ thực sự

1.2.1.2 Xã hội học tập

Xây dựng XHHT đã và đang trở thành một xu hướng phát triển tất yếu của mọi quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, chủ trương xây dựng XHHT đã được Đảng, Nhà nước quán triệt và triển khai thực hiện thông qua hai Đề án quốc gia về xây dựng XHHT giai đoạn 2005-2010 và 2012-2020 Tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể và điều kiện phát triển của mỗi cộng đồng, quốc gia, có nhiều cách đinh nghĩa về XHHT Theo quan điểm chỉ đạo về XHHT được nêu trong QĐ89/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng XHHT giai đoạn 2012-2020, XHHT được hiểu là:

- Xã hội mà trong đó, mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; Có nghề, lao động

Trang 27

với hiệu quả ngày càng cao; Học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại;

- Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập

và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người đều được HTSĐ;

- Hệ thống giáo dục được xây dựng dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết và liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên; Đẩy mạnh các hoạt động HTSĐ ở ngoài nhà trường; Ưu tiên các đối tượng chính sách, người dân tộc, phụ nữ, người bị thiệt thòi

Hình 1 : Quan niệm về xã hội học tập

Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả quan niệm về XHHT theo quan điểm chỉ đạo về XHHT được nêu trong QĐ89/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng XHHT giai đoạn 2012-2020

1.2.2 Giáo dục thường xuyên

GDTX (continuing education) là một khái niệm được sử dụng nhiều ở các nước phát triển và xuất hiện ở các nước đang phát triển trong những năm cuối 80 của thế kỉ XX trong chương trình giáo dục cho mọi người ở Châu Á – Thái Bình Dương (gọi tắt bằng tiếng Anh là APPEAL)

XHHT

HTSĐ

Trang 28

Khái niệm “Continuing education” được hiểu là sự giáo dục tiếp tục sau giáo dục ban đầu/ giáo dục cơ bản (sau xóa mù chữ hay sau giáo dục tiểu học hoặc giáo dục trung học cơ sở, tùy theo giáo dục phổ cập bắt buộc của từng nước) nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, HTSĐ của mọi người Sau khi đạt trình độ phổ cập, mỗi người có thể học theo các phương thức khác nhau: chính quy, không chính quy hoặc phi chính quy.Vì vậy, theo quan niệm này “Continuing education” là một khái niệm rộng, bao gồm cả giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy và giáo dục phi chính quy Như vậy, GDTX là khái niệm rộng hơn giáo dục không chính quy

Ở Việt Nam, GDTX hiện còn được hiểu một cách khác nhau và chưa có sự phân biệt rõ ràng GDTX chính thức được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh là

“Continuing education” Tuy nhiên, việc dịch như vậy chưa hoàn toàn chính xác về mặt ngữ nghĩa, dễ gây tranh cãi và hiểu lầm GDTX theo nghĩa tiếng Việt chỉ sự giáo dục liên tục trong suốt cuộc đời từ lúc mới sinh ra cho đến lúc chết đi, bao gồm

cả giáo dục trẻ em và giáo dục người lớn Còn “Continuing education” nên được dịch ra tiếng Việt là “Giáo dục tiếp tục” Ngoài ra, GDTX ở Việt Nam hiện nay được hiểu theo nghĩa hẹp hơn so với các nước trong khu vực GDTX ở Việt Nam thực chất là giáo dục không chính quy Điều 40 Luật Giáo dục năm 1998 và điều 44 Luật Giáo dục năm 2005 đều xác định giáo dục không chính quy hay GDTX đều thực hiện một mục tiêu là “giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội” [21] Tuy nhiên, Luật Giáo dục 1998 coi giáo dục không chính quy

là phương thức còn Luật Giáo dục 2005 coi GDTX là hệ thống

Giáo dục không chính quy được hiểu là bất kì hoạt động giáo dục nào có hệ thống, có tổ chức được tiến hành bên ngoài hệ thống giáo dục chính quy nhằm cung cấp các cơ hội học tập cho nhóm đối tượng dân cư, người lớn cũng như trẻ em Giáo dục không chính quy được đặc trưng bởi tính đa dạng, tính linh hoạt và mềm dẻo Theo UNESCO, giữa giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy có những nét khác biệt nhất định, đó là Giáo dục không chính quy cần có sự tham gia nhiều hơn

Trang 29

của cộng đồng, chương trình học mềm dẻo hơn theo nhu cầu người học, và linh hoạt

về không gian, thời gian, địa điểm học tập Có thể thấy, chương trình của Giáo dục không chính quy đa dạng, không cố định Giáo dục không chính quy diễn ra không chặt chẽ về thời gian, không liên tục trong suốt cuộc đời Giáo dục không chính quy chủ yếu dành cho người lớn và được tiến hành chủ yếu ở ngoài nhà trường

Ở Việt Nam, Giáo dục không chính quy được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý chỉ đạo như: Chương trình xóa mù chữ, giáo dục sau khi biết chữ, bổ túc văn hóa và giáo dục chuyên đề đáp ứng yêu cầu người học cho người dân ở TTHTCĐ, hoặc chỉ tập trung vào nhóm đối tượng thiệt thòi không có điều kiện hoặc phải bỏ học phổ thông chính quy

Trong xu thế hội nhập, Việt Nam không thể có quan niệm riêng, GDTX và giáo dục không chính quy là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, có nội hàm khác nhau Việt Nam không thể dùng thuật ngữ GDTX như với nội hàm hiện nay Vì vậy, dùng thuật ngữ giáo dục không chính quy sẽ phù hợp với quan niệm chung của các nước và phản ánh đúng hơn thực tế hiện nay ở nước ta Nhưng theo Luật Giáo dục

2005, thì thuật ngữ giáo dục không chính quy được gọi là GDTX Vì vậy, trong luận văn này sẽ dùng thuật ngữ GDTX để thống nhất với các văn bản pháp quy khác

1.2.3 Trung tâm học tập cộng đồng, Phát triển trung tâm học tập cộng đồng

1.2.3.1 Trung tâm học tập cộng đồng

TTHTCĐ chính là một cơ sở giáo dục nằm trong hệ thống giáo dục thường xuyên TTHTCĐ theo quan niệm của UNESCO khu vực là cơ sở giáo dục không chính quy của một làng/ xã hay phường, thường do cộng đồng thành lập và quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển cộng đồng thông qua việc tạo cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời của người dân trong cộng đồng TTHTCĐ là thiết chế của cộng đồng, do cộng đồng và vì cộng đồng [16]

Tác giả Tô Bá Trượng và Thái Thị Xuân Đào cho rằng, TTHTCĐ là một

mô hình giáo dục mới có khả năng tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người dân trong cọng đồng và phát huy sự làm chủ và tham gia tích cực của cộng đồng đối với

Trang 30

giáo dục; là cơ chế có hiệu quả trong việc thực hiện xã hội hoá giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực xoá mù chữ và giáo dục thường xuyên [31] TTHTCĐ là một thiết chế giáo dục chủ yếu dành cho người lớn, là đầu mối liên kết để tất cả các ban ngành, đoàn thể cùng với ngành giáo dục cung ứng/tổ chức các cơ hội học tập, các hoạt động tuyên truyền giáo dục tới mọi người dân, dưới sự quản lí, điều phối chung của UBND xã Mọi người dân trong cộng đồng có thể đến TTHTCĐ để tìm cho mình một chương trình, hình thức và phương thức học phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi người [15]

Ở Việt Nam, TTHTCĐ đã được chính thức hóa bằng Luật Giáo dục năm

2005 với tư cách là cơ sở của GDTX, Theo Điều 46 của Luật này thì “TTHTCĐ được tổ chức tại xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)”

[3], [4]

Như vậy, TTHTCĐ không phải là tổ chức của riêng ngành giáo dục hay bất

cứ tổ chức xã hội nào khác mà TTHTCĐ được lập ra để phục vụ cho nhu cầu học tập thường xuyên, liên tục, suốt đời của mọi tầng lớp người dân trong cộng động TTHTCĐ giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có văn hóa, có khoa học kĩ thuật để chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước ở ngay tại địa phương họ sinh sống và làm việc

Trang 31

1.2.3.2 Phát triển trung tâm học tập cộng đồng

Phát triển TTHTCĐ liên quan đến 2 khía cạnh:

- Sự tăng lên về số lượng và chủng loại, chẳng hạn như tăng số lượng TTHTCĐ và các cơ sở giáo dục khác nhằm mục đích tăng cơ hội học tập cho mọi người ở tất cả các xã, phường, thị trấn

- Sự thay đổi về chất lượng, chẳng hạn như việc thực hiện một cách hiệu quả việc đổi mới chương trình giáo dục; nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên; và đầu tư trang bị các bộ đồ dùng dạy học, thiết bị thí nghiệm, thực tập, nhằm cải thiện về chất lượng giáo dục

Như vậy, phát triển là quá trình biến đổi về số lượng, đó là sự tăng trưởng; còn về mặt phẩm chất thì nhất định phải có sự biến đổi về mặt chất lượng theo hướng tiến bộ

Dựa vào lý luận chung về phát triển, quan niệm phát triển TTHTCĐ trong luận văn được thể hiện như sau: Phát triển TTHTCĐ là quá trình tăng việc cung cấp các cơ hội và điều kiện học tập của cộng đồng cùng với việc cải thiện chất lượng học tập đáp ứng sự tiến bộ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng theo hướng xây

dựng cộng đồng học tập Phát triển TTHTCĐ là những tiến trình, qua đó nỗ lực của

người dân kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện học tập đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng và giúp cộng đồng đó hòa nhập và đóng góp vào tiến trình phát triển chung của mỗi huyện, tỉnh và cả

quốc gia (dựa trên định nghĩa phát triển cộng đồng của Liên Hợp Quốc [49])

Thông qua phát triển TTHTCĐ, sự tham gia của người dân với sự tự lực tối

đa được phát huy mạnh mẽ Chẳng hạn như việc người dân tham gia vào việc đề xuất nhu cầu học tập, lập kế hoạch phát triển TTHTCĐ Người dân tham gia vào việc quản lý các địa điểm học tập, quản lý nguồn tài liệu học tập, quản lý các nguồn lực khác phục vụ cho học tập của cộng đồng Bên cạnh đó, sự hỗ trợ kỹ thuật và các nguồn lực để khuyến khích sáng kiến, sự tương trợ để các nỗ lực học tập của người dân có hiệu quả cao Chẳng hạn như, chính quyền và các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ việc xây dựng cơ sở vật chất của TTHTCĐ, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ nâng cao năng lực cán bộ quản lý và các cộng tác viên tham gia giảng dạy, hỗ trợ phát triển

Trang 32

các dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ thành lập các nhóm tín dụng quy mô nhỏ, thành lập các nhóm đồng sở thích, v.v

Như vậy, nội dung của tiến trình phát triển TTHTCĐ là tiến trình giải quyết vấn đề của cộng đồng Thông qua đó cộng đồng được gia tăng sức mạnh do nâng cao kiến thức và kỹ năng phát hiện phân tích vấn đề, xác định thứ tự ưu tiên các vấn

đề đó, huy động các nguồn lực để giải quyết bằng hành động chung

1.3 Trung tâm học tập cộng đồng với việc đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng xã hội học tập

1.3.1 Vai trò của Trung tâm học tập cộng đồng

TTHTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân,

là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp xã, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời phải phát huy mạnh mẽ sự tham gia, đóng góp của nhân dân trong cộng đồng dân cư để xây dựng và phát triển các trung tâm theo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm

Thông qua các hoạt động của mình, TTHTCĐ đã góp phần tích cực trong việc nâng cao dân trí, cải thiện đời sống dân sinh, thực hiện dân quyền, ổn định và nâng cao chất lượng dân số và cải thiện môi trường dân cư Điều đó được thể hiện ở các mặt sau:

- Thông qua các lớp xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, các lớp

bổ túc trung học cơ sở, bổ túc trung học phổ thông và các lớp chuyên đề, tập huấn đáp ứng nhu cầu của người học đã giúp người dân mở mang hiểu biết, nâng cao dân trí, đã góp phần giảm tỉ lệ mù chữ trong và ngoài độ tuổi, giảm tỉ lệ tái mù chữ, nâng cao trình độ văn hóa của người dân ở cộng đồng

- Thông qua các lớp dạy nghề, các lớp tập huấn ngắn hạn về kĩ thuật sản xuất, các lớp chuyên đề về trồng trọt và chăn nuôi, các lớp chuyển giao khoa học kĩ thuật, các buổi khuyến nông, lâm, ngư nghiệp, các buổi tham quan, trao đổi kinh nghiệm sản xuất TTHTCĐ đã góp phần giúp người dân được cập nhật kiến thức,

kĩ thuật sản xuất mới, tiếp thu và vận dụng sáng tạo tri thức mới và tiên tiến ở trong

Trang 33

nước và trên thế giới, biết cách tổ chức làm ăn, sản xuất giúp người dân biết cách xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống dân sinh

- TTHTCĐ cũng được đánh giá cao là đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết của người dân về các chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước, giúp người dân sống và làm việc theo pháp luật TTHTCĐ đã góp phần tích cực đối với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, đã tạo điều kiện cho “Dân được biết”, dân được thông tin – là điều kiện tiên quyết đầu tiên để

“Dân được bàn”, “Dân được làm”, và “Dân được kiểm tra”, góp phần làm giảm đáng kể việc tranh chấp, khiếu kiện do thiếu hiểu biết TTHTCĐ đã góp phần ổn định chính trị - xã hội, xây dựng khối đoàn kết nội bộ trong nhân dân và mối liên kết chặt chẽ giữa các đoàn thể, tổ chức xã hội trong mọi hoạt động nhằm phát triển cộng đồng, đặc biệt là trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới

- TTHTCĐ còn có tác động tích cực đối với việc ổn định và nâng cao chất lượng dân số của cộng đồng thông qua các buổi học chuyên đề, các buổi nói chuyện, thảo luận nhóm, sinh hoạt câu lạc bộ.v.v về dân số, kế hoạch hóa gia đình, về chăm sóc sức khỏe sinh sản, quyền sinh sản, chăm sóc sức khỏe cho gia đình và trách nhiệm nuôi dạy con cái

- TTHTCĐ còn là nơi giúp cho người dân tăng cường, phát triển các kĩ năng sống, các kĩ năng ứng phó với những tình huống xảy ra trong cuộc sống, các kĩ năng để tồn tại và thích nghi được với sự biến đổi không ngừng của môi trường và đời sống xã hội

Trong quá trình phát triển của kinh tế - văn hóa - xã hội, phạm vi và hoạt động của TTHTCĐ sẽ ngày càng được mở rộng hơn do nhu cầu học tập của người dân ngày càng đa dạng, phong phú mà nhà trường chính quy không thể đáp ứng đủ Khi trình độ sản xuất cao hơn, chất lượng cuộc sống được nâng lên thì nhu cầu hoạt động của con người từ sinh hoạt vật chất đến tinh thần sẽ đòi hỏi vốn tri thức và hiểu biết rộng lớn và đa dạng hơn Như vậy, TTHTCĐ chính là nơi đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của cộng đồng dân cư đó

Trang 34

Tóm lại, từ thực tiễn hoạt động, có thể khẳng định: TTHTCĐ chính là công

cụ quan trọng góp phần giữ vững và ổn định chính trị; thúc đẩy công cuộc đổi mới

và phát triển kinh tế - xã hội; là trường học của dân, do dân và vì dân; là nơi nâng cao dân trí và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế của địa phương và cho đất nước; và là công cụ thiết yếu để xây dựng xã hội học tập từ cơ sở

ở Việt Nam

1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm học tập cộng đồng

Chức năng, nhiệm vụ của TTHTCĐ đã được quy định rõ trong Quy chế tổ chức hoạt động của TTHTCĐ, đó là:

(1) Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, củng cố chất lượng phổ cập giáo dục; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân trong cộng đồng; phối hợp triển khai các chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư và các dự án, chương trình tại địa phương

(2) Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, đọc sách báo, tư vấn khuyến học, giáo dục cho con em nhân dân địa phương, phòng chống tệ nạn xã hội

(3) Điều tra nhu cầu học tập của cộng đồng, xây dựng nội dung và hình thức học tập phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nhóm đối tượng

Như vậy, TTHTCĐ có rất nhiều chức năng, nhiệm vụ, trong đó TTHTCĐ trước hết nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập đa dạng của người dân trong cộng đồng,

và xa hơn nữa là phục vụ mục tiêu phát triển cộng đồng một cách bền vững

Trang 36

mềm dẻo về nội dung, hình thức tổ chức,…

Chương trình GDTX ĐƯYCNH là chương trình đáp ứng nhu cầu “Cần gì học nấy” của người học, đồng thời đáp ứng yêu cầu cập nhật kiến thức, kĩ năng và

chuyển giao công nghệ của đất nước, của từng địa phương, của các ban, ngành, đoàn thể Đây có thể coi là chương trình chính quan trọng được giảng dạy tại TTHTCĐ nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu học tập của người dân tại cộng đồng, góp

phần xây dựng XHHT

Mục tiêu của chương trình

- Trang bị cho người học kiến thức và kỹ năng cơ bản, thiết thực về văn hoá- xã hội, sức khỏe, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế

- Cung cấp một số kỹ năng sống cần thiết để người học có thể thích ứng và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống, sản xuất

Trang 37

- Góp phần hình thành nhu cầu, thói quen và kỹ năng tự học, học thường xuyên, tăng cường cơ hội HTSĐ cho người dân tại cộng đồng

Nội dung của chương trình

Chương trình GDTXĐƯYCNH bao gồm 05 lĩnh vực chương trình, đó là: (1) Chương trình giáo dục pháp luật, (2) Chương trình giáo dục văn hóa – xã hội, (3) Chương trình giáo dục bảo vệ môi trường, (4) Chương trình giáo dục bảo vệ sức khỏe, (5) Chương trình giáo dục phát triển kinh tế Mỗi lĩnh vực chương trình bao

gồm nhiều chuyên đề khác nhau (mỗi chuyên đề được cấu trúc theo tên chuyên đề, yêu cầu cần đạt và ghi chú) Mỗi lĩnh vực chương trình cung cấp một số chuyên đề

chung trên phạm vi toàn quốc Ban giám đốc TTHTCĐ, cán bộ các ban, ngành đoàn thể căn cứ vào các nội dung chuyên đề đã có để biên soạn tài liệu, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập Các cơ sở GDTX có thể xây dựng, quản lý nội dung chương trình và bố trí hướng dẫn viên chủ động và hiệu quả hơn

Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

- Nội dung chuyên đề theo Chương trình GDTX ĐƯYCNH được tổ chức tại TTHTCĐ được lựa chọn dựa trên sự phù hợp với nhu cầu học tập của người dân tại cộng đồng, phù hợp với điều kiện, định hướng phát triển về văn hóa, kinh tế - xã hội của địa phương và dựa trên khung chương trình GDTX ĐƯYCNH Ví dụ, tổ chức thực hiện giáo dục chuyên đề “trồng hoa huệ”, thứ nhất, người dân có nhu cầu

về chuyên đề này; Thứ hai, phải phù hợp với điều kiện về đất đai, khí hậu, hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Hoặc tổ chức thực hiện giáo dục chuyên

đề “làm trứng muối”, thứ nhất là người dân phải có nhu cầu về việc làm trứng muối; Thứ hai, địa phương phải là phải là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu chủ yếu để tiến hành sản xuất, để người dân không phải đi mua nguyên liệu ở nơi khác, như vậy hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn

- Phương pháp dạy học chuyên đề tại TTHTCĐ thực chất là hệ thống các phương pháp dạy học người lớn Xác định các phương pháp căn cứ vào đặc điểm đối tượng người học chuyên đề tại TTHTCĐ, căn cứ vào nội dung, mục tiêu dạy học

Trang 38

chuyên đề,… Phương pháp dạy học chuyên đề phải phát huy tối đa những kinh nghiệm của học viên, huy động được sự tham gia tích cực của học viên trong quá trình học tập, tạo sự tương tác tích cực giữa giáo viên/ hướng dẫn viên và học viên trong một môi trường học tập mà ở đó học viên cảm thấy tin tưởng, tự tin và thoải mái

- Hình thức tổ chức hoạt động học tập chuyên đề tại TTHTCĐ đa dạng, linh hoạt dưới nhiều hình thức: Lớp học, lớp tập huấn, lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật; Các buổi nói chuyện, chia sẻ kinh nghiệm; Các buổi tư vấn, thăm quan thực tế,…

1.3.4 Các đối tượng người học ở các Trung tâm học tập cộng đồng

Đối tượng người học chủ yếu ở TTHTCĐ là đối tượng người lớn Các học viên người lớn khi tham gia học chuyên đề tại TTHTCĐ đa dạng về tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, kinh nghiệm sống, vị thế xã hội, nhu cầu và động cơ học tập Học viên tham gia các lớp học chuyên đề tại TTHTCĐ có thể là người lớn mù chữ, trình độ văn hóa hạn chế, hoặc có trình độ văn hóa cao, những trí thức nghỉ hưu,…Họ có thể là thanh niên, phụ nữ, nông dân, người cao tuổi,…

Một số đặc điểm học viên tham học chuyên đề tại TTHTCĐ

- Đa dạng về độ tuổi: Nếu như trong giáo dục chính quy, người học phần lớn có sự đồng nhất về độ tuổi, về trình độ và kinh nghiệm, thì trong giáo dục không chính quy, đặc biệt là hoạt động giáo dục chuyên đề tại TTHTCĐ, học viên có độ tuổi khác nhau từ 20 tuổi đến trên 50, 60 tuổi Sự đa dạng về độ tuổi đã tạo nên tính đặc thù trong quá trình tổ chức hoạt động học tập nói chung và đánh giá kết quả học tập của học viên nói riêng

- Nhu cầu học tập đa dạng và được thúc đẩy bởi động cơ học tập rõ ràng, mạnh mẽ Người dân có thể đến với TTHTCĐ vì muốn phát triển kinh tế, muốn nuôi dạy con tốt hơn, để được giao lưu, gặp gỡ, để chia sẻ kinh nghiệm của bản thân với người khác Vì sự đa dạng về nhu cầu học tập, nên trước khi tổ chức các nội dung học tập, ban giám đốc TTHTCĐ tiến hành điều tra nhu cầu của người dân một cách kỹ lưỡng, để có thể đáp ứng đúng nhu cầu, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân và cộng đồng

Trang 39

- Học viên tham gia học chuyên đề tại TTHTCĐ có nhiều kinh nghiệm sống, với nhiều trải nghiệm trong cuộc sống

Học viên của TTHTCĐ có nhiệm vụ:

- Thực hiện đầy đủ các quy định của TTHTCĐ

- Giữ gìn, bảo vệ tài sản của TTHTCĐ

- Đóng học phí đầy đủ và đúng hạn theo quy định của TTHTCĐ

Học viên của TTHTCĐ có các quyền sau:

- Được chọn chương trình học, hình thức học phù hợp với khả năng, điều kiện của bản thân và của TTHTCĐ

- Được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập của bản thân

- Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện để đóng góp ý kiến về nội dung học tập, phương pháp giảng dạy cũng như các hoạt động khác của trung tâm

- Học viên TTHTCĐ được công nhận kết quả học tập theo quy định

1.3.5 Đội ngũ cán bộ quản lý trong các Trung tâm học tập cộng đồng

Theo Quy chế tổ chức hoạt động của TTHTCĐ đã nêu rõ:

- Không bố trí biên chế theo chế độ công chức, viên chức ở các TTHTCĐ

- Các bộ quản lý TTHTCĐ được bố trí theo chế độ kiêm nhiệm, gồm một cán bộ quản lý cấp xã kiêm giám đốc trung tâm, một cán bộ của Hội Khuyến học và một cán bộ lãnh đạo của trường tiểu học hoặc trung học cơ sở trên địa bàn kiêm phó giám đốc Các cán bộ này được hưởng phụ cấp từ kinh phí hỗ trợ của Nhà nước

- Giám đốc TTHTCĐ là người quản lý, điều hành mọi hoạt động của trung tâm và chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan quản lý cấp trên về mọi hoạt động của trung tâm Giám đốc TTHTCĐ do Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định trên cơ sở đề nghị của UBND cấp xã

- Phó giám đốc TTHTCĐ là người có phẩm chất chính trị, có năng lực quản

lý do Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định theo đề nghị của giám đốc TTHTCĐ

Nhiệm vụ và quyền hạn của Giám đốc TTHTCĐ

- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của TTHTCĐ

Trang 40

- Tuyên truyền vận động mọi thành viên trong cộng đồng tham gia các hoạt động của TTHTCĐ

- Huy động các nguồn lực trong và ngoài cộng đồng để duy trì và phát triển các hoạt động của TTHTCĐ

- Quản lý tài chính, cơ sở vật chất của TTHTCĐ

- Xây dựng nội quy hoạt động của TTHTCĐ

- Kiểm tra, đánh giá và báo cáo định kỳ kết quả hoạt động của TTHTCĐ với Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan quản lý cấp trên

- Được theo học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và được hưởng các chế độ phụ cấp trách nhiệm và khen thưởng theo quy định hiện hành của Nhà nước

Nhiệm vụ và quyền hạn của Phó Giám đốc TTHTCĐ

- Giúp việc cho giám đốc trong việc quản lý và điều hành các hoạt động của trung tâm Trực tiếp phụ trách một số lĩnh vực công tác theo sự phân công của giám đốc và giải quyết các công việc do giám đốc giao

- Khi giải quyết công việc được giám đốc giao, phó giám đốc thay mặt giám đốc và chịu trách nhiệm trước giám đốc về kết quả công việc được giao

- Thay mặt giám đốc điều hành hoạt động của trung tâm khi được ủy quyền

- Được học theo các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và được hưởng các chế độ phụ cấp và khen thưởng theo quy định hiện hành của Nhà nước

1.3.6 Giáo viên/ hướng dẫn viên trong các Trung tâm học tập cộng đồng

Đội ngũ giáo viên/ hướng dẫn viên trong các TTHTCĐ bao gồm:

- Giáo viên được phòng GD-ĐT biệt phái để dạy chương trình xóa mù chữ

và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, củng cố chất lượng phổ cập giáo dục

- Báo cáo viên dạy các chuyên đề; các cộng tác viên, hướng dẫn viên và những người tình nguyện tham gia hướng dẫn học tập tại TTHTCĐ theo hợp đồng thỏa thuận với giám đốc trung tâm

Giáo viên của TTHTCĐ có nhiệm vụ:

- Giảng dạy theo nội dung, chương trình và viết tài liệu phục vụ giảng dạy – học tập theo quy định

Ngày đăng: 06/06/2017, 12:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (2007), Đặc trưng mô hình xã hội học tập tại Việt Nam – sự nhận diện từ một số vấn đề tổ chức sư phạm và kinh tế xã hội, Hội thảo Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam, Hà Nội ngày 29 tháng 05 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng mô hình xã hội học tập tại Việt Nam – sự nhận diện từ một số vấn đề tổ chức sư phạm và kinh tế xã hội
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2007
2. Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Lộc, Phạm Quang Sáng, Bùi Đức Thiệp (2010), Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Lộc, Phạm Quang Sáng, Bùi Đức Thiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn (Ban hành theo quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24 tháng 03 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
4. Bộ Tài chính (2008), Thông tư về hướng dẫn việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các Trung tâm học tập cộng đồng, Số 96/2008/TT-BTC ngày 27 tháng 10 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về hướng dẫn việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các Trung tâm học tập cộng đồng
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Thông tư về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn ban hành kèm theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Số 40/2010/TT – BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn ban hành kèm theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Công văn về việc hướng dẫn đánh giá Trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn, Số 2553/ BGDĐT - GDTX ngày 18 tháng 04 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn về việc hướng dẫn đánh giá Trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2013
8. Nguyễn Mạnh Cầm (2009), Xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cầm
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
Năm: 2009
9. Phạm Tất Dong, Đào Hoàng Nam (2011), Xây dựng con người, xây dựng xã hội học tập, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng con người, xây dựng xã hội học tập
Tác giả: Phạm Tất Dong, Đào Hoàng Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
Năm: 2011
10. Phạm Tất Dong (2012), Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
Năm: 2012
13. Nguyễn Lê Vân Dung (2012), Tìm hiểu những khó khăn của giám đốc trong quản lý trung tâm học tập cộng đồng, đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Viện, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu những khó khăn của giám đốc trong quản lý trung tâm học tập cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Lê Vân Dung
Năm: 2012
14. Thái Xuân Đào (2000), Xây dựng mô hình thí điểm về trung tâm học tập cộng đồng cấp xã ở nông thôn miền Bắc, Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ Mã số B.99-49-79, Viện Khoa học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình thí điểm về trung tâm học tập cộng đồng cấp xã ở nông thôn miền Bắc
Tác giả: Thái Xuân Đào
Năm: 2000
15. Thái Xuân Đào (2007), Định hướng phát triển Giáo dục không chính quy giai đoạn mới, Đề tài cấp Bộ, mã số B2005-80-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển Giáo dục không chính quy giai đoạn mới
Tác giả: Thái Xuân Đào
Năm: 2007
16. Thái Xuân Đào, Lê Tuyết Mai, Bế Hồng Hạnh, Nguyễn Minh Tuấn, Nguyễn Lê Vân Dung (2009), Sổ tay phát triển bền vững các trung tâm học tập cộng đồng, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phát triển bền vững các trung tâm học tập cộng đồng
Tác giả: Thái Xuân Đào, Lê Tuyết Mai, Bế Hồng Hạnh, Nguyễn Minh Tuấn, Nguyễn Lê Vân Dung
Năm: 2009
17. Phạm Thu Hà (2008), Giải pháp quản lý phát triển các trung tâm học tập cộng đồng quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp quản lý phát triển các trung tâm học tập cộng đồng quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Tác giả: Phạm Thu Hà
Năm: 2008
18. Trương Thị Thanh Hà (2009), Biện pháp quản lý phát triển bền vững các trung tâm học tập cộng đồng của huyện Ý Yên, Nam Định, luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý phát triển bền vững các trung tâm học tập cộng đồng của huyện Ý Yên, Nam Định
Tác giả: Trương Thị Thanh Hà
Năm: 2009
19. Phạm Thị Ngọc Hải (2005), Một số biện pháp nâng cao năng lực quản lý của chủ nhiệm trung tâm học tập cộng đồng vùng đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nâng cao năng lực quản lý của chủ nhiệm trung tâm học tập cộng đồng vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Hải
Năm: 2005
20. Lê Thị Phương Hồng (2015), Phát triển Trung tâm học tập cộng đồng vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm đầu xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam, luận án quản lý giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển Trung tâm học tập cộng đồng vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm đầu xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Phương Hồng
Năm: 2015
23. Phan Văn Kha (2007), Giáo trình quản lý nhà nước về giáo dục, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nhà nước về giáo dục
Tác giả: Phan Văn Kha
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2007
24. Phan Văn Kha (2007), Đào tạo và sử dụng nhân lực trong kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và sử dụng nhân lực trong kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Kha
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
25. Phan Văn Kha (2012), Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, Tạp chí Khoa học Giáo dục Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế
Tác giả: Phan Văn Kha
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : Quan niệm về xã hội học tập  Trong  khuôn  khổ  một  luận  văn  thạc  sĩ,  tác  giả  quan  niệm  về  XHHT  theo  quan điểm chỉ đạo về XHHT được nêu trong QĐ89/QĐ-TTg của Thủ tướng chính  phủ phê duyệt Đề án xây dựng XHHT giai đoạn 2012-2020 - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Hình 1 Quan niệm về xã hội học tập Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả quan niệm về XHHT theo quan điểm chỉ đạo về XHHT được nêu trong QĐ89/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng XHHT giai đoạn 2012-2020 (Trang 27)
Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Sơ đồ 1 Mô hình tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ (Trang 44)
Hình 2: Vị trí huyện Yên Phong trong tỉnh Bắc Ninh - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Hình 2 Vị trí huyện Yên Phong trong tỉnh Bắc Ninh (Trang 50)
Bảng 1: Kết quả tổ chức các lớp chuyên đề và số người tham gia học tập - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 1 Kết quả tổ chức các lớp chuyên đề và số người tham gia học tập (Trang 55)
Bảng 4: Kinh phí quyết toán hoạt động của TTHTCĐ huyện Yên Phong - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 4 Kinh phí quyết toán hoạt động của TTHTCĐ huyện Yên Phong (Trang 57)
Bảng 3: Kiện toàn bộ máy ban giám đốc TTHTCĐ (2015 – 2016) - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 3 Kiện toàn bộ máy ban giám đốc TTHTCĐ (2015 – 2016) (Trang 60)
Bảng 6: Kết quả đạt được của người dân  khi tham gia các hoạt động học tập, sinh hoạt tại TTHTCĐ (N = 85) - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 6 Kết quả đạt được của người dân khi tham gia các hoạt động học tập, sinh hoạt tại TTHTCĐ (N = 85) (Trang 66)
Bảng 7: Lí do của người dân muốn tham gia các hoạt động, chuyên đề, lớp học - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 7 Lí do của người dân muốn tham gia các hoạt động, chuyên đề, lớp học (Trang 70)
Bảng 8: Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về kết quả thực hiện công tác lập - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 8 Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về kết quả thực hiện công tác lập (Trang 73)
Bảng 9: Đánh giá của Giám đốc TTHTCĐ về mức độ thường xuyên tổ chức - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 9 Đánh giá của Giám đốc TTHTCĐ về mức độ thường xuyên tổ chức (Trang 76)
Bảng 10: Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý về kết quả đạt đƣợc khi tổ chức - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 10 Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý về kết quả đạt đƣợc khi tổ chức (Trang 77)
Bảng 11: Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng tổ chức và huy động,  phối hợp các lực lượng tham gia vào các hoạt động tại TTHTCĐ (N = 171) - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 11 Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng tổ chức và huy động, phối hợp các lực lượng tham gia vào các hoạt động tại TTHTCĐ (N = 171) (Trang 79)
Bảng 12: Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng kiểm tra, giám sát - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 12 Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng kiểm tra, giám sát (Trang 82)
Bảng 9 cho chúng ta thấy những số liệu về thực trạng công tác kiểm tra, đánh  giá các hoạt động của trung tâm của ban quản lý TTHTCĐ - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 9 cho chúng ta thấy những số liệu về thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động của trung tâm của ban quản lý TTHTCĐ (Trang 83)
Bảng 13: Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý về thực trạng các điều kiện đảm - Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện yên phong, bắc ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân
Bảng 13 Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý về thực trạng các điều kiện đảm (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w