1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG HUYỆN YÊN PHONG BẮC NINH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỌC TẬP SUỐT ĐỜI CỦA NGƯỜI DÂN

140 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng xã hội học tập33 1.4.1.. Điều này được thể hiện rõ trong nhiệm vụ và giải phá

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của đề tài 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TTHTCĐ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỌC TẬP SUỐT ĐỜI CỦA NGƯỜI DÂN 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Các nghiên cứu về học tập suốt đời, xã hội học tập 6

1.1.2 Các nghiên cứu về Trung tâm học tập cộng đồng với việc xây dựng xã hội học tập 10

1.2 Một số khái niệm 14

1.2.1 Học tập suốt đời, Xã hội học tập 14

1.2.2 Giáo dục thường xuyên 18

1.2.3 Trung tâm học tập cộng đồng, Phát triển trung tâm học tập cộng đồng 20

Trang 2

1.3 Trung tâm học tập cộng đồng với việc đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng xã hội học tập 23 1.3.1 Vai trò của Trung tâm học tập cộng đồng 23 1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm học tập cộng đồng 25 1.3.3 Chương trình, nội dung và các loại hình hoạt động ở Trung tâm học tập cộng đồng 27 1.3.4 Các đối tượng người học ở các Trung tâm học tập cộng đồng 29 1.3.5 Đội ngũ cán bộ quản lý trong các Trung tâm học tập cộng đồng 31 1.3.6 Giáo viên/ hướng dẫn viên trong các Trung tâm học tập cộng đồng 32 1.3.7 Nguồn lực của Trung tâm học tập cộng đồng 33 1.4 Phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng xã hội học tập33 1.4.1 Điều kiện và các bước thành lập Trung tâm học tập cộng đồng 33 1.4.2 Mô hình tổ chức của các Trung tâm học tập cộng đồng 34 1.4.3 Xác định nhu cầu và tổ chức các hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng 35 1.4.4 Huy động các loại nguồn lực và xây dựng cơ chế phối hợp trong các hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng 36 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển Trung tâm học tập cộng đồng 39

Trang 3

1.5.1 Các yếu tố chủ quan 39 1.5.2 Các yếu tố khách quan 39

Tiểu kết Chương 1 41 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC

422.1 Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội, giáo dục huyện Yên Phong 42 2.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Yên Phong 42 2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội năm 2015 và phương hướng phát triển năm 2020 của huyện Yên Phong 43 2.1.3 Tình hình giáo dục huyện Yên Phong năm học 2015 - 2016 44 2.2 Khái quát về các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong năm học 2015 - 2016 46 2.2.1 Về mạng lưới các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 46 2.2.2 Các loại hình và nội dung hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 46 2.2.3 Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất của các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 48 2.2.4 Quản lý các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 50 2.2.5 Kết quả tổ chức các hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng 54

Trang 4

2.2.6 Khái quát một số ưu điểm, hạn chế và xếp loại các Trung tâm

học tập cộng đồng huyện Yên Phong 55

2.3 Thực trạng phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 56

2.3.1 Một số thông tin chung về khảo sát thực trạng phát triển của các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 56

2.3.2 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong 58

Tiểu kết Chương 2 82

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TTHTCĐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH ĐÁP ỨNG NHU CẦU HỌC TẬP SUỐT ĐỜI CỦA NGƯỜI DÂN, GÓP PHẦN XÂY DỰNG XHHT TỪ CƠ SỞ XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN 84

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 84

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính lịch sử và kế thừa 84

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi 84

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính phối hợp, liên kết và đồng bộ 84

3.1.4 Nguyên tắc đáp ứng nhu cầu học tập ngay tại địa phương 85

3.1.5 Nguyên tắc bảo đảm tính bền vững 85

3.2 Các biện pháp phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn huyện Yên Phong 85

Trang 5

3.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân và các ban, ngành, đoàn thể của địa phương về lợi ích của

việc tham gia các hoạt động học tập, sinh hoạt tại TTHTCĐ 86

3.2.2 Biện pháp 2: Xác định nhu cầu học tập của người dân tại cộng đồng 88

3.2.3 Biện pháp 3: Xây dựng kế hoạch hoạt động cho TTHTCĐ đáp ứng nhu cầu học tập của người dân tại cộng đồng 92

3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức linh hoạt các chương trình và hoạt động của TTHTCĐ phù hợp với nhu cầu của người học 94

3.2.5 Biện pháp 5: Phát triển mạng lưới liên kết với tất cả các ban, ngành, đoàn thể, chương trình, dự án trong và ngoài cộng đồng để huy động và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả cho các hoạt động của TTHTCĐ 97

3.2.6 Biện pháp 6: Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động tại TTHTCĐ 100

3.2.7 Biện pháp 7: Bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên/ hướng dẫn viên của TTHTCĐ 103

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 104

3.4 Khảo nghiệm về sự cần thiết của các biện pháp đã đề xuất 105

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 105

3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 105

3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 105

3.4.4 Đối tượng khảo nghiệm 105

3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 105

Trang 6

Tiểu kết Chương 3 110

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC 120

DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Kết quả tổ chức các lớp chuyên đề và số người tham gia học tập tại TTHTCĐ (năm học 2015 – 2016) 47

Bảng 2: Cơ sở vật chất của các TTHTCĐ huyện Yên Phong (2015 – 2016) 48

Bảng 3: Kinh phí quyết toán hoạt động của TTHTCĐ huyện Yên Phong 49

Bảng 4: Kiện toàn bộ máy ban giám đốc TTHTCĐ (2015 – 2016) 53

Bảng 5: Một số thông tin về đối tượng điều tra được khảo sát 58

Bảng 6: Kết quả đạt được của người dân khi tham gia các hoạt động học tập, sinh hoạt tại TTHTCĐ (N = 85) 59

Bảng 7: Lí do của người dân muốn tham gia các hoạt động, chuyên đề, lớp học tại TTHTCĐ (N=85) 63

Bảng 8: Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về kết quả thực hiện công tác lập kế hoạch tại TTHTCĐ (N = 171) 66

Bảng 9: Đánh giá của Giám đốc TTHTCĐ về mức độ thường xuyên tổ chức các hoạt động/ chuyên đề/ lớp học tại trung tâm (N = 14) 69

Bảng 10: Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý về kết quả đạt được khi tổ chức các hoạt động/ chuyên đề/ lớp học tại TTHTCĐ (N = 171) 70

Bảng 11: Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng tổ chức và huy động, phối hợp các lực lượng tham gia vào các hoạt động tại TTHTCĐ (N = 171) 72

Bảng 12: Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng kiểm tra, giám sát và đánh giá các hoạt động tại TTHTCĐ (N = 171) 75

Bảng 13: Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý về thực trạng các điều kiện đảm bảo cho các hoạt động/ lớp học tại TTHTCĐ (N = 171) 78

Trang 7

Bảng 14: Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các TTHTCĐ (N = 171) 80 Bảng 15: Đánh giá sự cần thiết của các biện pháp được đề xuất (N = 171) 106 Bảng 16: Đánh giá tính khả thi của các biện pháp được đề xuất (N = 171) 108

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH

Hình 1 : Quan niệm về xã hội học tập 18

Sơ đồ 1: Mô hình tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ 35

Hình 2: Vị trí huyện Yên Phong trong tỉnh Bắc Ninh 42

Biểu đồ 1: Những khó khăn/ cản trở 61

khi người dân tham gia học tập tại TTHTCĐ (N = 85) 61

Biểu đồ 2: Nhu cầu tham gia của người dân 62

tại các lớp học/ hoạt động của TTHTCĐ trong thời gian tới (N=85) 62

Biểu đồ 3: Kế hoạch năm được cụ thể hóa cho từng quý, tháng trong năm 65

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Bước vào thiên niên kỷ thứ hai của thế kỉ XXI, có thể thấy rằng, một trongnhững nhân tố quyết định, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế là chất lượng nguồnnhân lực của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội, Đảng và Nhà nước đã rất chú trọng đến nhân tố con người, coi sự phát triểncon người vừa là mục tiêu, vừa là động lực chính của phát triển xã hội Giáo dục và đàotạo được xem là cơ sở để phát huy nguồn lực con người Hiện nay, Việt Nam đangtrong quá trình xây dựng và phát triển xã hội học tập (XHHT) - là nơi mọi người dânđều được trang bị kiến thức, kĩ năng và tay nghề cao; được học tập thường xuyên, liêntục và suốt đời Hệ thống giáo dục thường xuyên ở Việt Nam đã trở thành công cụ để

mở rộng tạo cơ hội học tập cho mọi người và xây dựng XHHT Mục tiêu cụ thể trongNghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám ban chấphành trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứngyêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày

09 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ) đã nhấn mạnh “Đối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xóa mù chữ bền vững”

Việt Nam đã hoàn thành đề án xây dựng XHHT giai đoạn 2005 - 2010 vàhiện nay đang thực hiện đề án xây dựng XHHT giai đoạn 2012 - 2020 Thông quacông tác xây dựng xã hội học tập từ cơ sở (xã, phường, thị trấn) cho thấy nhu cầuhọc tập thường xuyên, học tập suốt đời đã trở thành điều kiện thiết yếu đối vớinhiều người dân Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) - một trong những cơ sởcủa hệ thống giáo dục thường xuyên đã được Luật hóa để xây dựng XHHT từ cơ sở,chính là nơi tạo cơ hội học tập thường xuyên, liên tục, học tập suốt đời cho mọi đốitượng trong xã hội và nó đã được đánh giá là mô hình giáo dục có hiệu quả trong

Trang 10

việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển cộng đồng một cáchbền vững Điều này được thể hiện rõ trong nhiệm vụ và giải pháp của đề án xây

dựng XHHT giai đoạn 2012 - 2020 “Củng cố, phát triển bền vững các TTHTCĐ; tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng; mở rộng địa bàn hoạt động đến các thôn, bản, cụm dân cư; đa dạng hóa nội dung giáo dục; phấn đấu tăng số lượng TTHTCĐ hoạt động có hiệu quả; phát triển mô hình TTHTCĐ kết hợp với trung tâm văn hóa thể thao xã hoạt động

có hiệu quả.”.

Theo thống kê của Vụ Giáo dục thường xuyên - Bộ Giáo dục và đào tạo,trong những năm gần đây, TTHTCĐ đã được thành lập ở hầu hết các xã, phường,thị trấn trên mọi miền tổ quốc Năm học 1998 - 1999, cả nước chỉ có 10 TTHTCĐ,nhưng đến năm học 2014 - 2015 đã có khoảng 10.998 TTHTCĐ được thành lập và

đi vào hoạt động Điều này cho thấy việc phát triển các TTHTCĐ là cần thiết và đãtrở thành xu thế phát triển tất yếu của xã hội Qua thực tế hoạt động trong nhữngnăm qua, TTHTCĐ là công cụ quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sốngcho người dân, thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của địaphương, đặc biệt đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dântộc ít người Chính vì vậy, trong quá trình nước ta đang xây dựng cả nước trở thànhmột xã hội học tập, việc đổi mới tổ chức hoạt động của TTHTCĐ là rất cần thiết đểtạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân Bên cạnh những kết quả đã đạt được,TTHTCĐ bước đầu cũng đã bộc lộ một số yếu kém và hạn chế nhất định Một sốTTHTCĐ còn hoạt động chưa hiệu quả; nội dung và hình thức hoạt động còn sơ sài;

cơ sở vật chất nghèo nàn; kinh phí duy trì cho các hoạt động thường xuyên còn hạnhẹp; cơ chế vận hành còn nhiều lúng túng; năng lực điều hành của ban giám đốcTTHTCĐ còn nhiều bất cập Còn nhiều trung tâm hoạt động chỉ mang tính hìnhthức, không có nội dung hoạt động, không thu hút được người dân đến tham gia.Từnhững tồn tại trên đây, việc tìm ra biện pháp để phát triển hoạt động TTHTCĐ mộtcách hiệu quả đang là một đòi hỏi cấp bách cần giải quyết để đáp ứng nhu cầu học

Trang 11

tập suốt đời của người dân tại cộng đồng, tiến tới xây dựng thành công XHHT từ cơ

sở, góp phần phát triển cộng đồng bền vững

Huyện Yên Phong là một huyện nằm ở phía tây bắc của tỉnh Bắc Ninh (tỉnhthuộc đồng bằng sông Hồng và nằm trên vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và là mộttrong những tỉnh đã có nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội).Trong những năm qua, các TTHTCĐ huyện Yên Phong nói riêng cũng như của cả tỉnhBắc Ninh đã có nhiều đóng góp đáng kể vào thành tích chung của giáo dục tỉnh, songcũng còn hạn chế đó là việc tổ chức các hoạt động của TTHTCĐ chưa mang lại hiệuquả cao về quản lý cũng như chất lượng hoạt động Thực tế cho thấy những nơi nàoTTHTCĐ hoạt động hiệu quả thì nơi đó đã dần khẳng định được vị trí của trung tâmtrong việc tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân và ngược lại Với các lý do kể

trên, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Phong

- Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng phát triển của TTHTCĐ huyệnYên Phong, tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất được giải pháp phát triển TTHTCĐ trênđịa bàn huyện Yên Phong, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, gópphần xây dựng XHHT từ cơ sở (xã, phường, thị trấn)

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Tổ chức và hoạt động của các TTHTCĐ trên địabàn huyện Yên Phong

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Phát triển các TTHTCĐ huyện Yên Phong

4 Giả thuyết khoa học

TTHTCĐ trên địa bàn huyện Yên Phong đã được thành lập bước đầu hoạtđộng có hiệu quả, tuy nhiên trong quá trình tổ chức thực hiện vẫn còn gặp nhiều khókhăn và hạn chế Nếu các giải pháp phát triển các TTHTCĐ trên địa bàn huyện YênPhong được đề xuất trên cơ sở tiếp cận hệ thống và tiếp cận nhu cầu phát triển cộngđồng thì các hoạt động của TTHTCĐ sẽ được cải thiện, đáp ứng nhu cầu học tậpsuốt đời của người dân, góp phần xây dựng XHHT từ cơ sở xã, phường, thị trấn

Trang 12

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển TTHTCĐ

5.2 Đánh giá thực trạng phát triển của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện YênPhong - tỉnh Bắc Ninh trong việc tạo cơ hội học tập cho người dân ở cộng đồng

5.3 Đề xuất các giải pháp phát triển TTHTCĐ trên địa bàn huyện YênPhong - tỉnh Bắc Ninh đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phầnxây dựng XHHT từ cơ sở xã, phường, thị trấn

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

- Trong khuôn khổ là một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ nghiên cứu thực trạng

và các giải pháp phát triển TTHTCĐ đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của ngườidân, góp phần xây dựng XHHT từ cơ sở xã, phường, thị trấn của huyện Yên Phong

- tỉnh Bắc Ninh

- Các giải pháp đề xuất dành cho các chủ thể quản lý là giám đốc TTHTCĐ

7 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

- Tiếp cận nhu cầu phát triển cộng đồng:

TTHTCĐ là một cơ sở học tập giúp người dân được học tập thường xuyên,liên tục, suốt cuộc đời ở cấp cơ sở xã, phường, thị trấn TTHTCĐ được xây dựng vàphát triển là của dân, do dân và vì dân Xây dựng hệ thống giải pháp phát triểnTTHTCĐ đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người dân sẽ giúp cộng đồng pháttriển bền vững

- Tiếp cận thực tiễn hoạt động của TTHTCĐ:

Trang 13

Cách tiếp cận này xem xét tình hình thực tiễn về việc phát triển TTHTCĐcủa cả nước nói chung và đặc thù phát triển TTHTCĐ của huyện Yên Phong, tỉnhBắc Ninh nói riêng.

- Tiếp cận đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam:

Phát triển TTHTCĐ phải đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục thường xuyênnói chung, góp phần đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam

7.2 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu khoa học để tổng quan cơ sở lý luận của đề tài;

- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Hồi cứu, phân tích, tổng hợp tư liệu, các báo

cáo tổng kết, báo cáo đánh giá thực tiễn các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài

- Phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học: bằng bảng hỏi để thu thập các

thông tin cần thiết liên quan đến đề tài

- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về tính khoa học của bộ

công cụ khảo sát và tính khả thi của các biện pháp

- Phương pháp xử lý thông tin, số liệu: Xử lý và phân tích các dữ liệu, thông

tin thu được qua điều tra khảo sát

8 Cấu trúc của đề tài

MỞ ĐẦU Chương 1 Cơ sở lý luận về phát triển trung tâm học tập cộng đồng đáp ứng

yêu cầu học tập suốt đời của người dân

Chương 2 Thực trạng phát triển của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Yên

Phong - tỉnh Bắc Ninh

Chương 3 Giải pháp phát triển TTHTCĐ trên địa bàn huyện Yên Phong

-tỉnh Bắc Ninh đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựngXHHT từ cơ sở xã, phường, thị trấn

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TTHTCĐ

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỌC TẬP SUỐT ĐỜI CỦA NGƯỜI DÂN

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu về học tập suốt đời, xã hội học tập

1.1.1.1 Các nghiên cứu về học tập suốt đời, xã hội học tập ở nước ngoài

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khái niệm XHHT đã được các nhà khoahọc thế giới bàn đến Năm 1972, khái niệm XHHT được gắn với khái niệm HTSĐ(lifelong learning) Khái niệm này lần đầu tiên xuất hiện trong bản báo cáo

“Learning to be” trình UNESCO của “Hội đồng Quốc tế về phát triển giáo dục” doông Edgar Faure, nguyên Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ giáo dục Pháp làm Chủ tịch.Nội dung bản báo cáo đã mở ra diễn đàn toàn cầu đầu thế kỷ XXI về phát triển giáodục Trong đó, các học giả tập trung vào việc làm rõ nội hàm của hai khái niệm trên

và bắt đầu đi tìm kiếm mô hình HTSĐ và XHHT Dưới sự chỉ đạo của ông EdgarFaure, Ủy ban Quốc tế về phát triển giáo dục thế kỷ XXI đã đề xuất những vấn đề

cơ bản đối với HTSĐ trên quan điểm: trong điều kiện khoa học và công nghệ pháttriển như vũ bão, không ai có thể coi kiến thức của giáo dục ban đầu là đủ cho đếnhết đời nên phải học tập không ngừng [7] Từ đó, khái niệm HTSĐ luôn đượcgắn với khái niệm XHHT

Tiếp theo, học giả Jacques Delors đã nêu lên 4 trụ cột giáo dục là: học đểbiết (learning to know), học để làm (learning to do), học để chung sống (learning tolive together) và học để khẳng định mình (learning to be) - Người ta học qua bốnnhu cầu này trong suốt cuộc đời của họ [41]

Năm 1996 là năm đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử quá trìnhthúc đẩy nghiên cứu mô hình HTSĐ của cộng đồng quốc tế Trong năm này,hàng loạt các công trình nghiên cứu về HTSĐ được công bố, như: UNESCOxuất bản tác phẩm “Kho báu tiềm ẩn” (Delors và cộng sự, 1996); OECD xuấtbản báo cáo HTSĐ cho mọi người; Liên minh Châu Âu tuyên bố lấy năm nàylàm “Năm châu Âu về học tập suốt đời” Nhờ những nỗ lực này, thành phố học tập

đã được định nghĩa: Một cộng đồng học tập là một thành phố, thị xã hoặc vùng mà

Trang 15

ở đó huy động được mọi nguồn lực nhằm phát triển, làm giàu thêm tiềm năngcon người để nuôi dưỡng sự phát triển cá nhân, duy trì sự gắn kết xã hội và tạo ra

sự thịnh vượng Liên minh châu Âu đã đưa ra 8 năng lực cốt lõi của một công dânhọc tập suốt đời: (1) Giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ; (2) Giao tiếp bằng ngoại ngữ ; (3)Năng lực tính toán và những năng lực cốt lõi về khoa học và công nghệ; (4) Nănglực trong môi trường số (digital competence); (5) Năng lực học và tự học (learning

to learn); (6) Năng lực xã hội và năng lực công dân; (7) Ý thức về các sáng kiến vànghệ thuật kinh doanh là khả năng chuyển biến các ý tưởng thành hành động; (8)Nhận thức và biểu đạt văn hóa Đây là cơ sở để ngày nay, cộng đồng quốc tế bắttay xây dựng các thành phố học tập (learning city), mô hình công dân học tập đểtiến tới xây dựng quốc gia học tập [40] Để xây dựng XHHT, nhiều quốc gia đã chủtrương xây dựng các thành phố học tập (learning city) Vương quốc Anh là mộtquốc gia đóng vai trò quan trọng trong Liên minh châu Âu đã thể hiện các nỗ lựccủa tổ chức này về xây dựng thành phố học tập Bộ Giáo dục và Lao động Anh đã

đề ra mục tiêu làm cho mọi người có những cơ hội tốt nhất để được giáo dục, đàotạo và lao động, có vị trí trong xã hội và có quyền đóng góp vào sự cạnh tranh củaAnh quốc trong thế kỷ XXI Từ năm 1996, thành phố Liverpool đã tự xác nhậnmình là một “thành phố học tập” Đến nay, ở Anh có 80 thành phố và vùngxây dựng thành phố học tập Hội nghị châu Âu về thành phố học tập đã được tổchức đúng dịp nước Anh giữ nhiệm kỳ Chủ tịch EU năm 1998 [40]

Tại Canada, từ năm 2003, thành phố Victoria đặt mục tiêu trở thành một

“cộng đồng học tập dẫn đầu” vào năm 2020 Sáng kiến này có phạm vi trải dài từhọc tập ở bậc học mầm non cho đến việc khuyến khích những người cao tuổitham gia các khóa học cao đẳng, đại học Thành phố Vancouver cũng hướng tớiviệc trở thành một “thành phố học tập” với mục tiêu đặt ra là: đạt tỷ lệ học sinhnhập học và hoàn thành bậc học cao hơn, tỷ lệ biết đọc viết và tính toán cao hơn, có

sự cộng tác hiệu quả hơn giữa các nhà giáo dục và đào tạo Chiến lược củaVancouver đặc biệt chú trọng tới các cơ hội học tập cho những người và nhóm dân

Trang 16

cư thiệt thòi, dễ gặp rủi ro và bị tách biệt về xã hội Các thành phố St John’s vàEmonton cũng nỗ lực để trở thành những cộng đồng học tập [9].

Tại Nhật Bản, để xây dựng XHHT, Chính phủ đã lập ra “Uỷ ban Quốc gia

về giáo dục suốt đời” Theo luật định, Nhật Bản có hai hệ giáo dục: giáo dục nhàtrường và giáo dục xã hội Giáo dục nhà trường là hệ giáo dục ban đầu, gồm trườngmẫu giáo, trường phổ thông (là loại trường phổ cập giáo dục) và các loại hìnhtrường đào tạo nghề từ trung cấp đến đại học Chính sách giáo dục xã hội Nhật Bảnbao gồm ba trụ cột chính: “Mở rộng mạng lưới cơ sở học tập để làm nền tảng họctập cho cộng đồng”, “hỗ trợ hoạt động trao đổi học tập trong cộng đồng” và “tổchức các khóa học dựa trên nhu cầu của người dân” Bên cạnh các cơ sở học tập,như: TTHTCĐ (kominkan), thư viện, bảo tàng, thì các cơ sở học tập dành cho phụ

nữ và thanh thiếu niên cũng trở thành các cơ sở giáo dục, làm nền tảng cho việc họctập Ngay từ năm 1979, thành phố Kakegawa - một trong bảy thành phố tham gia

“các thành phố giáo dục” được công nhận là thành phố HTSĐ đầu tiên của NhậtBản Từ đó, dự án thành phố HTSĐ của Nhật Bản đã được thực hiện như một phầntrong chính sách thúc đẩy HTSĐ của các thành phố/thị xã/cộng đồng Thành phốHTSĐ có tác động rất tích cực đối với giáo dục địa phương, năng suất lao động, sựđổi mới và nền kinh tế trong bối cảnh kinh tế tri thức [10] Năm 1990, đạo luật vềxây dựng các cơ chế và biện pháp thúc đẩy HTSĐ được ban hành Năm 2010,Chính phủ Nhật Bản đã ban hành “Chiến lược mới để tăng trưởng - lộ trình hồi sinhNhật Bản” nhằm định hướng chính sách và các chỉ tiêu cụ thể cần đạt được đếnnăm 2020 về tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực ở Nhật Bản

Tại Hàn Quốc, từ năm 1980, trong Hiến pháp sửa đổi đã quy định: “Nhànước chịu trách nhiệm thúc đẩy giáo dục suốt đời” Hệ thống giáo dục Hàn Quốchướng đến xây dựng một xã hội HTSĐ ở thế kỷ XXI Do đó, họ đã tiến hành cảicách giáo dục mạnh mẽ và toàn diện để phù hợp với kỷ nguyên thông tin và toàncầu hóa Năm 1999, thực thi Hiến pháp, Luật giáo dục suốt đời của Hàn Quốc đượcban hành Theo đó, phải thúc đẩy giáo dục không chính quy nhằm thực hiện haimục đích chính: liên kết GD với xã hội và biến xã hội thành nơi học tập, đồng thời

Trang 17

tăng cường sự trợ giúp của các tổ chức giáo dục liên quan đến giáo dục suốt đời.Luật GD suốt đời (1999) còn chỉ rõ: “Chính phủ có thể chỉ định và hỗ trợ một số

đô thị, quận, hạt để trở thành những thành phố học tập” Năm 2001, 3 thànhphố đầu tiên của Hàn Quốc đã được công nhận “thành phố học tập” Đến năm

2008, đã có 76 đơn vị hành chính được công nhận là “thành phố học tập” Các nhàquản lý đã nhận thức “thành phố học tập” không chỉ đơn thuần cung cấp các

cơ hội giáo dục, học tập mà còn làm cho thành phố đó trở nên thông minh hơn,cởi mở hơn Để xây dựng các thành phố học tập cần có những công dân học tập

Họ xây dựng những phẩm chất, phát triển những năng lực công dân phải có đểhội nhập và cạnh tranh trong thế giới hiện đại [40]

1.1.1.2 Những nghiên cứu về học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về XHHT được theo tiếp cận theocác hướng sau:

Hướng thứ nhất, các học giả, các nhà nghiên cứu đi từ vấn đề kinh tế trithức, từ đó đề xuất đổi mới nền giáo dục Trong đó, nội dung cốt lõi là nghiên cứuXHHT Đó là các tác giả: Vũ Đình Cự, Chu Hảo, Trần Đình Thiên, NguyễnViết Sự, Phạm Tất Dong,…

Hướng thứ hai, các học giả, các nhà nghiên cứu tiếp cận từ vấn đề nguồnnhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế từ

đó đề xuất xây dựng XHHT Đó là các tác giả: Nguyễn Minh Đường, Hoàng Tụy,

Vũ Ngọc Hải, Thái Thị Xuân Đào, Hoàng Minh Luật, Tô Bá Trượng …

Về định hướng xây dựng XHHT Việt Nam giai đoạn 2011-2020, trong báocáo “Thực trạng và tầm nhìn 2020 về học tập suốt đời - xây dựng xã hội học tập tại

Việt Nam”, tác giả Nguyễn Vinh Hiển đã khẳng định: “Việt Nam tiếp tục xây dựng XHHT giai đoạn 2011- 2020 với những tiêu chí cơ bản sau đây: đảm bảo mọi điều kiện cần thiết nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học tập suốt đời góp phần nâng cao dân trí và năng lực công dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình và xã hội Trong đó, học tập suốt đời được coi vừa

Trang 18

là mục tiêu, vừa là giải pháp để xây dựng xã hội học tập và quan niệm về học trong xã hội học tập được mở rộng và tiếp cận sâu với “năm trụ cột” của học tập: “học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để cùng chung sống và học để quan tâm đến hành tinh”.

Dưới ánh sáng Nghị quyết 29-NQ/TW của Trung ương Đảng về đổi mớicăn bản toàn diện giáo dục Việt Nam, tác giả Phạm Tất Dong khẳng định: Vấn đề

cơ bản, then chốt nhất trong toàn bộ công việc xây dựng XHHT là xác lậpđược mục tiêu đào tạo của sự nghiệp giáo dục người lớn, đề xuất đưọc mô hìnhnhân cách của “công dân học tập” tại cộng đồng dân cư và “lao động tri thức”(knowledde worker) trong các cơ quan doanh nghiệp, cơ sở sản xuất Xây dựngXHHT thực chất là tiến hành một cuộc cách mạng giáo dục [12]

Tóm lại, các nghiên cứu về XHHT, HTSĐ đã được nhiều học giả trong nước

và nước ngoài đề cập đến, ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, với nhiều cách tiếpcận khác nhau Từ khái niệm, định nghĩa, các học giả, các nhà nghiên cứu đã đềxuất ý tưởng xây dựng các cộng đồng học tập, thành phố học tập và giáo dục suốtđời cho người lớn Tuy nhiên, để sống với thế giới hiện đại và theo kịp các nướcphát triển, các quốc gia phải tự xây dựng cho mình một kho tàng tri thức đồ sộ vàphong phú, phải có được nguồn nhân lực chất lượng cao, có đủ năng lực nội sinh vềkhoa học và công nghệ, có đội ngũ “lao động tri thức” thích ứng cao với thế giớicông nghệ hiện đại Trong XHHT, mỗi con người phải được đào tạo liên tục,HTSĐ Do đó, hệ thống giáo dục không chỉ bó hẹp trong các loại hình trường màcòn phải mở rộng các hình thức học ngoài nhà trường Đó là hệ thống giáo dục linhhoạt, tạo ra sự đa dạng các ngành học, các hình thức học, các kênh liên thông giữacác loại hình giáo dục khác nhau

1.1.2 Các nghiên cứu về Trung tâm học tập cộng đồng với việc xây dựng

xã hội học tập

Việc thực hiện HTSĐ và xây dựng XHHT phải được gắn kết chặt chẽ với cácphương thức giáo dục mở: Giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy, giáo dục

Trang 19

phi chính quy hay giáo dục ban đầu và giáo dục tiếp tục hay là giáo dục thườngxuyên với đặc trưng là giáo dục cộng đồng và được thực hiện bởi TTHTCĐ.

1.1.2.1 Các nghiên cứu về Trung tâm học tập cộng đồng với việc xây dựng xã hội học tập ở nước ngoài

UNESCO xem mô hình TTHTCĐ là một công cụ, một cơ chế có hiệu quảnhất trong việc thực hiện giáo dục cho mọi người và mọi người cho giáo dục.TTHTCĐ nổi lên như là mô hình lý tưởng để thực thi HTSĐ và tạo lập một XHHT.Victor Odoner, nguyên Tổng giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái BìnhDương, E.I Rous Emma (2007) đã đề cập đến việc quản lý phát triển mô hìnhTTHTCĐ như là một phần của giải pháp giáo dục thích hợp cho mọi người và đểxây dựng một XHHT [1] Như vậy, phát triển TTHTCĐ là con đường tất yếu đểthực hiện mục tiêu HTSĐ và xây dựng XHHT ở bất kỳ một quốc gia nào

Có thể nói, Nhật Bản là nước đi đầu trong nghiên cứu và triển khai phát triển

mô hình TTHTCĐ trên thế giới Ra đời từ thế kỷ XVII, từ phong trào xóa mù chữcho người dân, các địa phương đã tự tổ chức hình thành các cơ sở xóa mù chữ vớitên gọi là Têrakôya Đến sau đại chiến thế giới lần thứ hai, Bộ Giáo dục Nhật Bảnhình thành mô hình giáo dục xã hội mới, gọi là Kôminkan Quản lý phát triển cácKôminkan không những do nhu cầu của cộng đồng mà còn được người dân thamgia tích cực Bên cạnh sự quản lý chỉ đạo của Nhà nước về Kôminkan còn có các

phong trào của quần chúng với khẩu hiệu: Phát triển Kôminkan trước hết để xây dựng làng xã Chính nhờ những chủ trương đó mà Kôminkan phát triển không

ngừng: năm 1947 mới chỉ có 3.537 trung tâm, đến năm 2002 là 17.947 và hiện naytrên khắp nước Nhật đã có 18.000 Kôminkan hoạt động dưới sự quản lý của Nhànước trung ương và địa phương, 76.883 Kôminkan do người dân quản lý.Kôminkan đã phủ khắp 90% làng xã/thị trấn trên toàn quốc và trở thành nền móngvững chắc trong việc xây dựng cộng đồng học tập tiến tới xây dựng XHHT Điềuđáng chú ý là việc quản lý phát triển các Kôminkan của Nhật Bản có quy mô thôn(làng), gắn liền với đời sống của cộng đồng dân cư thôn/làng

Trang 20

Tại Thái Lan, năm 1977 Chính phủ Thái Lan đã triển khai Đề án giáo dụckhông chính quy, trong đó đề cập ngay đến việc quản lý phát triển nhanh cácTTHTCĐ Đến năm 2006, Thái Lan đã phát triển được 7000 TTHTCĐ cấp xã Cáctrung tâm này chịu sự quản lý của dân làng Trong các trung tâm có thư viện, phòngđọc sách báo, phòng hội họp, sinh hoạt câu lạc bộ, xem ti vi hoặc các sinh hoạt cộngđồng khác và TTHTCĐ chính là cơ sở giáo dục không chính quy cấp xã đặt nềnmóng cho việc xây dựng xã hội học tập ở những cấp hành chính cao hơn.

Tại Ấn Độ, Chính phủ đã xác định muốn đẩy nhanh chiến lược xóa mù chữ,trước hết phải xây dựng được các cơ sở hạ tầng của giáo dục người lớn Năm 1988,Chính phủ đã ra quyết định thành lập hàng loạt các TTHTCĐ trong cả nước Nhữngtrung tâm này chủ yếu do cộng đồng tự cam kết thành lập và quản lý, là nơi chínhthức tổ chức các hoạt động xóa mù chữ và giáo dục cộng đồng Từ công tác xóa mùchữ, người dân khi đến TTHTCĐ không những được biết đọc, biết viết mà cònđược học các chương trình theo nhu cầu, sở thích cá nhân, được đáp ứng mọinguyện vọng học tập Từ đó, công tác xây dựng XHHT dần được hình thành và trởthành xu thế phát triển không chỉ tại Ấn Độ mà nhiều nước Châu Á khoác

Tóm lại, tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà việcphát triển các TTHTCĐ có khác nhau, nhưng đều chung một mục đích là làm sao cóđược những cơ sở giáo dục của cộng đồng để cho mọi người dân được học tập vàHTSĐ, góp phần xây dựng XHHT Một số nhà khoa học và nhà hoạch định chínhsách của một số quốc gia như Myanmar, Thái Lan, Ấn độ, Banglades, Nhật Bản,Trung Quốc… đã nghiên cứu về phát triển các TTHTCĐ với phương thức quản lý

thích hợp nhất đối với quốc gia của mình Các nghiên cứu đã chỉ ra Phương thức quản lý phát triển các TTHTCĐ là sự tổng hợp 2 hình thức quản lý: Quản lý công

và tự quản Phương thức quản lý phát triển TTHTCĐ của Myanmar và Ấn Độ là quản lý công; của Thái Lan là Cộng đồng quản lý (tự quản lý); của Banglades và Trung Quốc là Quản lý dựa vào cộng đồng Riêng tại Nhật Bản tồn tại song song hai phương thức quản lý TTHTCĐ là Quản lý dựa vào cộng đồng và Cộng đồng tự

Trang 21

quản lý [31] Các phương thức quản lý này đã góp phần tích cực vào việc phát triển

và Đào tạo đã cho phép triển khai đến các tỉnh và thành phố: Hà Nội, Lào Cai, VĩnhPhúc, Tiền Giang, Long An Những năm tiếp theo, được sự phối hợp của Hội Khuyếnhọc Việt Nam, mô hình phát triển các TTHTCĐ đã phát triển mạnh mẽ trong toànquốc Sau 15 năm xây dựng và phát triển ở Việt Nam đến nay TTHTCĐ đã có mạnglưới hình thành rộng khắp cả nước Từ 10 trung tâm được xây dựng thí điểm với sự

hỗ trợ kinh phí của Nhật Bản (năm học 1998 – 1999), đến năm học 2014 – 2015 cảnước đã có 10.998 TTHTCĐ trên 11.1333 xã, phường, thị trấn trên cả nước (đạt tỷ

lệ 98,78% xã, phường, thị trấn có TTHTCĐ) Đặc biệt ở một số tỉnh, 100% số xã,phường, thị trấn có TTHTCĐ (Thái Bình, Nam Định, Vĩnh Phúc, Thành phố Đànẵng, Thành phố Hải Dương, )

Năm 2004, Vụ giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Trung tâmNghiên cứu Xóa mù chữ và Giáo dục thường xuyên (Viện Khoa học giáo dục ViệtNam) phối hợp với Hiệp hội Quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản (NFUAJ) đãcho xuất bản cuốn tài liệu: Phát triển trung tâm học tập cộng đồng [38] và Sổ taythành lập trung tâm học tập cộng đồng [39] Ngoài việc xây dựng, phát triển về sốlượng và nâng cao chất lượng TTHTCĐ; các tổ chức, các nhà khoa học Việt Nam

đã tổ chức nghiên cứu và đóng góp lớn trong việc xây dựng cơ sở lý luận cho việc

Trang 22

phát triển các TTHTCĐ như Tô Bá Trượng, Thái Thị Xuân Đào, Bế Hồng Hạnh,Hoàng Minh Luật, Ngô Quang Sơn, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn NgọcPhú, Nguyễn Xuân Đường, Nguyễn Lê Vân Dung, đã nêu các thực trạng pháttriển TTHTCĐ cũng như hệ thống các giải pháp phát triển TTHTCĐ, bước đầu gópphần xây dựng XHHT ở Việt Nam.

Trong cuốn Kỷ yếu đổi mới giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu học tậpsuốt đời cho mọi người của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, rất nhiều các nhànghiên cứu như Nguyễn Đức Minh, Bùi Trọng Trâm, Nguyễn Lê Vân Dung… đã

có bài tham luận nêu rõ thực trạng phát triển và quản lý các TTHTCĐ, từ đó đề xuất

ra các giải pháp khả thi để phát triển các TTHTCĐ đáp ứng yêu cầu xây dựngXHHT từ cấp cơ sở xã, phường, thị trấn ở Việt Nam [34]

Tóm lại, các nội dung được nêu trong phần tổng quan ở trên là những nộidung cơ bản của các công trình nghiên cứu cả về lý luận cũng như thực tiễn ở ViệtNam cũng như trên thế giới về XHHT, HTSĐ và TTHTCĐ trong việc thúc đẩy xâydựng XHHT

1.2 Một số khái niệm

1.2.1 Học tập suốt đời, Xã hội học tập

1.2.1.1 Học tập suốt đời

Mặc dù ý tưởng giáo dục suốt đời đã xuất hiện trong một số diễn đàn quốc tế

từ những năm 60 của thế kỷ 20, song quan niệm chính thức về HTSĐ chỉ trở thànhtâm điểm chú ý và chủ đề của nhiều cuộc thảo luận quốc tế sau khi có sự ra đời củacác báo cáo mang tính đột phá như Báo cáo của Faure (1972) và của Delors (1996).Đặc biệt, với một loạt những phong trào, sáng kiến về HTSĐ do liên minh châu Âu

và các quốc gia thành viên khởi xướng và phát triển trong thập niên 90 (như mạnglưới thành phố/thị trấn học tập, năm Châu Âu về HTSĐ 1996, các dự án LILIPUT,PASCAL, ELLI về HTSĐ và xây dựng XHHT…), quan niệm về HTSĐ ngày càngsáng tỏ và được công nhận rộng rãi hơn ở trong cũng như ngoài phạm vi các quốcgia châu Âu

Trang 23

Hầu hết các quan điểm đều thống nhất rằng HTSĐ bao hàm mọi hình thức học tập, thực hiện ở mọi lứa tuổi (từ lúc trong nôi cho đến khi qua đời), nhằm mục tiêu phát triển con người, hoàn thiện nhân cách, cập nhật kiến thức và kĩ năng cần thiết cho cuộc sống, công việc, giúp họ thích ứng được với môi trường kinh tế-xã hội luôn đổi thay nhanh chóng hiện nay Về bản chất, khái niệm HTSĐ cần được nhấn mạnh ở chỗ nó không chỉ giới hạn ở việc học của người lớn, như một số quan niệm trước đây Theo định nghĩa của Viện Học tập suốt đời UNESCO (2011),

HTSĐ bao gồm việc học của trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn, với phạm vi từcác hình thức học tập chính qui trong trường lớp đến các hình thức học không chínhqui và phi chính qui Cách hiểu toàn diện về HTSĐ không chỉ hàm ý ‘chiều dài’suốt cuộc đời của việc học (lifelong learning), mà nó còn đề cấp đến tính chất vàcác hình thức đa dạng của học tập (life-wide learning), và ‘chiều sâu’ (life-deeplearning) hay tính hữu ích và độ sâu sắc của các kiến thức học được trong cuộcsống, phục vụ thực tế cuộc sống Do đó, mục đích của HTSĐ là không chỉ để biết,hay để có bằng cấp, chứng chỉ, mà còn là học để thỏa mãn nhu cầu hoàn thiện bảnthân, để tồn tại và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của cuộc sống, củathời đại

Đối với Việt Nam, cho đến nay, định nghĩa cụ thể và những đặc trưng bảnchất của HTSĐ trong điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam vẫn chưa được đề cập rõ ràngtrong các văn bản chính thức của nhà nước, chưa được hiểu thống nhất cả trong giớinghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và trong thực tiễn Quan điểm chung củamột số nhà nghiên cứu cho rằng khi nói đến HTSĐ thì không nên có sự phân chiacứng nhắc, hạn hẹp về lứa tuổi, như tuổi thơ gắn với vườn trẻ và trường mẫu giáo,tuổi nhi đồng, tuổi thiếu niên và đầu tuổi thanh niên gắn với nhà trường, tuổi trưởngthành gắn với lao động, hay tuổi già gắn với nghỉ hưu Nói một cách đơn giản,HTSĐ tức là lứa tuổi nào cũng phải học (Phạm Tất Dong, 2011) Nhìn chung, ởViệt Nam cách hiểu thông thường nhất về HTSĐ là học mọi nơi, mọi lúc, với mọingười, ở mọi lứa tuổi và trình độ, không phân biệt hình thức học tập, đào tạo haybằng cấp Đồng thời, vẫn tồn tại những quan điểm đồng nhất hoặc gắn liền HTSĐ

Trang 24

với giáo dục người lớn, giáo dục thường xuyên, hay coi HTSĐ chỉ là phần kéo dài(học trong công việc, trong cuộc sống) sau khi đã kết thúc giáo dục phổ thông.Ngay cả trong Đề án Xây dựng XHHT 2012-2020 với HTSĐ được coi là quan điểm

chỉ đạo, cũng không đề cập đến quan niệm cụ thể và phạm vi của HTSĐ Với khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả quan điểm HTSĐ là học mọi nơi, mọi lúc, với mọi người, ở mọi lứa tuổi và trình độ, không phân biệt hình thức học tập, đào tạo hay bằng cấp.

Với những thay đổi không ngừng của cuộc sống, công việc và những tiến bộtừng ngày, từng giờ của khoa học – công nghệ trong thời đại ngày nay, HTSĐ ngàycàng chứng tỏ tầm quan trọng của mình Người học không chỉ đặt mục tiêu có được

bằng cấp, chứng chỉ sau một khóa học, mà quan trọng hơn, họ còn phải học để biết,

để làm được công việc một cách hiệu quả, để cùng chung sống hòa hợp với những người xung quanh, và học để làm người - hoàn thiện nhân cách, phát triển chính bản

thân mình Đây là bốn trụ cột của học tập trong thế kỉ 21 mà Báo cáo của Delors đãkhẳng định vào năm 1996, và cho đến nay vẫn thể hiện giá trị, tính đúng đắn Khi

xã hội ngày càng sung túc, văn minh và đạt đến một trình độ phát triển nhất định,HTSĐ không còn chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ, mà còn là niềm vui, ý nghĩa của sựsống còn, tồn tại đối với mỗi cá nhân và cộng đồng

HTSĐ mang lại những lợi ích cụ thể và lâu dài cho cả bản thân người học vàcác chủ thể khác xung quanh hoặc có liên quan, như gia đình, dòng họ; cơ quan,đơn vị sử dụng lao động; cộng đồng và xã hội

- Với cá nhân, gia đình, dòng họ: HTSĐ không chỉ mang lại những thànhtựu cho bản thân người học, mà còn góp phần ảnh hưởng tích cực tới các cá nhânkhác trong gia đình, dòng họ, đóng góp vào việc duy trì niềm tự hào gia tộc – mộtyếu tố văn hóa quan trọng trong các gia đình, cộng đồng người Việt Thực tế chothấy, các phong trào xây dựng ‘Gia đình hiếu học’, ‘Dòng họ khuyến học’, ‘Cộngđồng khuyến học’ của Hội khuyến học các cấp ở Việt Nam trong những năm vừaqua đã có tác dụng khích lệ to lớn đối với việc học tập của các thành viên trong từnggia đình, dòng họ và các cộng đồng dân cư nói chung

Trang 25

- Với cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng lao động: Năng lực HTSĐ của ngườilao động chính là một trong những yếu tố bảo đảm sự ổn định, tăng trưởng của cácdoanh nghiệp, sự phát triển bền vững của mỗi cơ quan, tổ chức trong bối cảnh hiệnnay Với những thay đổi, biến động từng ngày của khoa học – công nghệ và tácđộng của toàn cầu hóa, người lao động chỉ có thể thích ứng và khẳng định vị trí củamình khi thường xuyên có ý thức tự đào tạo, bồi dưỡng, học hỏi để bắt kịp với tiến

bộ của khoa học kĩ thuật Về phía cơ quan, doanh nghiệp, việc tạo cơ hội và điềukiện cho đội ngũ nhân lực của mình được HTSĐ, nâng cao trình độ, kĩ năng làmviệc cũng chính là giải pháp cốt yếu để duy trì chất lượng vốn con người – yếu tố cótầm quan trọng đặc biệt trong thế kỷ 21

- Với cộng đồng, xã hội: So với thế kỷ trước, những cộng đồng của thế kỷ

21 mang trong mình những nét đặc thù như thay đổi về nhân khẩu học (tình trạngdân số già), mức độ di dân tăng cao, tình trạng đa văn hóa – đa chủng tộc, xu hướng

cá nhân hóa, thời gian nhàn rỗi gia tăng, tác động tích cực và tiêu cực của mạng xãhội, của các công nghệ hiện đại… Vì vậy, mỗi công dân của cộng đồng, xã hội ngàynay cũng sẽ phải luôn học hỏi để nhận thức, thích nghi với hoàn cảnh, điều kiệnmới, để có thể chung sống khoan hòa với những cá nhân, tập thể khác quanh mình,với tự nhiên và môi trường Từng cá nhân có cơ hội và năng lực để HTSĐ sẽ gópphần làm cho cộng đồng ngày càng vững mạnh, đoàn kết và thịnh vượng, có khảnăng thích ứng hiệu quả trước mọi thay đổi để từng bước trở thành những ‘cộngđồng học tập’ thực sự

1.2.1.2 Xã hội học tập

Xây dựng XHHT đã và đang trở thành một xu hướng phát triển tất yếu củamọi quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, chủ trương xây dựng XHHT đã được Đảng,Nhà nước quán triệt và triển khai thực hiện thông qua hai Đề án quốc gia về xâydựng XHHT giai đoạn 2005-2010 và 2012-2020 Tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể vàđiều kiện phát triển của mỗi cộng đồng, quốc gia, có nhiều cách đinh nghĩa vềXHHT Theo quan điểm chỉ đạo về XHHT được nêu trong QĐ89/QĐ-TTg của Thủ

Trang 26

tướng chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng XHHT giai đoạn 2012-2020, XHHTđược hiểu là:

- Xã hội mà trong đó, mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên,suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; Có nghề, lao độngvới hiệu quả ngày càng cao; Học cho bản thân và những người xung quanh hạnhphúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại;

- Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trangnhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập

và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người đều được HTSĐ;

- Hệ thống giáo dục được xây dựng dựa trên nền tảng phát triển đồng thời,gắn kết và liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên; Đẩy mạnhcác hoạt động HTSĐ ở ngoài nhà trường; Ưu tiên các đối tượng chính sách, ngườidân tộc, phụ nữ, người bị thiệt thòi

Hình 1 : Quan niệm về xã hội học tập

XHHT

Gắn kết và liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên

Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung ứng

và tạo điều kiện học tập

Mọi người có

trách nhiệm

HTSĐ

Trang 27

Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, tác giả quan niệm về XHHT theo quan điểm chỉ đạo về XHHT được nêu trong QĐ89/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng XHHT giai đoạn 2012-2020

1.2.2 Giáo dục thường xuyên

GDTX (continuing education) là một khái niệm được sử dụng nhiều ở cácnước phát triển và xuất hiện ở các nước đang phát triển trong những năm cuối 80của thế kỉ XX trong chương trình giáo dục cho mọi người ở Châu Á – Thái BìnhDương (gọi tắt bằng tiếng Anh là APPEAL)

Khái niệm “Continuing education” được hiểu là sự giáo dục tiếp tục sau giáodục ban đầu/ giáo dục cơ bản (sau xóa mù chữ hay sau giáo dục tiểu học hoặc giáo dụctrung học cơ sở, tùy theo giáo dục phổ cập bắt buộc của từng nước) nhằm đáp ứng nhucầu học tập thường xuyên, HTSĐ của mọi người Sau khi đạt trình độ phổ cập, mỗingười có thể học theo các phương thức khác nhau: chính quy, không chính quy hoặcphi chính quy.Vì vậy, theo quan niệm này “Continuing education” là một khái niệmrộng, bao gồm cả giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy và giáo dục phi chínhquy Như vậy, GDTX là khái niệm rộng hơn giáo dục không chính quy

Ở Việt Nam, GDTX hiện còn được hiểu một cách khác nhau và chưa có sựphân biệt rõ ràng GDTX chính thức được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh là

“Continuing education” Tuy nhiên, việc dịch như vậy chưa hoàn toàn chính xác vềmặt ngữ nghĩa, dễ gây tranh cãi và hiểu lầm GDTX theo nghĩa tiếng Việt chỉ sựgiáo dục liên tục trong suốt cuộc đời từ lúc mới sinh ra cho đến lúc chết đi, bao gồm

cả giáo dục trẻ em và giáo dục người lớn Còn “Continuing education” nên đượcdịch ra tiếng Việt là “Giáo dục tiếp tục” Ngoài ra, GDTX ở Việt Nam hiện nayđược hiểu theo nghĩa hẹp hơn so với các nước trong khu vực GDTX ở Việt Namthực chất là giáo dục không chính quy Điều 40 Luật Giáo dục năm 1998 và điều 44Luật Giáo dục năm 2005 đều xác định giáo dục không chính quy hay GDTX đềuthực hiện một mục tiêu là “giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục suốt đờinhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyênmôn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với

Trang 28

đời sống xã hội” [21] Tuy nhiên, Luật Giáo dục 1998 coi giáo dục không chính quy

là phương thức còn Luật Giáo dục 2005 coi GDTX là hệ thống

Giáo dục không chính quy được hiểu là bất kì hoạt động giáo dục nào có hệthống, có tổ chức được tiến hành bên ngoài hệ thống giáo dục chính quy nhằm cungcấp các cơ hội học tập cho nhóm đối tượng dân cư, người lớn cũng như trẻ em Giáodục không chính quy được đặc trưng bởi tính đa dạng, tính linh hoạt và mềm dẻo.Theo UNESCO, giữa giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy có những nétkhác biệt nhất định, đó là Giáo dục không chính quy cần có sự tham gia nhiều hơncủa cộng đồng, chương trình học mềm dẻo hơn theo nhu cầu người học, và linh hoạt

về không gian, thời gian, địa điểm học tập Có thể thấy, chương trình của Giáo dụckhông chính quy đa dạng, không cố định Giáo dục không chính quy diễn ra khôngchặt chẽ về thời gian, không liên tục trong suốt cuộc đời Giáo dục không chính quychủ yếu dành cho người lớn và được tiến hành chủ yếu ở ngoài nhà trường

Ở Việt Nam, Giáo dục không chính quy được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ baogồm các chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý chỉ đạo như: Chươngtrình xóa mù chữ, giáo dục sau khi biết chữ, bổ túc văn hóa và giáo dục chuyên đềđáp ứng yêu cầu người học cho người dân ở TTHTCĐ, hoặc chỉ tập trung vào nhómđối tượng thiệt thòi không có điều kiện hoặc phải bỏ học phổ thông chính quy

Trong xu thế hội nhập, Việt Nam không thể có quan niệm riêng, GDTX và giáodục không chính quy là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, có nội hàm khác nhau ViệtNam không thể dùng thuật ngữ GDTX như với nội hàm hiện nay Vì vậy, dùng thuật ngữgiáo dục không chính quy sẽ phù hợp với quan niệm chung của các nước và phản ánhđúng hơn thực tế hiện nay ở nước ta Nhưng theo Luật Giáo dục 2005, thì thuật ngữ giáo

dục không chính quy được gọi là GDTX Vì vậy, trong luận văn này sẽ dùng thuật ngữ GDTX để thống nhất với các văn bản pháp quy khác.

1.2.3 Trung tâm học tập cộng đồng, Phát triển trung tâm học tập cộng đồng

1.2.3.1 Trung tâm học tập cộng đồng

TTHTCĐ chính là một cơ sở giáo dục nằm trong hệ thống giáo dục thườngxuyên TTHTCĐ theo quan niệm của UNESCO khu vực là cơ sở giáo dục không

Trang 29

chính quy của một làng/ xã hay phường, thường do cộng đồng thành lập và quản lýnhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển cộngđồng thông qua việc tạo cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời của ngườidân trong cộng đồng TTHTCĐ là thiết chế của cộng đồng, do cộng đồng và vì cộngđồng [16].

Tác giả Tô Bá Trượng và Thái Thị Xuân Đào cho rằng, TTHTCĐ là một

mô hình giáo dục mới có khả năng tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người dântrong cọng đồng và phát huy sự làm chủ và tham gia tích cực của cộng đồng đối vớigiáo dục; là cơ chế có hiệu quả trong việc thực hiện xã hội hoá giáo dục, đặc biệttrong lĩnh vực xoá mù chữ và giáo dục thường xuyên [31] TTHTCĐ là một thiếtchế giáo dục chủ yếu dành cho người lớn, là đầu mối liên kết để tất cả các banngành, đoàn thể cùng với ngành giáo dục cung ứng/tổ chức các cơ hội học tập,các hoạt động tuyên truyền giáo dục tới mọi người dân, dưới sự quản lí, điềuphối chung của UBND xã Mọi người dân trong cộng đồng có thể đến TTHTCĐ

để tìm cho mình một chương trình, hình thức và phương thức học phù hợp vớiđiều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi người [15]

Ở Việt Nam, TTHTCĐ đã được chính thức hóa bằng Luật Giáo dục năm

2005 với tư cách là cơ sở của GDTX, Theo Điều 46 của Luật này thì “TTHTCĐđược tổ chức tại xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)”

Theo Điều 2, Quy chế Tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ (Ban hành theoquyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24 tháng 03 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ

Giáo dục và Đào tạo thì “Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng

có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời phải phát huy mạnh mẽ sự tham gia, đóng góp của nhân dân trong cộng đồng dân cư để xây dựng và phát triển các trung tâm theo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm; và trung tâm học tập cộng đồng có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng” [3], [4].

Về bản chất TTHTCĐ ở Việt nam là tổ chức giáo dục không chính quy củacộng đồng, do cộng đồng và vì cộng đồng như quan niệm của UNESCO và các

Trang 30

nước trong khu vực Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam nếu từđầu TTHTCĐ được coi là cơ sở giáo dục không chính quy thì TTHTCĐ không cókhả năng phát triển nhanh chóng và bền vững được Để TTHTCĐ phát triển đúngvới bản chất: TTHTCĐ là của dân, do dân và vì dân thì trung tâm phải được hìnhthành và phát triển như sau: Trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển, để cóđược cơ sở vật chất ban đầu và kinh phí khởi động, tổ chức các hoạt động, ngườidân và cộng đồng không thể tự đứng ra thành lập và chăm lo phát triển TTHTCĐđược mà cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước và hỗ trợ về mặt tài chính của Chínhphủ bằng ngân sách Nhà nước Sau này, khi TTHTCĐ đã định hình ổn định, mới cóthể huy động động được sự đóng góp của các tổ chức, ban ngành, đoàn thể củangười dân Lúc này, TTHTCĐ sẽ chuyển dần sang cộng đồng tự quản Có thể hìnhdung các giai đoạn phát triển của TTHTCĐ ở Việt Nam là: Giai đoạn đầu TTHTCĐ

là của Nhà nước và nhân dân, sau đó là của nhân dân với Nhà nước, cuối cùng mớihoàn toàn là của dân

Như vậy, TTHTCĐ không phải là tổ chức của riêng ngành giáo dục hay bất

cứ tổ chức xã hội nào khác mà TTHTCĐ được lập ra để phục vụ cho nhu cầu họctập thường xuyên, liên tục, suốt đời của mọi tầng lớp người dân trong cộng động.TTHTCĐ giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống, đáp ứng yêu cầu nâng caodân trí, đào tạo nguồn nhân lực có văn hóa, có khoa học kĩ thuật để chuyển dịch cơcấu kinh tế - xã hội trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước ở ngaytại địa phương họ sinh sống và làm việc

1.2.3.2 Phát triển trung tâm học tập cộng đồng

Phát triển TTHTCĐ liên quan đến 2 khía cạnh:

- Sự tăng lên về số lượng và chủng loại, chẳng hạn như tăng số lượngTTHTCĐ và các cơ sở giáo dục khác nhằm mục đích tăng cơ hội học tập cho mọingười ở tất cả các xã, phường, thị trấn

- Sự thay đổi về chất lượng, chẳng hạn như việc thực hiện một cách hiệuquả việc đổi mới chương trình giáo dục; nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên; và

Trang 31

đầu tư trang bị các bộ đồ dùng dạy học, thiết bị thí nghiệm, thực tập, nhằm cảithiện về chất lượng giáo dục.

Như vậy, phát triển là quá trình biến đổi về số lượng, đó là sự tăng trưởng; còn vềmặt phẩm chất thì nhất định phải có sự biến đổi về mặt chất lượng theo hướng tiến bộ

Dựa vào lý luận chung về phát triển, quan niệm phát triển TTHTCĐ trongluận văn được thể hiện như sau: Phát triển TTHTCĐ là quá trình tăng việc cung cấpcác cơ hội và điều kiện học tập của cộng đồng cùng với việc cải thiện chất lượnghọc tập đáp ứng sự tiến bộ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng theo hướng xây

dựng cộng đồng học tập Phát triển TTHTCĐ là những tiến trình, qua đó nỗ lực của

người dân kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện học tập đápứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng và giúp cộng đồng đóhòa nhập và đóng góp vào tiến trình phát triển chung của mỗi huyện, tỉnh và cảquốc gia (dựa trên định nghĩa phát triển cộng đồng của Liên Hợp Quốc [49])

Thông qua phát triển TTHTCĐ, sự tham gia của người dân với sự tự lực tối

đa được phát huy mạnh mẽ Chẳng hạn như việc người dân tham gia vào việc đềxuất nhu cầu học tập, lập kế hoạch phát triển TTHTCĐ Người dân tham gia vàoviệc quản lý các địa điểm học tập, quản lý nguồn tài liệu học tập, quản lý các nguồnlực khác phục vụ cho học tập của cộng đồng Bên cạnh đó, sự hỗ trợ kỹ thuật và cácnguồn lực để khuyến khích sáng kiến, sự tương trợ để các nỗ lực học tập của ngườidân có hiệu quả cao Chẳng hạn như, chính quyền và các tổ chức phi chính phủ hỗtrợ việc xây dựng cơ sở vật chất của TTHTCĐ, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ nâng caonăng lực cán bộ quản lý và các cộng tác viên tham gia giảng dạy, hỗ trợ phát triểncác dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ thành lập các nhóm tín dụng quy mô nhỏ, thành lậpcác nhóm đồng sở thích, v.v

Như vậy, nội dung của tiến trình phát triển TTHTCĐ là tiến trình giải quyếtvấn đề của cộng đồng Thông qua đó cộng đồng được gia tăng sức mạnh do nângcao kiến thức và kỹ năng phát hiện phân tích vấn đề, xác định thứ tự ưu tiên các vấn

đề đó, huy động các nguồn lực để giải quyết bằng hành động chung

Trang 32

1.3 Trung tâm học tập cộng đồng với việc đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng xã hội học tập

1.3.1 Vai trò của Trung tâm học tập cộng đồng

TTHTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân,

là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp xã, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhànước; đồng thời phải phát huy mạnh mẽ sự tham gia, đóng góp của nhân dân trongcộng đồng dân cư để xây dựng và phát triển các trung tâm theo cơ chế Nhà nước vànhân dân cùng làm

Thông qua các hoạt động của mình, TTHTCĐ đã góp phần tích cực trongviệc nâng cao dân trí, cải thiện đời sống dân sinh, thực hiện dân quyền, ổn định vànâng cao chất lượng dân số và cải thiện môi trường dân cư Điều đó được thể hiện ởcác mặt sau:

- Thông qua các lớp xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, các lớp

bổ túc trung học cơ sở, bổ túc trung học phổ thông và các lớp chuyên đề, tập huấnđáp ứng nhu cầu của người học đã giúp người dân mở mang hiểu biết, nâng caodân trí, đã góp phần giảm tỉ lệ mù chữ trong và ngoài độ tuổi, giảm tỉ lệ tái mù chữ,nâng cao trình độ văn hóa của người dân ở cộng đồng

- Thông qua các lớp dạy nghề, các lớp tập huấn ngắn hạn về kĩ thuật sảnxuất, các lớp chuyên đề về trồng trọt và chăn nuôi, các lớp chuyển giao khoa học kĩthuật, các buổi khuyến nông, lâm, ngư nghiệp, các buổi tham quan, trao đổi kinhnghiệm sản xuất TTHTCĐ đã góp phần giúp người dân được cập nhật kiến thức,

kĩ thuật sản xuất mới, tiếp thu và vận dụng sáng tạo tri thức mới và tiên tiến ở trongnước và trên thế giới, biết cách tổ chức làm ăn, sản xuất giúp người dân biết cáchxóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống dân sinh

- TTHTCĐ cũng được đánh giá cao là đã góp phần quan trọng trong việcnâng cao hiểu biết của người dân về các chủ trương, đường lối, chính sách và phápluật của Đảng và Nhà nước, giúp người dân sống và làm việc theo pháp luật.TTHTCĐ đã góp phần tích cực đối với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, đã tạo điềukiện cho “Dân được biết”, dân được thông tin – là điều kiện tiên quyết đầu tiên để

Trang 33

“Dân được bàn”, “Dân được làm”, và “Dân được kiểm tra”, góp phần làm giảmđáng kể việc tranh chấp, khiếu kiện do thiếu hiểu biết TTHTCĐ đã góp phần ổnđịnh chính trị - xã hội, xây dựng khối đoàn kết nội bộ trong nhân dân và mối liênkết chặt chẽ giữa các đoàn thể, tổ chức xã hội trong mọi hoạt động nhằm phát triểncộng đồng, đặc biệt là trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới.

- TTHTCĐ còn có tác động tích cực đối với việc ổn định và nâng cao chấtlượng dân số của cộng đồng thông qua các buổi học chuyên đề, các buổi nóichuyện, thảo luận nhóm, sinh hoạt câu lạc bộ.v.v về dân số, kế hoạch hóa giađình, về chăm sóc sức khỏe sinh sản, quyền sinh sản, chăm sóc sức khỏe cho giađình và trách nhiệm nuôi dạy con cái

- TTHTCĐ còn là nơi giúp cho người dân tăng cường, phát triển các kĩnăng sống, các kĩ năng ứng phó với những tình huống xảy ra trong cuộc sống, các kĩnăng để tồn tại và thích nghi được với sự biến đổi không ngừng của môi trường vàđời sống xã hội

Trong quá trình phát triển của kinh tế - văn hóa - xã hội, phạm vi và hoạtđộng của TTHTCĐ sẽ ngày càng được mở rộng hơn do nhu cầu học tập của ngườidân ngày càng đa dạng, phong phú mà nhà trường chính quy không thể đáp ứng đủ.Khi trình độ sản xuất cao hơn, chất lượng cuộc sống được nâng lên thì nhu cầu hoạtđộng của con người từ sinh hoạt vật chất đến tinh thần sẽ đòi hỏi vốn tri thức vàhiểu biết rộng lớn và đa dạng hơn Như vậy, TTHTCĐ chính là nơi đáp ứng nhữngnhu cầu cấp thiết của cộng đồng dân cư đó

Tóm lại, từ thực tiễn hoạt động, có thể khẳng định: TTHTCĐ chính là công

cụ quan trọng góp phần giữ vững và ổn định chính trị; thúc đẩy công cuộc đổi mới

và phát triển kinh tế - xã hội; là trường học của dân, do dân và vì dân; là nơi nângcao dân trí và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế của địaphương và cho đất nước; và là công cụ thiết yếu để xây dựng xã hội học tập từ cơ sở

ở Việt Nam

Trang 34

1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm học tập cộng đồng

Chức năng, nhiệm vụ của TTHTCĐ đã được quy định rõ trong Quy chế tổchức hoạt động của TTHTCĐ,

04 chức năng của TTHTCĐ đó là:

(1) Chức năng giáo dục và huấn luyện, tạo cơ hội cho mọi người trong cộngđồng, nhất là người lao động, những người nghèo đói ở vùng cao, vùng sâu, biêngiới hải đảo, người không có điều kiện đi học được học tập phù hợp

(2) Chức năng thông tin và tư vấn, cung cấp thông tin, giới thiệu nguồn tin,cách thức tiếp cận với thông tin cho nhân dân vùng nông thôn

(3) Chức năng phát triển cộng đồng, tổ chức các hoạt động cộng đồng ở địaphương; hỗ trợ các chương trình, dự án triển khai tại địa phương

(4) Chức năng liên kết phối hợp, được tiến hành với sự liên kết hoặc phốihợp giữa trung tâm với các tổ chức khác nhằm tranh thủ được tối đa sự hỗ trợ của

xã hội

08 nhiệm vụ của trung tâm học tập cộng đồng gồm:

(1) Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xóa mù chữ và giáo dục tiếp saukhi biết chữ, củng cố chất lượng phổ cập giáo dục; tăng cường công tác tuyêntruyền, phổ biến kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức và cải thiệnchất lượng cuộc sống của nhân dân

(2) Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, đọcsách báo, tư vấn khuyến học, giáo dục cho con em nhân dân địa phương, phòngchống tệ nạn xã hội

(3) Điều tra nhu cầu học tập của cộng đồng, xây dựng nội dung và hình thứchọc tập phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nhóm đối tượng

(4) Quản lý tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị của trung tâm theo quyđịnh của pháp luật

(5) Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xóa mù chữ và giáo dục tiếp tụcsau khi biết chữ, củng cố chất lượng phổ cập giáo dục; tăng cường công tác tuyêntruyền, phổ biến kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức và cải thiện

Trang 35

chất lượng cuộc sống của nhân dân trong cộng đồng; phối hợp triển khai cácchương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư và các dự án, chương trình tạiđịa phương.

6) Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, đọcsách báo, tư vấn khuyến học, giáo dục cho con em nhân dân tại địa phương, phòngchống tệ nạn xã hội

(7) Điều tra nhu cầu học tập của cộng đồng, xây dựng nội dung và hình thứchọc tập phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nhóm đối tượng

(8) Quản lý tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị của trung tâm theo quyđịnh của pháp luật

Như vậy, TTHTCĐ có rất nhiều chức năng, nhiệm vụ, trong đó TTHTCĐtrước hết nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập đa dạng của người dân trong cộng đồng,

và xa hơn nữa là phục vụ mục tiêu phát triển cộng đồng một cách bền vững

TTHTCĐ là một mô hình giáo dục mới trong hệ thống giáo dục quốc dânnhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho mọi người dân.TTHTCĐ có điểm giống và chung với nhà trường chính quy là cùng có chức nănggiáo dục nhưng những điểm khác với nhà trường chính quy như sau:

- Ban quản lý của TTHTCĐ làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, họ là lãnhđạo xã, cán bộ quản lý của ngành giáo dục, Hội Khuyến học hoặc các tổ chức đoànthể khác

- Đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên của TTHTCĐ là những người tựnguyện, không lương

- Việc học tập ở TTHTCĐ không quy định chặt chẽ về mặt thời gian (ngườihọc có thể tham gia học bất kì lúc nào, học thường xuyên, học suốt đời, không bịgiới hạn về độ tuổi)

- Đối tượng phục vụ của TTHTCĐ là cho mọi người, mọi độ tuổi, mọi giớitrong cộng đồng

- Mục đích học tập ở TTHTCĐ là không định hướng bằng cấp (người họckhông nhằm đạt được bằng cấp mà học để cập nhât, nâng cao kiến thức, kĩ năngphục vụ sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển cộng đồng)

Trang 36

- Chương trình và hoạt động linh hoạt đáp ứng kịp thời các nhu cầu củacộng đồng (ngoài việc thực hiện một số chương trình của quốc gia, thì chủ yếutrung tâm thực hiện chương trình đáp ứng yêu cầu của người học là chương trình docộng đồng tự xây dựng.

- Nội dung, hình thức học tập đa dạng, tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế – xãhội của từng cộng đồng

1.3.3 Chương trình, nội dung và các loại hình hoạt động ở Trung tâm học tập cộng đồng

Hiện nay, ở các TTHTCĐ ngoài các lớp xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục saukhi biết chữ, chương trình “Giáo dục thường xuyên đáp ứng yêu cầu người học, cậpnhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ (sau đây gọi tắt là chương trìnhGDTX ĐƯYCNH) là một trong những chương trình GDTX được thực hiện tạiTTHTCĐ, quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 45 Luật giáo dục 2005 Chương trìnhnày được ban hành theo Thông tư số 26/2010/TT-BGDĐT, ngày 27/10/2010 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, là chương trình khung cho toàn quốc Chương trìnhGDTX ĐƯYCNH không dẫn tới việc cấp văn bằng, chứng chỉ, không có cấu trúcchặt chẽ về mặt thời gian, không theo cấp lớp, được đặc trưng bởi tính linh hoạt,mềm dẻo về nội dung, hình thức tổ chức,…

Chương trình GDTX ĐƯYCNH là chương trình đáp ứng nhu cầu “Cần gì học nấy” của người học, đồng thời đáp ứng yêu cầu cập nhật kiến thức, kĩ năng và

chuyển giao công nghệ của đất nước, của từng địa phương, của các ban, ngành,đoàn thể Đây có thể coi là chương trình chính quan trọng được giảng dạy tạiTTHTCĐ nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu học tập của người dân tại cộng đồng, gópphần xây dựng XHHT

Mục tiêu của chương trình

- Trang bị cho người học kiến thức và kỹ năng cơ bản, thiết thực về vănhoá- xã hội, sức khỏe, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế

- Cung cấp một số kỹ năng sống cần thiết để người học có thể thích ứng vàgiải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống, sản xuất

Trang 37

- Góp phần hình thành nhu cầu, thói quen và kỹ năng tự học, học thườngxuyên, tăng cường cơ hội HTSĐ cho người dân tại cộng đồng.

Nội dung của chương trình

Chương trình GDTXĐƯYCNH bao gồm 05 lĩnh vực chương trình, đó là: (1)Chương trình giáo dục pháp luật, (2) Chương trình giáo dục văn hóa – xã hội, (3)Chương trình giáo dục bảo vệ môi trường, (4) Chương trình giáo dục bảo vệ sứckhỏe, (5) Chương trình giáo dục phát triển kinh tế Mỗi lĩnh vực chương trình bao

gồm nhiều chuyên đề khác nhau (mỗi chuyên đề được cấu trúc theo tên chuyên đề, yêu cầu cần đạt và ghi chú) Mỗi lĩnh vực chương trình cung cấp một số chuyên đề

chung trên phạm vi toàn quốc Ban giám đốc TTHTCĐ, cán bộ các ban, ngành đoànthể căn cứ vào các nội dung chuyên đề đã có để biên soạn tài liệu, lựa chọn phươngpháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập Các cơ sởGDTX có thể xây dựng, quản lý nội dung chương trình và bố trí hướng dẫn viênchủ động và hiệu quả hơn

Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

- Nội dung chuyên đề theo Chương trình GDTX ĐƯYCNH được tổ chứctại TTHTCĐ được lựa chọn dựa trên sự phù hợp với nhu cầu học tập của người dântại cộng đồng, phù hợp với điều kiện, định hướng phát triển về văn hóa, kinh tế - xãhội của địa phương và dựa trên khung chương trình GDTX ĐƯYCNH Ví dụ, tổchức thực hiện giáo dục chuyên đề “trồng hoa huệ”, thứ nhất, người dân có nhu cầu

về chuyên đề này; Thứ hai, phải phù hợp với điều kiện về đất đai, khí hậu, hướngphát triển kinh tế - xã hội của địa phương Hoặc tổ chức thực hiện giáo dục chuyên

đề “làm trứng muối”, thứ nhất là người dân phải có nhu cầu về việc làm trứng muối;Thứ hai, địa phương phải là phải là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu chủ yếu để tiếnhành sản xuất, để người dân không phải đi mua nguyên liệu ở nơi khác, như vậyhiệu quả kinh tế sẽ cao hơn

- Phương pháp dạy học chuyên đề tại TTHTCĐ thực chất là hệ thống cácphương pháp dạy học người lớn Xác định các phương pháp căn cứ vào đặc điểm đốitượng người học chuyên đề tại TTHTCĐ, căn cứ vào nội dung, mục tiêu dạy học

Trang 38

chuyên đề,… Phương pháp dạy học chuyên đề phải phát huy tối đa những kinhnghiệm của học viên, huy động được sự tham gia tích cực của học viên trong quá trìnhhọc tập, tạo sự tương tác tích cực giữa giáo viên/ hướng dẫn viên và học viên trong mộtmôi trường học tập mà ở đó học viên cảm thấy tin tưởng, tự tin và thoải mái.

- Hình thức tổ chức hoạt động học tập chuyên đề tại TTHTCĐ đa dạng, linhhoạt dưới nhiều hình thức: Lớp học, lớp tập huấn, lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật;Các buổi nói chuyện, chia sẻ kinh nghiệm; Các buổi tư vấn, thăm quan thực tế,…

1.3.4 Các đối tượng người học ở các Trung tâm học tập cộng đồng

Đối tượng người học chủ yếu ở TTHTCĐ là đối tượng người lớn Các họcviên người lớn khi tham gia học chuyên đề tại TTHTCĐ đa dạng về tuổi tác, nghềnghiệp, trình độ văn hóa, kinh nghiệm sống, vị thế xã hội, nhu cầu và động cơ họctập Học viên tham gia các lớp học chuyên đề tại TTHTCĐ có thể là người lớn mùchữ, trình độ văn hóa hạn chế, hoặc có trình độ văn hóa cao, những trí thức nghỉhưu,…Họ có thể là thanh niên, phụ nữ, nông dân, người cao tuổi,…

Một số đặc điểm học viên tham học chuyên đề tại TTHTCĐ.

- Đa dạng về độ tuổi: Nếu như trong giáo dục chính quy, người học phầnlớn có sự đồng nhất về độ tuổi, về trình độ và kinh nghiệm, thì trong giáo dục khôngchính quy, đặc biệt là hoạt động giáo dục chuyên đề tại TTHTCĐ, học viên có độtuổi khác nhau từ 20 tuổi đến trên 50, 60 tuổi Sự đa dạng về độ tuổi đã tạo nên tínhđặc thù trong quá trình tổ chức hoạt động học tập nói chung và đánh giá kết quả họctập của học viên nói riêng

- Nhu cầu học tập đa dạng và được thúc đẩy bởi động cơ học tập rõ ràng,mạnh mẽ Người dân có thể đến với TTHTCĐ vì muốn phát triển kinh tế, muốnnuôi dạy con tốt hơn, để được giao lưu, gặp gỡ, để chia sẻ kinh nghiệm của bản thânvới người khác Vì sự đa dạng về nhu cầu học tập, nên trước khi tổ chức các nộidung học tập, ban giám đốc TTHTCĐ tiến hành điều tra nhu cầu của người dân mộtcách kỹ lưỡng, để có thể đáp ứng đúng nhu cầu, góp phần nâng cao chất lượng cuộcsống cho người dân và cộng đồng

Trang 39

- Học viên tham gia học chuyên đề tại TTHTCĐ có nhiều kinh nghiệmsống, với nhiều trải nghiệm trong cuộc sống.

Học viên của TTHTCĐ có nhiệm vụ:

- Thực hiện đầy đủ các quy định của TTHTCĐ

- Giữ gìn, bảo vệ tài sản của TTHTCĐ

- Đóng học phí đầy đủ và đúng hạn theo quy định của TTHTCĐ

Học viên của TTHTCĐ có các quyền sau:

- Được chọn chương trình học, hình thức học phù hợp với khả năng, điềukiện của bản thân và của TTHTCĐ

- Được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập của bản thân

- Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện để đóng góp ý kiến về nội dunghọc tập, phương pháp giảng dạy cũng như các hoạt động khác của trung tâm

- Học viên TTHTCĐ được công nhận kết quả học tập theo quy định

1.3.5 Đội ngũ cán bộ quản lý trong các Trung tâm học tập cộng đồng

Theo Quy chế tổ chức hoạt động của TTHTCĐ đã nêu rõ:

- Không bố trí biên chế theo chế độ công chức, viên chức ở các TTHTCĐ

- Các bộ quản lý TTHTCĐ được bố trí theo chế độ kiêm nhiệm, gồm mộtcán bộ quản lý cấp xã kiêm giám đốc trung tâm, một cán bộ của Hội Khuyến học vàmột cán bộ lãnh đạo của trường tiểu học hoặc trung học cơ sở trên địa bàn kiêm phógiám đốc Các cán bộ này được hưởng phụ cấp từ kinh phí hỗ trợ của Nhà nước

- Giám đốc TTHTCĐ là người quản lý, điều hành mọi hoạt động của trungtâm và chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan quản lý cấp trên về mọi hoạtđộng của trung tâm Giám đốc TTHTCĐ do Chủ tịch UBND cấp huyện quyết địnhtrên cơ sở đề nghị của UBND cấp xã

- Phó giám đốc TTHTCĐ là người có phẩm chất chính trị, có năng lực quản

lý do Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định theo đề nghị của giám đốc TTHTCĐ

- Ban giám đốc TTHTCĐ chính là chủ thể quản lý trực tiếp TTHTCĐ cấp

xã Trong đó, giám đốc là người có quyền cao nhất trong quản lý, điều hành cáchoạt động của TTHTCĐ

Nhiệm vụ và quyền hạn của Giám đốc TTHTCĐ

Trang 40

- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của TTHTCĐ.

- Tuyên truyền vận động mọi thành viên trong cộng đồng tham gia các hoạtđộng của TTHTCĐ

- Huy động các nguồn lực trong và ngoài cộng đồng để duy trì và phát triểncác hoạt động của TTHTCĐ

- Quản lý tài chính, cơ sở vật chất của TTHTCĐ

- Xây dựng nội quy hoạt động của TTHTCĐ

- Kiểm tra, đánh giá và báo cáo định kỳ kết quả hoạt động của TTHTCĐvới Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan quản lý cấp trên

- Được theo học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và được hưởng các chế độphụ cấp trách nhiệm và khen thưởng theo quy định hiện hành của Nhà nước

Nhiệm vụ và quyền hạn của Phó Giám đốc TTHTCĐ

- Giúp việc cho giám đốc trong việc quản lý và điều hành các hoạt động củatrung tâm Trực tiếp phụ trách một số lĩnh vực công tác theo sự phân công của giámđốc và giải quyết các công việc do giám đốc giao

- Khi giải quyết công việc được giám đốc giao, phó giám đốc thay mặt giámđốc và chịu trách nhiệm trước giám đốc về kết quả công việc được giao

- Thay mặt giám đốc điều hành hoạt động của trung tâm khi được ủy quyền

- Được học theo các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và được hưởng các chế độphụ cấp và khen thưởng theo quy định hiện hành của Nhà nước

1.3.6 Giáo viên/ hướng dẫn viên trong các Trung tâm học tập cộng đồng

Đội ngũ giáo viên/ hướng dẫn viên trong các TTHTCĐ bao gồm:

- Giáo viên được phòng GD-ĐT biệt phái để dạy chương trình xóa mù chữ

và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, củng cố chất lượng phổ cập giáo dục

- Báo cáo viên dạy các chuyên đề; các cộng tác viên, hướng dẫn viên vànhững người tình nguyện tham gia hướng dẫn học tập tại TTHTCĐ theo hợp đồngthỏa thuận với giám đốc trung tâm

Giáo viên của TTHTCĐ có nhiệm vụ:

Ngày đăng: 01/01/2019, 21:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (2007), Đặc trưng mô hình xã hội học tập tại Việt Nam – sự nhận diện từ một số vấn đề tổ chức sư phạm và kinh tế xã hội, Hội thảo Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam, Hà Nội ngày 29 tháng 05 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng mô hình xã hội học tập tại Việt Nam – sựnhận diện từ một số vấn đề tổ chức sư phạm và kinh tế xã hội
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2007
2. Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Lộc, Phạm Quang Sáng, Bùi Đức Thiệp (2010), Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Lộc, Phạm Quang Sáng, Bùi Đức Thiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn (Ban hành theo quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24 tháng 03 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trungtâm học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
4. Bộ Tài chính (2008), Thông tư về hướng dẫn việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các Trung tâm học tập cộng đồng, Số 96/2008/TT-BTC ngày 27 tháng 10 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về hướng dẫn việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sáchnhà nước cho các Trung tâm học tập cộng đồng
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Thông tư về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn ban hành kèm theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Số 40/2010/TT – BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư về việc sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tại xã,phường, thị trấn ban hành kèm theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày24 tháng 3 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Công văn về việc hướng dẫn đánh giá Trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn, Số 2553/ BGDĐT - GDTX ngày 18 tháng 04 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn về việc hướng dẫn đánh giá Trungtâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2013
8. Nguyễn Mạnh Cầm (2009), Xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cầm
Nhà XB: Nhà xuấtbản Dân trí
Năm: 2009
9. Phạm Tất Dong, Đào Hoàng Nam (2011), Xây dựng con người, xây dựng xã hội học tập, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng con người, xây dựngxã hội học tập
Tác giả: Phạm Tất Dong, Đào Hoàng Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
Năm: 2011
10. Phạm Tất Dong (2012), Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
Năm: 2012
13. Nguyễn Lê Vân Dung (2012), Tìm hiểu những khó khăn của giám đốc trong quản lý trung tâm học tập cộng đồng, đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Viện, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu những khó khăn của giám đốc trongquản lý trung tâm học tập cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Lê Vân Dung
Năm: 2012
14. Thái Xuân Đào (2000), Xây dựng mô hình thí điểm về trung tâm học tập cộng đồng cấp xã ở nông thôn miền Bắc, Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ Mã số B.99-49-79, Viện Khoa học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình thí điểm về trung tâm học tập cộngđồng cấp xã ở nông thôn miền Bắc
Tác giả: Thái Xuân Đào
Năm: 2000
15. Thái Xuân Đào (2007), Định hướng phát triển Giáo dục không chính quy giai đoạn mới, Đề tài cấp Bộ, mã số B2005-80-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển Giáo dục không chính quygiai đoạn mới
Tác giả: Thái Xuân Đào
Năm: 2007
16. Thái Xuân Đào, Lê Tuyết Mai, Bế Hồng Hạnh, Nguyễn Minh Tuấn, Nguyễn Lê Vân Dung (2009), Sổ tay phát triển bền vững các trung tâm học tập cộng đồng, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phát triển bền vững các trung tâm học tập cộngđồng
Tác giả: Thái Xuân Đào, Lê Tuyết Mai, Bế Hồng Hạnh, Nguyễn Minh Tuấn, Nguyễn Lê Vân Dung
Năm: 2009
17. Phạm Thu Hà (2008), Giải pháp quản lý phát triển các trung tâm học tập cộng đồng quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp quản lý phát triển các trung tâm học tậpcộng đồng quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Tác giả: Phạm Thu Hà
Năm: 2008
18. Trương Thị Thanh Hà (2009), Biện pháp quản lý phát triển bền vững các trung tâm học tập cộng đồng của huyện Ý Yên, Nam Định, luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý phát triển bền vững cáctrung tâm học tập cộng đồng của huyện Ý Yên, Nam Định
Tác giả: Trương Thị Thanh Hà
Năm: 2009
19. Phạm Thị Ngọc Hải (2005), Một số biện pháp nâng cao năng lực quản lý của chủ nhiệm trung tâm học tập cộng đồng vùng đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nâng cao năng lực quản lý củachủ nhiệm trung tâm học tập cộng đồng vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Hải
Năm: 2005
20. Lê Thị Phương Hồng (2015), Phát triển Trung tâm học tập cộng đồng vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm đầu xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam, luận án quản lý giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển Trung tâm học tập cộng đồng vùngđồng bằng sông Hồng trong những năm đầu xây dựng xã hội học tập ở ViệtNam
Tác giả: Lê Thị Phương Hồng
Năm: 2015
23. Phan Văn Kha (2007), Giáo trình quản lý nhà nước về giáo dục, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nhà nước về giáo dục
Tác giả: Phan Văn Kha
Nhà XB: Nhà xuất bảnĐại học Quốc gia
Năm: 2007
24. Phan Văn Kha (2007), Đào tạo và sử dụng nhân lực trong kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và sử dụng nhân lực trong kinh tế thị trường ởViệt Nam
Tác giả: Phan Văn Kha
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
25. Phan Văn Kha (2012), Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, Tạp chí Khoa học Giáo dục Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam theohướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế
Tác giả: Phan Văn Kha
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w