1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tài liệu ôn thi thì trường tài chính

45 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Sự gia tăng trong lãi suất gắn với sự giảm giá trái phiếu, dẫn đến các khoản lỗ về vốn của những trái phiếu mà thời gian tới ngày đáo hạn dài hơn thời kì nắm giữ khi đó mức giá bán ra

Trang 1

AANH [Type text] [Type text] [Type text]

qwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqw ertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwert yuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyui opasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopa sdfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdf ghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghj klzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklz xcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcv bnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbn mqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmq wertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwe rtyuiopasdfghjklzxcvbnmqwerty uiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuio pasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopas dfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfg

Tài liệu ôn tập LTTCTT 2

Biên soạn dựa trên sách Tiền tệ, Ngân hàng và

Thị trường tài chính của F Mishkin

Trần Tuấn Anh K54 Viện Ngân hàng – Tài chính

Trang 2

CHƯƠNG 1: LÃI SUẤT

A Các công thức về lãi suất

1.1 Tính toán lãi suất

1.1.1 Giá trị hiện tại

Tiền có giá trị khác nhau khi phát sinh tại các thời điểm khác nhau Một USD bạn nhận được ở hiện tại có giá trị hơn cũng một USD đó nhưng nhận được sau một năm Vì với một USD ở hiện tại, bạn có thể đem

đi gửi tiết kiệm để rồi một năm sau, số tiền đó sinh lãi và bạn có được nhiều hơn một USD Nếu lấy mốc thời gian là sau một năm thì rõ ràng một USD ở hiện tại đem lại cho bạn lợi ích cao hơn một USD phát sinh tại thời điểm đó Và do vậy để đánh giá lợi ích của các dòng tiền phát sinh tại nhiều thời điểm khác nhau trong tương lai, chúng ta cần chiết khấu để đưa chúng về cùng một thời điểm, ví dụ như hiện tại thì mới có căn cứ để so sánh

Một dòng tiền có giá trị FV, phát sinh tại thời điểm sau n năm kể từ hiện tại, với mức tỉ suất chiết khấu r% thì giá trị hiện tại của dòng tiền là:

1.1.2 Bốn loại công cụ của thị trường tín dụng

1) Cho vay đơn: Là loại hình cho vay mà trong đó người cho vay cấp cho người đi vay một số vốn nhất

định, đồng thời người đi vay cam kết trả cho người cho vay cả gốc và lãi một lần vào thời điểm đáo hạn

2) Cho vay với mức thanh toán cố định: Là loại hình cho vay mà trong đó người cho vay cấp cho người đi

vay một số vốn nhất định, đồng thời người đi vay cam kết trả cho người cho vay những khoản tiền bằng nhau tại mỗi kì, liên tục cho đến kì hạn cuối cùng khi hợp đồng đáo hạn, trong đó có cả vốn gốc và tiền lãi theo quy định

3) Trái phiếu coupon: Là loại trái phiếu trả lãi định kì và cuối kì nhận lại vốn gốc bằng mệnh giá

4) Trái phiếu chiết khấu (trái phiếu zero coupon): Là loại trái phiếu được bán với mức giá thấp hơn mệnh

giá và mệnh giá được hoàn trả vào ngày đáo hạn

1.1.3 Lãi suất hoàn vốn

Lãi suất hoàn vốn là mức lãi suất làm cho giá trị hiện tại của các khoản thanh toán nhận được từ một công cụ nợ bằng giá trị hiện tại của nó

1) Cho vay đơn

Giả sử tôi cho bạn vay 100 USD trong một năm, lãi suất yêu cầu là 10%/năm Số tiền sau một năm bạn phải trả tôi là 100×(1+10%) = 110 USD Ở đây, giá trị hiện tại của khoản vay cũng là dòng tiền phát sinh tại thời điểm hiện tại là 100 USD Giá trị tương lai sau một năm là 110 USD do tính thêm cả tiền lãi Gọi r

Trang 3

là mức lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của khoản thanh toán trong tương lai với giá trị hiện tại của khoản vay Ta có: 100 = 110/(1+r) => r = 10%, bằng mức lãi suất cho vay

Từ đây ta rút ra nhận xét: Với những khoản cho vay đơn, lãi suất hoàn vốn bằng lãi suất cho vay

2) Cho vay với mức thanh toán cố định

Giả sử bạn đến cửa hàng của tôi mua một chiếc xe máy trị giá 1000 USD theo hình thức trả góp trong 25 năm, với mức thanh toán định kì mỗi năm là 126 USD, trả liên tục trong suốt khoảng thời gian đó

Ta có: 1000 = 126/(1+r)^1 + 126/(1+r)^2 + 126/(1+r)^3 + … + 126/(1+r)^25

Giải phương trình và xác định được giá trị của r ≈ 12% Các trường hợp khác làm tương tự

Tổng quát: Với LV là giá trị của khoản vay, FP là khoản thanh toán cố định hàng năm, n là số năm tới ngày đáo hạn

LV = + + + … +

3) Trái phiếu coupon

Giả sử doanh nghiệp của bạn phát hành loại trái phiếu mệnh giá 1000 USD, lãi suất 10%/năm, kì hạn 10 năm và bán cho tôi Khi đó định kì vào mỗi năm tôi nhận được một khoản tiền lãi là 1000×10%=100 USD Nhận liên tục như vậy trong 10 năm, tuy nhiên đến năm thứ 10 khi trái phiếu đáo hạn, bên cạnh khoản lãi định kì là 100 USD như vẫn nhận được trong suốt 9 năm trước đó thì tôi còn nhận lại khoản vốn gốc

là 1000 USD đã cho doanh nghiệp bạn vay Như vậy khi nắm giữ trái phiếu này, có mười dòng tiền phát sinh trả cho tôi, trong đó 9 năm đầu mỗi năm chỉ nhận 100 USD, đến năm thứ 10 thì nhận được một khoản 100 + 1000 = 1100 USD Giá trị hiện tại của khoản vay chính là mệnh giá trái phiếu 1000 USD Lưu ý hình thức này chỉ thanh toán vốn gốc một lần khi đáo hạn, khác với trường hợp cho vay với mức thanh toán cố định, ở đó vốn gốc được “chẻ” ra thành nhiều phần bằng nhau và phân bổ đều cho mỗi kì trả lãi

Ta có: 1000 = 100/(1+r)^1 + 100/(1+r)^2 + … + 100/(1+r)^10 + 1000/(1+r)^10

Giải phương trình và xác định được giá trị của r = 10% (bằng mức lãi suất coupon 10%)

Tổng quát với P là giá hiện hành của trái phiếu, C là số tiền thanh toán coupon hàng năm, F là mệnh giá trái phiếu, n là số năm tới ngày đáo hạn

*** Ba điểm cần lưu ý về trái phiếu coupon:

+) Khi trái phiếu coupon được định giá bằng mệnh giá thì lãi suất hoàn vốn bằng lãi suất coupon (như ví

Trang 4

+) Giá trái phiếu coupon và lãi suất hoàn vốn có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau (rút ra từ công thức) +) Lãi suất hoàn vốn lớn hơn lãi suất coupon khi giá trái phiếu thấp hơn mệnh giá (rút ra lưu ý thứ hai)

*** Trái phiếu consol: Là một dạng đặc biệt của trái phiếu coupon khi n tiến tới vô cực, tức quá trình trả lãi diễn ra liên tục, không xác định ngày đáo hạn

Bằng toán học ta chứng minh được rằng, với trái phiếu consol: P =  r =

Ví dụ: với trái phiếu consol mệnh giá 1000 USD, lãi suất 10%, đang được bán với giá 2000 USD thì có lãi suất hoàn vốn là: r = C/P = (1000×10%)/2000 = 5%

4) Trái phiếu chiết khấu

Giả sử tôi mua của bạn một trái phiếu chiết khấu mệnh giá 1000 USD với mức giá 900 USD, thời gian đáo hạn một năm Ta có: 900 = 1000/(1+r) => r ≈ 11,1%

Tổng quát: Với F là mệnh giá, P là thị giá trái phiếu chiết khấu, xét kì hạn một năm

P =  r =

1.2 Các chỉ tiêu khác về lãi suất

Lãi suất hoàn vốn là chỉ tiêu chính xác nhất và được sử dụng phổ biến nhất về lãi suất Tuy nhiên, lãi suất hoàn vốn đôi khi khó tính toán nên các chỉ tiêu ít chính xác hơn về lãi suất thường được sử dụng trên thị trường trái phiếu Đó là hai chỉ tiêu: lãi suất hiện hành và lợi suất chiết khấu

1) Lãi suất hiện hành

Là chỉ tiêu gần đúng cho lãi suất chiết khấu, được xác định bằng công thức: iC =

Trong đó: P là thị giá trái phiếu và C là mức thanh toán coupon hàng năm

Chúng ta dễ dàng rút ra một số nhận xét:

 Công thức trên giống với công thức xác định lãi suất coupon của trái phiếu consol, tức với những trái phiếu có kì hạn càng dài (càng giống consol) thì lãi suất hiện hành càng gần với mức lãi suất coupon và là một chỉ tiêu khá sát để phản ánh để phản ánh nó

 Từ công thức ta thấy: lãi suất hiện hành biến thiên ngược chiều với thị giá, nhớ lại rằng lãi suất hoàn vốn cũng có tính chất như vậy, nên suy ra lãi suất hiện hành và lãi suất hoàn vốn có tương quan thuận chiều Nhưng khi thị giá thay đổi thì mức biến động của lãi suất hoàn vốn sẽ lớn hơn lãi suất hiện hành

 Thị giá = Mệnh giá => lãi suất coupon = lãi suất hiện hành = lãi suất hoàn vốn

 Thị giá > Mệnh giá => lãi suất coupon > lãi suất hiện hành > lãi suất hoàn vốn

 Thị giá < Mệnh giá => lãi suất coupon < lãi suất hiện hành < lãi suất hoàn vốn

Trang 5

2) Lợi suất chiết khấu

Công thức: idb = ; với F là mệnh giá, P là thị giá, M là số ngày đáo hạn

(công thức này ít được sử dụng)

1.3 Tỉ suất lợi tức

Tỉ suất lợi tức từ việc nắm giữ trái phiếu =

Trong đó Pt và P(t+1) lần lượt là giá trái phiếu tại thời điểm mua – t và thời điểm bán – t+1; C là tổng số lãi coupon thu được trong suốt kì nắm giữ

Với những trái phiếu được mua bằng mệnh giá, ta rút ra một số nhận xét sau đây:

+) Loại trái phiếu duy nhất là tỉ suất lợi tức bằng lãi suất hoàn vốn ban đầu là trái phiếu mà thời gian tới ngày đáo hạn đúng bằng thời kì nắm giữ (khi đó mức giá bán ra bằng giá mua vào và tỉ suất lợi tức = lãi suất hiện hành = lợi suất đáo hạn (do mua bằng mệnh giá))

+) Sự gia tăng trong lãi suất gắn với sự giảm giá trái phiếu, dẫn đến các khoản lỗ về vốn của những trái phiếu mà thời gian tới ngày đáo hạn dài hơn thời kì nắm giữ (khi đó mức giá bán ra nhỏ hơn giá mua vào dẫn tới làm giảm tỉ suất lợi tức)

+) Trái phiếu càng cách xa ngày đáo hạn thì quy mô thay đổi giá cả tính bằng phần trăm trên sự thay đổi của lãi suất càng lớn (chứng minh bằng toán học)

+) Trái phiếu càng cách xa ngày đáo hạn thì tỉ suất lợi tức càng thấp khi có sự gia tăng trong lãi suất (do giá trái phiếu giảm càng mạnh trên mỗi biến động % của lãi suất)

+) Cho dù một trái phiếu có lãi suất ban đầu cao thì tỉ suất lợi tức của nó vẫn có thể âm khi lãi suất tăng

1.4 Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế

Lãi suất thực tế là lãi suất danh nghĩa sau khi đã loại bỏ lạm phát; là mức gia tăng sức mua của nhà đầu

tư tính bằng lượng hàng hoá, dịch vụ mua được

Công thức: Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa – Tỉ lệ lạm phát dự kiến

Khi lạm phát thực tế cao hơn mức dự kiến thì lãi suất thực tế sẽ thấp hơn mức kì vọng và nhà đầu tư/cho vay bị thiệt, người đi vay được lợi và ngược lại

Lưu ý bổ sung: lãi suất danh nghĩa quyết định mức cầu tiền MD (được nói tới ở chương sau), còn lãi suất thực tế quyết định mức đầu tư trong nước

Trang 6

B Sự thay đổi của lãi suất

1.5 Mô hình cầu tài sản

Các yếu tố tác động lên lượng cầu tài sản

Của cải Tỉ suất lợi tức dự

kiến

Khái niệm Là tổng các

nguồn lực thuộc sở hữu của một cá nhân

Là mức tỉ suất lợi tức kì vọng mà người ta mong muốn thu được từ một tài sản so với các tài sản khác trong kì tiếp theo

Là mức độ bất định về lợi tức của một tài sản

so với các tài sản khác

Là khả năng chuyển đổi một tài sản thành tiền mặt so với các tài sản khác

Giải thích Của cải tăng

=> Có nhiều nguồn lực hơn

để mua tài sản => Cầu tài sản tăng

Lợi tức dự kiến thu được từ một tài sản tăng tương đối

so với các tài sản khác => Nhu cầu về

nó tăng hay Cầu tài sản tăng

Nếu chỉ xét đối tượng chiếm đa số là những người e ngại rủi ro, thì khi rủi ro về lợi tức của một tài sản tăng => Nhu cầu nắm giữ nó sẽ giảm hay Cầu tài sản giảm

Đa số mọi người ưa thích tài sản có tính thanh khoản cao, tức

dễ dàng chuyển đổi ra phương tiện thanh toán chung => Tính thanh khoản tăng => Cầu tài sản tăng

1.6 Mô hình cung cầu trái phiếu

Do trái phiếu cũng là một tài sản thông thường nên tuân theo quy luật giá tăng thì cung tăng, cầu giảm

và ngược lại Tức đường cung dốc lên và đường cầu dốc xuống Nhắc lại rằng giá trái phiếu và lãi suất thị trường có quan hệ tương quan nghịch như đã rút ra nhận xét ở chương 4 Ta có đồ thị cung cầu trái phiếu như hình dưới Ở đây vẽ thêm trục lãi suất (bên phải) hướng xuống, tức lãi suất tăng dọc theo chiều đi xuống của trục

P (giá trái phiếu)

r (thị trường)

BS

BD

Trang 7

1.7 Mô hình cung cầu vốn

Tương tự như mô hình cung cầu trái phiếu nhưng mức giá vốn ở đây là lãi suất.Lãi suất tăng thì cung vốn tăng, cầu vốn giảm và ngược lại

Lưu ý: Do việc phát hành trái phiếu thực chất là đi vay vốn từ người mua nên cung trái phiếu trùng với cầu vốn và cầu trái phiếu trùng với cung vốn Do vậy mô hình thị trường vốn vay và thị trường trái phiếu thực chất là một nhưng ngược về cách biểu diễn trên đồ thị Tuy nhiên việc trình bày mô hình cung cầu vốn chỉ mang tính chất giới thiệu, còn ở các phần tiếp theo chúng ta sẽ tập trung vào mô hình cung cầu trái phiếu

1.8 Các yếu tố làm dịch chuyển đường cầu, đường cung về trái phiếu

1.8.1 Các yếu tố làm dịch chuyển đường cầu

Do trái phiếu là một loại tài sản nên các yếu tố ảnh hưởng tới lượng cầu trái phiếu cũng là bốn yếu tố được nhắc đến trong mô hình cầu tài sản Đây là các yếu tố ngoại sinh nên khi thay đổi sẽ làm dịch chuyển đường cầu (phân biệt với sự di chuyển dọc trên đường cầu do sự thay đổi của các biến nội sinh)

Của cải

Giả sử của cải tăng, khi đó người ta có nhiều nguồn lực hơn dành cho đầu tư thì cầu trái phiếu cũng sẽ tăng Đường cầu dịch chuyển sang phải khiến giá trái phiếu tăng đồng thời lãi suất giảm Cũng có thể giải thích là khi có nhiều của cải hơn thì lượng vốn nhàn rỗi tăng, người ta sẽ đem số vốn đó đi đầu tư tạo ra

sự dư cung trên thị trường và kéo theo lãi suất giảm

Lãi suất dự kiến (chứ không phải tỉ suất lợi tức dự kiến)

Với những trái phiếu ngắn hạn, thông thường thời gian nắm giữ trùng với kì hạn trái phiếu nên tỉ suất lợi tức và lãi suất bằng nhau, nên lãi suất dự kiến trong kì tới không có ảnh hưởng gì tới tỉ suất lợi tức cũng như đường cầu trái phiếu

Với những trái phiếu dài hạn, khi lãi suất dự kiến tăng tức mức giá bán ra trong kì tới được kì vọng giảm, khiến tỉ suất lợi tức giảm và hệ quả là cầu trái phiếu giảm, đường cầu dịch chuyển sang trái, giá trái

r

Q

SL ≡ BD

DL ≡ BS

Trang 8

phiếu giảm đồng thời lãi suất tăng, và ngược lại Sự thay đổi trong lạm phát dự kiễn cũng có thể tác động lên đường cầu trái phiếu thông qua cơ chế: giả sử lạm phát dự kiến tăng, khi đó để bù đắp phần lợi nhuận bị bào mòn do lạm phát và giữ nguyên mức lãi thực kì vọng của mình, các chủ đầu tư được dự kiến sẽ tăng lãi suất, kéo theo đó là làm giảm tỉ suất lợi tức và đường cầu dịch chuyển sang trái

Rủi ro

Khi giá cả trên thị trường trái phiếu biến động mạnh hơn, thì rủi ro gắn với trái phiếu tăng, cầu trái phiếu giảm làm cho đường cầu dịch chuyển sang trái và kéo theo đó là giá trái phiếu giảm, lãi suất tăng Ngược lại, khi có sự gia tăng trong mức rủi ro của các tài sản khác, cầu trái phiếu tăng và đường cầu dịch phải

Tính thanh khoản

Khi có nhiều người tham gia trên thị trường trái phiếu thì việc mua và bán trái phiếu trở nên dễ dàng hơn, người ta có thể yên tâm nắm giữ trái phiếu vì biết rằng có thể sẵn sàng quy nó ra tiền mặt bất cứ lúc nào khi cần Do vậy cầu trái phiếu tăng làm đường cầu dịch phải, kéo theo giá tăng, lãi suất giảm

1.8.2 Các yếu tố làm dịch chuyển đường cung

Khả năng sinh lời dự kiến của các cơ hội đầu tư

Khi nền kinh tế đi vào giai đoạn mở rộng của chu kì kinh doanh, các cơ hội đầu tư được dự kiến sẽ có lãi nhiều hơn nên nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp cao hơn hay cung trái phiếu tăng, đường cung dịch chuyển sang phải khiến giá giảm và lãi suất tăng

Lạm phát dự kiến

Khi lạm phát dự kiến tăng khiến lãi suất thực tức chi phí thực của việc vay vốn giảm, do đó sẽ kích thích các doanh nghiệp đi vay nhiều hơn và đường cung trái phiếu dịch phải Hệ quả là giá trái phiếu giảm và lãi suất tăng

Thâm hụt ngân sách nhà nước

Khi mức thâm hụt ngân sách tăng, nhu cầu vay vốn để bù đắp phần thiếu hụt khiến chính phủ phải tăng cường phát hành trái phiếu ra thị trường, đường cung trái phiếu dịch phải Và ngược lại khi có thặng dư ngân sách thì cung trái phiếu giảm, giá tăng và lãi suất giảm

1.9 Lý thuyết ưa thích thanh khoản – Mô hình cung cầu tiền

Lý thuyết này được áp dụng trong ngắn hạn khi giá cả thường có tính chất cứng nhắc, không đổi

Phương trình: M/P = L(Y,r)

Trong đó: M là mức cung tiền danh nghĩa, phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của NHTW nên với mô hình này đây là biến ngoại sinh P là mức giá chung trong nền kinh tế, do mô hình chỉ xét các biến động trong ngắn hạn nên mức giá chung được giả định không đổi L là hàm cầu tiền, có hai biến độc lập là thu nhập

Y và lãi suất danh nghĩa r Do khi thu nhập tăng, nhu cầu chi tiêu cao hơn nên người ta cần giữ thêm tiền, hay nói khác đi cầu tiền tăng, hàm L đồng biến theo biến Y Trong mô hình này, Y là biến ngoại sinh Lãi

Trang 9

suất danh nghĩa là chi phí cơ hội của việc giữ tiền nên khi lãi suất này tăng, xu hướng chuyển tiền sang các dạng tài sản khác sinh lời cao hơn tăng hay cầu tiền giảm, hàm L nghịch biến theo biến r

1.9.1 Sự dịch chuyển của đường cầu tiền

1) Hiệu ứng thu nhập: Khi nền kinh tế mở rộng và thu nhập tăng, của cải tăng đồng thời mọi người muốn thực hiện nhiều giao dịch hơn nên nhu cầu nắm giữ tiền cao hơn vừa với mục đích cất trữ giá trị, vừa để thực hiện chức năng thanh toán Hay nói khác đi cầu tiền tăng, đường cầu MD dịch chuyển sang phải, lãi suất tăng

2) Hiệu ứng giá cả: Khi mức giá tăng, với khối lượng tiền tệ như cũ, cung tiền thực tế sẽ giảm Để cân bằng lại thị trường tiền tệ thì cầu tiền phải tăng lên tương ứng Điều này chỉ đạt được khi với mọi mức lãi suất, thu nhập tăng hoặc tại mọi mức thu nhập, lãi suất giảm Cả hai trường hợp đều dẫn đến một kết quả chung là đường cầu tiền dịch phải, lãi suất tăng

1.9.2 Sự dịch chuyển của đường cung tiền

Do giá cả được cố định theo giả thiết của mô hình nên chỉ có một biến ngoại sinh tác động lên đường cung tiền là khối lượng tiền tệ danh nghĩa của NHTW Nếu NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, cung tiền sẽ tăng tại mọi mức lãi suất khiến đường MS dịch phải, lãi suất giảm và ngược lại

1.10 Trả lời câu hỏi: Khi cung tiền tăng thì lãi suất tăng hay giảm ?

1) Hiệu ứng thanh khoản: Theo lý thuyết ưa thích thanh khoản của Keynes, khi NHTW tăng cung tiền, lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế tăng lên khiến chi phí để có được chúng là lãi suất giảm xuống Hoặc ở đây có thể giải thích bằng cách phân tích mô hình như trên

2) Hiệu ứng thu nhập: Gia tăng cung tiền gây ra tác động mở rộng đối với nền kinh tế, tổng cầu tăng khiến cho thu nhập quốc dân và của cải tăng Theo mô hình cung cầu vốn vay hoặc mô hình cung cầu tài sản, điều này sẽ kéo theo lãi suất tăng

3) Hiệu ứng giá cả: Gia tăng cung tiền có thể khiến cho mức giá chung trong nền kinh tế tăng Theo hiệu ứng giá cả từ lý thuyết ưa thích thanh khoản thì lãi suất cũng sẽ tăng theo

r

M

MS

MD

Trang 10

4) Hiệu ứng lạm phát dự kiến: Gia tăng cung tiền làm tăng nguy cơ lạm phát Khi tỉ lệ lạm phát dự kiến tăng, theo công thức Irving Fisher, lãi suất danh nghĩa cũng sẽ tăng theo

Hiệu ứng giá cả và hiệu ứng lạm phát dự kiến dường như là một nhưng kì thực không phải vậy Với hiệu ứng giá cả, cung tiền chỉ cần tăng một lần khiến mặt bằng giá chung tăng lên và giữ mãi như vậy cũng đủ gây ra hiệu ứng này Nhưng với hiệu ứng lạm phát dự kiến, cung tiền phải tăng liên tục mới tạo ra kì vọng về mức lạm phát cao hơn trong tương và khi đó hiệu ứng mới xảy ra

Trong bốn hiệu ứng trên, ta dễ thấy chỉ có hiệu ứng thanh khoản chỉ ra rằng lãi suất sẽ giảm khi cung tiền tăng, còn ba hiệu ứng thu nhập, giá cả và lạm phát dự kiến đều có nhận định ngược lại Hiệu ứng thanh khoản dường như phát huy tác dụng ngay lập tức khi có sự thay đổi cung tiền Hai hiệu ứng thu nhập và giá cả cần có thời gian do cơ chế tác động tới lãi suất thông qua trung gian là giá cả và thu nhập phức tạp hơn và có độ trễ dài hơn Còn với hiệu ứng lạm phát dự kiến ảnh hưởng nhanh hay chậm còn tuỳ thuộc vào việc mọi người điều chỉnh kì vọng về lạm phát chậm hay nhanh khi cung tiền thay đổi Vấn

đề là trong thực tế hiệu ứng nào sẽ mạnh hơn để lấn át những hiệu ứng còn lại trong việc chi phối lãi suất Người ta đã đúc rút ra ba trường hợp như sau:

+) TH1: Hiệu ứng thanh khoản trội hơn các hiệu ứng khác: Khi cung tiền tăng, ban đầu lãi suất sẽ giảm rất nhanh và mạnh dưới tác động của hiệu ứng thanh khoản Nhưng sau một thời gian, các hiệu ứng khác bắt đầu phát huy tác dụng đã đảo ngược đà suy giảm này Tuy nhiên do hiệu ứng thanh khoản quá lớn nên lãi suất sẽ không thể tăng trở lại mức ban đầu

+) TH2: Hiệu ứng thanh khoản yếu hơn các hiệu ứng khác và hiệu ứng lạm phát dự kiến vận hành chậm chạp do kì vọng về lạm phát được điều chỉnh chậm Ban đầu hiệu ứng thanh khoản đẩy lãi suất xuống Sau đó các hiệu ứng khác mạnh lên bắt đầu làm tăng lãi suất Vì các hiệu ứng này trội hơn nên đã đẩy lãi suất tăng cao hơn mức ban đầu

+) TH3 Hiệu ứng lạm phát dự kiến nổi trội và vận hành nhanh chóng Ngay khi có sự thay đổi về cung tiền, hiệu ứng lạm phát dự kiến bắt đầu vượt hiệu ứng thanh khoản và lãi suất lập tức tăng lên Theo thời gian khi các hiệu ứng còn lại phát huy tác dụng, lãi suất thậm chí còn cao hơn nữa Kết quả là cuối cùng lãi suất tăng lên đáng kể so với ban đầu

C Cơ cấu rủi ro và kì hạn của lãi suất

1.11 Cơ cấu rủi ro của lãi suất

Phần này trả lời cho câu hỏi: Tại sao những trái phiếu có thời gian tới ngày đáo hạn như nhau lại có lãi suất khác nhau? Câu trả lời là do chúng khác nhau về độ rủi ro Mối quan hệ giữa các lãi suất này được gọi là cơ cấu rủi ro của lãi suất

1.11.1 Rủi ro tín dụng

Công thức chung của lãi suất là: Lãi suất = Lãi suất phi rủi ro + Phần bù rủi ro

Trang 11

Lãi suất phi rủi ro là mức lãi suất phải trả của những đối tượng đi vay an toàn nhất trên thị trường (hay

có rủi ro tín dụng bằng 0), và đối tượng đó thường được cho là chính phủ Lãi suất phi rủi ro được lấy là mức lãi suất trái phiếu chính phủ cùng kì hạn Phần bù rủi ro là “phần thưởng” dành cho những đối tượng sẵn sàng bỏ tiền đầu tư vào các tổ chức kém an toàn hơn chính phủ Do họ chấp nhận mạo hiểm, nên họ xứng đáng nhận được mức lãi suất cao hơn bình thường do phần bù mang lại Điều này minh chứng cho một nguyên lí cơ bản trong tài chính học là: rủi ro càng lớn thì lợi nhuận càng cao

Khi rủi ro tín dụng của một đối tượng nhận đầu tư/đi vay vốn gia tăng, tức khả năng thu lợi nhuận theo đúng kì vọng ban đầu của dự án không còn được chắc chắn như trước, thì tất yếu nhà đầu tư/người cấp vốn sẽ yêu cầu một mức phần bù rủi ro cao hơn và do đó làm tăng lãi suất của trái phiếu

Như vậy, khi rủi ro tín dụng gia tăng thì lãi suất tăng và ngược lại

1.11.2 Tính thanh khoản

Tính thanh khoản là mức độ dễ dàng về thời gian và tiền bạc để chuyển đổi một tài sản thành tiền mặt Tính thanh khoản của một trái phiếu càng cao, đồng nghĩa với việc nó được mua bán rộng rãi trên thị trường, do vậy trong những trường hợp khẩn cấp người nắm giữ chúng có thể bán đi một cách dễ dàng với chi phí thấp, nên loại trái phiếu này ít rủi ro và đương nhiên lợi nhuận đem lại cũng không nhiều (theo công thức trên) Tiêu biểu cho loại trái phiếu thanh khoản cao là tín phiếu kho bạc, nó được nhiều doanh nghiệp tin tưởng nắm giữ làm dự trữ cấp hai sau tiền mặt, còn trên thị trường thì hầu như đã bán

1.12 Cơ cấu thời hạn của lãi suất

Phần này trả lời cho câu hỏi: Tại sao các trái phiếu có mức rủi ro tương đương nhau lại có lãi suất khác nhau? Trả lời là do chúng có thời gian tới ngày đáo hạn khác nhau

Định nghĩa về đường lợi suất: Là đường biểu diễn mối quan hệ giữa lãi suất và thời gian tới ngày đáo hạn của những trái phiếu có cùng rủi ro, tính thanh khoản và mức thuế thu nhập

Từ thực tế người ta rút ra ba hiện tượng:

o Lãi suất của các trái phiếu với thời gian tới ngày đáo hạn khác nhau biến động cùng nhau theo thời gian

Trang 12

o Khi lãi suất ngắn hạn thấp, các đường lợi suất có xu hướng dốc lên Khi lãi suất ngắn hạn cao, các đường lợi suất có xu hướng dốc xuống

o Các đường lợi suất hầu như luôn dốc lên

Người ta cũng đưa ra ba lý thuyết để giải thích các hiện tượng trên, gồm có: Lý thuyết kì vọng, lý thuyết thị trường phân đoạn và lý thuyết phần thưởng cho tính thanh khoản

1.12.1 Lý thuyết dự tính

Lãi suất thu được từ một trái phiếu dài hạn bằng số bình quân các mức lãi suất ngắn hạn mà mọi người

dự kiến sẽ xảy ra trong suốt vòng đời của trái phiếu đó

Giả định then chốt của lý thuyết này là: Các trái phiếu có thời gian tới ngày đáo hạn khác nhau là hàng

hoá thay thế hoàn hảo cho nhau Nếu lợi tức dự kiến của một trái phiếu nhỏ hơn lợi tức dự kiến thu

được từ một trái phiếu có thời gian tới ngày đáo hạn khác, thì nhà đầu tư sẽ không nắm giữ một lượng nào của trái phiếu đó Hệ quả là các trái phiếu có thời gian tới ngày đáo hạn khác nhau có lợi tức dự kiến bằng nhau

Ví dụ người ta dự đoán lãi suất kì hạn một năm trong ba năm tới là: năm thứ nhất 5%, năm thứ hai 6%, năm thứ ba 8% Khi đó lãi suất kì hạn ba năm tới sẽ là (5%+6%+7%)/3= 6%

Giải thích về các hiện tượng trên:

Về hiện tượng số một: Trong thực tế người ta nhận thấy rằng, các mức lãi suất ngắn hạn nếu hiện tại chúng tăng thì sẽ có xu hướng tăng cao hơn trong tương lai Do vậy khi lãi suất ngắn hạn tăng thì làm tăng kì vọng của mọi người về mức lãi suất ngắn hạn cao hơn trong tương lai Do lãi suất dài hạn là số bình quân của các mức lãi suất ngắn hạn kì vọng nên sự gia tăng lãi suất ngắn hạn ở hiện tại sẽ làm tăng lãi suất dài hạn Điều này làm cho lãi suất ngắn hạn và dài hạn biến động cùng nhau

Về hiện tượng số hai: Khi lãi suất ngắn hạn thấp, nhìn chung người ta dự kiến chúng sẽ tăng trong thời gian tới về một mức bình thường nào đó, và số bình quân của các mức lãi suất ngắn hạn dự kiến trong tương lai sẽ cao hơn lãi suất ngắn hạn hiện hành Bở vậy, lãi suất dài hạn sẽ cao hơn đáng kể so với lãi suất ngắn hạn hiện hành và khi đó đường lợi suất dốc lên Ngược lại, khi lãi suất ngắn hạn quá cao, người ta sẽ dự kiến chúng thấp trở lại, kéo theo số bình quân các mức lãi ngắn hạn dự kiến giảm và lãi suất dài hạn giảm, đường lợi suất dốc xuống

Lý thuyết này không giải thích được hiện tượng số ba

1.12.2 Lý thuyết thị trường phân cách

Lý thuyết này cho rằng thị trường dành cho các trái phiếu có ngày đáo hạn khác nhau là tách biệt hoàn toàn so với nhau Khi đó lãi suất của mỗi trái phiếu có có ngày đáo hạn cụ thể được xác định bởi cung và cầu về nó, chứ không bị ảnh hưởng bởi lợi tức dự kiến thu được từ các trái phiếu có ngày đáo hạn khác

Giả định then chốt của lý thuyết này là: Các trái phiếu có ngày đáo hạn khác nhau không thể thay thế cho

nhau Do vậy lợi tức dự kiến từ việc nắm giữ một trái phiếu có ngày đáo hạn này không ảnh hưởng tới

Trang 13

nhu cầu về trái phiếu có ngày đáo hạn khác Với những nhà đầu tư trường vốn, có khả năng đầu tư lâu dài, họ sẵn sàng “chịu chơi” bỏ tiền ra mua trái phiếu dài hạn, lợi nhuận lớn mà rủi ro cũng cao Còn với những nhà đầu tư nhỏ, muốn kiếm chút lời trong khoảng thời gian ngắn thì sẽ chỉ quan tâm đến những trái phiếu ngắn hạn bất kể lãi suất của trái phiếu dài hạn hấp dẫn như thế nào Do đó từng đối tượng nhà đầu tư đã xác định cho mình một phân khúc thị trường riêng nên mới gọi là thị trường bị phân đoạn

Lý thuyết này không giải thích được hiện tượng một và hai Với hiện tượng số ba, do đa số các nhà đầu

tư có tâm lí ngại rủi ro nên chủ yếu đầu tư ngắn hạn, mức cung vốn trên thị trường trái phiếu ngắn hạn cao hơn kéo theo lãi suất của các trái phiếu ngắn hạn thấp hơn trái phiếu dài hạn, và do đó các đường lợi suất có xu hướng dốc lên

1.12.3 Lý thuyết phần bù cho thanh khoản

Lãi suất của trái phiếu dài hạn bằng số bình quân các mức lãi suất ngắn hạn được kì vọng sẽ xảy ra trong vòng đời của trái phiếu dài hạn cộng với phần thưởng cho tính thanh khoản của trái phiếu đó

Giả định then chốt của lý thuyết này là: Các trái phiếu có ngày đáo hạn khác nhau là hàng hoá thay thế

cho nhau Điều này hàm ý lợi tức dự kiến thu được từ một trái phiếu có thể tác động tới lợi tức dự kiến

thu được từ một trái phiếu có ngày đáo hạn khác, nhưng nó cho phép nhà đầu tư ưa thích trái phiếu có ngày đáo hạn này hơn trái phiếu có ngày đáo hạn khác Thường thì họ thích những trái phiếu kì hạn ngắn do có mức rủi ro thấp hơn Vì vậy, để nhà đầu tư chấp nhận bỏ vốn ra nắm giữ trái phiếu dài hạn, người đi vay cần có thêm “phần thưởng” dương để giúp họ bù đắp những tổn thất có thể gặp phải Phần thưởng thanh khoản sẽ tăng cùng với kì hạn trái phiếu vì kì hạn càng dài thì rủi ro càng lớn Chính vì vậy đường lợi suất của lý thuyết phần thưởng cho thanh khoản nhìn chung cao và dốc hơn đường lợi suất của lý thuyết kì vọng

Ví dụ: Người ta dự đoán lãi suất kì hạn một năm trong ba năm tới lần lượt là 5%, 6% và 7% Do nhà đầu

tư chỉ ưa thích nắm giữ trái phiếu ngắn hạn ở những khoảng thời gian gần nên phần thưởng thanh khoản cho ba kì hạn trên sẽ tăng dần theo thứ tự giả sử là 0%; 0,5% và 1% Khi đó lãi suất thu được từ trái phiếu hai năm bằng: (5%+6%)/2 + 0,5% = 6%; lãi suất thu được từ trái phiếu ba năm bằng: (5%+6%+7%)/3 + 1% = 7%

Giải thích các hiện tượng trên: Lý thuyết này giải thích được cả ba hiện tượng ta đã đề cập

Hiện tượng một: Khi lãi suất ngắn hạn tăng, nhìn chung người ta sẽ dự đoán chúng còn tăng tiếp trong tương lai nên bình quân các mức lãi suất ngắn hạn kì vọng trong tương lai tăng, cộng thêm ảnh hưởng của sự tăng liên tục theo kì hạn của phần thưởng cho thanh khoản nên có thể khẳng định lãi suất dài hạn

sẽ tăng mạnh

Hiện tượng hai: Khi lãi suất ngắn hạn thấp, nhìn chung người ta dự đoán chúng sẽ còn tăng tiếp đến khi trở lại mức bình thường trong tương lai, nên số bình quân các mức lãi suất ngắn hạn kì vọng sẽ cao hơn lãi suất ngắn hạn hiện hành Cùng với sự tăng dần của phần thưởng cho tính thanh khoản, lãi suất dài hạn sẽ cao hơn đáng kể lãi suất ngắn hạn hiện hành và khi đó đường lợi suất có xu hướng dốc lên Lập luận tương tự với trường hợp lãi suất ngắn hạn đang cao

Trang 14

Hiện tượng ba: Ta thừa nhận rằng phần thưởng cho tính thanh khoản tăng lên cùng với kì hạn của trái phiếu do tâm lí ưa thích trái phiếu ngắn hạn của nhà đầu tư, nên ngay cả khi lãi suất ngắn hạn được dự kiến vẫn như cũ thì do sự tăng lên của yếu tố phần thưởng vẫn sẽ kéo lãi suất dài hạn tăng lên khiến đường lợi suất có xu hướng dốc lên Với một số trường hợp cá biệt đường lợi suất dốc xuống thì được giải thích là do đôi khi lãi suất ngắn hạn trong tương lai được dự kiến giảm nhiều đến mức kéo số bình quân các mức lãi ngắn hạn kì vọng giảm sâu hơn mức tăng của phần thưởng thanh khoản khiến lãi suất dài hạn giảm thấp hơn lãi suất hiện hành

1.13 Bằng chứng về cơ cấu thời hạn

Sau đây ta sẽ căn cứ vào dạng đường lợi suất để dự đoán xu hướng của lãi suất ngắn hạn trong tương lai

Đường lợi suất dốc lên và rất dốc (phân biệt với trường

hợp khá thoải bên dưới) Do lãi suất dài hạn tăng mạnh

so với lãi suất ngắn hạn hiện hành nên lãi suất ngắn hạn

được dự báo sẽ tăng Sở dĩ là để số bình quân kì vọng

của chúng tăng, cộng hưởng với sự tăng phần thưởng

cho thanh khoản mới đủ sức để kéo mức lãi suất dài hạn

lên tăng mạnh như thế

Đường lợi suất dốc lên và khá thoải Do lãi suất dài hạn

tăng không nhiều so với lãi suất ngắn hạn hiện hành nên

sự tăng này có thể chỉ do tác động của phần thưởng cho

tính thanh khoản còn số bình quân các mức lãi suất ngắn

hạn kì vọng hầu như sẽ không đổi Vì vậy lãi suất ngắn

hạn trong tương lai được dự đoán vẫn như cũ

Lãi suất ngắn hạn tương lai dự kiến sẽ tăng

Lãi suất ngắn hạn tương lai dự kiến không đổi

Trang 15

Đường lợi suất nằm ngang Lãi suất dài hạn

bằng lãi suất ngắn hạn nên dự đoán lãi suất

ngắn hạn tương lai sẽ có xu hướng giảm Sở dĩ

như vậy vì trong công thức tính lãi suất dài hạn

đã có một thành tố gây tính chất tăng là phần

thưởng thanh khoản nên thành tố còn lại phải

giảm để bù đắp Số bình quân giảm khi lãi suất

ngắn hạn có xu hướng giảm dần, tuy nhiên sự

lai dự kiến giảm nhẹ Đường lợi suất dốc xuống Do lãi suất dài hạn

giảm so với lãi suất ngắn hạn hiện hành nên

chắc chắn thành tố số bình quân các mức lãi

suất ngắn hạn kì vọng phải giảm rất sâu để

chống lại xu hướng tăng của phần thưởng

thanh khoản mới đủ sức kéo lãi suất dài hạn

giảm xuống như thế Số bình quân các mức lãi

suất ngắn hạn kì vọng giảm khi lãi suất ngắn

hạn tương lai có xu hướng giảm và ở đây là

lai dự kiến giảm mạnh

Trang 16

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH KINH TẾ VỀ CƠ CẤU TÀI CHÍNH

2.1 Chi phí giao dịch

Với một số vốn nhỏ, bạn khó lòng có thể đầu tư vào các chứng khoán tốt chứ chưa nói đến chuyện đa dạng hoá danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro Chi phí giao dịch cao đã cản trở bạn tham gia thị trường tài chính Rất may là các trung gian tài chính có thể giải quyết được vấn đề này nhờ:

 Tính kinh tế theo quy mô của hoạt động kinh doanh

Trung gian tài chính sẽ tiến hành gom vốn của nhiều nhà đầu tư nhỏ lại với nhau rồi tiến hành đầu tư một thể, làm như vậy sẽ tiết kiệm được chi phí giao dịch trên mỗi đồng vốn huy động Lượng vốn càng lớn thì lợi thế kinh tế theo quy mô càng cao và chi phí trên mỗi đồng vốn càng giảm

Tiêu biểu cho tính chất này là hoạt động của quỹ tương hỗ (mutual fund) Đây là một dạng trung gian tài chính, nó bán cổ phần cho nhiều nhà đầu tư để huy động vốn, sau đó dùng số tiền thu được để đầu tư vào một danh mục lớn các tài sản được đa dạng hoá Do chi phí giao dịch trên thị trường tài chính chỉ tăng chút ít khi quy mô giao dịch tăng lên, ví dụ để mua 10.000 cổ phiếu thì chi phí cũng không lớn hơn bao nhiều so với việc mua 50 cổ phiếu, nên với một khối lượng đầu tư lớn, quỹ đã tiết kiệm được nhiều chi phí giao dịch và khoản tiết kiệm này sau đó đương nhiên thuộc về những người góp vốn Một mối lợi khác là quỹ tương hỗ đủ lớn để mua một danh mục đầu tư đa dạng, góp phần làm giảm rủi ro mà mỗi nhà tư phải chịu

 Năng lực chuyên môn

Các trung gian tài chính cũng có điều kiện tốt hơn để phát triển những kĩ năng làm giảm chi phí giao dịch như việc họ có đội ngũ chuyên viên tư vấn đầu tư, có hệ thống quản trị chặt chẽ, năm rõ các quy định, chính sách trong ngành, có các nhân viên tín dụng am hiểu thị trường, có khả năng tìm kiếm khách hàng

và giám sát món vay,… Đây là những điều mà các nhà đầu tư nhỏ lẻ không làm được

2.2 Thông tin không cân xứng: Vấn đề lựa chọn đối nghịch và suy giảm đạo đức

Thông tin không cân xứng là thuật ngữ dùng để chỉ tình huống mà một bên giao dịch không hiểu biết đầy đủ về các bên giao dịch liên quan để có thể đưa ra các quyết định chính xác

Trang 17

Tuy nhiên người chủ của doanh nghiệp tốt biết rằng giá cổ phiếu của họ xứng đáng được trả cao hơn thế nên sẽ không bán cho anh ta Chỉ có những doanh nghiệp yếu kém mới đồng ý bán cho nhà đầu tư A Nhưng do không phải người ngu ngốc nên A đã quyết định rút khỏi thị trường cổ phiếu

Tương tự với trường hợp anh A muốn đầu tư vào trái phiếu Do không có thông tin nên A chỉ mua những trái phiếu có lãi suất đủ cao để bù đắp cho anh ta về mức rủi ro vỡ nợ bình quân của các doanh nghiệp tốt và yếu kém trên thị trường Người chủ doanh nghiệp tốt nhận thấy họ phải trả lãi suất nhiều hơn mức cần thiết và vì vậy không muốn bán cho A Chỉ có các doanh nghiệp yếu kém mới sẵn sàng vay nợ từ những nhà đầu tư như A Nhưng do nhận thức được điều này nên A quyết định không mua trái phiếu của bất cứ một bên nào nữa

Phần lập luận trên trả lời cho thực tế là tỉ trọng vốn huy động qua thị trường chứng khoán của các công

ty trên thế giới thường không cao

Để giảm thiểu vấn đề lựa chọn đối nghịch, người ta đưa ra các giải pháp như sau:

 Cung cấp và bán những thông tin hữu ích về các cá nhân, doanh nghiệp cần tài trợ vốn nhằm giúp người cấp vốn sàng lọc ra những đối tượng đi vay tốt, có đủ khả năng trả nợ Việc này có thể giúp hạn chế bớt rủi ro do lựa chọn đối nghịch nhưng không giải quyết được một cách trọn vẹn khi những người không chi tiền mua thông tin vẫn có thể hưởng lợi từ những thông tin mà người khác có Ví dụ một nhà đầu tư A vừa mua được thông tin về một mã cổ phiếu tốt và quyết định sẽ nắm giữ nó Nhưng nếu nhiều nhà đầu tư khác trên thị trường cũng hành động theo A

do biết anh ta có thông tin, làm giá của những chứng khoán tốt bị định giá thấp tăng nhanh trước khi A kịp mua vào khiến anh ta bị thiệt Do không thể thu lời từ việc mua thông tin nên thị trường cung cấp thông tin sẽ không thể phát triển và từ đó cản trở sự vận hành hiệu quả của thị trường chứng khoán

 Sự điều hành của Chính phủ: bắt buộc hoặc khuyến nghị các bên, đặc biệt là bên có nhu cầu tài trợ vốn, phải cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến thương vụ vay mượn cho các bên liên quan Nhưng điều này vẫn chưa loại bỏ được hoàn toàn vấn đề lựa chọn đối nghịch, do thông tin mà các bên cung cấp hoặc là không đầy đủ hoặc là bị sai lệch theo chiều hướng có lợi cho bên cung cấp thông tin, gây khó khăn cho bên nhận thông tin khi ra quyết định

 Trung gian tài chính: Là một tổ chức chuyên nghiệp đứng ra thu thập và xử lí thông tin, đồng thời hưởng lợi từ hoạt động đó nhằm ngăn chặn vấn đề lựa chọn đối nghịch Họ được tổ chức theo tính chuyên môn hoá cao, có khả năng phân tích, sàng lọc các đối tượng có dự án đầu tư khả thi, năng lực trả nợ tốt, trung thực để cấp vốn Các ngân hàng cũng tránh được vấn đề ăn theo thông tin do họ tạo ra nhờ các hợp đồng tín dụng cho khách hàng không được mua bán trên thị trường nên người ngoài không thể nắm bắt được các vấn đề bên trong, cũng như không thể đẩy giá các khoản vay đến điểm mà ngân hàng không còn được nhận tiền đền bù cho những thông tin mà họ đã tạo ra nữa => giải thích thực tế tại sao các trung gian tài chính luôn là nguồn cấp vốn từ bên ngoài chủ yếu cho các doanh nghiệp và nó ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành hệ thống tài chính

 Vật thế chấp: Là tài sản được giao cho người cho vay để trong trường hợp người đi vay không thanh toán được nợ, chủ nợ sẽ tiến hành phát mại để thu tiền về bù đắp cho tổn thất Do có tác

Trang 18

dụng làm giảm bớt hậu quả của vấn đề lựa chọn đối nghịch nên người cho vay sẵn sàng hơn trong việc cho vay có đảm bảo, đồng thời người đi vay cũng sẵn sàng giao vật thế chấp vì việc đó

có thể giúp anh ta được vay với mức lãi suất thấp hơn

 Giá trị ròng: Là chênh lệch giữa tổng tài sản và tổng nợ của một doanh nghiệp Giá trị ròng càng cao càng khiến các giám đốc doanh nghiệp phải thận trọng hơn khi tiến hành các dự án đầu tư vì chi phí cơ hội là thua lỗ và gây phá sản doanh nghiệp rất lớn Đồng thời khi cho vay, các ngân hàng cũng “cảm tình” hơn với những doanh nghiệp lớn, do nó có nhiều tài sản giá trị, nếu vay vốn đầu tư mà chẳng may thua lỗ thì với lượng tài sản đó bán đi cũng đủ để trả lại cho ngân hàng

2.2.2 Rủi ro đạo đức

Khái niệm: Là vấn đề thông tin không cân xứng, phát sinh sau khi giao dịch diễn ra: người đi vay không trung thực hoặc tham gia vào các hoạt động không mong muốn do chúng làm giảm khả năng trả nợ

Suy giảm đạo đức trong hợp đồng vốn cổ phần: vấn đề chi phí đại diện

Vấn đề chi phí đại diện: Thông thường giám đốc một công ty cổ phần chỉ nắm giữ một phần nhỏ doanh nghiệp mà họ quản lí, phần còn lại thuộc về các cổ đông – những người chủ sở hữu nhưng không tham gia điều hành Sự tách biệt giữa chức năng sở hữu và chức năng kiểm soát gây ra vấn đề suy giảm đạo đức mà khi đó các giám đốc trong vai trò kiểm soát có thể hành động trên cơ sở lợi ích riêng của họ, chứ không phải lợi ích chung của công ty, của những người thuê họ về làm quản lí

Các giải pháp giảm thiểu rủi ro đạo đức trong hợp đồng vốn cổ phần là:

 Tăng cường giám sát: Thiết lập một cơ chế báo cáo đầy đủ, chính xác, kịp thời những việc mà nhà quản lí làm cho chủ doanh nghiệp, đồng thời giảm dần sự tách biệt về chức năng giữa người

sở hữu và người quản lí

 Tăng cường vai trò điều hành của chính phủ thông qua các quy định về chuẩn hoá và minh bạch hoá thông tin để tất cả những người có quyền lợi với doanh nghiệp như các cổ đông nắm được hoạt động kinh doanh của công ty mình

 Tăng cường sự hoạt động của các trung gian tài chính thông qua hình thức liên kết, liên doanh Ngân hàng sẽ góp vốn với DN để hình thành liên doanh từ đó có thể giám sát các hoạt động tài chính doanh nghiệp Với một đối tượng giám sát có hiểu biết chuyên môn sâu như NHTM thì khả năng người quản lí DN hành động vì lợi ích bản thân sẽ khó xảy ra

 Sử dụng các hợp đồng vay nợ: Khi doanh nghiệp kinh doanh tốt, chủ nợ được hoàn trả đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đúng hạn thì họ không cần biết chính xác lợi nhuận của doanh nghiệp là bao nhiêu Nhưng nếu có tiêu cực xảy ra khiến khả năng trả nợ của doanh nghiệp suy giảm, các chủ nợ khi đó sẽ vào cuộc để tìm hiểu quá trình kinh doanh của công ty Do vậy hợp đồng vay nợ

có thể làm giảm được quy mô giám sát cần thiết đối với các giám đốc, từ đó làm giảm chi phí giám sát, tăng cường tính trách nhiệm trong điều hành của các nhà quản lí

Suy giảm đạo đức trong hợp đồng nợ: định nghĩa như khái niệm tổng quát

Trang 19

Các giải pháp giảm thiểu rủi ro đạo đức trong hợp đồng nợ là:

 Nâng cao tỉ trọng vốn tự có trong tổng vốn đầu tư của dự án bên cạnh vốn đi vay Khi lượng vốn

bỏ ra đầu tư có một phần đáng kể là của chủ chở hữu sẽ tạo động lực giúp họ hạn chế bỏ vốn vào các lĩnh vực mạo hiểm, tăng cường giám sát và sử dụng vốn một cách có hiệu quả, tiết kiệm hơn

 Đặt ra những quy chế giám sát chặt chẽ, bắt buộc trước và sau khi giải ngân vốn đối với đối tượng đi vay như: phải có tài sảm bảo đảm; phải có kế hoạch sử dụng vốn cụ thể, khả thi, có phương án thu hồi, trả nợ vốn được ngân hàng phê chuẩn; cam kết sử dụng vốn đúng mục đích hai bên đã thoả thuận, cam kết thanh toán đủ tiền lãi định kì và hoàn trả vốn gốc đúng hạn; thường xuyên cung cấp các thông tin liên quan đến quá trình sử dụng vốn vay, thậm chí phải chịu các đợt kiểm tra đột xuất từ phía tổ chức cấp tín dụng

 Tăng cường hoạt động, trình độ nhân lực, kĩ thuật chuyên môn của các trung gian tài chính Xét

thấy trong các đối tượng cho vay trong nền kinh tế, chỉ có các trung gian tài chính, đặc biệt là ngân hàng chứ không phải những cá nhân nhỏ lẻ, doanh nghiệp thừa vốn tạm thời hay thậm chí

là Nhà nước có đủ năng lực chuyên môn, kinh nghiệm để thẩm định, giám sát các dự án giải ngân vốn mà cuối cùng hoàn vốn đầy đủ và có lãi

Trang 20

 Tiền mặt trong quá trình thu

 Tiền gửi tại tổ chức tín dụng khác

2 Chứng khoán

3 Các khoản cho vay

4 Tài sản khác

1 Tiền gửi

 Tiền gửi giao dịch

 Tiền gửi phi giao dịch

2 Các khoản đi vay

3 Vốn chủ sở hữu

Phương trình cơ bản: Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu

Trong đó: Nợ phải trả = Tiền gửi huy động + Các khoản đi vay

3.1.1 Nguồn vốn

1) Tiền gửi

Tiền gửi giao dịch: Là tài khoản tiền gửi không kì hạn mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào

(có thể viết séc) Đây thường là các khoản tiền gửi không trả lãi, mà nếu có thì lãi suất cũng rất thấp Do tính chất linh hoạt trong việc rút tiền, nên tiền gửi giao dịch là một nguồn vốn kém ổn định với ngân hàng

Tiền gửi phi giao dịch: Là tài khoản tiền gửi mà người gửi tiền không thể thực hiện các dịch vụ

thanh toán trên tài khoản Hai dạng cơ bản của tiền gửi phi giao dịch là tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kì hạn (còn được gọi là chứng chỉ tiền gửi – CD) Với tiền gửi tiết kiệm, người ta có thể bổ sung hoặc rút vốn ra bất cứ lúc nào, các giao dịch và thanh toán lãi suất được ghi lại trong một quyển sổ nhỏ mà người chủ tài khoản nắm giữ Tài khoản tiền gửi có kì hạn luôn xác định rõ một khoảng thời gian đáo hạn cụ thể, trong khoảng thời gian đó người gửi tiền không được phép rút

ra, nếu không sẽ bị phạt lãi theo mức lãi suất của tiền gửi không kì hạn thấp hơn nhiều Tiền gửi phi giao dịch thường chiếm mức tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM Lãi suất tiền gửi phi giao dịch nhìn chung cao hơn của tiền gửi giao dịch, nhưng đổi lại tính thanh khoản với người gửi tiền lại giảm đi

2) Các khoản đi vay: Bên cạnh việc huy động tiền gửi, các ngân hàng cũng chủ động để có được vốn bằng

cách đi vay của Ngân hàng trung ương, vay trên thị trường liên ngân hàng hoặc của các định chế tài chính, doanh nghiệp khác Các khoản vay NHTW hoặc trên thị trường liên ngân hàng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, giải quyết sự thiếu hụt thanh khoản tạm thời

3) Vốn chủ sở hữu: Là giá trị ròng của ngân hàng sau khi đã khấu trừ hết các khoản nợ Thường chỉ chiếm

tỉ trọng nhỏ trong cơ cấu vốn, nhưng lại đóng một vai trò quan trọng như tấm đệm hấp thụ các tổn thất

Trang 21

của ngân hàng trong quá trình kinh doanh Vốn chủ sở hữu có được bằng nhiều cách như được cấp từ Nhà nước/công ty mẹ, phát hành cổ phiếu, giữ lại một phần lợi nhuận,…

3.1.2 Tài sản

1) Các khoản dự trữ và tiền mặt

Dự trữ: Là số tiền ngân hàng giữ lại, không đầu tư ra bên ngoài từ số vốn có được Có hai cách

phân loại dự trữ: (1) theo địa chỉ, gồm dự trữ tại ngân hàng và dự trữ gửi ở NHTW, (2) theo tính chất, gồm dự trữ bắt buộc và dự trữ dôi ra Dự trữ bắt buộc là theo quy định của NHTW, tính trên số tiền gửi mà ngân hàng huy động được, với một mức tỉ lệ nhất định trong từng thời kì, với từng loại hình ngân hàng, trên từng loại tiền gửi Mục đích của dự trữ bắt buộc là để NHTW điều tiết cung tiền trong nền kinh tế Dự trữ dôi ra là số tiền mỗi ngân hàng muốn nắm giữ thêm, ngoài yêu cầu của NHTW, nhằm mục tiêu đảm bảo tính thanh khoản hàng ngày

Tiền mặt trong quá trình thu: Giả sử một tấm séc được viết vào tài khoản mở tại ngân hàng khác,

sau đó được gửi vào ngân hàng bạn nhưng bạn chưa nhận được số vốn làm cơ sở cho tấm séc kia, khi đó tấm séc được phân loại vào tài khoản tiền mặt đang trong quá trình thu, và nó là tài sản đối với ngân hàng bạn

Tiền gửi tại tổ chức tín dụng khác: Để thực hiện các dịch vụ thanh toán liên ngân hàng hoặc khi

có thanh khoản dư thừa, các tổ chức tín dụng thường mở tại khoản tại hội sở của nhau Khi đó tài sản vừa đảm bảo sinh lời lại thuận tiện để thực hiện các dịch vụ cho khách hàng

2) Chứng khoán: Thay vì hình thức cho vay trực tiếp, các NHTM có thể mua trái phiếu của Chính phủ,

các chính quyền địa phương hoặc doanh nghiệp, tổ chức khác.Tín phiếu Kho bạc là chứng khoán có tính thanh khoản cao nhất trên thị trường nên thường được chọn làm dự trữ cấp hai sau tiền mặt

3) Các khoản cho vay: Ngân hàng kiếm lợi nhuận chủ yếu bằng cách cho vay Đây là các tài sản có tính

lỏng thấp, rủi ro cao nhưng mức lợi thuận thu về lớn hơn bất cứ một loại hình kinh doanh nào khác của ngân hàng

3.2 Nguyên tắc chung trong quản lí ngân hàng

Nhà quản lí ngân hàng thường quan tâm tới ba vấn đề sau:

(1) Quản lí thanh khoản: Đảm bảo ngân hàng có đủ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền chính đáng của khách hàng bất cứ lúc nào

(2) Quản lí tài sản: Giảm thiểu tối đa mức rủi ro ngân hàng có thể gặp phải bằng cách đa dạng hoá danh mục tài sản nắm giữ

(3) Quản lí nguồn vốn: Thu hút được nguồn vốn với chi phí thấp nhất

3.2.1 Quản lí thanh khoản

Tiền dự trữ (dôi ra) trong ngân hàng có hai vai trò chính:

Trang 22

(1) hạn chế chi phí khi có dòng tiền rút ra, giúp ngân hàng tránh phải thực hiện những việc làm phát sinh

các khoản phí ngoài dự kiến như: đáo hạn sớm hợp đồng hoặc bán các hợp đồng cho vay cho tổ chức tín dụng khác, bán chứng khoán, vay của NHTW, vay trên thị trường liên ngân hàng hoặc từ các doanh nghiệp;

(2) phòng ngừa rủi ro mất khả năng thanh khoản (chứ không phải thanh toán!) dẫn đến vỡ nợ: các ngân

hàng cần duy trì các khoản dự trữ vượt mức, dự trữ cấp hai (chứng khoán thanh khoản cao) và vốn chủ

sở hữu đủ lớn để hấp thụ các khoản thua lỗ trong kinh doanh và đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu rút tiền chính đáng của khách hàng bất cứ lúc nào Do dự trữ không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng, trong khi vẫn mất phí huy động, nên vấn đề khó nhất ở đây là nhà quản lí phải tính toán ra một mức dự trữ hợp lí, nhằm vừa đảm bảo khả năng thanh khoản hàng ngày, vừa tối thiểu hoá được chi phí cơ hội do việc dự trữ đem lại

3.2.2 Quản lí tài sản

Để tối đa hoá lợi nhuận, ngân hàng càng tìm kiếm những lợi tức cao nhất từ các khoản cho vay và tối thiểu hoá rủi ro có thể gặp phải bằng các cách:

+) Thứ nhất: Ngân hàng phải chủ động tìm kiếm những khách hàng uy tín, có tiềm lực tài chính hoặc dự

án có tính khả thi cao để cho vay

+) Thứ hai: Ngân hàng cố gắng mua được những chứng khoán đem lại lợi tức cao, nhưng đồng thời phải

có mức rủi ro kiểm soát được

+) Thứ ba: Ngân hàng phải đa dạng hoá danh mục tài sản nắm giữ để tối thiểu hoá tổng mức rủi ro có thể gặp phải, bằng cách đầu tư vào nhiều loại tài sản có mức độ tương quan về lợi tức ngược chiều nhau +) Cuối cùng: Ngân hàng cần quản lí tốt trạng thái thanh khoản để thoả mãn được những đòi hỏi về dự trữ mà không phải chịu một mức tổn thất lớn

3.2.3 Quản lí rủi ro tín dụng – Các nguyên tắc quản lí tiền cho vay

1) Sàng lọc và giám sát

Sàng lọc nhằm khắc phục vấn đề lựa chọn đối nghịch Ngân hàng sẽ thu thập những thông tin cần thiết

về khách hàng tiềm năng, sau đó đánh giá, chấm điểm tín dụng Mục đích là để chọn ra được những đối tượng đi vay uy tín, có tiềm lực tài chính hoặc dự án đầu tư khả thi mới đồng ý cấp vốn Sàng lọc được thực hiện trước khi hợp đồng tín dụng giữa hai bên được kí kết

Giám sát nhằm khắc phục vấn đề rủi ro đạo đức Sau khi giải ngân, cán bộ tín dụng của ngân hàng phải thường xuyên theo dõi tình hình sử dụng vốn vay, xem khách hàng có làm đúng với những yêu cầu do hợp đồng tín dụng đề ra hay không Mục đích là nhằm tránh tình trạng khách hàng sau khi nhận vốn về

sẽ đem tiền đầu tư vào những lĩnh vực không được các bên thoả thuận ban đầu, dẫn tới rủi ro của món vay tăng, gây thiệt hại cho cả ngân hàng và người đi vay Giám sát là hoạt động được thực hiện sau khi hợp đồng tín dụng được kí kết

Ngày đăng: 17/03/2017, 21:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.1. Bảng cân đối tài sản của ngân hàng - Tài liệu ôn thi thì trường tài chính
3.1. Bảng cân đối tài sản của ngân hàng (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w