Trả lời cho câu hỏi “vật chất là gì?” đã được các nhà triết học nêu ra từ thời cổ đại và nhìn chung họ đã quy vật chất vào 01 dạng vật thể cụ thẻ như “vật chất là nước, là lửa, là kim – mộc – thủy – hỏa – thổ, là nước – lửa – không khí hoặc vật chất là nguyên tử quan điểm này kéo dài mãi cho đến thế kỷ 19. Đến đầu thế kỷ XX, khoa học phát triển chứng minh nguyên tử không phải là phần tử bé nhỏ nhất cấu thành thế giới vật chất thì các quan điểm trên cũng như trong các nhà triết học, cả trong khoa học tự nhiên rơi vào khủng hoảng và chủ nghĩa duy tâm vật lý ra đời cho rằng vật chất biến mất, vật chất tiêu tan, trong hoàn cảnh ấy Lênin cho ra đời định nghĩa nổi tiếng về vật chất torng tác phẩm chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán.
Trang 1TÀI LIỆU ÔN THI CAO HỌC
MÔN: TRIẾT HỌC
Câu hỏi 1: Định nghĩa vật chất của Lenin Ý nghĩa khoa học?
1 Định nghĩa vật chất của Lenin.
1.1 Điều kiện, hoàn cảnh ra đời:
Trả lời cho câu hỏi “vật chất là gì?” đã được các nhà triết học nêu ra từ thời
cổ đại và nhìn chung họ đã quy vật chất vào 01 dạng vật thể cụ thẻ như “vật chất là nước, là lửa, là kim – mộc – thủy – hỏa – thổ, là nước – lửa – không khí hoặc vật chất là nguyên tử - quan điểm này kéo dài mãi cho đến thế kỷ 19 Đến đầu thế kỷ
XX, khoa học phát triển chứng minh nguyên tử không phải là phần tử bé nhỏ nhất cấu thành thế giới vật chất thì các quan điểm trên cũng như trong các nhà triết học,
cả trong khoa học tự nhiên rơi vào khủng hoảng và chủ nghĩa duy tâm vật lý ra đời cho rằng vật chất biến mất, vật chất tiêu tan, trong hoàn cảnh ấy Lênin cho ra đời định nghĩa nổi tiếng về vật chất torng tác phẩm chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán
1.2 Nội dung định nghĩa vật chất của Lênin: Vật chất là một phạm trù triết
học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ảnh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
1.3 Phân tích nội dung định nghĩa vật chất của Lenin:
- Vật chất là một phạm trù triết học:
+ Vật chất ở đây dưới tư cách là đối tượng nghiên cứu của triết học và với tư cách là phạm trù triết học, nó mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa cao, nó khác với vật chất với tư cách là đối tượng nghiên cứu của các khoa học khác như vật lý, hóa học, chính trị học và với tư cách là một phạm trù triết học, bao giờ nó cũng biểu thị thế giới quan và phương pháp luận
+ Dùng để chỉ thực tại khách quan nghĩa là vật chất có nhiều thuộc tính nưng thuộc tính thực tại khách quan là cơ bản nhất, quan trọng nhất đã cần và đủ
để xem cái gì là tồn tại thực và khách quan nghĩa là không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người và loài người
+ Được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác, nghĩa là tồn tại khách quan hoặc vật chất là có trước, cảm giác hay ý thức của chúng ta là có sau; đồng thời điều này cũng nói lên rằng cảm giác hay ý thức của chúng ta có thể phản ánh được thực tại khác quan hay vật chất
2 Ý nghĩa khoa học:
Trang 2- Đã giải quyết được cả 2 mặt vấn đề cơ bản của triết học trên tinh thần duy vật biện chứng.
- Nội dung định nghĩa vật chất của Lênin đã khắc phục được tính trực quan siêu hình máy móc quan niệm của chủ nghĩa duy vật cũ về vật chất (về vấn đề cơ bản của triết học)
- Là cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới tự nhiên
- Là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xã hội (nghiên cứu quan hệ sản xuất)
- Mở ra một phương pháp mới cho việc định nghĩa torng logic biện chứng
Câu hỏi 2: Nguồn gốc và bản chất của ý thức?
1 Nguồn gốc của ý thức: Theo triết học duy vật biện chứng, ý thức của con
người có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
1.1 Nguồn gốc tự nhiên:
- Triết học duy vật biện chứng chỉ ra rằng, phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất Đó là năng lực giữ lại, tái hiện lại của một hệ thống vật chất này những đặc điểm của một hệ thống vật chất khác khi hai hệ thống vật chất đó tác động lẫn nhau
- Cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản áanh của nó cũng phát triển từ thấp lên cao (phản ánh vật lý; phản ánh sinh vật với các hình thức kích thích, cảm ứng; phản ánh tâm lý động vật; phản ánh ý thức của con người) Như vậy, ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người
Tóm lại, não người và sự phản ánh thế giới khách quan vào não người chính
là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
- Lao động giúp cho người cải tạo thế giới và hoàn thiện chính mình
- Thông qua lao động, não người ngày càng hoàn thiện, phát triển giúp tư duy trừu tượng phát triển
Trang 3- Chính lao động là cơ sở hình thành, phát triển của ngôn ngữ Sự ra đời của ngôn ngữ lại giúp con người phản ánh sự vật khái quát hơn Điều này càng thúc đẩy tu duy trừu tượng phát triển Đây là hai yếu tố quan trọng để phát triển ý thức.
Như vậy, lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” để biến bộ não vượn thành não người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức
2 Bản chất của ý thức:
- Theo triết học duy vật biện chứng của Lênin về bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới khác quan vào bộ não người trên cơ sở hoạt động thực tiễn Cho nên, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan; ý thức là hình ảnh chứ không phải bản thân sự vật; ý thức là hình ảnh của sự vật được thực hiện ở trong
bộ não con người
- Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào bộ não người, nghĩa là phản ánh ý thức không phải là bản copy
- Phản ánh ý thức là tích cực, chủ động Nghĩa là con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn, chủ động tác động vào sự vật, hiện tượng làm cho chúng bộc lộ thuộc tính, tính chất của mình, qua đó con người có hiểu biết về sự vật, hiện tượng Hơn nữa, con người còn biết vận dụng tri thức để nhận thức và cải tạo thế giới khách quan
- Phản ánh ý thức luôn mang bản chất xã hội Bởi lẽ, ý thức luôn là sản phẩm của sự phát triển của xã hội, dựa trên hoạt động thực tiễn xã hội, các quan hệ
xã hội Con người tách rời khỏi xã hội sẽ không thể có ý thức
Câu 3: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Ý thức phương pháp luận, liên hệ thực tế?
1 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
1.1 Phạm trù vật chất: Định nghĩa vật chất của Lênin: Vật chất là một phạm
trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ảnh và tồn tại không
lệ thuộc vào cảm giác
1.2 Phạm trù ý thức: Ý thức là tri thức (là sự hiểu biết con người về thế giới
xung quanh), là tình cảm, niềm tin, ý chí của con người Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội
1.3 Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức: Theo triết học duy vật
biện chứng thì:
- Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức Não người là dạng vật chất cao có tổ chức của thế giới vật chất, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ
Trang 4thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan.
- Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người, là hình ảnh của thế giới khách quan Thế giới khách quan là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung của ý thức
1.4 Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất, tác động trở lại vật chất:
- Ý thức có tính năng động, sáng tạo nên thông qua hoạt động thực tiễn của con người có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm ở một mức độ nhất định các điều kiện vật chất, góp phần cải biến thế giới khác quan Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan thì có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người trong cải tạo thế giới Ngược lại, ý thức sẽ kìm hãm hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người nếu không phản ánh đúng thế giới khách quan
- Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất, thông qua hoạt động thực tiễn của con người dù đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới vật chất và các điều kiện vật chất khách quan
2 Ý thức phương pháp luận, liên hệ thực tế?
2.1 Ý thức phương pháp luận:
- Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan, hành động tuân theo quy luật khách quan Nghĩa là phải có quan điểm khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
- Ý thức có tính độc lập tương đối, có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Vì vậy, phải thấy được vai trò tích cực của nhân tố ý thức, trong việc sử dụng có hiệu quả nhất các điều kiện vật chất hiện có
- Cần tránh việc tuyệt đối hóa vai trò duy nhất của vật chất trong quan hệ giữa vật chất và ý thức Nghĩa là cần chống lại “chủ nghĩa khách quan”, thái độ thụ động, trông chờ, ỷ lại vào điều kiện vật chất
- Cần chống lại bệnh chủ quan, duy ý chí, tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, tinh thần, hạ thấp, đánh giá không đúng vai trò của các điều kiện vật chất trong hoạt động thực tiễn
2.2 Liên hệ thực tế:
- Trước giai đoạn đổi mới năm 1986, chúng ta đã có những biểu hiện chủ quan, duy ý chí vi phạm quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức biểu thị ở nóng vội trong việc cải tạo công thương nghiệp, trong phát triển kinh tế Hợp tác xã nông nghiệp xóa bỏ kinh tế nhiều thành phần một cách vội vã…
Trang 5- Từ giai đoạn đổi mới 1986 đến nay, Đại hội VI của Đảng đã rút ra bài học: Tôn trọng thực tế khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan, hoạt động theo quy luật khách quan, do đó trên tất cả các mặt, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã từng bước khắc phục được bệnh chủ quan duy ý chí, xây dựng phát triển kinh tế xã hội phù hợp Việt Nam, cùng với những nguyên nhân khác, chính điều này đã phát triển kinh tế xã hội…
Ví dụ: Bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi – vận dụng đúng thực tiễn Việt Nam còn nghèo nàn, khó khăn
Câu 4: Nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Ý nghĩa phương pháp luận, liên hệ tực tế?
1 Nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:
1.1 Vị trí của quy luật:
Đây là một trong ba quy luật cơ bản của pháp chứng duy vật V.I Lênin gọi
nó là hạt nhân của phép biện chứng Quy luật này chỉ ra nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
- Mâu thuẫn biện chứng: Là sự liên hệ, tác động qua lại của hai mặt đối lập biện chứng
- Mặt đối lập biện chứng là những mặt có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau Mâu thuẫn được hình thành từ hai mặt đối lập biện chứng, nhưng hai mặt đối lập này phải cùng nằm trong một sự vật; trong cùng một mối liên hệ và trong cùng một thời gian xác định Hơn nữa, chúng phải liên hệ, tác động lẫn nhau
1.3 Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:
- Thống nhất của các mặt đối lập được hiểu theo 3 nghĩa:
+ Các mặt đối lập nương tựa vào nhau, làm điều kiện và tiền đề tồn tại cho nhau, không có mặt này thì không có mặt kia và ngược lại
Trang 6+ Xét về một số phương diện nào đó và trong những quan hệ nhất định, giữa hai mặt đối lập bao giờ cũng có một số yếu tố giống nhau, yếu tố đồng nhất Nghĩa
là thống nhất được hiểu là đồng nhất Chính vì vậy, các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau
+ Giữa hai mặt đối lập có trạng thái cân bằng, tác động ngang nhau Ví dụ, trong xã hội có thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế xã hội này đến hình thái kinh tế
xã hội khác; trong đó cái mới không thắng hoàn toàn, cái cũ cũng chưa xóa bỏ hoàn toàn, trong trạng thái cân bằng, đó chính là sự thống nhất của các mặt đối lập
- Đấu tranh của các mặt đối lập: là sự tác động lẫn nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau, là sự triển khai của các mặt đối lập
- Thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, bởi lẽ thống nhất chỉ trong một MT nhất định trong một thời gian nhất định, hơn nữa ngay trong sự thống nhất
ấy cũng hàm chứa những yếu tố phá vỡ sự thống nhất; đấu tranh giữa chúng là tuyệt đối Ngay trong sự thống nhất của các mặt đối lập vẫn hàm chứa sự đấu tranh giữa chúng
1.4 Mối liên hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập đối với sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng:
- Khi các mặt đối lập của sự vật thống nhất cân bằng nhau thì sự vật vận động phát triển từ từ chậm chạp, sự vật vẫn còn là nó, là sự thống nhất của các mặt đối lập nhưng khi các mặt đối lập vận động, biến đổi đến một mức độ nhất định trở nên gay gắt, MT trở nên chín muồn và nếu MT được giải quyết thì sẽ làm cho sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời, như vậy sự vật mới ra đời lại là sự thống nhất mới của các mặt đối lập mới, cứ như vậy, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong sự vật là nguyên nhân làm sự vật vận động biến đổi
1.5 Phân loại một số mâu thuẫn: thường có rất nhiều mâu thuẫn như:
- Mâu thuẫn bên trong: Là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định đối với quá trình vận động và phát triển của sự vật Ví dụ: Mâu thuẫn giưa đồng hóa và
dị hóa trong cơ thể động vật
- Mâu thuẫn bên ngoài: Là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập thuộc các sự vật khác nhau Đóng vai trò quan trọng đối với phát triển sự vật Nó chỉ phát huy vai Mâu thuẫn giữa cơ thể động vật với môi trường…
Việc phân chia mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và bên ngoài chỉ là tương đối
- Mâu thuẫn cơ bản: là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại, trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, nó quyết định các mâu thuẫn khác Ví dụ: Mâu thuẫn cơ bản của chủ
Trang 7nghĩa tư bản là mâu thuẫn giữa tính xã hội hóa của lực lượng sản xuất với tính chất
tư bản tư nhân chủ nghĩa của việc chiếm hữu tư liệu sản xuất
- Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào
đó của sự vật, nó quy định sự vận động và phát triển của một mặt nào đó của sự vật,
là mâu thuẫn không quy định bản chất của sự vật; nó có thể tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, nhưng cũng có thể chỉ nảy sinh, tồn tại trong một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật Ví dụ: Mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn; mâu thuẫn giữa lao động trí óc và lao động chân tay… trong chủ nghĩa tư bản
- Mâu thuẫn chủ yếu: là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật, giải quyết nó sẽ tạo điều kiện để giải quyết mâu thuẫn khác ở cùng giai đoạn (những mâu thuẫn thứ yếu)
- Mâu thuẫn không chủ yếu là những mâu thuẫn mà việc giải quyết nó không quyết định việc giải quyết các mâu thuẫn khác ở giai đoạn đó
- Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể điều hòa được Ví dụ: Mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ trong chế độ chiếm hữu nô lệ.v.v
- Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng, khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích phong độ là lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời Ví dụ: Mâu thuẫn giữa công nhân và nông dân trong chủ nghĩa xã hội
Phân biệt mâu thuẫn đối kháng với mâu thuẫn không đối kháng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phương pháp giải quyết mâu thuẫn xã hội
2 Ý nghĩa phương pháp luận, liên hệ thực tế?
2.1 Ý nghĩa phương pháp luận:
- Đối với nhận thức: Mâu thuẫn là khách quan phổ biến nên việc nhận thức mâu thuẫn của sự vật là rất quan trọng
+ Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét toàn diện các mặt đối lập, theo dõi quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đó
+ Phải phân biệt được các loại mâu thuẫn để giải quyết kịp thời đưa sự vật phát triển tiến lên
- Đối với hoạt động thực tiễn:
+ Phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn để tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức giải quyết mâu thuẫn một cách triệt để
+ Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi Cho nên, không được giải quyết mâu thuẫn một cách nóng vội khi chưa có đủ điều kiện,
Trang 8cũng không để cho việc giải quyết mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát, phải chủ động thúc đẩy sự chín muồi của mâu thuẫn.
+ Mâu thuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh (dưới những hình thức cụ thể rất khác nhau) Đối với các mâu thuẫn khác nhau cần có phương pháp giải quyết khác nhau Phải có biện pháp giải quyết thích hợp với từng mâu thuẫn
cụ thể
2.2 Liên hệ thực tế:
- Trước giai đoạn đổi mới 1986, chúng ta nhận thức và vận dụng chưa thật sâu sắc quy luật này, chẳng hạn chúng ta còn có cái nhìn phiến diện là nhấan mạnh đến đấu tranh chưa thấy vai trò thống nhất cua các mặt đối lập; do đó, trong hợp tác quốc tế chúng ta chưa thấy hết mối quan hệ chuyển hóa, chuyển hóa trong đối tác và đối tượng, trong đấu tranh giai cấp và liên minh giai cấp, trong phê bình và
tự phê bình…
- Từ giai đoạn đổi mới 1986 đến nay chúng ta nhận thức và giải quyết vấn
đề tốt hơn như: trong việc thực hiện đấu tranh giai cấp ta đã thấy được vai trò của đấu tranh giai cấp, của đại đoàn kết dân tộc, cách nhìn về đối tác biện chứng hơn (Xem Nghị quyết TW6 lần 2 xác định cụ thể về tự phê bình)
Câu 5: Phân tích quá trình tự sự thay đổi về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất Ý nghĩa phương pháp luận, liên hệ thực tế?
1 Vị trí của quy luật:
- Đây là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
- Quy luật này nói lên cách thức vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
2 Nội dung của quy luật:
Trang 9+ Mỗi sự vật có muôn vàn thuộc tính, mỗi thuộc tính của sự vật cũng có một phức hợp những đặc trưng về chất của mình, khiến cho mỗi thuộc tính trở lại thành một chất Điều đó cũng có nghĩa là mỗi sự vật có vô vàn chất.
+ Với tư cách là những khía cạnh của chất được bộc lộ ra trong các mối quan hệ, các thuộc tính của sự vật có vị trí khác nhau, trong đó, có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành chất
cơ bản của sự vật Ở mỗi một sự vật chỉ có một chất cơ bản đó là loại chất mà sự tồn tại hay mất đi của nó quy định sự tồn tại hay mất đi của bản thân sự vật
- Lượng: là một phạm trù triết học chỉ tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, biểu thị con số các thuộc tính, các yếu tố… cấu thành sự vật
+ Lượng được thể hiện thành số lượng, đại lượng, trình độ, quy mô, nhịp điệu của sự vận động và phát triển – tức là được thể hiện trong các thuộc tính không – thời gian của các sự vật – hiện tượng Chẳng hạn chỉ kích thước dài hay ngắn; quy mô to hay nhỏ, tốc độ nhanh hay chậm; trình độ cao hay thấp…
+ Không chỉ chất mà ngay cả thuộc tính về chất cũng có tính quy định về lượng Do vậy, một sự vật có thể có vô số lượng
3 Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
* Lượng đổi dẫn tới chất đổi:
- Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào chất và lượng Trong quá trình vận động và phát triển, chất và lượng của sự vật cũng biến đổi Sự thay đổi của lượng của chất không diễn ra độc lập đối với nhau mà quan hệ chặt chẽ với nhau Nhưng không phải bất kỳ sự thay đổi nào của lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi căn bản về chất của sự vật Lượng của sự vật có thể thay đổi trong một giới hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản chất của sự vật đó
- Sự thay đổi của lượng chưa dẫn tới thay đổi của chất chỉ trong những giới hạn nhất định Vượt quá giới hạn đó sẽ làm cho sự vật không còn là nó, chất cũ mất đi, chất mới ra đời
- Giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất của
sự vật, được gọi là độ
+ Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất,
nó là khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật Ví dụ: Độ của sinh viên là giới hạn từ khi nhập trường tới trước khi bảo vệ thành công đồ án tốt nghiệp
- Những điểm giới hạn mà khi sự thay đổi về lượng đạt tới đó sẽ làm thay
đổi về chất của sự vật được gọi là điểm nút Nói khác đi, điểm nút là điểm tới hạn
mà sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi căn bản về chất của vật Ví dụ: điểm nút
Trang 10để chất sinh viên trở thành chất cử nhân là khi sinh viên bảo vệ thành công đồ án tốt nghiệp.
- Sự thay đổi về lượng đạt tới điểm nút sẽ ra đời chất mới Sự thống nhất giữa lượng và chất mới tạo thành một độ mới với điểm nút mới Sự vận động và phát triển là không cùng Do đó, sự vận động, biến đổi của các sự vật sẽ hình thành
một đường nút của những quan hệ về độ.
- Sự thay đổi về chất do những sự thay đổi về lượng trước đó gây ra gọi là bước nhảy Nói cách khác, bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hóa về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra
* Chất mới ra đời tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng: Sau khi ra đời, chất mới có tác động trở lại sự thay đổi của lượng:
- Làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật
- Thay đổi nhịp điệu, tốc độ vận động và phát triển của sự vật đó
4 Các hình thức của bước nhảy:
* Bước nhảy đột biến và bước nhảy diễn ra một cách dần dần:
- Những bước nhảy được gọi là đột biến khi chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các bộ phận cơ bản cấu thành của nó
- Những bước nhảy được thực hiện một cách dần dần là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng con đường tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và mất
đi dần dần những nhân tố của chất cũ
* Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ:
- Bước nhảy toàn bộ là loại bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật
- Bước nhảy cục bộ là loại bước nhảy làm thay đổi một số mặt, một số bộ phận của sự vật đó
5 Ý nghĩa phương pháp luận, liên hệ thực tế?
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Nhận thức sự vật phải nhận thức cả về chất, lượng bởi vì chỉ khi nhận thức như vậy mới nhận thức hoàn chỉnh về sự vật
- Trong hoạt động thực tiễn, cần phải chống bệnh tả khuynh, là khuynh hướng tuyệt đối hóa bước nhảy về chất, không thấy tầm quan trọng của sự tích lũy
về lượng dẫn đến nóng vội, chủ quan, phiêu lưu, mạo hiểm
- Cần chống bệnh hữu khuynh, tuyệt đối hóa sự tích lũy về lượng, không thấy được vai trò của việc thực hiện bước nhảy về chất, dẫn đến bảo thủ, trì trệ, ngại khó, ngại đổi mới
Trang 11- Muốn giữ cho sự vật còn là nó thì phải nắm được giới hạn độ của nó để giữ cho sự thay đổi về lượng không vượt quá giới hạn độ ấy.
* Liên hệ thực tế:
- Trong thực tế, trước đây chúng ta đã có một thời kỳ mắc cả bệnh tả khuynh, hữu khuynh nhưng bệnh tả khuynh nhiều hơn thể hiện ở sự nôn nóng, vội vàng trong một số chủ trương, chính sách
- Từ đổi mới đến nay, ta đã từng bước khắc phục được hạn chế này và để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đang tích lũy dần về lượng trên các mặt kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, xã hội đồng thời, trên một số lĩnh vực cần phải xác định tốt vị trí, vai trò hình thức của bước nhảy để thực hiện phù hợp Ví dụ: Đảng ta xác định: KT là then chốt, đổi mới từng phần
Câu 6: Thế nào là phủ định biện chứng, phân tích những đặc trưng của phủ định biện chứng Ý nghĩa phương pháp luận, liên hệ thực tế?
1 Khái niệm: là quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ của sự vật.
- Phủ định siêu hình: là sự phủ định sạch trơn, sự phủ định không tạo tiền đề cho sự vật phát triển tiếp theo, đó là sự phủ định phá hủy hoàn toàn sự vật, lực lượng phủ định ở bên ngoài sự vật
- Phủ định biện chứng: là sự tự thân phủ định, tự thân phát triển, là sự phủ định tạo tiền đề cho sự vật phát triển tiếp theo cho cái mới ra đời Phủ định biện chứng có những đặc trưng sau:
+ Đó là quá trình khách quan, nghĩa là nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người và loài người, nguyên nhân của sự phủ định biện chứng nằm trong chính bản thân sự vật, đó là sự thống nhất và đấu tranh bên trong của sự vật quy định, hơn nữa phương thức phủ định của sự vật cũng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người và loài người
+ Phủ định biện chứng mang tính phổ biến nghĩa là phủ định biện chứng tồn tại cả trong tự nhiên, cả trong xã hội, cả trong tư duy của con người Nói cách khác, phủ định biện chứng tồn tại mọi lúc mọi nơi
+ Phủ định biện chứng không phải là sự thủ tiêu, sự phá hủy hoàn toàn cái bị phủ định mà trong quá trình phủ định biện chứng lưu giữ, kế thừa những nội dung tích cực của cái bị phủ định, lọc bỏ những nội dung không còn phù hợp của cái bị phủ định và chuyển vào cái mới, nơi khác, phủ định biện chứng có đặc trưng là sự
kế thừa
2 Ý nghĩa phương pháp luận, liên hệ thực tế:
2.1 Ý nghĩa phương pháp luận:
Trang 12- Phủ định biện chứng với những đặc trưng của nó cho ta cơ sở lý luận để hiểu về sự ra đời của cái mới về mối liên hệ giữa cái mới và cái cũ, cho ta thấy rằng cái mới nhất định sẽ ra đời từ cái cũ, thay thế cái cũ, cái mới không thủ tiêu hoàn toàn cái cũ mà kế thừa những đặc điểm tích cực của cái cũ, vì vậy chúng ta phải có thái độ chống phủ định sạch trơn.
- Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta phải biết phát hiện và quý trọng cái mới phù hợp quy luật, phải tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới, mặc dù cái mới ra đời ban đầu ban giờ cũng khó khăn, vất vả, vì vậy phải tạo điều kiện cho cái mới phát triển
- Trong hoạt động thực tiễn, khi đấu tranh chống lại cái cũ, chúng ta phải biết sàng lọc, biết phát huy giá trị tích cực của cái cũ, cái cũ nào lạc hậu thì bỏ, cái
cũ nào còn phù hợp thì cải tạo, nâng lên tầm cao mới, từ đó phù hợp điều kiện tầm cao mới
(Nếu kẻ nào bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào hắn bằng đại bác)
- Phải chống lại thái độ hư vô chủ nghĩa trong nhìn nhận lịch sử, đánh giá lịch sử, đồng thời chống lại thái độ bảo thủ, nhân danh truyền thống để cản bước tiến của lịch sử, duy trì cái cũ
2.2 Liên hệ thực tế:
Xây dựng con người mới, xây dựng nền văn hóa mới đậm đà bản sắc dân tộc, kính già, nhường trẻ, yêu quê hương, đất nước; kế thừa những truyền thống quý báu của dân tộc
Câu 7: Phân tích con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý?
Theo Lênin: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan, vì vậy con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý gồm 2 nội dung: trực quan sinh động và tư duy trừu tượng
- Trực quan sinh động (hay còn được gọi là nhận thức cảm tính): là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức dựa trên cơ sở thực tiễn, thông qua 3 hình thức: cảm giác, tư giác và biểu tượng
+ Cảm giác: là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức cảm tính, là kết quả tác động của sự vật khách quan lên giác quan của con người, cám giác cho ta hình ảnh về từng mặt, từng thuộc tính bên ngoài của sự vật Ví dụ: cảm giác đau của cây kim chọc vào da
+ Tri giác: Tổng hợp nhiều cảm giác cho ta tri giác về sự vật, như vậy nếu cảm giác mới cho ta hình ảnh về vẻ ngoài của một sự vật thì tri giác cho ta nhiều hình ảnh về vẻ ngoài của sự vật