Mà muốn làm được điều này, theo chúngtôi, trước hết cần xác định các ranh giới để thấy rõ Xã hội học văn hoá khôngchỉ như một bộ môn chuyên ngành trong tương quan với các môn chuyênngành
Trang 1XÃ HỘI HỌC VĂN HOÁ
XÃ HỘI HỌC VĂN HOÁ
Tác giả: MAI VĂN HAI - MAI KIỆM
LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn xã hội học văn hóa này là kết quả của quá trình học hỏi, nghiêncứu và giảng dạy nhiều năm của chúng tôi cho các lớp Cao học Xã hội học ở
Cơ sở Đào tạo của Viện Xã hội học, thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam,các khoa Sử học, Xã hội học của các trường Đại học Khoa học xã hội vàNhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia thành phố HồChí Minh, cũng như ở nhiều khoa, thuộc nhiều trường đại học khác
Xây dựng một cuốn giáo trình về Xã hội học văn hóa là việc làm vôcùng khó khăn, mà khó khăn đầu tiên là phải trả lời cho được một câu hỏi rấtgiản dị: Xã hội học văn hóa là gì? Mà muốn làm được điều này, theo chúngtôi, trước hết cần xác định các ranh giới để thấy rõ Xã hội học văn hoá khôngchỉ như một bộ môn chuyên ngành trong tương quan với các môn chuyênngành khác của Xã hội học (như Xã hội học gia đình, Xã hội học dân số, Xãhội học nông thôn, Xã hội học đô thị ), mà còn cần có sự khu biệt nó với cácngành khoa học cơ bản khác cùng nghiên cứu văn hoá (như Nhân học, Dântộc học, Văn hóa học Triết học văn hóa ) Tiếp đó, cũng phải làm rõ các kháiniệm xã hội và văn hoá, qua đó chỉ ra mối quan hệ giữa cấu trúc của văn hóavới các cấu trúc xã hội, nhất là sự vận hành của chúng trong điều kiện cụ thểcủa Việt Nam, v.v Rõ ràng đây là một khối lượng công việc vừa lớn lao vừaphức tạp, không dễ gì có thể giải quyết trong một sớm một chiều.
Tuy nhiên, do sự phát triển của ngành Xã hội học ở nước ta trongnhững năm gần đây và kéo theo đó là nhu cầu học tập của sinh viên, học viêncao học, các nghiên cứu sinh và đông đảo bạn đọc nói chung, cho nên cuốnsách này tất yếu phải được hình thành - dù chúng tôi biết rằng nó vẫn chưađược như mong muốn
Trang 2Với tinh thần trên, cuốn sách được tổ chức thành 7 phần như sau:
- Phần 1 (đồng thời là chương I): trình bày một số vấn đề có ý nghĩabản thể luận của văn hóa nhằm chuẩn bị cho việc tìm hiểu văn hóa từ gócnhìn Xã hội học
- Phần 2 (gồm các chương II và III): trên cơ sở phân tích sự khác biệtgiữa văn hóa và xã hội, các tác giả tập trung làm rõ lý do ra đời, đối tượng,cấu trúc và nhiệm vụ của bộ môn Xã hội học văn hóa
- Phần 3 (chương IV): từ góc nhìn nhận thức luận, giới thiệu một số lýthuyết nhân học, xã hội học trong việc tiếp cận nghiên cứu văn hoá
- Phần 4 (các chương V và VI): tiếp tục đi sâu phân tích về nội hàm vàngoại diên của khái niệm, để thấy rõ hơn không chỉ về mặt cấu trúc, mà cảloại hình của văn hóa Phần này cũng chỉ ra tầm quan trọng của mỗi loại hìnhvăn hoá trong nghiên cứu xã hội học
- Phần 5 (các chương VII và VIII): tập trung thảo luận về tính đa dạngbên trong của mỗi nền văn hóa cũng như mối liên hệ liên văn hóa và nhữngvấn đề đang đặt ra trong việc giao lưu, tiếp xúc và tiếp biến văn hoá
- Phần 6 (chương IX và X): xem xét sự biến đổi văn hoá, đồng thờicũng nêu lên những trường hợp đặc thù trong sự vận hành của văn hóa trongcác xã hội khác nhau - như xung đột văn hóa, khủng hoảng văn hoá, văn hóa
và tự do của con người
- Phần 7 (chương XI): giới thiệu về một nghiên cứu trường họp với đầy
đủ các thao tác nghề nghiệp, qua đó giúp các học viên sớm làm quen với việcnghiên cứu Xã hội học văn hóa trên thực địa
Ngoài ra, do hệ thống tri thức của bộ môn quá phong phú, nên - trongđiều kiện chưa thể nắm bẳt và khái quát để đưa hết vào cuốn sách - chúng tôi
có soạn thêm phần Phụ lục với các khái niệm, chủ đề và đề tài về Xã hội họcvăn hóa nói riêng và các khoa học nghiên cứu văn hóa nói chung trên cả haibình diện lý thuyết và thực nghiệm, nhằm gợi mở cho những ai muốn tiếp tục
đi sâu nghiên cứu
Trang 3Để biên soạn cuốn sách, các tác giả đã sử dụng khá nhiều tài liệu,trong đó được kế thừa nhiều hơn cả là các cuốn Sociologie contemporainecủa Jean - Pierre Durand, Robert Weil và cộng sự, Sociologija Kultury củaL.G Ionin, Xã hội học của Joseph H Fichter, Xã hội học văn hóa của ĐoànVăn Chúc Nhân dịp cuốn sách được tái bản, chúng tôi xin chân thành cảm
ơn tác tác giả đi trước đã gợi mở và cung cấp nhiều tư liệu quý, giúp chúngtôi hoàn thành các mục tiêu đã được xác định ngay từ khi bắt đầu khởi thảocuốn sách
So với văn bản được công bố lần thứ nhất, thì cuốn sách mà bạn đang
có trong tay đã được bổ sung, sửa chữa và hoàn thiện thêm rất nhiều Nhưng
do vấn đề đặt ra quá lớn, nên chắc chắn cuốn sách vẫn không tránh khỏinhững hạn chế và khiếm khuyết Rất mong được sự sóp ý, giúp đỡ của bạnđọc gần xa
Các tác giả
Chương 1 VĂN HÓA - MỘT CÁI NHÌN SƠ BỘ
I LƯỢC SỬ KHÁI NIỆM
Theo các nhà ngôn ngữ học, từ culture (văn hoá) - với tư cách là mộtdanh từ độc lập - chỉ bắt đầu được sử dụng ở châu Âu vào cuối thế kỷ XVIIđầu thế kỷ XVIII Mặc dầu trước đó rất lâu, khoảng đầu thế kỷ II trước Côngnguyên, ở La Mã, nhà triết học M Xixêron đã gắn văn hóa với hoạt động trítuệ của con người, để sau đó văn hóa được chuyển nghĩa từ “gieo trồng trênđất đai” sang nghĩa bóng “vun trồng cho trí óc" Tuy nhiên, khi thời cổ đại suytàn, thuật ngữ này không được sử dụng nữa, mãi đến thế kỷ XVII nó mớiđược hồi sinh trở lại trong vốn từ vựng của châu Âu Người đầu tiên có côngđưa từ "culture" vào trong khoa học là S Pufendorf (1632 - 1694) - nhànghiên cứu pháp luật người Đức S Pufendorf sử dụng thuật ngữ này để chỉtoàn bộ những gì do con người tạo ra và các sản phẩm nhân tạo này khác vớicác sản vật thiên nhiên tựa như con người được giáo dục khác với con ngườikhông có giáo dục
Trang 4Ở Ý, nhà xã hội học, đồng thời là nhà triết học G Vico (1668 - 1744)quan niệm rằng nếu như cuộc đời của con người, các thời kỳ phát triển khácnhau, thì mỗi dân tộc cũng phát triển qua các thời đại không giống nhau vềvăn hoá Trong các trước tác của mình, ông coi văn hóa như một phức thể,trong đó bao gồm cả kinh tế chính trị, khoa học và nghệ thuật.
Cũng ở giai đoạn này, P Voltaire (1694 - 1778) - nhà văn, nhà triết học,nhà sử học, đồng thời cũng là một trong những lãnh tụ của phong trào Khaisáng Pháp - đã nhắc tới văn hóa khi bàn về sự phát triển của khoa học, nghệthuật, đạo đức, nhà nước, pháp luật, thủ công, buôn bán Ông tán thành ýkiến cho rằng lịch sử thực sự của loài người là lịch sử xã hội, lịch sử văn hóa,chứ không chỉ là lịch sử các vương triều
Đến I.G Herder (1744 - 1803) - nhà triết học Khai sáng, nhà văn, nhànghiên cứu văn học Đức - thì thuật ngữ “văn hoá” đã được sử dụng rộng rãi.Dựa trên những cơ sở khoa học về sự tiến bộ trong tự nhiên Herder đã pháttriển quan niệm về sự tiến bộ trong lịch sử và sự vận động của xã hội đến chủnghĩa nhân đạo Ông gọi văn hóa là quá trình hình thành con người, là sựnắm bắt và sử dụng kinh nghiệm, truyền thống, cho nên cần phải gắn văn hóavới việc giáo dục tính nhân văn và lối sống của dân tộc Chỉ trong quá trìnhhình thành văn hóa thì sinh thể người mới trở thành con người theo đúngnghĩa của nó Và sự hình thành văn hoá, theo Herder, phụ thuộc không chỉvào các điều kiện khách quan của tự nhiên và xã hội, mà còn phụ thuộc vàoquá trình lao động như là sự nỗ lực chủ quan của con người
Sang thế kỷ XIX, và đặc biệt là thế kỷ XX, khái niệm văn hóa được sửdụng ngày càng nhiều không chỉ trong khoa học, mà cả trong đời sống hàngngày ở nhiều quốc gia, dân tộc Mỗi ngày người ta lại gán cho văn hoá thêmnhiều ý nghĩa mới, rằng văn hóa - đấy là "thiên nhiên thứ hai”, là "hệ thống giátrị tinh thần và vật chất" do con người sáng tạo ra Và, người ta còn cho rằng,cùng với việc sáng tạo ra văn hoá, con người dần dần tách khỏi giới tự nhiênnguyên sơ để tồn tại với tư cách là con người theo đúng nghĩa của nó
Trang 5Ở phương Đông, khái niệm “văn” trong thư tịch cổ Trung Hoa có hàmnghĩa là văn tự, văn giáo, văn đức, chỉnh trang, nhân tạo, v.v Khổng Tử coivăn là một trong bốn môn giáo dưỡng con người Rồi, khái niệm này được
mở rộng dần về nghĩa khi người ta nói đến “văn tự” và “giáo hoá" hay “văn vũchi trị” Dưới triều nhà Hán, Lưu Hướng đã từng nói, đối với một sự bất ổnnào đó, trước hết dùng văn để giáo hóa mà vẫn không sửa mới dùng hìnhphạt Nhưng, cái mà ngày nay ta gọi là "văn hóa” thì từ rất sớm trong sáchChu dịch đã viết: “quan ư nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” Thời nhà Đường,Khổng Dĩnh Đạt giải thích câu đó là: thánh nhân quan sát nhân văn, lấy thi,thư, lễ, nhạc làm phép tắc, và dùng nó để giáo hóa mà làm cho thiên hạ đượckhai hóa Đến đời nhà Tống, Trình Di giải thích: nhân văn là chỉ mối quan hệnhân luân, quan sát nhân văn để giáo hóa thiên hạ, thiên hạ sẽ có tục chuộng
lễ Tóm lại điều mà cổ nhân nói đến là chỉ văn tự và giáo hóa, tức là dùng văn
để giáo hoá thiên hạ Về sau này, ở các thời Minh và Thanh, các học giả cốViêm Võ và Bành Thân Phủ quan niệm về “văn hoá” không chỉ dừng lại ở cácquan hệ xã hội, mà mở rộng từ thể xác, tâm hồn đến ngựa xe, trang phục củacon người; từ gia đình, nhà nước, thiên hạ đến tất cả các quy chế, âm thanh,hình tượng, chế độ lễ nhạc của quốc gia Người Trung Quốc xưa tin rằng cáithứ “văn” mà họ có được chính là thứ cao minh nhất, tốt đẹp nhất trong thiên
hạ, trong khi người thuộc các dân tộc khác vẫn còn sống trong thời kỳ chưakhai hóa, do đó người Trung Quốc là người khai hóa văn minh [Lý Kim Sinh,2001: 118 - 120],
Tuy nhiên, việc dùng từ gốc Hán là Văn hóa để dịch culture củaphương Tây lại không phải do người Trung Quốc thực hiện Nhà nghiên cứuKiều Thu Hoạch cho rằng: "Có nhiều tài liệu đã chỉ rõ, từ văn hóa là do ngườiNhật mượn từ Hán để chuyển dịch từ culture của phương Tây, sau đó cácsách báo hiện đại của Trung Quốc cũng dùng theo” Ông còn cho biết, chínhcác tác giả Trung Quốc, trong sách Trung Quốc văn hóa sử tam bách đề đãviết từ văn hóa vốn được chuyển dịch từ thuật ngữ phương Tây qua Nhậtvăn, vào cuối thế kỷ XIX [Kiều Thu Hoạch, 2009: 7],
Trang 6Còn ở Việt Nam, chưa ai nói rõ khái niệm văn hóa được du nhập vào từbao giờ Có thể là cuối thế kỷ XIX? Hay đầu thế kỷ XX? Chỉ biết rằng, trướccác thời điểm này rất lâu Việt Nam đã xây dựng được nền văn hóa riêng củamình Không phải ngẫu nhiên mà nhà sử học Toynbee khi nghiên cứu về cácnền văn minh đã xếp Việt Nam là một nền văn minh riêng trong 34 nền vănminh của nhân loại, bên cạnh các nền văn minh lớn như Trung Quốc, Ấn Độ,
Ai Cập, Lưỡng Hà Trở lại vấn đề đang bàn, mặc dù chưa dùng khái niệmvăn hóa, song trong vốn từ vựng của mình, cha ông ta đã dùng một cách phổbiến các khái niệm văn hiến và văn vật (như “nước Việt Nam nghìn năm vănhiến” hay “Hà Nội - Thăng Long ngàn năm văn vật”) Từ thế kỷ XV, trong bàiBình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã viết:
“Như nước Đại Việt ta từ trướcVốn xưng nền văn hiến đã lâu”
“Văn” ở đây có nghĩa là văn tự, văn đức, “hiến” là hiến pháp, hay làphép nước Dù ý nghĩa không trùng nhau hoàn toàn với từ culture củaphương Tây, song rõ ràng khái niệm “văn hiến” đã chứa đựng một nội hàmrất gần với những gì mà ngày nay chúng ta gọi là văn hóa Đến năm 1938,trong công trình Việt Nam văn hóa sử cương, học giả Đào Duy Anh đã đưa ramột định nghĩa về văn hóa Ông cho rằng "Văn hóa tức là sinh hoạt" - tức làmột kiểu thức sinh tồn của xã hội Sau Đào Duy Anh, khái niệm “văn hóa”cũng đã được dùng rộng rãi không chỉ trong đời sống mà còn trong nhiềungành khoa học ở nước ta
Thế là chúng ta đã làm một lược thuật ngắn gọn về lịch sử từ và lịch sửnghĩa của từ văn hóa Các nguồn tư liệu trên đã cho thấy, những thử nghiệmnhằm xem xét về văn hóa - cả ở phương Đông và phương Tây - đã có từ lâutrước khi các bộ môn khoa học về văn hóa ra đời Nhưng khi “văn hóa” đã vàđang trở thành một thuật ngữ khoa học - nghĩa là cần phải cấp cho nó mộtquan niệm với những tiêu chí cụ thể - thì khái niệm này thường được hiểu ítnhất là theo hai cách khác nhau: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng mà dướiđây chúng ta sẽ cùng xem xét
Trang 7II HAI QUAN NIỆM KHÁC NHAU VỀ VĂN HÓA
Trong sự trao đổi, tương tác hàng ngày giữa người này và người kia,khi bắt gặp những người không chỉ luôn tuân thủ các nguyên tắc đạo đứcchung của xã hội, mà còn biết thể hiện chúng một cách tự nhiên và tinh tế,người ta thường đưa ra những nhận xét, kiểu như “anh ấy / chị ấy là người cóvăn hoá” Cũng vậy, khi đi xem một buổi hoà nhạc hay dự một buổi cầu Kinhtrong nhà thờ, mỗi người đều ngầm hiểu là họ đang tham gia vào các hoạtđộng văn hoá của cộng đồng Còn khi đến giảng đường đại học thấy một vịgiáo sư đang giảng giãi và các sinh viên chăm chú lắng nghe, thì không aiphủ nhận đó là một hoạt động hoàn toàn mang ý nghĩa văn hoá Theo cáccách tiếp cận này, văn hoá được hiểu theo nghĩa tích cực, chúng được tạonên bởi tri thức khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, các tư tưởng chính trị và xãhội - nghĩa là mọi giá trị cao nhất về mặt trí tuệ và tinh thần của con người.Cũng theo xu hướng này, đôi khi người ta còn coi văn hóa đồng nghĩa với cáchoạt động nghệ thuật như văn chương, hội họa, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh
- tóm lại là tất cả những gì thuộc sự quản lý của Bộ Văn hoá, Thể thao và Dulịch Qua các dẫn liệu này, từ “văn hoá” được hiểu theo nghĩa hẹp, nó đối lậpvới những gì được cho là xấu, là thô thiển, phi đạo đức, v.v
Nhưng, bên cạnh nghĩa hẹp, cũng còn một cách hiểu nữa: đó là cáchhiểu theo nghĩa rộng, mà theo đó thì “văn hoá” được hình dung như mộtphương thức hoạt động đặc trưng của con người và những kết quả sáng tạo
do các hoạt động đó sinh ra - dù các hoạt động đó ở trình độ cao hay trình độthấp, dù đó là các đồ vật, các quy tắc tổ chức cộng đồng hay các sản phẩmthuộc về mặt trí tuệ và tinh thần, dù chúng là đẹp hay xấu, tinh vi hay thôthiển, có đạo đức hay phi đạo đức Nói cách khác, văn hoá không phải kháiniệm mang tính đánh giá, mà là khái niệm mô tả, nghĩa là thực tại của vănhoá như thế nào thì mô tả đúng như thế Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnhrằng, không phải tất cả mọi kết quả hoạt động của con người đều trở thànhvăn hoá hay những bộ phận của văn hoá Bởi vì, văn hoá không phải lànhững sản phẩm hay kinh nghiệm mang tính cá nhân Chỉ có thể gọi là văn
Trang 8hoá khi các sản phẩm hay kinh nghiệm trở thành sản phẩm hay kinh nghiệmtập thể - chúng phải được toàn thể cộng đồng tiếp nhận và được truyền đạt từthế hệ trước đến các thế hệ sau, tạo thành một nếp song chung của toàn thểcộng đồng.
Việc điểm lại hai quan niệm khác nhau như trên đưa tới một cái nhìntổng quát về văn hoá, qua đó giúp chúng ta loại bỏ dần những cảm nhận trựcgiác, tiền khái niệm, trước khi đi vào cách nhìn của một bộ môn khoa học cụthể là Xã hội học văn hoá
III ĐỊNH NGHĨA VĂN HÓA
1 Về sự ra đời của các định nghĩa
Định nghĩa được ghi nhận một cách rộng rãi đầu tiên là định nghĩa củaE.B Tylor, nhà bác học người Anh, giáo sư nhân học ở Đại học Oxford, trongtác phẩm Văn hoá nguyên thủy, xuất bản tại Luân Đôn vào năm 1881 Nốitiếp Tylor, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về văn hoá từ những góc nhìnkhác nhau: văn hoá học, nhân học, xã hội học, giá trị học v.v Hầu như mỗingành, mỗi lĩnh vực, mỗi trường phái, thậm chí là mỗi nhà khoa học đều cóđịnh nghĩa riêng của mình về văn hoá
Trên cơ sở đó, vào năm 1952, hai nhà nhân học Mỹ là A.L Kroeber(1876 - 1960) và C Kluckhohn (1905 - 1960) đã dành hẳn một cuốn sách cónhan đề là Văn hoá: tổng quan về khái niệm và định nghĩa để bàn về vấn đềnày Trong cuốn sách nổi tiếng đó, các tác giả tập hợp 161 định nghĩa về vănhoá, trong đó định nghĩa được công bố sớm nhất vào năm 1871, muộn nhất
là năm 1951, và phân chia chúng thành bảy biểu cơ bản xếp thứ tự từ A đến
G Các định nghĩa này được phân theo đặc trưng và được sắp xếp theo trật
tự như sau: biểu A: 20 định nghĩa; biểu B: 22; biểu C: 25; biểu D: 38; biểu E:9; biểu F: 40; biểu G: 7 [A.L Kroeber và cộng sự, 1963: 81 – 142]
Điều đặc biệt là, kể từ sau 1951 - năm ra đời muộn nhất của các địnhnghĩa về văn hoá mà Krober và Kluckhohn đã lựa chọn, nhiều người vẫn tiếptục định nghĩa về văn hoá, do đó số lượng các định nghĩa này vẫn tiếp tục
Trang 9tăng lên Và sau hai tác giả này, có nhiều nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục sưutầm, phân loại và phân tích các định nghĩa về văn hoá với mục đích hiểu hơn
về bản chất, chức năng và những biểu hiện đa dạng và sinh động của nó
Dựa vào cách phân loại của Kroeber và Kluckhohn, cũng như củanhững người nối tiếp các ông sau đó như L.G Ionin (1996) A.A Beklik(2000), chúng tôi xếp các định nghĩa về văn hoá thành sáu nhóm, đồng thờichỉ ra những đóng góp và những hạn chế của mỗi nhóm
2 Các nhóm định nghĩa khác nhau
Nhóm định nghĩa mô tả
Đại diện cho nhóm này là định nghĩa của E.B Tylor (1832 - 1917): "Từvăn hoá hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có trithức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số nănglực và thói quen khác, v.v được con người chiếm lĩnh với tư cách một thànhviên xã hội”1 [E.B Tylor, 2000:13],
Đây là một định nghĩa nổi tiếng và có tầm quan trọng đặc biệt trongtruyền thống các khoa học nghiên cứu văn hoá, nhất là ở phương Tây Vớiđịnh nghĩa này, lần đầu tiên văn hoá không còn được hiểu nhỏ hẹp ở trườngnghĩa “vun trồng cho trí óc” hay “giáo hoá bằng văn” nữa, mà - với các hiệntượng cụ thể được tác giả liệt kê, văn hoá hiện lên như là kết quả trong cáclĩnh vực hoạt động của con người, bất luận là các hoạt động đó ở trình độ nàotrong các bậc thang tiến hoá
Hạn chế có tính lịch sử trong định nghĩa của Tylor là ở chỗ nó chưa nóiđược rõ ràng về văn hoá vật chất, không phân biệt yếu tố, thành phần hợpthành và loại hình văn hoá, chưa có sự phân biệt giữa văn hoá và văn minh,chưa làm rõ được mối liên hệ giữa các yếu tố của văn hoá với tư cách là mộtchỉnh thế Chữ "vân vân” ở sau các yếu tố được liệt kê, trên một phương diệnnào đó, cũng phản ánh nhược điểm của định nghĩa này
Nhóm định nghĩa lịch sử
Trang 10Thuộc nhóm này, có thể viện dẫn định nghĩa của B.K Malinowski (1884
- 1942): “Văn hoá bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tậpquán và giá trị" E Sapir (1884 - 1939) có cùng một quan điểm như vậy, ôngcoi văn hóa là "tổ hợp những phương thức hoạt động và niềm tin tạo thành trụcột của cuộc sống chúng ta, được kế thừa về mặt xã hội”
Cần ghi nhận ở đây là mặc dù các tác giả đã cố gắng không lặp lại địnhnghĩa của Tylor, song các định nghĩa thuộc nhóm này lại dựa trên giả định về
sự ổn định và thụ động của văn hoá và xã hội, do đó biến văn hoá thành một
mô hình cứng nhắc và tĩnh tại Kiểu định nghĩa này thường bỏ qua sự biếnđổi của văn hoá, tức là bỏ qua tính tích cực và bản chất sáng tạo của conngười trong việc tiếp thu, cải biến và phát triển các di sản của mà tiền nhân
để lại
Nhóm định nghĩa chuẩn mực
Thường coi văn hoá như là cách sống chung, trong đó bao gồm các giátrị và chuẩn mực có khả năng chi phối đời sống chung của cộng đồng haynhóm Chẳng hạn C.W Wissler cho rằng: "Lối sống mà một công xã hay bộlạc tuân thủ được gọi là văn hoá” W Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học
Mỹ và là hội viên sáng lập trường phái Chicaso cũng coi văn hoá là “các giá trịvật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, tâm thế,phản ứng cư xử), không phụ thuộc vào việc đó là người man rợ hay là ngườivăn minh”
Sự đóng góp của các định nghĩa thuộc nhóm chuẩn mực là đã khôngtuyệt đối hoá các hệ thống giá trị, tức là đã thấy được bản sắc văn hoá củacác dân tộc, do đó tôn trọng sự khác biệt của các nền văn hoá khác nhau.Tuy nhiên, khi quá đề cao các giá trị riêng biệt, loại định nghĩa này dễ rơi vàochủ nghĩa kinh nghiệm, không thấy hết được các mối quan hệ tương tác giữacác nền văn hoá cũng như sự biến đổi tất yếu của văn hoá từ quá khứ đếnhiện tại
Nhóm định nghĩa tâm lý học
Trang 11Nhóm định nghĩa này được xây dựng trên cơ sở của tâm lý học nênluôn nhấn mạnh đến đặc trưng “học hỏi” của văn hoá Người đại diện chonhóm này là W Sumner (1840 - 1910) viết: “Tổng thể những sự thích nghicủa con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hoá” Một đạidiện khác là R Benedict (1887 - 1948) thì hiểu “văn hoá như hành vi ứng xử
có được mà mỗi thế hệ người cần phải nắm lại từ đầu”
Nhấn mạnh đến các hành vi ứng xử và sự thích nghi với môi trườngmang nặng tính truyền thống của con người, các định nghĩa thuộc nhóm tâm
lý học cũng khẳng định tính chất ổn định của các mô hình văn hoá Nhưngthực ra, trong đời sống xã hội, con người vừa khuôn theo, lại vừa không theocác khuôn mẫu văn hoá đã có sẵn Xu thế “biến dị” đó làm hình thành cáckhuôn mẫu và chuẩn mực mới, tạo ra sự đa dạng của văn hoá
Nhóm định nghĩa cấu trúc
Để có cái nhìn bao quát nguồn tư liệu, ở nhóm này chúng tôi chọn địnhnghĩa của một học giả Việt Nam là Đào Duy Anh Ông viết: “Người ta thườngcho rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế
mà xem văn hoá vốn có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải lànhư vậy Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hoá, nhưngphàm sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tụctập quán tầm thường lại không phải ở trong phạm vi văn hoá hay sao? Haitiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt củaloài người cho nên ta có thể nói rằng: “Văn hoá tức là sinh hoạt”
Định nghĩa của Đào Duy Anh được đưa ra trong cuốn Việt Nam vănhoá sử cương, do Quan hải tùng thư xuất bản tại Huế, năm 1938 Khi tác giảnói “Văn hoá tức là sinh hoạt” là ông đã chú trọng tới khía cạnh cấu trúc, bởisinh hoạt của con người bao gồm nhiều-phương diện, kể cả vật chất và tinhthần, tạo thành một mạng lưới của các vị thế, các vai trò, các quan hệ trongđời sống xã hội Quan điểm của Đào Duy Anh rất gần với quan điểm củaUNESCO trong các định nghĩa về văn hoá được đưa ra trong mấy thập kỷgần đây
Trang 12Nhóm định nghĩa phái sinh
Khác với các nhóm trên, nhóm định nghĩa phái sinh thường được chiathành nhiều nhóm nhỏ hơn nữa Do khuôn khổ trang viết có hạn nên chúngtôi chỉ đơn cử hai trường hợp tiêu biểu Thứ nhất là định nghĩa của nhà xã hộihọc Mỹ gốc Nga là P Sorokin (1889 - 1968): “Với nghĩa rộng nhất của từ, vănhoá chỉ tổng thể những gì được tạo ra hay được cải biến bởi hoạt động có ýnghĩa hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác độngđến lối ứng xử của nhau” Thứ hai là một định nghĩa ngắn gọn và đơn giảncủa nhà triết học W Jstwald: “Chúng tôi gọi những gì phân biệt con người vớiđộng vật là văn hoá”
Nhóm định nghĩa phái sinh đã chú ý tới khía cạnh nguồn gốc của vănhoá, bất luận đó là lĩnh vực vật chất hay tinh thần, và đặc biệt đã thấy đượcvăn hoá chính là cái phân biệt giữa con người và động vật Hơn thế nữa, cácđịnh nghĩa thuộc nhóm này còn chỉ ra được sức tác động của văn hoá trongđời sống xã hội Mặc dầu vậy, với các định nghĩa thuộc nhóm này, người tavẫn chưa thỏa mãn Bởi các tác giả của chúng chưa nói rõ sự khu biệt giữanền văn hoá này với các nền văn hoá khác, v.v
Tóm lại, mỗi định nghĩa đều phát hiện hay nhằm nắm bắt được mộtphương diện quan trọng nào đó, song do tính phức tạp đến vô tận của vănhoá, nên không có định nghĩa nào có thể được gọi là một định nghĩa nhấtquán và cạn kiệt về văn hoá Không phải ngẫu nhiên có nhà nghiên cứu đãnói rằng văn hoá là những cái người ta tìm thấy trên thực địa, chứ không phảitrên các định nghĩa Người ta chỉ có thể xây dựng một định nghĩa về văn hoátrong một bối cảnh nhất định - với tư cách là một khái niệm làm việc - nhằmgiúp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó được chuẩn xác mà thôi
IV HỆ THỐNG TỰ NHIÊN, CON NGƯỜI VÀ VĂN HOÁ
1 Thế giới tự nhiên và sự tiến hoá của con người
Có người nhận xét rằng, tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều
là văn hoá Nhà nghiên cứu Nguyễn Từ Chi, khi bàn về vấn đề này đã bình
Trang 13luận: nếu là định nghĩa, thì, tuy không nhất thiết là đầy đủ nhất, nhưng đây làđịnh nghĩa ngắn gọn nhất Sự biểu dương của Từ Chi là ở chỗ, để hiểu vănhoá là gì, tác giả ẩn danh kia đã đặt cạnh văn hoá một phạm trù đối lập với
nó, đó là tự nhiên
Quả là để tìm hiểu về văn hoá, nhất là nguồn gốc của nó, người takhông thể không bắt đầu từ thế giới tự nhiên Bởi khi con người chưa xuấthiện thì trái đất này chỉ mới là thế giới của tự nhiên Khi ấy, tự nhiên tồn tạimột cách “tự nhiên” như từ xưa vẫn thế Nhưng khi con người xuất hiện, thìthế giới tự nhiên, hay đúng hơn, một bộ phận của thế giới tự nhiên không còntồn tại như cũ nữa Thế giới ấy được bổ sung thêm một thành phần cực kỳquan trọng - thành phần người - mà sau đó nó đã đem lại cho thế giới cũ mộtchất lượng mới - cái chất lượng mà dưới đây ta sẽ gọi là văn hoá
Văn hoá không phải là thứ được tạo dựng một cách tức thời và conngười cũng không phải bỗng nhiên mà xuất hiện Các cứ liệu khảo cổ học, cổsinh học cũng như những tài liệu tích luỹ của nhân học chỉ ra rằng sự xuấthiện tổ tiên cổ xưa nhất của con người đã diễn ra cách đây 10-15 triệu năm;người vượn phương Nam (Australopithèque) - khoảng 5 triệu năm; ngườikhéo léo (Homohabilis), từ 2-3 triệu năm; người đi thẳng (Homoerectus), từ 1-1.5 triệu năm; còn con người gần với người hiện đại - khoảng 200.000 năm[Từ điển triết học mới, 2001: 348] Thế nhưng nền nông nghiệp - cơ sở cầnthiết của sự định cư – chỉ mới có khoảng 12 ngàn năm Còn các nền vănminh sớm nhất đều có niên hạn chưa vượt quá 6 ngàn năm Trong quá trình
đó, sự phát triển tri thức của con người là một sự phát triển tiệm tiến: họ đãphải đi từ việc sử dụng các công cụ đá ghè, đá đẽo, đá mài đến các công cụbằng đồng, bằng sắt, từ các công cụ cầm tay đến công cụ cơ giới, từ sự điềukhiển bằng sức người đến tự động hoá, v.v Như vậy, phải trải qua hàngtriệu năm con người mới dần dần tách mình ra khỏi thiên nhiên, sau đó lạiphải mất nhiều nghìn năm để tạo ra một "thiên nhiên thứ hai”, tức là tạo ravăn hoá, để rồi từ đó trở đi con người sẽ sống trong văn hoá và sống bằngvăn hoá
Trang 14Người ta nói rằng, trong thế giới tự nhiên muôn hình nghìn vẻ kia, conngười là một loài sinh vật yếu đuối nhất: mắt của người không nhìn xa bằngmắt chim ưng, tai không thính bằng tai thỏ, mũi không có khả năng đánh hơinhư mũi chó rừng, tứ chi của con người cũng không có sức mạnh và nhiềuvuốt sắc như ở các loài hổ, báo hay sư tử Là sinh vật yếu đuối nhất, chonên, một đứa trẻ sinh ra phải trải qua nhiều năm bế ẵm, bú mớm và học hànhmới dần dần trưởng thành; trong khi đó một con vật rời khỏi bụng mẹ trongmột thời gian rất ngắn đã có thể săn bắt mồi và sống độc lập Nói một cáchkhái quát thì, con người là sinh vật ít có khả năng bẩm sinh nhất để có thể dễdàng thích nghi với môi trường tự nhiên bao quanh.
Nhưng bù lại, con người lại là sinh vật có trí khôn, có đời sống tinh thầnphát triển, biết sáng tạo và nhờ các khả năng này, họ đã chinh phục cả tựnhiên ở bên ngoài lẫn cái tự nhiên ở chính mình và đồng thời với quá trìnhnày, họ đã tạo ra văn hoá Và nhờ có văn hoá, con người lại trở thành loàisinh vật mạnh mẽ nhất, do đó họ có khả năng thích ứng một cách rộng rãinhất đối với môi trường bao quanh Nhờ có văn hoá, con người có thể sống ởkhắp mọi nơi trên trái đất: không chỉ ở những đồng bằng phù sa màu mỡ,những thảo nguyên mênh mông cỏ biếc, mà cả ở những đỉnh núi cao quanhnăm tuyết phủ, những sa mạc chỉ có gió trời và nắng lửa hay những hòn đảo
cô đơn giữa đại dương sóng vỗ Chắc chắn, không một loài sinh vật nào cókhả năng thích ứng lớn hơn thế
2 Loài ngưòi đã tạo ra văn hoá như thế nào?
Cho đến hiện nay trên thế giới đã và đang tồn tại nhiều thứ lý thuyết vềnguồn gốc của văn hoá: đó là các lý thuyết nhân học, tâm lý học, xã hội học,v.v Trong khi chưa có điều kiện giới thiệu kỹ về các quan điểm lý thuyết này,dưới đây chúng tôi chỉ đưa ra một khung giải thích khái quát nhất về tiến trìnhtạo ra văn hoá của nhân loại
Nhìn chung, để có thể tồn tại và phát triển, con người không chỉ buộcphải thích ứng, mà còn phải tiến lên chinh phục tự nhiên, kể cả thế giới tựnhiên bên ngoài lẫn cái tự nhiên ở chính bản thân mình, qua đó họ đã tạo ra
Trang 15không chí văn hoá vật chất, mà cả văn hoá xã hội và văn hoá tinh thần, tức lànhững loại hình văn hoá mang tính phi vật chất, phi vật thể.
Thứ nhất, sự chinh phục thế giới tự nhiên bên ngoài con người Trongtác phẩm Biện chứng của tự nhiên, khi bàn về vai trò của lao động trong quátrình chuyển biến từ vượn thành người F Engels đã nhận xét: mặc dù conngười chỉ là một "thành phần của tự nhiên”, là “sản phẩm của tự nhiên”, songcon người hiếm khi chỉ thích nghi với môi trường xung quanh, tức là chỉ dựavào tự nhiên có sẵn để sinh sống như các loài động vật khác Khác với cácloài động vật, con người luôn tìm cách làm chủ thế giới xung quanh mình vàkết quả của mối quan hệ đó là con người đã tác động vào tự nhiên, làm thayđổi diện mạo của nó, khiến nó không tồn tại một cách “tự nhiên nhi nhiên”nữa Trải qua hàng ngàn năm, vạn năm, loài người đã biến đât đá, cây cỏ,động vật, kim loại và những tài nguyên thiên nhiên khác thành cơm ăn, áomặc, nhà cửa, ruộng vườn, công cụ lao động, xe tàu và các loại hình truyềnthông nhằm thoả mãn các nhu cầu ngày càng tăng trong cuộc sống của mình
Thứ hai, chinh phục cái tự nhiên ở trong con người Con người khôngphải là động vật xã hội duy nhất, tuy nhiên con người là động vật xã hội duynhất có văn hoá Không giống với những con ong hay con kiến là những độngvật cũng sống quần thành xã hội mà hành vi của chúng được lập trình sẵntheo cách di truyền sinh học, hành vi của con người không chỉ được lặp lạitheo gen di truyền, mà quan trọng hơn còn được quy định bởi nền văn hoáđược chia sẻ Nhờ cái “nền văn hoá được chia sẻ" này mà hành vi của conngười hoàn toàn khác với hành vi của động vật và điều này được thể hiệntrong tất cả các lĩnh vực hoạt động của họ Chẳng hạn, cũng là hành động
“ăn”, nhưng nếu loài vật "ăn sống nuốt tươi" một cách đầy bản năng, thì ở conngười điều đó lại khác Con người biết nấu chín con mồi trước khi ăn, hơnnữa họ còn biết thực thao cái sự "ăn" đó bằng bát và đũa như một số nướcchâu Á, hay bằng dao, thìa và dĩa như ở châu Âu Cũng không giống như cácloài vật thường ăn uống một mình, con người thích được ăn uống trong mộttập hợp người, nhất là theo gia đình hoặc nhóm bạn Không chỉ thế, trước và
Trang 16trong khi ăn, họ còn thực hiện hàng loạt các nghi thức chào mời, gặp hoặcsan sẻ thức ăn cho nhau Đúng như có người đã nói, bữa ăn - đối với conngười - mang nhiều ý nghĩa hơn là ăn để sống Tương tự, những bản năngsinh học khác như khóc, cười, sợ hãi, thích thú hoặc quan hệ tính dục v.v cũng đã được con người cấp thêm cho nhừng ý nghĩa mới, ý nghĩa của vănhoá Trên tinh thần đó, người ta cho rằng, con người là động vật tượng trưng
- nó gán cho bữa ăn, nơi ở và tất cả những gì liên quan đến nó những giá trịtượng trưng Như vậy, bản tính con người không còn dừng lại ở tính bảnnăng sơ khai, mà đã được thấm nhuần tinh thần của văn hoá Cố nhiên là cái
“tinh thần văn hoá" đó không phải ngẫu nhiên từ đâu đưa tới, mà phải quaquá trình học hỏi, tức phải thông qua một quá trình xã hội hoá và hội nhậpvăn hoá một cách lâu dài mới có được
Thứ ba, sáng tạo ra văn hoá xã hội và văn hoá tinh thần Nếu văn hoávật chất có nguồn gốc từ thiên nhiên, thì văn hoá xã hội và văn hoá tinh thầndường như lại không được khơi nguồn từ trong thế giới tự nhiên Đúng hơn làkhông có một cơ sở nào trong thế giới tự nhiên tạo điều kiện trực tiếp để conngười làm việc đó Đó là sự xuất hiện của ngôn ngữ với tư cách là công cụcủa tư duy, là hệ thống giá trị, chuẩn mực tồn tại trong tiềm thức và chỉ huycác hoạt động của mỗi con người, cũng như của mỗi cộng đồng Cụ thể hơn,
đó là mối quan hệ nhân tính giữa nam và nữ, là các khuôn mẫu ứng xử, cácvai trò xã hội, là thái độ đối với sự sống và cái chết, là phương thức tổ chứccộng đồng Đó cũng là những lý tưởng về đạo đức và thẩm mỹ, chính trị và tưtưởng, tôn giáo và pháp luật, khoa học và nghệ thuật, là các thiết chế xã hộinhư gia đình, giáo dục, chính trị, kinh tế, v.v Nhà triết học người Đức K.Jaspers (1883 - 1969) cho rằng, chúng ta không biết các thời điểm lịch sửtrong tiến trình hình thành các giá trị xã hội và tinh thần, chúng ta chỉ biếtnhững kết quả của tiến trình đó Tuy nhiên, qua những kết quả như vừa kể,
có thể nói rằng, trong quá trình lao động sáng tạo của mình, con người đãbiến cải tự nhiên thành cái siêu nhiên và tạo ra những thứ hoàn tòan chưa cótrong thế giới tự nhiên Đó là văn hoá xã hội và văn hoá tinh thần
Trang 17Tóm lại, chính con người đã tạo ra văn hoá, cả văn hoá vật chất, vănhoá xã hội và văn hoá tinh thần và sử dụng chúng như những phương tiện đểtồn tại và phát triển Trong đó, sự sáng tạo ra văn hoá xã hội và văn hoá tinhthần là một bước chuyển mang tính quyết định về mặt nhân tính Bởi vì, nếuchỉ căn cứ vào việc chinh phục và cải tạo tự nhiên, hay chỉ căn cứ vào đờisống vật chất, thì nét đặc trưng để khu biệt giữa con người và con vật cònkhá mờ nhạt Trong thế giới tự nhiên, loài kiến và loài ong có thể đạt tới trình
độ bậc thầy trong kỹ thuật và nghệ thuật kiến trúc Những con hải ly xây nênnhững cái đập chắn nước vừa chắc chắn vừa tiện lợi Loài nhện thì biết dệtnên những tấm lưới để bắt mồi một cách rất tinh xảo, v.v Cho nên, cái đãlàm cho sinh thể người thật sự trở thành con người và khu biệt nó với thế giớiloài vật là ở chỗ, bên cạnh việc chinh phục và cải tạo tự nhiên, con người còntạo ra cả một thế giới những giá trị xã hội và tinh thần, mà không có bất cứloài nào có thể có được
3 Xã hội hoá, hay là quá trình tiếp thu văn hoá của con người
Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá, song chính con người cũng
là sản phẩm của văn hoá Cho nên, không thể nói đến văn hoá mà không cócon người, cũng như không thể nói đến con người mà không thấy kết quả tácđộng của văn hoá
Các nhà triết học cho rằng "khả năng đối xử có tính người đối với thếgiới và đối với những người khác, khả năng lao động, giao tiếp với những conngười xung quanh, khả năng tư duy, có những tình cảm đạo đức và nhữngxúc cảm thẩm mỹ - tất cả những cái đó đều không phải là những đặc tính của
cơ thể, mà là những nét đã hình thành trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hội,tiêu biểu cho thực chất của con người trong cách biểu hiện và bộc lộ cá thểcủa nó Những nét ấy được hình thành nhờ chỗ con người tham gia vào hệthống các quan hệ xã hội, vào quá trình hoạt động lao động, đi liền với sựtham gia của con người vào quá trình nắm vững và tái tạo nền văn hoá xãhội” [Từ điển triết học, 1975:99]
Trang 18Một cách cụ thể hơn, các nhà xã hội học cũng chứng minh rằng trong
xã hội loài người, ngay từ khi mỗi đứa trẻ mới ra đời thì cái tập thể bao quanhchúng - lúc đầu là cha mẹ, anh chị, rồi họ hàng, làng xóm, tiếp nữa là trườnghọc và các nhóm xã hội khác - đã nối tiếp nhau thực hiện cái công việc đượcgọi là xã hội hoá (socialisation) một cá nhân Đó là việc giáo dục, dạy dỗnhằm trao truyền cho bé những kỹ năng và tri thức, những giá trị và chuẩnmực và tập dần cho bé cách ứng xử phù hợp với những khuôn mẫu của cộngđồng người mà bé là thành viên Sự xã hội hoá này được thực hiện thông quacác phương tiện như ngôn ngữ, biểu tượng, v.v Cứ thế, lớn dần lên, mỗi bétrai hay gái đã mang sẵn trong mình những yếu tố chung của đời sống tập thể
và nó sẽ biết tự kiểm soát hành vi của mình để có thể ứng xử hài hoà - theonhững điều đã đọc được - trước từng trường hợp cụ thể của đời sống, khôngchỉ với tập thể bao quanh mà còn với toàn thể xã hội
Vậv là, quá trình văn hoá hóa, hay là xã hội hoá đã đưa con người với
tư cách là một thực thể sinh học vào thế giới "homo sapiens”, thế giới của conngười có lý trí và có thể nhận thức được các thiên chức xã hội của mình Vànhư vậy, có thể nói, con người là người bởi vì họ chia sẻ với những ngườikhác một nền văn hóa chung - nền văn hóa được kế thừa của những thế hệ
đã đi qua và là di sản để lại cho những thế hệ sẽ tới
Nhưng vấn đề không chỉ dừng lại ở giả thuyết khoa học hay ở nhữngnhận định được rút ra từ phương thức tư duy trừu tượng để khăng định hành
vi của con người được quy định bời truyền thống văn hoá của họ Đã cókhông ít nghiên cứu thực nghiệm nhằm chứng minh con người dựa vào vănhoá nhiều hơn là bản năng tự nhiên để đảm bảo sự sống còn của chủng loạimình
Nhà nghiên cứu M Mead (1901 - 1978), vào những năm 30 của thế kỷ
XX, đã tiến hành các cuộc nghiên cứu về sự khác biệt giữa nam và nữ trongcác xã hội thuộc châu Đại Dương, chứng minh rằng nhân cách của mỗi bênđược xác định bởi giới tính sinh học ít hơn là bởi hình mẫu văn hoá mà mỗi
xã hội truyền lại và được áp định cho họ từ thuở ấu thơ Cũng trên tinh thần
Trang 19đó, giới khoa học đã khẳng định rằng con người không chỉ đơn giản là mộtsinh thể có văn hoá, mà hơn thế nó còn là một sinh thể nhân tạo; còn văn hoákhông những là một hình thức ổn định của đời sống xã hội mà còn là quátrình xã hội hoá, tức là quá trình làm hình thành con người, kể cả tinh thần vàthể xác [V.M Rôdin, 2000: 151].
V VĂN HOÁ VÀ VĂN MINH
1 Khái niệm “văn minh”
Khái niệm văn minh (civilisation), một cách chính thức, xuất hiện sớmnhất ở Pháp, trong phong trào Khai sáng (thế kỷ XVIII) Nó được dùng để chỉcác thành tựu của lịch sử như sự tẩy rửa các tập quán, đề cao luật pháp, sựbình đẳng và trật tự xã hội Cho đến nay, khái niệm văn minh được sử dụng ítnhất ở hai trường hợp sau đây:
Thứ nhất, như một tiêu chí để chỉ trình độ phát triển của con người làtiêu chí tiến bộ của một quốc gia, dân tộc, hay rộng ra là cả thế giới trên cácmặt vật chất, hoạt động xã hội và tinh thần với những giá trị chung của nhânloại Nó đối lập với sự mông muội, dã man và trình độ phát triển thấp Đâycũng là cái để phân biệt giữa văn hoá và văn minh
Thứ hai, trên sách báo, người ta cũng nói đến văn minh ở số nhiều, tức
là nói đến các nền văn minh (như văn minh Hy Lạp, văn minh Ai Cập, vănminh Lưỡng Hà, văn minh Trung Quốc, v.v ) Trong trường hợp này, mỗi nềnvăn minh bao gồm nhiều quốc gia và dân tộc và mỗi quốc gia, dân tộc đó lại
có một nền văn hoá riêng của mình
Như vậy, ý nghĩa của khái niệm “văn minh” khá rõ ràng Tuy nhiên, từtrước đến nay, trong khoa học cũng như trong đời sống, khái niệm này vẫnđược sử dụng lẫn lộn với khái niệm “văn hoá” Cũng do vậy, người ta đã lýgiải mối quan hệ giữa “văn hoá" và “văn minh" theo nhiều cách khác nhau, màdưới đây là một số khuynh hướng tiêu biểu
2 Khuynh hướng đồng nhất văn hoá với văn minh
Trang 20Đại biểu lớn nhất của khuynh hướng đồng nhất văn hoá với văn minh làE.B Tylor Ngay từ những dòng đầu trong công trình rất nổi tiếng của mình làVăn hoá nguyên thuỷ, ông coi hai từ văn hoá và văn minh chỉ là cách gọi khácnhau của cùng một ý niệm Mặc dù, cũng trong cuốn sách đó, Tylor đã phânbiệt ra ba mức tiến hoá khác nhau: trạng thái mông muội, trạng thái man dã
và trạng thái văn minh của các xã hội, song nền văn minh ở đây chỉ đượchiểu như một kiểu văn hoá có sự phát triển cao
Sự đồng nhất, hay đúng hơn là thái độ ngập ngừng của Tylor giữa haikhái niệm văn hoá và văn minh quả đã có tác động lớn đến nhiều nhà nghiêncứu Một cuốn từ điển nổi tiếng ra đời sau đó, cuốn Di sản Mỹ, đã tường giảivăn hoá với văn minh như những từ đồng nghĩa Ở Pháp, khi E Durkheim
11858 - 1917) và M Mauss (1872 - 1950) viết rằng “mọi văn minh chỉ là biểuthị một cuộc sống tập thể theo một loại riêng” thì có nghĩa các ông cũng coivăn hoá với văn minh là một [Jean - Pierre Durand, 1997: 618] Việc đồngnhất (hay lẫn lộn?) giữa văn hoá và văn minh, trong thực tế, đã mang lại rấtnhiều khó khăn trong việc xây dựng bộ môn Xã hội học văn hoá với tư cách làmột khoa học độc lập
3 Khuynh hướng đối lập văn hoá với văn minh
Khuynh hướng này được thể hiện rất rõ trong lịch sử tư tưởng cũngnhư lịch sử khoa học Nhìn một cách bao quát thì sự khác biệt giữa văn hoá
và văn minh là ở chỗ nếu những gì đại diện cho văn minh như khoa học, côngnghệ, kỹ thuật và các yếu tố vật chất luôn vận động theo tuyến tính và hướng
về tương lai, thì văn hoá là những gì liên quan đến giá trị, lý tưởng, các phẩmchất trí tuệ, đạo đức, nghệ thuật lại luôn trở về nguồn
Cái ranh giới, hay là sự khác biệt văn hoá và văn minh đã được nhà xãhội học người Đức là Ferdinand Tonnies chỉ ra từ cuối thế kỷ XIX Nghiên cứu
về sự tiến hoá của tổ chức xã hội từ cộng đồng (Gemeinschaft) đến hiệp hội(Gesellschaft), ông cho rằng, tương ứng với hai kiểu tổ chức đó là hai kiểuquan hệ: quan hệ cộng đồng tính và quan hệ hiệp hội tính Theo ông, đặctrưng của quan hệ cộng đồng tính dựa vào tình cảm, là văn hoá, còn đặc
Trang 21trưng của quan hệ hiệp hội tính lại dựa theo chức năng, là văn minh và hai
mô hình này hoàn toàn đối lập với nhau Trong buổi đầu của xã hội học Đức,Alfred Weber cũng nói lên sự phân biệt, hay đúng hơn là sự đối kháng củavăn hoá và văn minh
Nhưng phải chờ đến Oswald Spengler (1880 - 1936) thì quan điểm nàymới đạt đến mức điển hình Trong tác phẩm Buổi hoàng hôn của châu Âu,công bố vào năm 1919, nhà triết học người Đức này ghi nhận văn minh là cái
gì đó vận động và tiến lên không ngừng trong khi văn hoá lại không giống nhưthế, do đó văn hoá và văn minh là các hiện tượng không chỉ đối lập mà cònbài trừ lẫn nhau Bi quan hơn, ông còn cho rằng văn minh chính là định mệnh
và là “cái chết” của văn hoá
Thể hiện sự đối lập và bài trừ lẫn nhau giữa văn hoá và văn minh,Spengler đưa ra một bảng đối sánh khá thú vị Rằng văn hoá giống như mộtthứ tôn giáo, nó chẳng có bà con gì với văn minh vô đạo Rằng văn hoáthiêng liêng và huyền bí, còn văn minh chỉ là sức mạnh và lý trí lạnh lùng Vàrằng, trong khi văn hoá mang đầy đủ bản sắc dân tộc, không thể bán và cũngkhó có thể mua thì văn minh lại mang tính quốc tế, có thể xuất hoặc nhậpkhẩu một cách dễ dàng Theo cách phân chia của ông thì văn hoá là triết học,nghệ thuật, thơ ca, là sự bay bổng của tâm hồn, do đó nó không có chungđụng gì với văn minh là kỹ thuật, là thành phố đá, là sức mạnh của lý trí và sựsùng bái đồng tiền
Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật vào nửa cuối thế
kỷ XIX, cùng với Tonnies và Spengler ở Đức, ở Nga cũng có nhiều nhà tưtưởng, nhà văn đứng trên lập trường của văn hoá để biểu lộ sự thù địch đốivới văn minh Constantin Leontiev (1831 - 1891), một trong những nhà tưtưởng lớn của Nga, đã thể hiện sự đồng tình với Spengler bằng cách pháttriển luận điểm về tính tinh thần của văn hoá và tính phi tinh thần của vănminh Cùng một lập trường với Leontiev, các nhà văn và các nhà tư tưởngkhác như F Dostoevski (1821 - 1881) và V Soloviev (1853 - 1900) cũngkhẳng định, rằng nền văn hoá vĩ đại của các dân tộc rồi sẽ mất, nó sẽ chết đi
Trang 22và nền văn minh - một nền văn minh xa lạ đầy những sự vô đạo, đô thị hoá vàquốc tế hoá sẽ đến thay thế cho nền văn hoá cổ truyền có bề dày hàng nghìnnăm lịch sử và được xây dựng trên một cơ sở tôn giáo, trong đó chứa đựngmột sự tượng trưng thiêng liêng Và cùng với văn minh, một kiểu người mới,một kẻ hãnh tiễn đang tới, bằng ý chí chinh phục, sẽ chiếm đoạt mọi quyền uycủa thế giới và đặt ách thống trị đến mọi ngõ ngách của địa cầu Các ôngcảnh báo rằng trong bước đi vang dội những thắng lợi của văn minh, linh hồncủa văn hoá sẽ chết Nhưng nền văn minh, đến lượt nó, cũng tự xác định là
“sẽ chết” - và cái chết đó được báo hiệu bằng sự cạn kiệt về sức sáng tạo củavăn hoá [N Ekrdiaev, 1990: 42]
Biện hộ cho quan điểm của mình, những người theo khuynh hướng đốilập giữa văn hoá với văn minh cho rằng sự tiến bộ; khoa học, kỹ thuật vàcông nghệ đại diện cho văn minh, khi không được kiểm soát sẽ thấm nhuầnmột tinh thần phillistin, sẽ kéo theo sự suy đồi về đạo đức, sự khủng hoảng vàcái chết của văn hoá Người ta khẳng định rằng con người văn minh là conngười đánh mất mình trong đồ vật, họ chỉ còn là những kẻ phục vụ cho sựvận hành của thế giới đồ vật mà thôi Sự tiên đoán về cái chết của văn hoáchắc hẳn không hoàn toàn đúng, song lối nhìn và cách đặt vấn đề của họkhiến người ta không thể thờ ơ trước sự phát triển tự phát của những gì đạidiện cho văn minh, nhất là trong thời kỳ hiện đại
4 Văn hoá và văn minh: mối quan hệ thống nhất trong đa dạng
Quan hệ giữa văn hoá và văn minh, thực ra, là sự thể hiện nguyên lývừa thống nhất vừa đa dạng của văn minh nhân loại, cũng như của mỗi nềnvăn hoá dân tộc nói riêng Trong mối quan hệ đó, văn minh là những mặt,những thuộc tính, những yếu tố có ý nghĩa phổ biến và tồn tại ngay trong từngnền văn hoá dân tộc, nó đặc trưng cho sự thống nhất của lịch sử toàn thế giới
và sự tiến bộ của nhân loại Ngược lại, mỗi nền văn hoá dân tộc, ngoài nhữngmặt, những thuộc tính, những yếu tố có ý nghĩa phổ biến, còn có những nétriêng đặc thù và độc đáo không ở đâu có
Trang 23Nhưng trong mỗi dân tộc, văn hoá và văn minh không tồn tại tách rời và
cô lập như những củ khoai tây trong một bịch khoai tây, mà luôn thâm nhậpvào nhau, gắn kết chặt chẽ với nhau để tạo nên bản sắc của dân tộc đó.Không những thế, văn hoá và văn minh còn luôn chuyển hoá lẫn cho nhau.Bất kỳ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố nào của văn minh nhânloại cũng có thể gia nhập vào một nền văn hoá dân tộc, kết hợp với nhữngnét riêng đặc thù và độc đáo của nó để tạo nên sức sống mới của nền vănhoá đó Cũng vậy, bất kỳ những nét riêng đặc thù và độc đáo nào của từngdân tộc - khi giá trị của nó được phát hiện và thừa nhận một cách rộng rãi -đều có thể được khai thác và sử dụng, làm phong phú thêm cho văn minhnhân loại
Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và văn minh, trở lạivới mỗi nền văn hoá dân tộc, người ta cũng có thể nhất trí với nhau là các giátrị văn hoá mang sức mạnh bản chất của con người chỉ có thể được thực hiệnmột cách tốt nhất trong đời sống xã hội nhờ một nền văn minh phát triển.Ngược lại, một nền văn minh phát triển cao nếu muốn lâu bền cũng không thểkhông được xây dựng trên cơ sở của văn hoá, mang ý nghĩa văn hoá vàđược sự cổ vũ mạnh mẽ của văn hoá Nói một cách hình tượng là, nhân loạihoàn toàn có thể thắng cả hai con ngựa văn hoá và văn minh vào cùng một
cỗ xe nhằm phục vụ cho hạnh phúc và sự phát triển bền vững của mình - bởihai phương thức này hoàn toàn có thể bổ túc cho nhau
Tuy nhiên, người ta cũng có thể đặt câu hỏi: Vậy tại sao từ trước đếnnay vẫn tồn tại đồng thời nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt là quan điểmđối lập giữa văn hoá và văn minh? Câu trả lời chỉ có thể là: sự thống nhấtgiữa văn hoá và văn minh không phải là sự thống nhất một chiều, mà là sựthống nhất biện chứng Đúng là “các giá trị văn hoá chỉ có thể được thực hiệnnhờ một nền văn minh phát triển”, song sự phát triển phiến diện và mù quángcủa văn minh có thể làm lãng quên những lý tưởng cao đẹp của văn hoá.Cũng vậy, “một nền văn minh phát triển cao không thể không xây dựng trên
cơ sở của văn hoá”, ngưng nếu bị trói buộc quá nhiều bởi các thuộc tính đặc
Trang 24thù và độc đáo của văn hoá thì văn minh cũng không thể bắt rễ sâu vào vănhoá dân tộc, vấn đề đặt ra là cần phải điều chỉnh một cách hài hoà và hợp lýgiữa hai yếu tố văn hoá và văn minh trong quá trình phát triển.
Căn cứ vào hai mặt vừa thống nhất vừa đa dạng của văn minh và vănhoá, có tác giả nhận xét: “Vì văn minh là dựa trên kỹ thuật, mà kỹ thuật lại cực
kỳ năng động, nên nghiên cứu văn minh của một nước, một tộc người là chú
ý tới mặt động, mặt biến đổi của thể cộng đồng này trong việc thay đổi cái cơchế xã hội, văn hoá cũ Còn nghiên cứu văn hoá lại xét đến mặt tĩnh, mặt cấutrúc của một xã hội trong đó có phương diện nghi lễ, phong tục, tập quán,chính trị, nghệ thuật gắn bó với nhau một cách hữu cơ làm thành mặt tinhthần của tộc người hữu quan” [Phan Ngọc, 1994: 10] Thực ra không phải chỉvăn minh mới động, mới biến đổi, mà văn hoá cũng động và biến đổi Tuynhiên, ý kiến của nhà nghiên cứu lão thành cũng có ý nghĩa quan trọng trongviệc khu biệt giữa văn minh và văn hoá, giúp cho việc thao tác hoá khái niệm
dễ dàng hơn trong quá trình tiếp cận nghiên cứu đời sống thực tế
Chương 2 SỰ THỐNG NHẤT VĂN HÓA – CẤU TRÚC XÃ HỘI VÀ XÃ HỘI HỌC VĂN HÓA
Chúng ta đã nói văn hoá là do con người tạo nên, không chỉ ở các lĩnhvực vật chất hay tinh thần, mà cả trong các mối quan hệ giữa người vớingười Theo nghĩa này thì tất cả những gì mà con người đã sáng tạo ra trongđời sống xã hội, từ gia đình, dòng họ, làng bản, xóm thôn, phố phường, rồinhững tổ chức, phường hội, đảng phái, cùng biết bao nhiêu các thứ khuônmẫu ứng xử, khuôn mẫu hành vi được xây dựng và trao truyền từ thế hệ nàyđến thế hệ kia đều có thể gọi là các sản phẩm của văn hoá Tuy nhiên, từgóc nhìn xã hội học, người ta nhận ra là cái môi trường xã hội mà chúng tađang sống thực ra được cấu trúc bởi hai phần là xã hội và văn hoá Trong đó,văn hóa là cái mà xã hội tạo ra một cách trực tiếp và mang tính chủ quan,trong đó xã hội lại được hình thành một cách gián tiếp và mang tính khách
Trang 25quan nhiều hơn Để thấy rõ điều này, cần bắt đầu từ chính hai khái niệm màchúng ta đang bàn.
I XÃ HỘI
Trong Xã hội học, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất
về thuật ngữ “xã hội”, do đó mỗi người có thể hiểu theo một cách khác nhau.Theo cách hiểu đơn giản nhất thì xã hội là một tập hợp người sống chung vớinhau trên cùng một lãnh thổ, cùng chia sẻ với nhau một nền văn hóa và có sựđộc lập tương đối với những người sống ở bên ngoài lãnh thổ đó Tuy nhiên,tập hợp người này không phải là một phép cộng giản đơn giữa các cá nhân,
mà - để có thể thoả mãn các nhu cầu - họ phải tổ chức nhau lại theo mộtphương thức nào đó Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũngnhấn mạnh rằng xã hội không phải là một tổ hợp máy móc các cá nhân, đó là
“bản thân con người trong các quan hệ xã hội của họ” Các phương thức tổchức cùng với các quan hệ xã hội đã tạo thành các cấu trúc xã hội và đờisống của mỗi con người chỉ có thể diễn ra trong các cấu trúc xã hội như thế
Có thể hình dung là mỗi xã hội tổng thể đều tồn tại như một cấu trúclớn, trong đó bao gồm một hệ thống các cấu trúc con của nó Dưới các cấutrúc con lại có các cấu trúc nhỏ hơn nữa, cho đến cấu trúc nhỏ nhất là nhữngđơn vị có ít nhất là hai cá nhân Cũng cần nói rằng trong đời sống xã hội mỗi
cá nhân trong cùng một lúc có thể tham gia vào nhiều cấu trúc xã hội khácnhau và ở mỗi cấu trúc đó anh ta đóng một vai trò nhất định Ví như mộtngười nếu tham gia vào cấu trúc giáo dục thì anh ta là thầy giáo, trong khi đó
ở gia đình anh là người chồng, người cha, còn với khu cư trú anh có vai trò làhàng xóm, láng giềng
Từ trước đến nay người ta thường dựa vào hai tiêu chí cơ bản là thờigian và không gian để phân loại xã hội Với tiêu chí không gian, mỗi xã hộithường được gắn với một quốc gia - dân tộc Nếu tính cả sự phân cấp bêntrong của nó thì mỗi quốc gia - dân tộc lại bao chứa nhiều “xã hội” nhỏ vớinhững đặc trưng rất khác nhau (như màu da, chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ,
Trang 26giai tầng ) Theo tiêu chí thời gian, xã hội được chia ra thành xã hội nguyênthuỷ, xã hội truyền thống, xã hội hiện đại Ngoài cách phân loại theo khônggian và thời gian, người ta cũng có thể dựa theo các loại tiêu chí khác Chẳnghạn, lấy tôn giáo làm tiêu chí thì có xã hội Khổng giáo, xã hội Hồi giáo, xã hộiKitô giáo; lấy trình độ sản xuất làm tiêu chí thì có xã hội săn bắn và hái lượm,
xã hội trồng trọt và chăn nuôi, xã hội nông nghiệp, xã hội công nghiệp, xã hộihậu công nghiệp; lấy phương thức sản xuât làm tiêu chí thì có công xãnguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủnghĩa, v.v
Dù mỗi kiểu phân loại có những chỗ mạnh yếu khác nhau, song khi nóiđến khái niệm xã hội người ta đều nghĩ tới “một đơn vị xã hội” độc lập, có cấutrúc chặt chẽ với các thiết chế của nó như gia đình, giáo dục, kinh tế, chính trị,tôn giáo, giải trí v.v Xã hội học nghiên cứu xã hội ở tất cả các cấp độ cấutrúc của nó, từ cấp độ cao nhất thuộc về hình thái kinh tế - xã hội đến tậnnhững nhóm nhỏ tồn tại trong những khuôn khổ Không gian và thời gian cụthể
II VĂN HÓA
Cũng giống như thuật ngữ xã hội, dù đã có hàng trăm định nghĩa khácnhau, song vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về thuật ngữ văn hoá.Nhưng qua những gì được trình bày ở phần "Định nghĩa văn hoá” thuộcchương I, chúng ta có thể hiểu văn hoá là sự biểu thị một cách trừu tượngcác đặc điểm của phương thức sinh tồn đặc trưng cho một xã hội, một nhómngười, trong một giai đoạn lịch sử nào đó Điều này cũng có nghĩa văn hoá lànhững gì mà mỗi xã hội tạo ra và sử dụng
Do “văn hoá” và “xã hội” thường đi liền với nhau và có sự gắn bó mậtthiết nên việc phân loại văn hoá cũng có sự trùng khớp với sự phân loại xãhội Chẳng hạn, theo tiêu chí không gian, người ta thường chia văn hoá theolãnh thổ quốc gia (như văn hoá Việt Nam, văn hoá Trung Hoa, văn hoá Mỹ ),hay hẹp hơn là văn hoá của các nhóm người trong mỗi quốc gia văn hoá
Trang 27đồng bằng sông Hồng, văn hoá Tây Nguyên, văn hoá nhóm giàu, nhómnghèo, v.v ); Theo tiêu chí thời gian, người ta nói đến văn hoá của xã hộinguyên thuỷ, văn hoá cổ truyền, văn hoá hiện đại; theo tiêu chí tôn giáo cóvăn hoá Khổng giáo, văn hoá Hồi giáo, văn hoá Phật giáo; theo trình độ sảnxuất có văn hoá săn bắt hái lượm, văn hoá nông nghiệp, văn hoá côngnghiệp, văn hoá hậu công nghiệp, v.v Trên tinh thần đó, các nhà nghiên cứuthường coi “văn hoá là một mặt cơ bản của xã hội và con người ở mọi khônggian và thời gian”, rồi văn hoá là “một tập hợp rộng lớn bao trùm lên nhiều(nếu không phải là tất cả) lĩnh vực đời sống xã hội, v.v và v.v
Để thấy rõ “văn hoá là một mặt cơ bản của đời sống xã hội”, cũng cóđôi điều cần được làm rõ Như đã biết, việc tập hợp các cá thể riêng lẻ đểsống thành bầy đàn, thành xã hội không phải chỉ có ở người, mà còn có cả ởnhiều loài động vật khác như loài ong, loài kiến, rồi hươu nai, bò rừng, chósói Tuy nhiên, sự khác nhau giữa con người và con vật là ở chỗ bất kỳ loàivật nào cũng không có văn hoá, trong khi con người dù ở bất cứ đâu cũng cóquá trình nhập thân văn hoá và nắm được những kinh nghiệm văn hoá củatộc người mình Nói cách khác, xã hội loài người khác xã hội loài vật ở chỗtrong xã hội loài người còn có thêm văn hoá
Vậy “văn hoá” và “xã hội” có quan hệ với nhau như thế nào? Nhànghiên cứu người Mỹ là M Herskovits, trong khi theo dõi các truyền thốngnhân học, đã tách khái niệm “văn hoá” ra khỏi khái niệm “xã hội” Theo ông,
“văn hoá là phương thức của đời sống con người; trong khi đó xã hội là tổhợp tác động lẫn nhau trong các cá thể tạo ra lối sống đó Trong các thuậtngữ đơn giản hơn - xã hội bao gồm con người, còn phương thức hành vi docon người tạo ra thì đó là văn hoá” Cũng với cách nhìn đó, nhà nhân học tâm
lý G Stein cũng cho rằng “văn hoá vừa bao hàm các phương thức quan hệvới thế giới, vừa tự nó, trong phần lớn trường hợp, là một thiết chế thứ cấp,được xây dựng, được sản ra từ các thiết chế hữu thức cá nhân do kinhnghiệm trước đó quy định” [A.A Belik, 2000: 114 và 279],
Trang 28III Ý NGHĨA XÃ HỘI CỦA VĂN HOÁ
Văn hoá chỉ có thể ra đời và thể hiện mình trong tiến trình lịch sử xãhội, nếu đặt ra bên ngoài xã hội thì văn hoá trở thành vô nghĩa và không thể
có được Xã hội chính là môi trường, là bối cảnh và là điều kiện cho sự hìnhthành cũng như cho việc bộc lộ ý nghĩa của các giá trị văn hoá Tuy nhiên,quan hệ giữa xã hội và văn hoá không chỉ diễn ra một chiều từ xã hội đến vănhoá Được ra đời, tồn tại và phát triển trong lòng của xã hội, song đến lượtmình văn hoá cũng có tác động trở lại đối với sự phát triển của xã hội Đóchính là ý nghĩa xã hội của văn hoá mà các nhà xã hội học và văn hoá học đãrút đúc được
Quan điểm của A.A Radughin
- Văn hoá tạo ra các giá trị trên cả ba phương diện vật chất, xã hội vàtinh thần, qua đó đảm bảo sự tác động qua lại giữa con người với con ngườitrong quan hệ với tự nhiên và xã hội;
- Văn hoá tạo ra sự thống nhất xã hội, duy trì và phát triển tính toàn vẹn
xã hội Trong khi thực hiện công việc này, văn hoá tạo ra hệ thống hành vibên trên bản năng, bằng cách thực hiện việc xã hội hoá con người, thườngxuyên đề ra cho con người các chuẩn mực và các phương thức hoạt độngkhác với động vật;
- Văn hoá có khả năng thực hiện vai trò ký ức xã hội, nó tạo ra nhữngphương pháp và phương tiện duy trì và tích lũy kinh nghiệm hoạt động thựctiễn và hoạt động tinh thần của con người;
- Văn hoá tạo ra các phương thức và phương tiện giải trí, giúp cho conngười “thanh lọc tâm hồn” nhằm khôi phục sức mạnh tinh thần của họ trongđời sống hiện thực
Như vậy, trong quan hệ giữa cấu trúc xã hội và văn hoá thì văn hoáđóng vai trò như là giá đỡ cho cấu trúc xã hội, nó thống nhất với cấu trúc xãhội và làm cơ sở cho hành động chung của mọi nhóm người trong một xã hộitổng thể Nói theo chính Radughin là, bằng khả năng nhiều mặt, văn hoá đã
Trang 29đưa con người từ thế giới động vật vào thế giới “homo sapiens” - tức thế giớicủa con người lý trí, có khả năng nhận thức được thiên chức xã hội của mình[A Radughin, 2004: 125 - 126],
Quan điểm của Joseph H Fichter
- Văn hoá cung cấp một họa đồ hay họa kiểu về nếp sống cho bất cứmột xã hội nhất định nào Nhờ có văn hoá, những con người tham gia vào xãhội không phải luôn luôn học tập lại hay sáng tạo lại những cung cách xử sự
- Văn hoá hợp người ta lại với nhau Nó chứa đựng và giải thích nhữnggiá trị của một xã hội khiến cho con người có thể nhận định và phán đoánđiều hay dở Chính là qua văn hoá mà con người tìm thấy ý nghĩa và mụcđích của nếp sống vừa của cá nhân vừa của xã hội
- Văn hoá tự nó là một nền móng cho sự liên kết xã hội Những cá nhânkhông những tha thiết với những truyền thống văn hoá của mình mà cũng còntrung thành với những người khác cùng chia sẻ những truyền thống đó vớimình Ở nơi nào văn hoá bắt đầu tan rã thì tại nơi đó sự liên kết xã hội cũngnhư sự hợp tác xã hội cũng suy giảm
- Trên quan điểm đối chiếu, văn hoá được dùng như một “nhãn hiệu”phân biệt xã hội này với một xã hội khác Nó cung cấp cho những nhà khảocứu về xã hội một căn bản để phân biệt những dân tộc với nhau, một căn bảnthực tế hơn cả những ranh giới đất đai và chính trị
- Văn hoá là yếu tố chiếm ưu thế trong sự thành lập và đào luyện nhâncách xã hội Dĩ nhiên, con người ta vốn tự chủ, có thể lựa chọn và thích nghi,nhưng nhân cách xã hội của mỗi người cũng bị lệ thuộc một phần lớn vào vănhoá
Việc phân tích như trên cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của văn hoákhông những đối với cá nhân và các đoàn thể trong một xã hội nhất định màcũng còn đối với cả những tương quan giữa những xã hội khác nhau [Joseph
H Fichter, 1973: 165 - 166]
Trang 30IV SỰ THỐNG NHẤT VĂN HÓA - CẤU TRÚC XÃ HỘI VÀ LÝ DO RA ĐỜI CỦA XÃ HỘI HỌC VĂN HOÁ
Nói về sự khác biệt giữa xã hội và văn hoá, J H Fichter viết rằng:
“…văn hoá không phải là đoàn thể, cũng không phải là xã hội Dùng lẫn lộnnhững danh từ này có thể gây sự lầm lẫn vì chúng ta đã không chú ý tới sựphân biệt rõ ràng giữa con người và những khuôn mẫu tác phong Những conngười sống thành đoàn thể đều có một hệ thống tác phong; họ dùng nhữngđịnh chế; họ có một nền văn hoá Sự thực là con người vừa là kẻ sáng tạo ra
xã hội và vừa là vật sáng tạo của xã hội trong đó con người sinh sống Nhưngngười ta không thể đồng hóa người sở hữu với vật sở hữu Chúng ta sẽkhông phân tích được rõ ràng nếu không nhận xét riêng biệt văn hoá với xãhội”; [J.H Fichter, 1973: 160]
Mối quan hệ vừa thống nhất vừa khác biệt giữa văn hoá và cấu trúc xãhội đã được các nhà sáng lập ra bộ môn Xã hội học quan tâm ngay từ đầu.Đánh giá về vấn đề này, Wolfgang Lipp viết rằng "Bằng khái niệm “hiểu” vềmặt phương pháp luận, M Weber đã đưa Xã hội học mà ông đã khai sinhnhư là “khoa học văn hoá xã hội”, tới những bước có thể dự báo được cho xãhội hiện đại Trong các nghiên cứu xã hội học tôn giáo, như công trình nổitiếng Đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản ông cũng trình bàybằng cách nào các yếu tố văn hoá (ở đây: niềm tin tôn giáo) và xã hội (ở đây:kinh tế) thâm nhập vào nhau Cuối cùng ông cũng chỉ ra những mắt nối nhưvậy kết hợp như thế nào về mặt cấu trúc và ở những hình thức đặc biệt của
“lối sống” - như của “đặc tính nghề nghiệp”, của “sự khổ hạnh bên trong”, ông
đã chỉ ra rằng “văn hoá” - như đã biết từ thời cổ đại rõ ràng gắn liền với “tínhcách”, “nhân cách”, “đặc thù nhân cách” Việc Xã hội học, dù là theo hướngnào, ngày nay nói chung nhấn mạnh tới những hiện tượng như “bản sắc”, “tựxem xét”, “đạo đức” và đặt ra câu hỏi về sự tồn tại của những liên hệ với các
“hệ thống”, “tương tác”, “chế độ xã hội” với những lý do như vậy là hoàn toànđúng đắn” [G Endruweit và cộng sự, 2002: 851]
Trang 31Đáng tiếc là sau M Weber, khi nghiên cứu môi trường xã hội của conngười, các nhà nhân học và xã hội học thường bỏ quên mối quan hệ giữa vănhoá với xã hội, hay chính xác hơn là đồng nhất văn hoá với cấu trúc xã hội.Trong các công trình của các tác giả theo thuyết cấu trúc (structuralism)thường không có sự phân biệt giữa các cấu trúc xã hội với các hệ thống ràngbuộc xã hội chi phối hành vi cá nhân của con người Không ít người coi cấutrúc xã hội đồng nghĩa với “hệ thống các quan hệ xã hội” hay với “lược đồ xãhội” nói chung Khi E Tylor định nghĩa văn hoá là tất cả những yếu tố tri thức,tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, năng lực, thói quen
mà các cá nhân có được với tư cách là thành viên của một xã hội thì có nghĩa
là ông đã đồng nhất giữa văn hoá và cấu trúc xã hội
Nhưng, từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX, với những quan điểm lýluận mới của các lý thuyết hậu hiện đại và ký hiệu học, trong giới xã hội học
đã bắt đầu có sự phân biệt giữa cấu trúc xã hội và văn hoá, nghĩa là bóc táchphần văn hoá ra khỏi phần cấu trúc xã hội để xem xét Người ta nhận thấycần phải đánh giá lại các lý thuyết giải thích về sự hình thành của văn hoá,những tác động xã hội của nó, cũng như cần phải có những cách tiếp cậnmới đối với việc nghiên cứu văn hoá
Có thể nói, chính sự thay đổi trong thế giới quan đã buộc người ta phảiđặt lại vấn đề đã tồn tại ngay từ đầu trong tư duy xã hội học: đó là vấn đềquan hệ giữa văn hoá và cấu trúc xã hội Các nhà xã hội học Mỹ thuộc cáctrường phái tương tác biểu trưng, phương pháp luận dân tộc học, trong thực
tế, đã chuẩn bị cho việc tiếp cận nghiên cứu theo hướng này
Vậy cấu trúc xã hội là gì và mối quan hệ của văn hoá với cấu trúc xãhội được biểu hiện ra sao?
Trước hết, hãy nói về cấu trúc xã hội Cho đến nay, trong Xã hội học,chúng ta được biết tới vô số định nghĩa khác nhau về cấu trúc xã hội qua cáccuốn từ điển chuyên ngành của Xã hội học bằng các thứ tiếng Anh, Đức,Nga, v.v Nhưng tựu trung, có thể hình dung là trong bất kỳ một xã hội nào,các thành viên của nó, ngoài những điểm chung giống nhau, thì cũng mang
Trang 32theo những đặc trưng khác biệt tuỳ theo chỗ đứng của họ ở đâu trong hệthống phân tầng xã hội (như về giới, nhóm tuổi, tộc người, tôn giáo, học vấn,nghề nghiệp, giai tầng, đảng phái, vùng miền, v.v ) Nếu nhìn theo nhữngđặc trưng riêng biệt đó thì xã hội sẽ là tập hợp của nhiều nhóm người khácnhau và mỗi nhóm người như thế có vai trò như một yếu tố tạo nên cấu trúc
xã hội
Phân tích một cách khái quát các dấu hiệu quan trọng thể hiện bản chấtcủa nó, người ta thấy cấu trúc xã hội thường bộc lộ rõ nét nhất ở hai phươngdiện sau đây:
- Đó là hệ thống những quan hệ có tác dụng tổ chức xã hội thành mộtchỉnh thể thống nhất, trong đó các yếu tố vừa có mối liên hệ với chỉnh thể,vừa có sự liên hệ với nhau
- Đó là tổng thể các địa vị, các nhóm, các tầng lớp hay các giai cấpđược tổ chức theo một trật tự có phân cấp, tức là giữa họ không có sự bìnhđẳng trong việc sử dụng các nguồn lực mà hệ thống xã hội có được
Cái cấu trúc xã hội mang tính “chỉnh thể”, song lại chứa đựng trong nó
sự “bất bình đẳng” đó làm sao có thể tồn tại và vận hành? Câu trả lời là: chínhvăn hoá, với những giá trị và biểu tượng chung đã là chất keo kết dính, là giá
đỡ cho sự liên kết giữa các nhóm xã hội khác nhau Điều này cũng có nghĩa
là văn hoá và cấu trúc xã hội là thống nhất - nếu thiếu đi sự thống nhất này thì
cả văn hoá và xã hội đều rơi vào tình trạng khủng hoảng Tuy nhiên, sự thốngnhất giữa văn hoá và xã hội chỉ là tương đối và tạm thời, bởi nếu sự thốngnhất này là tuyệt đối và vĩnh hằng thì cũng có nghĩa là những mâu thuẫn,xung đột với tư cách là động lực của sự phát triển sẽ không bao giờ có, vànếu như vậy thì không chỉ xã hội mà cả văn hoá sẽ không còn sự biến chuyển
và tiến bộ nữa Nhưng, kinh nghiệm lịch sử đã cho thấy, giữa văn hoá và cấutrúc xã hội không phải lúc nào cũng hoàn toàn thống nhất Sự tan rã của cácnhà nước dân tộc ở Đông Âu (Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan ) đã chứng tỏrằng văn hoá có thể mang lại tính cố kết, sự hoà nhập cho các cộng đồng xãhội ở một thời điểm nào đó, song đến một thời điểm khác nó cũng có thể tạo
Trang 33ra sự tranh chấp, xung đột làm băng hoại các cấu trúc xã hội đã được địnhhình trước đó hàng nhiều thập kỷ.
Theo một nhà văn hoá học thì quan hệ giữa văn hoá và cấu trúc xã hội
có thể diễn ra ba tình huống cơ bản sau:
- Trong sự vận hành chung, nếu xã hội không năng động và cởi mởbằng văn hoá, thì văn hoá sẽ đề ra những giá trị có tính chất đối lập, trong khi
xã hội ra sức gạt bỏ những giá trị ấy Khi đó, sự phát triển tiến bộ của văn hoá
bị kìm hãm, còn xã hội thì biến những giá trị hiện có thành giáo điều và nóichung sẽ xuất hiện những điều kiện bất lợi cho sự phát triển của cá nhân
- Cũng có thể có tình huống ngược lại Đó là khi xã hội có sự thay đổimạnh mẽ về chính trị và xã hội, song văn hoá lại chưa theo kịp bằng cáchchuyển đổi các chuẩn mực và giá trị Trong hoàn cảnh ấy, các cá nhân sẽ rơivào tâm trạng khủng hỏang và họ khó có thể tìm được các điều kiện để pháttriển
- Và cuối cùng, là trường hợp mà cả xã hội lẫn văn hoá đều vận hành ởtrạng thái hài hoà và cân bằng Đây là điều kiện rất thuận lợi để mỗi cá nhân
có thể phát triển cả về tài năng và nhân cách, lúc này giữa lý tưởng cá nhân
và lý tưởng xã hội đều mang tính xây dựng và nói chung không có sự mâuthuẫn [A Radughin, 2004: 136 - 137]
Và như vậy, rõ ràng văn hoá không phải là cái gì đó thụ động “đi kèm”với các hiện tượng xã hội Văn hoá và cấu trúc - đó là hai mặt của đời sốngcon người, chúng không tách rời nhau, song cũng không đồng nhất với nhaulàm một, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, có thể tác động qua lại lẫnnhau để cùng phát triển Tuy nhiên, điều cần lưu ý là văn hóa không chỉ làmgiá đỡ và mang lại sự cố kết cho các cấu trúc xã hội, mà ở vào một thời điểmnhất định, nó cũng có thể làm băng hoại các cấu trúc xã hội đó, cố nhiên làmối quan hệ đầy phức tạp này luôn đòi hỏi phải được phát hiện và phân tích
từ góc độ khoa học và đấy cũng chính là lý do của sự ra đời, tồn tại và pháttriển của bộ môn Xã hội học văn hoá
Trang 34CHƯƠNG 3 XÃ HÔI HỌC VĂN HÓA VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT
CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC
I SỰ HÌNH THÀNH XÃ HỘI HỌC VĂN HOÁ
1 Văn hoá trong các truyền thống Xã hội học
Theo nhiều nhà nghiên cứu, đến thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, bộmôn Xã hội học văn hoá vẫn còn rất khó khăn trên bước đường tự khẳng định
tư cách độc lập bên cạnh các chuyên ngành khác của Xã hội học Vì vậy, vị trícủa chuyên ngành này, cho đến nay, vẫn chưa thật rõ ràng Từ góc độ Xã hộihọc, chưa bao giờ người ta tạo ra được một phân ngành hoàn hảo về vănhoá - mặc dù từ trong lòng nó nhiều phân ngành nhỏ lại có xu hướng muốngiải phóng để tự khẳng định: Xã hội học về thời gian rỗi, Xã hội học nghệthuật, Xã hội học lối sống, thậm chí Xã hội học về điện ảnh, về sân khấu, vềthân thể và về mốt, v.v
Sự phân môn muộn màng của Xã hội học văn hoá đương nhiên phải cónhững lý do xã hội của nó và điều này được J.P Durand và R Weil trình bàykhá rõ trong công trình Sociologie Comteporaine Xây dựng luận điểm củamình, Durand và Weil đã xem xét ba truyền thống giao thoa nhau trong ýtưởng xây dựng một ngành Xã hội học về văn hoá: đó là truyền thống Pháp,truyền thống Đức và truyền thống Anglo - Saxons Trên tinh thần này, các nhànghiên cứu khác như Wolfgang Lipp và L G Ionin còn thêm vào hai truyềnthống nữa, đó là các truyền thống Xã hội học Mỹ và Nga Xin điểm lại cáctruyền thống đó:
Truyền thống Pháp
Trong công trình Sociologie Contemporaine, Durand và Weil cho biết tríthức Pháp thích dùng khái niệm “văn minh” hơn khái niệm “văn hoá” Hay nóiđúng hơn là khái niệm văn minh mà người Pháp sử dụng có nội hàm rất rộng,bao gồm cả văn hoá Jean Cazeneuve cũng cho là như vậy Bằng chứng là
Trang 35tác phẩm nổi tiếng bằng tiếng Anh của R Benedict có nhan đề Patterns ofculture (Những khuôn mẫu văn hoá) đã được dịch sang tiếng Pháp làEchantillon de civilisation (Những khuôn mẫu văn minh) Cuốn sách nổi tiếngcủa E Tylor Primitive culture (Văn hoá nguyên thuỷ) khi sang tiếng Pháp cũngmang tên Civilisation Primitive (Văn minh nguyên thuỷ) [Jean Cazeneuve,2000: 36 -37],
Thuật ngữ “văn minh” được bắt nguồn từ tiếng La tinh civilis và xuấthiện ở Pháp vào năm 1766, nó được dùng để chỉ toàn bộ những hoạt độngcủa con người đã thoát ra khỏi tình trạng nguyên thuỷ man dã và thô thiển,còn thuật ngữ “văn hoá” thì bị thu hẹp nghĩa, nó chỉ là “sự vun trồng trí tuệ”của cá nhân mà thôi Một cuốn từ điển Hàn lâm, xuất bản năm 1762 đã địnhnghĩa: văn hoá “tức là nói về sự chăm sóc tới các nghệ thuật của tinh thần”
Durand và Weil cho rằng, quan niệm về văn hoá và văn minh ở Phápkhông phải hoàn toàn vô can đối với các nghiên cứu xã hội học Các tác giảnày đã đưa ra hai trường hợp để minh chứng Trường hợp thứ nhất, là Niêngiám xã hội học (L’Annee sociologique), trong đó không tính Xã hội học đạicương, thì các chuyên ngành được thừa nhận bao gồm: Xã hội học tôn giáo,
Xã hội học đạo đức và pháp luật, Xã hội học tội phạm, Xã hội học kinh tế, Xãhội học hình thái xã hội Ngoài ra, trong Niên giám còn có một mục “linh tinh”
mà ở đấy Dân số học được xếp xen kẽ với Xã hội học thẩm mỹ Đánh giá vềđiều này, M Mauss đã phải nói “rất lấy làm tiếc là ngành học sau cùng nàykhông được phong phú lắm”
Trường hợp thứ hai được viện dẫn là một tác giả - nhà xã hội họcGeorges Gurvitch (1894 - 1965), giáo sư Đại học Sorbonne, người sáng lậpTrung tâm nghiên cứu Xã hội học 1946) G Gurvitch có hai công trình tập hợpcác bài viết được đánh giá cao là Xã hội học của thế kỷ XX (1947) và Chuyênkhảo về Xã hội học (1958) Ở công trình đầu không có bài nào chuyên bàn về
Xã hội học văn hoá Công trình sau có một đề mục có ý nghĩa là Xã hội học
về các công trình văn minh, bao gồm các bài viết về tôn giáo, tri thức, đạođức, pháp luật, tội phạm Phần cuối của chuyên khảo này có một mục, trong
Trang 36đó các tiểu mục được xếp một cách khá lộn xộn, là Xã hội học tuổi thơ, Xã hộihọc ngôn ngữ, Xã hội học văn hoá, Xã hội học âm nhạc, v.v
Từ thực tế trên, Durand và Weil khẳng định, việc thay thế hệ thống cáccông trình về “văn minh” vào chỗ hệ thống của “văn hoá” không phải là sựthay đổi tên gọi một cách đơn giản Trai lại, điều đó “chứng tỏ khá rõ tính chấtbền vững của các truyền thống và sự khó khăn trong việc định nghĩa mộtngành Xã hội học có tính tự chủ về văn hoá” [Jean - Pieree Durand và cộng
sự, 1997: 619] Sau này, Mathieu Béra và Yvon Lamy trong cuốn Sociologie
de la culture cũng thừa nhận như vậy
Truyền thống Đức
Được các nhà sử học vay mượn từ Pháp, song sang đến Đức kháiniệm “văn hoá” không còn hàm nghĩa là “sự phát triển trí tuệ cá nhân” nữa, nóđược dùng để chỉ sự tiến bộ của một tập thể, trong đó nhấn mạnh đến nhữngkhác biệt dân tộc, những đặc thù của nhóm Các học giả Đức quan niệm từvăn minh chủ yếu nói về những công trình vật chất, trong khi đó văn hoá làcác phẩm chất, đạo lý và những gì chân chính nhất Nghĩa là, trong một mức
độ nào đó thì văn minh đối lập với văn hoá, tức là đối lập với những gì pháttriển tự nhiên nhất của con người Đỉnh cao trong sự đối lập giữa văn hoá vàvăn minh ở quốc gia này là các quan điểm của Oswald Spengler mà chúng tôi
đã trình bày ở mục “văn hoá và văn minh” thuộc chương I Ở đây chỉ nói thêm
là sau Spengler, trong Truyền thống Đức, sự đối lập giữa văn hoá và vănminh vẫn được tiếp tục nối dài sang thế kỷ XX, mà tiêu biểu nhất là các côngtrình của Ferdinand Tonnies và Alfred Weber
Truyền thống Anglo - Saxons
Chịu ảnh hưởng sâu sắc cách định nghĩa của E Tylor, thuật ngữ “vănhoá” ở các xứ sở này được mở rộng đến toàn bộ các thiết chế, các sự kiện vàhiện tượng xã hội Ở đây hoàn toàn không có sự phân biệt giữa văn hoá vàvăn minh, hai khái niệm này dường như đã hoà nhập làm một Các nhànghiên cứu quan niệm văn hoá hay văn minh - đó là một môi trường mà trong
đó cá nhân con người có thể phát triển Từ đó khái niệm văn hoá thường
Trang 37được sử dụng dưới dạng số nhiều, tức là nói tới các nền văn hoá khác nhau.Nhưng trong bối cảnh của kiểu quan niệm rất rộng rãi và mềm dẻo đó - cũngtheo lời của Durand và Weil - ngành Nhân học văn hoá đã phát triển rất mạnh
và có xu hướng bao choán lấy tất cả và điều này “ngăn cản sự trỗi lên củamột ngành Xã hội học văn hoá theo nghĩa hẹp của từ” [Durand và cộng sự,1997: 620]
Ở Mỹ, với tư cách là một lý thuyết gia hệ thống, Talcott Parsons đã cónhững đóng góp quan trọng cho khái niệm văn hoá Với những nghiên cứucủa ông về sự phát triển của thế giới Âu Mỹ, người ta có được những kết quảquan trọng để hiểu sâu hơn về khái niệm này Cùng với Parsons, Luckmannlại quan niệm về văn hoá dưới tiêu đề mà trong đó phần là "ngữ nghĩa", phần
là “mã” và “phương diện thông tin”, và dưới góc độ lý thuyết hệ thống cái vănhoá có xu hướng được trừu tượng hoá thành những cơ chế tách khỏi đờisống hành động của con người
Trong khi đó, cũng ở Mỹ, thuyết tương tác biểu trưng lại nhằm vàophương diện bên trong của văn hoá, của thực tế hành động Với mục đíchgiải thích phương pháp luận, lý thuyết này khẳng định các phương phápkhách quan chủ nghĩa và định lượng, là có lợi cho một nghiên cứu xã hội địnhtính tinh vi hơn Nó cũng có tầm quan trọng đối với Xã hội học văn hoá về mặt
lý luận, đặc biệt là khi nó xuất phát từ hành động - tức là tương tác xã hộitrung chuyển biểu tượng, định hướng nghĩa và giải nghĩa, và chỉ ra rằng thực
tế hành động được “dàn dựng” như là một “vở kịch” mang đầy “kịch tính” hay
là có “tính biên kịch” [G Endruweil và cộng sự, 2002: 854],
Truyền thống Nga
Giống như các nước Tây Âu, ở Nga tình hình cũng không có gì sángsủa hơn Nhà xã hội học Nga là L.G Ionin cho biết: mãi tới giữa thế kỷ XIX(năm 1845) từ “văn hoá” mới được du nhập vào Nga qua cuốn Từ điển thuậtngữ nước ngoài bỏ túi của N Kirilov, nhưng vẫn chưa được phổ cập Khảosát trước tác của các nhà văn kiêm tư tưởng gia nổi tiếng như N Dobroliubov(1836 - 1861), N Chemychesky (1828 - 1889), D Pisarev (1840 - 1868) trong
Trang 38cùng thời gian ấy người ta chưa thấy có từ văn hoá Tới cuối thế kỷ XIX, từnày mới được sử dụng rộng rãi ở Nga với hàm nghĩa rất rộng: sự canh tác,giáo dục trí tuệ và đạo đức, sự phổ biến, thậm chí là sự chăm nom hay chếbiến, v.v
Do quan niệm về văn hoá một cách đa nghĩa như thế cho nên - cũngtheo Ionin - đến nay ở Nga vẫn chưa tạo dựng được một khoa Xã hội học vănhoá theo đúng nghĩa chặt chẽ của cụm từ này Ông cho biết, ở Nga chuyênngành mà chúng ta đang bàn vẫn được gọi là Sociologija Kultury (Xã hội học
về văn hoá), chứ chưa phải là Kulturnaja socioligija (Xã hội học văn hoá),tương tự như Kultnrnaja anthropologija - Nhân học văn hoá, hay Kulturnyjanaljz - Phân tích văn hoá [L.G Jonin, 1996: 16] Ở Pháp, nó cũng được gọi
là Sociologie de la culture (Xã hội học về văn hoá), trong khi các chuyênngành khác được gọi một cách trực tiếp hơn như Sociologie urbaine (Xã hộihọc đô thị), Sociologie rurale (Xã hội học nông thôn), Sociologie religieuse (Xãhội học tôn giáo), Sociologie criminelle (Xã hội học tội phạm), v.v [Jean -Pierre Durand và cộng sự, 1997: 399; 415; và Encyclopedia universalisFrance, 1990: 947 - 949]
2 Các tác giả từ khai sáng đến hiện đại
Ngay từ khi Xã hội học mới ra đời, những người sáng lập ra nó đã đặcbiệt chú ý tới văn hoá cũng như các thành tố của văn hoá như tôn giáo, đạođức, giáo dục với tư cách là đối tượng nghiên cứu của Xã hội học Trướchết, đó là A Comte (1798 - 1857) - người được coi là ông tổ của khoa họcnày Mặc dù quan niệm đời sống xã hội như một quá trình phát triển tự nhiên
và hợp quy luật khách quan, song Comte cũng không quên nhắc nhở đó làthể thống nhất về tinh thần, hay đúng hơn là thống nhất về văn hoá Do đó,ông cho rằng Xã hội học trước hết phải tập trung phân tích các quy luật vậnđộng và phát triển của văn hoá, cũng như sự tác động của văn hoá tới sự vậnhành và phát triển của xã hội
Không chỉ kêu gọi, bản thân Comte cũng nghiên cứu sự tiến bộ về mặtvăn hoá của loài người qua ba hình thức cơ bản là thần học, siêu hình học và
Trang 39khoa học Theo ông, ở thời kỳ thần học, con người gán sự sống cho các đốitượng bên ngoài, cho thần linh hoặc Thiên chúa: thời kỳ siêu hình học - đó làthời kỳ của triết học tự nhiên; còn thời kỳ khoa học - là sự phổ biến của khoahọc thực chứng, sự phát triển của thủ công nghiệp và công nghiệp, về thựcchất, quy luật ba thời kỳ này thể hiện sự tiến bộ của các hình thức tư duy củacon người, hay nói theo lời của Comte, là sự tiến bộ của lý tính và thế giớitinh thần của con người, tức là của văn hoá.
Cùng với A Comte, Max Weber đã bỏ nhiều tâm sức cho sự hình thànhcủa Xã hội học văn hoá Trong các nghiên cứu của mình, nhất là ở công trìnhnổi tiếng Đạo lý Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản, với khái niệm
“thấu hiểu”, ông đã phân tích một cách thấu đáo về sự thâm nhập lẫn nhaugiữa các yếu tố văn hoá và cấu trúc xã hội, qua đó chỉ ra những ảnh hưởng tolớn của tư tưởng tôn giáo đến sự biến đổi và phát triển của xã hội Xã hội họcthấu hiểu của ông là cố gắng riêng để bao quát được các mối liên hệ, quan hệ
về nghĩa và sự thể hiện nghĩa Nói ngắn gọn là, trong thực tế các cấu trúc,các thể chế xã hội luôn có quan hệ gắn bó với nhau và các thể chế xã hội,trng đó có thể chế kinh tế, luôn nhận được những nguồn lực thúc đẩy bởicách sống hướng theo “các ý tưởng văn hoá” Trong cuốn sách này, chúng tôidành hẳn tiết thứ ba của chương III để phân tích quan niệm về Xã hội học vănhoá của ông Ở đây, chỉ nhấn mạnh là, với Max Weber, Xã hội học chính làmột cách tiếp cận nghiên cứu văn hoá và điều này vẫn còn ảnh hưởng mạnh
mẽ cho tới ngày nay
Một đại biểu khác cũng không kém phần quan trọng trong việc tạo ranhững tiền đề cho sự hình thành Xã hội học văn hoá, là Karl Marx Marx coicác phương diện văn hoá tinh thần của con người (như những quan điểm vềchính trị, pháp luật, đạo đức, mỹ học, tôn giáo, triết học, v.v ) với tư cách là
“thượng - kiến trúc”, là phụ thuộc vào “hạ tầng cơ sở”, tức phụ thuộc vào toàn
bộ những quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất tạo thành cơ cấu kinh tếcủa xã hội cố nhiên là thượng tầng kiến trúc - theo quan điểm của chủ nghĩaMarx - không phải là một cái gì thụ động, tiêu cực Là sản phẩm của hạ tầng
Trang 40cơ sở, nhưng thượng tầng kiến trúc có tính độc lập tương đối, do đó cũng cóvai trò nhất định trong quá trình kinh tế - xã hội, cụ thể là nó tác động tích cựchoặc tiêu cực đến mọi mặt của quá trình đó, kể cả đối với nền kinh tế đã sảnsinh ra nó.
Quan niệm về mối quan hệ biện chứng giữa thượng tầng kiến trúc và
hạ tầng cơ sở của K Marx, nhất là luận điểm tính độc lập tương đối củathượng tầng kiến trúc - tức là những xung lực của ý thức, hay là tổng hợp củacác yếu tố văn hoá - đối với hạ tầng cơ sở được đánh giá như “một đại lượngquan trọng”, có ý nghĩa phương pháp luận cho việc giải quyết mối quan hệgiữa văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, cũng như sự tác động của vănhoá đến cấu trúc xã hội và sự biến đổi của nó
Nói đến nhũng nguồn gốc làm hình thành Xã hội học văn hoá cũngkhông thể không nhắc tới sự đóng góp của Nhân học triết học Đức (với MaxScheler, Helmuth Plessner, Arnold Gehlen) và Nhân học học văn hoá Mỹ (vớiFranz Boas, Alfred L Kroeber, Robert H Lowie, Margret Mead, RuthBenedict) Dù xuất phát từ các nguyên lý của chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệmĐức hay từ các nghiên cứu thực nghiệm về thể chất, xã hội và linh hồn củacon người theo kiểu Mỹ, thì sự đóng góp cuối cùng của họ là ở chỗ, họ đãthống nhất cho rằng con người “về bản chất là một thực thể văn hoá” và vănhoá là môi trường nuôi dưỡng và “dẫn dắt” con người Nếu quan điểm củacác nhà nhân học văn hoá Mỹ cho rằng con người nhân tính được quy địnhbởi các tham số của văn hoá cho tới tận những cảm xúc sâu thẳm nhất nhưcác giấc mơ, thì các nhà lý luận Đức cũng đóng góp một cách nhìn về sự hìnhthành văn hoá, rằng linh hồn văn hoá được tạo ra một cách sống động, sinhvật học [G Endruweil và cộng sự, 2002: 852 - 853],
Ngoài các tác giả kể trên, kể từ những người khai sáng đến nay, nhìnchung đội ngũ của những người nghiên cứu Xã hội học vẫn không ngừng đềcập đến vấn đề văn hoá Lấy ngẫu nhiên 20 tác giả đầu tiên trong cuốn sáchCác nhà xã hội học thế kỉ XX đã thấy đến non một nửa (8 người) có cácnghiên cứu khác nhau về văn hoá: Alexander Jeffrey (1947) với Nghiên cứu