Nhận thức rõ được mối nguy hại của CĐHH/dioxin và các chất độc tồn lưu sau chiến tranh đối với môi trường và con người, từ những năm 1970 các nghiên cứu về CĐHH/dioxin tại miền nam Việt
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới:
PGS.TS Mai Quỳnh Nam, người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản cũng như đóng góp những ý kiến quý báu
giúp tôi hoàn thành bản Luận văn này
Các thầy, cô giáo trong khoa Xã hội học đã tạo mọi điều kiện tốt nhất
để tôi có thể tham gia học tập và hoàn thành tốt Luận văn Thạc sỹ
Ban lãnh đạo Văn phòng Ban chỉ đạo 33, Bộ Tài Nguyên môi trường
đã đồng ý cho tôi sử dụng số liệu của cuộc Điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội và môi trường tại các điểm nóng về nhiễm chất độc hóa học/Dioxin Đề xuất giải pháp khắc phục làm cơ sở nghiên cứu cho Luận
văn
TS Bác sỹ Vũ Chiến Thắng, Phó Chánh văn phòng Ban chỉ đạo 33, Tổng biên tập Tạp chí Độc học; TS Vũ Anh, Hội Y tế công cộng; Bác sỹ Trần Hữu Hậu, trưởng phòng Y tế thành phố Biên Hòa và người dân ở phường Trung Dũng và phường Tân Phong đã cung cấp thông tin, số liệu trong quá trình thực hiện Luận văn
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người đã luôn quan tâm, động viên, khích lệ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này
Hà nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU, HỘP 5
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do lựa chọn đề tài 7
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 9
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 13
3.1 Ý nghĩa khoa học 13
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 14
4 Mục đích nghiên cứu 14
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 14
5.1 Đối tượng 14
5.2 Khách thể 14
5.3 Phạm vi 14
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 15
6.1 Câu hỏi 15
7 Phương pháp nghiên cứu 16
7.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp 16
7.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 16
8 Khung phân tích 17
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 18
1.1 Các khái niệm 18
1.1.1 Dư luận xã hội 18
1.1.2 Chất độc hóa học/dioxin 20
1.1.3 Nạn nhân chất độc màu da cam 22
1.1.4 Truyền thông 23
1.1.5 Truyền thông đại chúng 24
1.2 Lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 25
Trang 31.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
1.3.1 Thành phố Biên Hòa 29
1.3.2 Phường Trung Dũng 31
1.3.3 Phường Tân Phong 32
Chương 2 THỰC TRẠNG NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC VÀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ CHẤT ĐỘC HÓA HỌC/DIOXIN TẠI BIÊN HÒA 34
2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường 34
2.2 Số lượng nạn nhân chất độc hóa học/dioxin 38
2.3 Hoạt động truyền thông chất độc hóa học/dioxin 41
2.3.1 Hoạt động truyền thông về chất độc hóa học/dioxin qua các phương tiện truyền thông đại chúng 42
2.1.2 Hoạt động truyền thông trực tiếp về chất độc hóa học/dioxin 44
2.3.3 Nội dung thông điệp người dân thường được nhận liên quan chất độc hóa học/dioxin 47
Chương 3 ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC/DIOXIN TẠI BIÊN HÒA 50
3.1 Đánh giá của người dân về thực trạng nhiễm chất độc hóa học/dioxin 50
3.2 Dư luận xã hội của người dân về các con đường phơi nhiễm dioxin trong môi trường vào cơ thể con người 53
3.3 Dư luận xã hội về ảnh hưởng của chất độc hóa học/Dioxin đời với đời sống của nạn nhân chất độc da cam 58
3.3.1 Đời sống vật chất của nạn nhân chất độc da cam 58
3.3.2 Đời sống tinh thần của nạn nhân chất độc da cam 63
3.4 Dư luận xã hội về vai trò của chính quyền địa phương và các đoàn thể xã hội trong việc trợ giúp các gia đình nạn nhân chất độc dioxin 67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 82
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ban chỉ đạo 33: Ban chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc
hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam
CĐHH/Dioxin: Chất độc hóa học/Dioxin
KAP: Kiến thức, thái độ và thực hành
NNCDDC: Nạn nhân chất độc da cam
TCDD: 2,3,7,8 – Tetrachlorodibenzo-dioxin
TEQ: Nồng độ độc dioxin tương đương tổng số (Total
dioxin toxic equeivalence) (tính độc hại tổng thể của một hỗn hợp được tính tương đương được quy cho TCDD nguyên chất)
UNDP: Chương trình phát triển liên hợp quốc
Ủy ban 10-80: Ủy ban quốc gia điều tra các hậu quả chiến tranh
hóa học của Mỹ ở Việt Nam
Trang 5DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU, HỘP
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Máy bay quân đội Mỹ đang rải CĐHH xuống chiến
trường miền nam Việt Nam
34
DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Dữ liệu phân tích dioxin tại Biên Hòa được thực
hiện từ năm 1995 tới năm 2010
36
Bảng 2.2: Mức độ theo dõi các phương tiện truyền thông đại
chúng
42
Bảng 2.3: Các nguồn cung cấp thông tin về CĐHH/dioxin
trong các hoạt động truyền thông trực tiếp
45
Bảng 2.4: Mức độ tiếp nhận các nội dung về dioxin 47
Bảng 3.1: Đánh giá của người dân về sự quan tâm tới những
tại hai phường Tân Phong và Trung Dũng và số nạn nhân
của mẫu nghiên cứu
40
Biểu 2.2: Nhận thông tin về dioxin qua các phương tiện
thông tin đại chúng
43
Biểu 2.3: Bàn bạc dioxin tại các cuộc họp tổ dân phố 46
Biểu 3.1: Đánh giá của người dân về việc nhiễm dioxin tại địa 50
Trang 6bàn sinh sống
Biểu 3.2: Đánh giá của người dân về sự tồn tại của dioxin
trong môi trường (năm 2007, 2009)
53
Biểu 3.3: Đánh giá của người dân về các con đường xâm
nhập Dioxin (năm 2007, 2009)
54
Biểu 3.4 : Đánh giá của người dân về các biện pháp hạn chế
tác hại của dioxin
55
Biểu 3.5: Đánh giá của người dân đối với thực phẩm 56
Biểu 3.7: Mức độ đến cơ sở y tế đề chạy chữa cho người bị
nhiễm chất độc hóa học/dioxin
71
Biểu 3.8: Đánh giá của người dân về các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sống của nạn nhân chất độc dioxin
72
DANH MỤC HỘP Hộp 3.1: Nạn nhân chất độc da cam gặp khó khăn trong việc
đề xuất được hưởng trợ cấp
63
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Chiến dịch dùng hóa chất trong chiến tranh ở Việt Nam của quân đội
Mỹ là một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất thế giới Từ năm 1961 đến năm
1971, quân đội Mỹ đã sử dụng gần 80 triệu lít chất độc hóa học ở miền nam Việt Nam Những chất độc hóa học đó bao gồm chất da cam, chất xanh da trời (chứa cyanide để hủy diệt các cánh đồng lúa), chất xanh lá cây, chất trắng, chất tím, chất hồng tùy thuộc vào loại sinh vật mà nó được chế tạo để hủy diệt Trong đó, độc hại nhất là chất độc da cam/dioxin (2,3,7,8 – TCDD) Theo Stellman (2003) và NAS (2003) tổng số lượng Dioxin mà Việt Nam phải hứng chịu là 366 kg và số người bị phơi nhiễm trong khoảng thời gian chiến tranh vào khoảng 2,1 – 4,8 triệu người
Sân bay Biên Hòa là một căn cứ chính của chiến dịch Ranch Hand tại miền Nam Việt Nam Các nghiên cứu trước đây cho thấy mức độ ô nhiễm dioxin tại Biên Hòa là rất cao (Dự án Z1, Bộ Quốc Phòng, Công ty Hatfield
và Ban 10-80, 2007) Tại các khu vực trước đây là bồn chứa, chất đôc hóa học/dioxin đã thấm sâu vào đất và có khả năng ảnh hưởng đến mạch nước ngầm Từ khu vực bồn chứa, việc nạp chất độc lên máy bay và việc rửa máy bay sau khu phun rảỉ, chất độc hóa học/dioxin đã lan tỏa ra xung quanh theo địa hình và dòng nước chảy, gây ô nhiễm trên diện rộng, nhất là các hồ xung quanh mà trước đây người dân vẫn sử dụng cá, tôm đánh bắt được trong hồ làm thực phẩm và chăn thả gia súc, gia cầm Do đó dẫn đến khả năng phơi nhiễm của người dân sống ở khu vực phụ cận sân bay Biên Hòa là rất lớn Theo cục Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA), dường như không có mức độ phơi nhiễm dioxin nào được coi là an toàn Hàm lượng gây dioxin gây chết ở chuột là 0,0022mg/kg cân nặng, gây chết ở người là 0,1mg/kg cân nặng [21,tr.117]
Trang 8Nhận thức rõ được mối nguy hại của CĐHH/dioxin và các chất độc tồn lưu sau chiến tranh đối với môi trường và con người, từ những năm 1970 các nghiên cứu về CĐHH/dioxin tại miền nam Việt Nam đã bắt đầu được thực hiện Cho đến nay đã có rất nhiều dự án đã được tiến hành về điều tra, đánh giá sự tác động tồn lưu CĐHH/dioxin, ảnh hưởng của chất độc đến sức khỏe của người dân sống trong khu vực có điểm nóng; Nghiên cứu nhằm giảm thiểu ô nhiễm và tẩy độc; Đánh giá mức độ ô nhiễm dioxin,.v.v Các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của CĐHH/dioxin đối với sức khỏe của con người
đã cho thấy, những người mắc bệnh liên quan đến CĐHH/dioxin không chỉ là những người sống và trực tiếp chiến đấu tại chiến trường miền Nam mà nó tích tụ trong mô của họ và sau đó chuyển sang các thế hệ tiếp theo Không chỉ vậy, những người chuyển từ nơi khác đến sinh sống tại những khu vực có tồn lưu CĐHH/dioxin cao thì cũng có khả năng phơi nhiễm qua đường tiếp xúc
trực tiếp và qua đường ăn uống Báo cáo: “Điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội và môi trường tại các điểm nóng về nhiễm chất độc hóa học/dioxin, đề xuất giải pháp khắc phục” do Ban chỉ đạo 33 nghiên cứu
tại thành phố Biên Hòa năm 2008 đã chỉ ra rằng, trong số 10 gia đình có nạn nhân chất độc da cam thì chỉ có 1 hộ gia đình cư trú tại địa bàn vào thời điểm trước năm 1975 Có 7 hộ chuyển từ nơi khác đến địa bàn này trong thời gian
từ 1976 đến 1997 và có 2 hộ gia đình nạn nhân có thời gian cư trú tại khu vực này từ năm 1998 đến thời điểm nghiên cứu [3]
Trong các lĩnh vực nghiên cứu nói trên thì việc nghiên cứu về đánh giá của người dân của các khu vực bị ảnh hưởng CĐHH/dioxin nói chung và người dân thành phố Biên Hòa nói riêng về tác hại và cách phòng tránh phơi nhiễm CĐHH/dioxin còn rất hạn chế Cho tới thời điểm này, tại sân bay Biên Hòa phát hiện thêm nhiều điểm ô nhiễm mới với mức độ ô nhiễm vượt cao hơn gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép Việc ngăn chặn lan tỏa dioxin tại sân
Trang 9bay Biên Hòa ra môi trường xung quanh vẫn chưa được xử lý triệt để, do đó nghiên cứu về đánh giá của người dân thành phố Biên Hòa về CĐHH/dioxin trở nên đặc biệt cấp thiết Xuất phát từ nhu cầu đó chúng tôi tiến hành nghiên
cứu Dư luận xã hội về vấn đề nhiễm chất độc hóa học tại thành phố Biên Hòa (Nghiên cứu trường hợp tại phường Trung Dũng và phường Tân Phong) để tìm hiểu đánh giá của người dân mức độ ô nhiễm, con đường phơi
nhiễm dioxin và về đời sống của nạn nhân chất độc màu da cam Thông qua
hệ thống chức năng của dư luận xã hội, các kết quả nghiên cứu có thể là những gợi ý hữu ích trong việc nâng cao nhận thức của người dân về tình trạng nhiễm CĐHH/dioxin tại Biên Hòa
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chiến dịch rải chất diệt cỏ của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (Chiến dịch Rank Hand) là cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất, quy mô nhất và kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam đã phải hứng chịu một khối lượng dioxin khổng lồ trong một thời gian dài, liên tục, do đó Việt Nam phải gánh chịu hậu quả nặng nề về môi trường và sức khỏe con người sau chiến tranh Cố GS.Tôn Thất Tùng là nhà khoa học đầu tiên ở Việt Nam nêu lên vấn đề tác hại lâu dài của chất dioxin đối với sức khỏe của nhân dân Năm 1970, giáo sư Tôn Thất Tùng cùng với một phái đoàn khoa học của Việt tham dự hội nghị Orsay- Paris đã tố cáo chất độc hóa học, dioxin đã gây ra ung thư, đột biến gen dẫn tới dị tật bấm sinh và các tai biến sinh sản [21]
Các nghiên cứu về vấn đề ô nhiễm dioxin ở miền Nam Việt Nam đã được thực hiện từ những năm đầu 70 của thế kỷ 20 (Papke và cs, 2003) bắt đầu từ các nghiên cứu của Baughman và Meselson trong các năm 1973 -1974
Họ là người đầu tiên phân tích dioxin trong các mẫu cá, tôm lấy ở các sông ở miền nam Việt Nam [3]
Trang 10Ủy ban quốc gia điều tra các hậu quả của chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam được thành lập vào tháng 10 năm 1980, gọi tắt là Ủy ban 10-80 (nay là Ban 10-80) Uỷ ban 10 – 80 đã phối hợp cùng Công ty tư vấn môi trường Hatfield, Canada do cố Giáo sư Hoàng Đình Cầu lãnh đạo đã tiến hành nghiên cứu độ tồn lưu Dioxin ở khu vực ASo – ALưới thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và đề ra những giải pháp khắc phục ô nhiễm Dioxin cho nhân dân sống trong vùng Đồng thời, xây dựng các bản đồ băng rải chất độc hoá học do Mỹ
sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam Đây chính là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có quy mô về độ tồn lưu Dioxin ở Viêt Nam Công trình nghiên cứu đã có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao trong công tác khắc phục hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam
Năm 1999, Chính phủ Việt Nam đã ký quyết định thành lập Ban chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam (gọi tắt Ban chỉ đạo 33) thay thế Ủy ban 10-80 Từ năm 1999 -2005, Nhà nước đã tổ chức và chi kinh phí cho 22 đề tài Khoa học và công nghệ nhằm khắc phục hậu quả chất độc hóa học/Dioxin dùng trong chiến tranh Đây được gọi là Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh, gọi tắt là Chương trình 33 Chương trình 33 bao gồm 22 đề tài với tổng kinh phí
là 47 tỉ VNĐ (tương đương hơn 3 triệu USD) Các chương trình và đề tài nghiên cứu nói trên đã tiếp cận dưới góc độ y học, di truyền hoc, sinh hóa học
và các dự án khắc phục hậu quả chất độc trong chiến tranh đối với môi trường, các hệ sinh thái sức khỏe con người (Nguyễn Hữu Thụ, 2012) Điều đáng lưu ý là ở nước ra, nếu hậu quả về môi trường và sức khỏe con người do CĐHH/dioxin để lại đã và đang được nghiên cứu, làm sang tỏ thì hậu quả về tâm lý ở các nạn nhận vẫn chưa được quan tâm đúng mức Có thể nói, cho
Trang 11đến thời điểm hiện tại thì chưa có một đề tài khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống và chuyện sâu về các vấn đề sức khỏe tâm lý ở nạn nhận CĐHH/dioxin hay ảnh hưởng của các chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh đối với sức khỏe tâm lý của con người
Năm 2002, Trung tâm Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban tư tưởng Văn hóa trung ương đã tiến hành một cuộc thăm dò dư luận xã hội về Khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam Mục đích của cuộc thăm dò này là thu thập thông tin về quy mô và mức độ ảnh hưởng của chất độc mầu da cam ở 2000 người được hỏi Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 98% người được hỏi biết về chất độc mầu da cam, 94% số người được hỏi trả lời là các nguyên nhân chính làm gia tăng các hiện tượng tai biến sinh sản, dị tật bẩm sinh và các loại bệnh nan y là do chất độc hóa học, 95% người trả lời biết về đối tượng dễ có nguy cơ nhiễm chất độ hóa học là những người trong thời gian chiến tranh sống và chiến đấu ở những vùng bị Mỹ rải chất độc hóa học [12] Đây là một trong số ít các nghiên cứu
về khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam từ hướng tiếp cận Dư luận xã hội
Năm 2003, một trong những cuốn sách đầu tiên về chất độc da cam của tác giả Lê Kế Sơn đã làm rõ nhiều vấn đề quan trọng: Lịch sử chiến tranh da cam ở Việt Nam, ảnh hưởng của chất độc da cam đến môi sinh và sức khỏe con người, tình hình khắc phục hậu quả của chất da cam ở Việt Nam,v.v
Năm 2006, Lê Cao Đài công bố kết quả nghiên cứu “Chất da cam trong chiến tranh Việt Nam: tình hình và hậu quả” Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Lê Quang Bách, Đoàn Huy Hậu, Hoàng Lương (2006) làm rõ mối liên
hệ rõ ràng giữa CĐHH/dioxin và một số bệnh tật cơ thể
Năm 2008, Văn phòng Ban chỉ đạo 33 đã phối hợp với Viện Nghiên cứu và Phát triển bền vững vùng Bắc Bộ thuộc Viện Khoa học xã hội Việt
Trang 12Nam và Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai tiến hành Điều tra, khảo sát
và đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội và môi trường tại các điểm nóng về nhiễm chất độc hóa học/Dioxin và đề xuất giải pháp khắc phục Báo cáo đã chỉ ra rằng: “Nhận thức về tác hại và khả năng phòng chống phơi nhiễm dioxin, hành vi để hạn chế ảnh hưởng dioxin còn là một khoảng trống trong nhận thức và hành vi của người dân, kể cả cán bộ các ban ngành liên quan, cán bộ chính quyền Họ chỉ biết mình đang sống trong môi trường ô nhiễm dioxin do những thông báo trên phương tiện truyền thông nhưng không có nguồn thông tin cụ thể cũng như chưa được cung cấp kiến thức để có thể
“sống chung” với dioxin như thế nào” [3] Như vậy, có thể thấy rằng cả người dân, chính quyền và đoàn thể ở địa phương cũng chưa hiểu rõ về mức độ ô nhiễm, cách phòng chống phơi nhiễm và mối nguy hại của Dioxin tới sức khỏe con người (sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần)
Hội Y tế công cộng đã tiến hành nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành
vi (KAP) của người dân thành phố Biên Hòa trước (năm 2007) và sau khi tác động (năm 2009) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, kiến thức của người dân về
sự tồn tại dioxin trong môi trường và con đường xâm nhập dioxin từ môi trường vào cơ thể đã được nâng lên đáng kể
Báo cáo “Đánh giá mức độ ô nhiễm dioxin trong môi trường và sức khỏe con người tại sân bay Biên Hòa và vùng phụ cận” (2011) do Văn phòng ban chỉ đạo 33 và công ty Hatfield đã trình bày những kết quả, kết luận của ba nghiên cứu gần đây do Hatfield và Chính phủ Việt Nam thực hiện (1.Ủy ban 10-80 năm 2004 -2005, 2 Trung tâm nhiệt đới Việt Nga năm 2008, Văn phòng 33 chịu trách nhiệm nghiên cứu hiện tại) nhằm xác định phạm vi và mức độ ô nhiễm dioxin trong môi trường và trong nhóm dân cư sống trong và xung quanh khu vực sân bay Biên Hòa, Việt Nam Báo cáo đã chỉ ra rằng:
“Kể từ năm 2010, dioxin vẫn tiếp tục gây ô nhiễm cho hệ sinh thái nước, môi
Trang 13trường và chuỗi thức ăn Những người bị ảnh hưởng nhất khi phơi nhiễm trực tiếp với dioxin từ các điểm nóng trong sân bay Biên Hòa là những người đánh bắt cá và canh tác thủy canh và nông nghiệp ở Hồ Z1, và các hồ Paer Ivy, và các hồ ao ở hữu tư nhân nằm trong sân bay (và các vùng nước mở rộng của các thủy vực trên) Những người khác có thể bị ảnh hưởng do ăn cá, các động vật thủy sinh được đánh bắt từ Hồ trong sân bay, mặc dù con số chính xác vẫn chưa được biết” [5]
Tóm lại, các tài liệu nghiên cứu về vấn đề dioxin nói chung và vấn đề nghiên cứu dioxin ở Biên Hòa nói riêng đã cung cấp cho chúng tôi một bức tranh tổng thể về nguyên nhân, thực trạng và hậu quả mà dioxin tác động lên môi trường sống và con người ở Biên Hòa Nhưng người dân sống ở khu vực phơi nhiễm cao chưa chủ động phòng/tránh phơi nhiễm dioxin Và nếu không
có biện pháp can thiệp kịp thời thì dioxin vẫn còn tiếp tục gây ô nhiễm cho môi trường và ảnh hưởng sức khỏe của con người
Xuất phát từ sự thiếu hụt nghiên cứu về Dư luận xã hội của người dân
về tình trạng nhiễm chất độc hóa học/Dioxin tại khu vực họ đang sinh sống, đồng thời với mong muốn làm sáng tỏ hơn kết luận: “Nhận thức về tác hại và khả năng phòng chống phơi nhiễm dioxin, hành vi để hạn chế ảnh hưởng dioxin còn là một khoảng trống trong nhận thức và hành vi của người dân, kể
cả cán bộ các ban ngành liên quan, cán bộ chính quyền” trong báo cáo “Điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội và môi trường tại các điểm nóng về nhiễm chất độc hóa học/dioxin Đề xuất giải pháp khắc phục” chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học ở chỗ nó cho thấy khả năng vận dụng lý thuyết của dư luận xã hội để tìm hiểu sự đánh giá của người về vấn đề
Trang 14nhiễm chất độc hóa và các tác động xã hội, môi trường ảnh hưởng đến đời sống của người dân sống trong khu vực bị ô nhiễm
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua tìm hiểu dư luận xã hội của người dân thành phố Biên Hòa, có thể biết được thực trạng nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm dioxin và hiệu quả truyền thông Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao nhận thức của người dân về cách phòng tránh phơi nhiễm dioxin
4 Mục đích nghiên cứu
- Hiệu quả hoạt động cung cấp thông tin cho người dân của chính quyền địa phương, của các tổ chức, đoàn thể xã hội đối với vấn đề nhiễm CĐHH/dioxin tại địa phương
- Nghiên cứu những đánh giá của người dân về mức độ và các con đường xâm nhập dioxin
- Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của CĐHH/dioxin đến đời sống của họ và những gia đình có nạn nhân chất độc màu da cam
- Đề xuất các chính sách nhằm nâng cao nhận thức cho người dân để
họ phòng tránh phơi nhiễm một cách hiệu quả
5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
Trang 15- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại phường Trung Dũng và phường Tân Phong của thành phố Biên Hòa Đây là 2 phường
có vị trí nằm gần với sân bay Biên Hòa và đã được xác định là địa bàn nằm trong vùng nhiễm chất độc hóa học của thành phố Biên Hòa
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
sâu và bị hạn chế bởi nó liên quan đến lợi ích của địa phương
Phần lớn người dân biết về khu vực mình đang sinh sống có nhiễm chất độc hóa học, tuy nhiên mức độ hiểu biết là không đồng nhất Người dân biết
sự xâm nhập dioxin từ môi trường vào cơ thể con người thông qua đường ăn uống
Tình trạng ô nhiễm dioxin tại Biên Hòa sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người dân nơi đây, đặc biệt các gia đình có nạn nhất chất độc da cam là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất
Trang 167 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Luận văn này được thực hiện từ các nguồn dữ liệu sau
7.1.1 Kết quả nghiên cứu của đề tài: “Điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội và môi trường tại các điểm móng về nhiễm chất độc hóa học/Dioxin, đề xuất giải pháp khắc phục” do Văn phòng Ban chỉ đạo 33, Bộ
Tài Nguyên và Môi trường tiến hành năm 2007 – 2008
Kết quả xử lý số liệu 400 bảng hỏi của hộ gia đình tại phường Trung Dũng và phường Tân Phong
Đối tượng điều tra là đại diện hộ gia đình có độ tuổi từ 25 - 65 tuổi
7.1.2 Sử dụng kết quả nghiên cứu của dự án: “Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của người dân phường Trung Dũng và Tân Phong, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về dự phòng phơi nhiễm Dioxin qua thực phẩm, sau 1 năm can thiệp” Khảo sát sau can thiệp 2009 được tiến hành với
426 người trong độ tuổi 16 – 60 tuổi
7.1.3 Sử dụng một số số liệu thống kê, báo cáo của địa phương và các tài liệu
có sẵn liên quan đến chủ đề nghiên cứu: Ấn phẩm, tài liệu hội thảo, luận văn Thạc sỹ và các tư liệu về vấn đề nhiễm chất độc hóa học đã công bố trên các phương tiện truyền thông đại chúng, v.v
7.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Chúng tôi đã tiến hành thêm các phỏng vấn sâu để bổ sung cho nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận văn này Chúng tôi tiến hành 5 phỏng vấn sâu vào tháng 8 năm 2013 và 4 phỏng vấn sâu vào tháng 9 năm
2014 Cụ thể như sau:
PVS lãnh đạo Phòng y tế: 1 người
PVS cán bộ trạm y tế phường/Dân số: 2 người (1người/địa điểm)
Trang 178 Khung phân tích
ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG
TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ NHIỄM
- Đường ăn uống
- Đường hô hấp
- Da, niêm mạc
- Sữa mẹ
Ảnh hưởng đến đời sống vật chất đời sống tinh thần Ảnh hưởng đến
Trang 18Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
nó vào năm 1744 theo nghĩa hiện đại khi ông là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp
Dư luận xã hội (công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia) trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến Phần đông các nhà nghiên cứu
dư luận xã hội Liên – xô (cũ) định nghĩa dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội với các vấn đề họ quan tâm
Theo B.K.Paderin: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu
là các ý kiến thể hiện sự phán xét, đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn, nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ” [25]
Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ đưa ra nhận định tương tự Ví dụ “Công luận
là sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai” (Young, 1923) Nhà nghiên cứu Mỹ khác lại định nghĩa: “Công luận là kết quả tổng hợp các ý kiến trả lời của mọi người đối với các câu hỏi nhất định, dưới điều kiện của cuộc phỏng vấn” (Warner, 1939) Có những định nghĩa rất đơn giản, nhưng rất phổ biến trong giới nghiên cứu Mỹ: “Công luận là các tập hợp ý
Trang 19kiến cá nhân ở bất kỳ nơi đâu mà người người nghiên cứu có thể tìm được”
(Childs, 1956) [25]
Như vậy, có thể thấy rằng có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về dư luận xã hội Tuy nhiên có thể tựu trung lại, dư luận xã hội là ý kiến có tính chất đánh giá về các vấn đề mà nhóm công chúng cảm thấy có ý nghĩa với họ hoặc là vấn đề đó động chạm đến lợi ích chung, các giá trị chung
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa dư luận xã hội
như sau: “Dư luận xã hội là sự thể hiện tâm trạng xã hội, phản ánh sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại”[29]
Quan điểm này cho thấy, sự phản ánh trong dư luận xã hội trước hết có tính chất đánh giá, từ sự đánh giá các hiện tượng xã hội để xác định hành vi ứng xử của con người Tính đặc thù của dư luận xã hội thể hiện ở chỗ: nó không chỉ thuần túy tinh thần mà nó là cấu trúc tinh thần – thực tế Tính đặc thù này của dư luận xã hội chỉ ra mức độ xem xét sự thể hiện của dư luận xã hội Dư luận xã hội chín chắn phải được thể hiện đầy đủ ở mức độ lời nói và ở mức độ hành vi Vì vậy, dư luận xã hội được xem là một hiện tượng tâm lý xã hội, là cầu nói giữa ý thức xã hội và hành động xã hội
Khách thể dƣ luận xã hội
Khách thể của dư luận xã hội có thể là những sự kiện hết sức khác nhau trong đời sống xã hội Lợi ích chung được xem là tiêu chuẩn hàng đầu để xác định khách thể của dư luận xã hội Cần nhận thấy rằng, trong mối quan hệ với
ý thức, lợi ích có thể tồn tại ở ngoài dư luận xã hội, chẳng hạn, lợi ích được phản ánh dưới dạng các học thuyết, các cương lĩnh, nhưng chính bản thân dư luận xã hội lại chỉ tồn tại trên cơ sở lợi ích chung Lợi ích chung là cơ sở để xuất hiện các tranh luận tập thể Dấu hiện thứ hai để xem xét khách thể dư
Trang 20luận xã hội là tranh luận, những tranh luận này gắn với lợi ích xã hội được mọi người cũng có nhu cầu quan tâm
Chủ thể dƣ luận xã hội
Chủ thể dư luận xã hội là toàn thể xã hội nói chung, là quần chúng nhân dân, là các tổ chức đảng hoặc các tổ chức đoàn thể xã hội Lập trường giai cấp được xem là cơ sở để xác định chủ thể của DLXH, vì giai cấp là vật mang của
dư luận xã hội được hình thành với những lợi ích và mục đích giai cấp Do
đó, khi xem xét DLXH, người ta không chỉ đặt nó trong cấu trúc ý thức xã hội nói chung, mà phải phân tích nó trong cấu trúc các quan hệ xã hội, vì bản chất của dư luận xã hội phản ánh vị thế xã hội trong sự tương tác với các cá nhân
và các nhóm xã hội được tạo nên bởi quan hệ xã hội và các lợi ích của họ [29]
1.1.2 Chất độc hóa học/dioxin
Chất độc hóa học dùng để chỉ các chất độc hóa học mà Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam trong chiến dịch Rank Hand Chất độc hóa học/dioxin là cụm từ chỉ các chất độc hóa học có chứa Dioxin như Poiclophenon và các chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam như da cam, đỏ, trắng, xanh, xanh lá mạ [8, tr.17]
Dioxin
Dioxin là một hợp chất hữu cơ không mùi, không màu, chứa Cacbon, Hyđro, Oxy và Chlorin Dioxin được Kraus G (1941) tình cờ phát hiện ra trong một thí nghiệm Đây là những hormone có khả năng làm ngưng trệ sự tăng trưởng của cây cỏ Một trong những loại hormone này là chất 2,4D khi phun lên cây, nó sẽ làm trụi lá trong khoảng từ 24 đến 48 tiếng đồng hồ rồi sau đó, cây sẽ chết Chất 2,4D đã được người Mỹ dùng để tiêu diệt cỏ dại mọc hai bên đường giao thông, đường xe lửa
Trang 21Năm 1950, những nhà nghiên cứu Bộ Quốc phòng Mỹ đã trộn lẫn chất 2,4D với chất 2,4,5 T để cho ra một chất diệt cỏ nhanh hơn, mạnh hơn Đó chính là Dioxin, với công thức hóa học 2,3,7,8 Tetrachlorodibenzo-p-dioxin
Có đến 210 hợp chất Dioxin khác nhau, nhưng chỉ có 17 hợp chất là độc Dạng Dioxin độc hại nhất và được nghiên cứu rộng nhất là Dioxin 2,3,7,8 –Tetrachlorodibenzo-p-dioxin viết tắt 2,3,7,8 – TCDD được đo bằng phần nghìn tỉ (ppt) [21]
Dioxin là sản phẩm phụ của nhiều quá trình sản xuất chất hóa học công nghiệp liên quan đến Clo như các hệ thống đốt chất thải, sản xuất hóa chất và thuốc trừ sâu và dây truyền tẩy trắng trong sản xuất giấy và nhiều công đoạn khác
Hiện nay, dioxin được dùng để chỉ hàng trăm chất hóa học có mặt trong môi trường Các hợp chất xếp trong lớp các chất tương tự dioxin (Dioxin – like Compounds) được xếp vào ba nhóm:
- Nhóm 1: Bao gồm các Polychlorinated Dibenzo-p-dioxin (PCDDs)
- Nhóm 2: Bao gồm các Polychlorinated Dibenzofuran (PCDFs)
- Nhóm 3: Bao gồm các Polychlorinated Biphanyls (PCBs)
Nhóm 1 và nhóm 2 thường là sản phẩm biến đổi các chất khi con người đốt chất thải công nghiệp hay nông nghiệp, cháy rừng, sử dụng khí đốt Trong khi nhóm 3 (các PCB và các PCB giống dioxin) lại thường được sản xuất có chủ định, sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau
Dioxin là một loại chất cực độc, độc nhất trong số các chất độc ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Dioxin nguy hiểm đối con người bởi vì: (1) Một khi vào cơ thể thì Dioxin sẽ được thu gom trong mô mỡ của người và động vật, gây ra 18 loại bệnh, nếu hàm lượng là 0,1mg/kg cân nặng thì có thể gây chết người [19,tr.17], (2) Những người bị phơi nhiễm dioxin có thể để lại dấu vết và truyền sang thế hệ tiếp theo, (3) Dioxin có thể thâm nhập và gây
Trang 22nguy hại thông qua tất cả các điểm tiếp xúc trực tiếp qua da, qua đường hô hấp, qua nước uống, qua thức ăn có hàm lượng Dioxin cao
Chất độc hóa học/dioxin khi đi vào cơ thể người có thể gây ra 17 bệnh: 1/Ung thu phần mềm, 2/U lympho không Hodgkin, 3/U lympho Hodgkin, 4/Ung thư phế quản, phổi, 5/Ung thư khí quản, 6/Ung thư thanh quản, 7/Ung thư tiền liệt tuyến, 8/Ung thư gan nguyên phát, 9/Bệnh đa u tủy xương ác tính, 10/Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính và bán cấp tinh, 11/Tật gai sống chẻ đôi, 12/Bênh chứng cá do clo, 13/Bệnh đái tháo đường type 2, 14/Bệnh Phophyrin xuất hiện chậm, 15/Các bất thường sinh sản, 16/Các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của người bị nhiễm CĐHH/Dioxin), 17/Rối loạn tâm thần [9]
1.1.3 Nạn nhân chất độc màu da cam
Trong chương 2, Mục 8, Điều 26, khoản 1 Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng số 26/2005/PL – UBTVQH, ngày 29/6/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định: “Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐHH/dioxin là người được
cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại vùng mà quân đội Mỹ sử dụng CĐHH/dioxin, bị mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động, sinh con bị dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của CĐHH/Dioxin” Cũng ở chương 2, Mục 8, Điều 27, Khoản 1 của
Pháp lệnh này lại quy định: “Con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐHH/Dioxin là người được cơ quan có thẩm quyền công nhận bị dị dạng, dị tật, suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt hoặc lao động do hậu quả của CĐHH/dioxin”
Như vậy có 3 tiêu chí xác định người hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐHH/dioxin, đồng thời cũng là 3 tiêu chí xác định người được gọi là nạn nhân CĐHH/dioxin Việt Nam như sau:
Trang 23(1) Do bị hậu quả CĐHH/dioxin mà mắc bệnh hiểm nghèo làm suy giảm (hoặc mất hoàn toàn) khả năng lao động;
(2) Do hậu quả CĐHH/dioxin mà sinh con dị dạng, dị tật;
(3) Do hậu quả CĐHH/dioxin mà vô sinh
Đối với con đẻ của những người vừa nêu trên cũng có 2 tiêu chí xác định là nạn nhân CĐHH/dioxin:
(1) Do bị di chứng CĐHH/dioxin mà ngay từ lúc sinh ra đã bị dị dạng,
dị tật;
(2) Do bị di chứng CĐHH/dioxin mà mắc bệnh hiểm nghèo làm suy giảm (hoặc mất hoàn toàn) khả năng tự lực trong sinh hoạt hoặc lao động [22]
Như vậy, cụm từ “Nạn nhân CĐHH/dioxin Việt Nam” được hiểu là
những người hoạt động kháng chiến bị phơi nhiễm CĐHH/dioxin và con cái của họ bị di chứng bởi chất độc này từ lúc mới sinh ra Theo cách định nghĩa này đã bỏ sót rất nhiều người là nạn nhân CĐHH/dioxin bị ảnh hưởng bởi chất độc này sau chiến tranh
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng cụm từ “Nạn nhân CĐHH/dioxin” bao gồm những người được xác nhận theo quy định của nhà
nước và cả những người bị phơi nhiễm do sống tại khu vực tồn lưu dioxin cao
Trang 24Quá trình truyền thông nhằm thực hiện sự trao đổi qua lại về kinh nghiệm, tri thức, tư tưởng, ý kiến, tình cảm Người ta có thể sử dụng các
hệ thống ký hiệu khác nhau theo dạng phi ngôn từ hoặc ngôn từ để thông báo
M.Weber cho rằng có thể hiểu truyền thông như là phương tiện của tương tác xã hội, làm sáng tỏ các ý nghĩa chủ quan của một bên là hành động
xã hội và bên kia là định hướng xã hội
Theo thống kê có khoảng 160 định nghĩa khoa học xã hội cho thuật ngữ truyền thông (Merton) và đã phân chia truyền thông theo cấu trúc: loại có cấu trúc một chiều, truyền thông như là truyền dẫn, như là hành động kích thích phản ứng Loại có quá trình cấu trúc đối xứng, truyền thông như là thông hiểu, như là trao đổi, như là tham gia, như là quan hệ Ở đây vấn đề tương tác rất được coi trọng
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm truyền thông như sau: Truyền thông là một phạm trù cơ bản, qua đó các hệ thống xã hội được hình thành và phát triển Do có truyền thông mà các thành tố xã hội, hệ thống con người, các hệ thống xã hội bao gồm cả hệ thống con, hệ thống lớn liên
tiếp được cải biến và phân hóa [35]
1.1.5 Truyền thông đại chúng
Thuật ngữ truyền thông đại chúng lần đầu tiên được dùng trong Lời nói dầu của Hiến chương Liên hiệp quốc về văn hóa, khoa học và giáo dục (UNESCO) năm 1946 Thuật ngữ này ngày càng trở nên thông dụng
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển các phương tiện truyền thông đại chúng để các kênh này trở thành một trong những bộ phận quan trọng nhất của hệ thống xã hội hiện đại Người ta nhận rõ
ý nghĩa cơ bản của nó, đối với quá trình xã hội hóa con người cũng như việc hình thành và phát triển các cộng đồng người Nó giống như những cánh cửa
Trang 25để nhìn ra thế giới Nó tạo nên sự phụ thuộc và liên kết xã hội không chỉ trong khu vực quốc gia mà cả trên phạm vi quốc tế [33]
Truyền thông đại chúng là toàn bộ những kỹ thuật lan truyền thông tin tới những nhóm công chúng lớn, chủ yếu bằng báo viết, phát thanh, truyền hình, Internet…Sibermann (1981) định nghĩa đó là sự truyền bá với số lượng lớn những nội dung giống nhau cho những cá nhân và những nhóm đông người trong xã hội dựa trên kỹ thuật truyền bá tập thể Media là những vật truyền, những kênh để truyền đi thông điệp khác nhau [37]
Khi phân tích về hiệu quả của truyền thông đại chúng, chúng ta cần phải quan tâm đến hệ thống các chỉ tiêu Việc sử dụng các chỉ tiêu nói trên ở mức độ cá nhân cần tính đến các đặc điểm về tình cảm và đạo đức của người nhân Ở mức độ nhóm thì phải tính đến dư luận xã hội và tâm trạng xã hội [37]
1.2 Lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
Dư luận xã hội là một trong những biểu hiện sớm nhất của ý thức xã hội, nó phụ thuộc vào những quy định của các quan hệ xã hội cụ thể Nguyên
lý lý luận của chủ nghĩa duy vật chỉ rõ: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Dư luận xã hội là một bộ phận cấu thành hệ thống tinh thần xã hội, do đó
nó được quy định bởi tồn tại xã hội, nhưng nó lại tác động trở lại một cách tích cực với tồn tại xã hội Đặc điểm của dư luận xã hội là một cấu trúc tinh thần – thực tế đã chỉ rõ mối quan hệ này
Việc tìm hiểu bản chất dư luận xã hội cũng phải được xuất phát từ việc nghiên cứu các quy luật chung của sự phát triển xã hội loài người và quy luật nhận thức Chủ nghĩa Mác đã khám phá ra quy luật này, điều đó cho phép mở đầu những nghiên cứu bản chất của dư lunạ xã hội một cách khoa học Cụ thể hóa những vấn đề cơ bản của triết học ứng dụng trong xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác nhận thấy rằng: ý thức xã hội chính là sự phản ánh
Trang 26thực tại xã hội và bất cứ một sự xuất hiện nào của ý thức xã hội (kể cả dư luận
xã hội) đều là sự phản ánh quá trình sống của con người
Khi nghiên cứu khía cạnh nhận thức của dư luận xã hội người ta luôn phải lưu ý đến 3 điểm quan trọng Đó là, dư luận xã hội phản ánh thực tế, 2
Dư luận xã hội đi vào mỗi dạng ý thức xã hội, 3 Dư luận xã hội bao gồm cả
“nhận thức thông thường và nhận thức lý thuyết”
Dư luận xã hội tồn tại và phát triển tương đối độc lập với các hình thái
ý thức xã hội và nó đi vào “mỗi dạng của ý thức xã hội” mang tính lịch sử cụ
thể Điều đó có nghĩa là sự xâm nhập của dư luận xã hội vào các dạng ý thức
xã hội khác nhau ở các giai đoạn phát triển loài người, là kết quả tác động của yếu tố xã hội lẫn yếu tố nhận thức
Do dư luận xã hội là một hình thức biểu hiện của trạng thái ý thức xã hội trên các mặt tư tưởng, cảm xúc và ý chí Xét trên khía cạnh nhận thức, trong dư luận xã hội luôn có cái đúng và cái sai, lẽ phải và sự lầm lẫn, vì quá trình nhận thức được phản ánh trong dư luận xã hội không hoàn toàn tuân theo các quy tắc nghiêm ngặt của nhận thức chân lý Hêghen có lý khi ông cho rằng: trong dư luận xã hội có cả cái thật và cái giả Tính chất này tạo nên đặc điểm dễ thay đổi của dư luận xã hội và thể hiện tính biện chứng của dư luận xã hội
Tựu chung lại, các yếu tố nói trên cho thấy dư luận xã hội có các đặc điểm sau:
Trang 27đông đó đưa ra ý kiến riêng, nói lên đánh giá của mình, bên trong các nhóm
xã hội nhỏ nhất, các ý kiến tập thể được hình thành, do có sự tương tác của các cá nhân, sau đó trở thành dư luận xã hội trong các nhóm xã hội lớn
Lợi ích xã hội là nhân tố chi phối sâu sắc nhất đến sự hình thành dư luận xã hội Lợi ích cá nhân rất nhạy bén trong sự hình thành ý kiến cá nhân
Ý kiến của nhóm được coi là đơn vị tạo nên “chất” của dư luận xã hội Con đường vận động từ ý kiến cá nhân qua ý kiến nhóm, để hình thành dư luận xã hội là một quá trình biện chứng Sự phát triển của các “tầng” ý kiến này quy định cường độ của dư luận xã hội về một hiện tượng nào đó
Các bước trên cho thấy ba giai đoạn phát triển cơ bản của dư luận xã hội như sau: (1) Hình thành, (2) Thể hiện, (3) Hiện thực hóa trong thực tế
Yếu tố tác động đến quá trình hình thành dƣ luận xã hội
(1) Dư luận xã hội phụ thuộc vào tính chất, quy mô các hiện tượng, các
sự kiện xã hội Trong đó tính lợi ích và tính công chúng là quan trọng nhất
(2) Hệ tư tưởng, trình độ hiểu biết, năng lực văn hóa có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành dư luận xã hội Ở đây, hệ tư tưởng giữ vai trò chủ đạo
(3) Sự tham gia của quần chúng đối với các sinh hoạt chính trị - xã hội, thái độ cởi mở, tinh thần dân chủ trong các hoạt động này được coi
là tác nhân kích thích sự tích cực của quần chúng để thể hiện dư luận xã hội
(4) Những yếu tố tâm lý, không khí đạo đức trong tập thể lao động, thói quen tâm trạng, ý chí của các cộng đồng người đều có tác động đến
sự hình thành dư luận xã hội
Trang 28Các chức năng của dƣ luận xã hội
(1) Chức năng điều hòa quan hệ xã hội: trong đời sống thường có những khác biệt về kinh tế, chính trị, xã hội ở các nhóm dân cư, các tầng lớp xã hội, những khác biệt đó có thể dẫn đến xung đột xã hội
Dư luận xã hội có khả năng điều hòa các quan hệ xã hội, làm giảm bớt những căng thẳng xã hội, bảo vệ các hành vi vì lợi ích chung, vì tiến bộ chung Ở những xã hội kém phát triển, trong một số trường hợp, dư luận xã hội còn có sức mạnh hơn cả pháp luật
(2) Chức năng giáo dục: dư luận xã hội có ý nghĩa đối với việc hình thành nhân cách con người Trong xã hội, hành vi cá nhân bị chế ước bởi dư luận xã hội, thông qua sự đánh giá (tốt, xấu, khen, chê),
để người ta lựa chọn các phương án ứng xử, duy trì các khuôn mẫu hành vi có tác dụng trên các tầng của tổ cức xã hội, từ người dân ở
cơ sở dến các cán bộ có cương vị trong hệ thống quản lý
(3) Chức năng kiểm soát: thông qua sự đánh giá của quần chúng về các hiện tượng xã hội cho thấy những thông tin nhiều mặt về tình trạng
xã hội, để bộ máy quản lý, lãnh đạo xem xét các hoạt động có phù hợp với lợi ích xã hội hay không? Đối với chức năng này, yếu tố công khai đặc biệt quan trọng Chỉ trên cơ sở công khai, chức năng kiểm soát của dư luận xã hộ mới phát huy được tác dụng
(4) Chức năng khuyên bảo: trước những vấn đề khó khăn, phức tạp, thông qua sự đánh giá của số đông, dư luận xã hội có thể đưa ra các kiến nghị, các đề xuất cần thiết để cá nhân, hoặc tổ chức xã hội xem
đó như những lời khuyên, nhằm lựa chọn các phương án ứng xử, định hướng hoạt động
Việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội ở các nhóm dân cư, các tầng lớp xã hội ở Việt Nam hiện nay gắn liền với quá trình đổi mới đất nước Chủ
Trang 29trường mở rộng nền dân chủ, làm thay đổi những giá trị cơ bản trong xã hội
đã và đang đặt ra với yêu cầu mới đối với yếu tố con người, làm tăng tính tích cực chính trị của công dân, đó là dấu hiệu cần thiết để người dân bày tỏ thái
độ và sự đánh giá của họ đối với các sự kiện, hiện tượng xã hội, từ đó tác động đến tính năng động xã hội đối với thực tiễn cuộc sống [29]
Có thể thấy rằng, dư luận xã hội không chỉ là những hạt nhân nhận thức
và lý trí mà còn cả các yếu tố tình cảm, thái độ của cộng đồng người đối với vấn đề đang diễn ra Sống trong một cộng đồng, cá nhân không chỉ tìm hiểu, phân tích và nhận thức về môi trường sống mà còn tìm cách xác định mối quan hệ của mình đối với các sự kiện diễn ra đồng thời tạo cho mình cách ứng
xử phù hợp trước cuộc sống thực tế Việc phân tích dư luận xã hội của người dân thành phố Biên Hòa về vấn đề nhiễm chất độc hóa học/Dioxin cho thấy
sự đánh giá của dư luận xã hội về tình trạng môi trường ở khu vực gần sân bay Biên Hòa hiện nay Thông qua sự đánh giá của dư luận xã hội, của cơ chế hình thành và thể hiện dư luận xã hội, của chức năng trong dư luận xã hội (chức năng điều hòa mối quan hệ, chức năng giáo dục, chức năng khuyên bảo) để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân và giảm thiểu tình trạng phơi nhiễm mới
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Thành phố Biên Hòa
Thành phố Biên Hòa nằm ở phía Tây của tỉnh Đồng Nai, Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, Nam giáp huyện Long Thành, Đông giáp huyện Trảng Bom, Tây giáp huyện Dĩ An, Tân Uyên tỉnh Bình Dương và Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh Thành phố nằm 2 bên bờ sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km (theo Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A), cách thành phố Vũng Tàu 90 Km (theo Quốc lộ 51) Tổng diện tích tự nhiên: 154,67 km2, chiếm 2,62% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Trang 30Dân số thành phố năm 2013: 1 triệu người (chưa tính khoảng 300.000 công nhân đang làm việc trong các khu công nghiệp) Thành phần dân cư thành phố Biên Hòa ngoài dân gốc ở đó thì còn có lượng lớn dân di cư từ các tỉnh phía Bắc và miền Tây Nam Bộ Hiện nay, thành phố Biên Hòa là thành phố thuộc tỉnh có dân số cao nhất Việt Nam
Thành phố Biên Hòa là cửa ngõ phía Đông Bắc, là một bộ phận trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Vũng Tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là một trung tâm kinh tế - xa hội quan trọng, là đầu mối giao lưu đa dạng của vùng Đông Nam Bộ, đồng thời giữ vị trí an ninh – quốc phòng trọng yếu của vùng Đông Nam Bộ Thành phố Biên Hòa có 30 đơn vị hành chính: 23 phường (Trung Dũng, Thanh Bình, Hòa Bình, Tam Hòa, Tân Mai, Tam Hiệp, Quang Vinh, Quyết Thắng, Bình Đa, Tân Tiến, Tân Hòa, Hố Nai, Thống Nhất, Tân Biên, Tân Hiệp, Bửu Hòa Tân Vạn, An Bình, Bửu Long, Long Bình Tân, Tân Phong, Trảng Dài, Long Bình) và 7 xã (Tân Hạnh, Hiệp Hòa, Hóa An, An Hòa, Long Hưng, Phước Tân, Tam Phước.)
Theo báo cáo của kỳ họp 12 Hội đồng nhân dân thành phố Biên Hòa khóa X, trong 6 tháng đầu năm 2014, giá trị sản xuất công nghiệp ước đã thực hiện trên 136 ngàn tỷ đồng, tăng 10,99% so với cùng kỳ Các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng 12,44% so cùng kỳ Tổng thu ngân sách ước thực hiện hơn 772 tỷ đồng, đạt 52%, tăng 18% so cùng kỳ [33]
Trang 31bộ dân số trong phường đều là người Kinh trong đó có 196 hộ (1530 khẩu) theo đạo Phật, 25 hộ (400 khẩu) theo đạo Tin Lành, 42 hộ (630 khẩu) theo đạo Thiên Chúa giáo và có 8 hộ theo đạo khác Trong phường có 223 hộ gia đình chính sách với 110 gia đình liệt sỹ, 97 hộ là gia đình thương bệnh binh
và 16 hộ gia đình có công với Cách mạng Năm 2006 – 2007 toàn phường có
22 hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 0,58% tổng số hộ của toàn
Trang 32phường)1 Qua công tác cho vay tín dụng nhằm hỗ trợ người dân xóa đói giảm nghèo đến cuối năm 2007 đã giảm được 50% số hộ gia đình nghèo
Trên tổng số hơn 80 ha diện tích tự nhiên của phường Trung Dũng có 35,1879 ha là đất thổ cư, phần lớn diện tích đất loại chuyên dùng kinh doanh, dịch vụ, 2,785 ha là diện tích mặt nước Phường Trung Dũng có vị trí sát cạnh sân bay Biên Hòa Toàn phường hầu như không có các hoạt động nông nghiệp Cơ cấu kinh tế của phường hướng về dịch vụ là chủ yếu với số thu nộp thuế các loại trên địa bàn phường, ước tính đến cuối năm 2007 là 1.709.000.000 đồng
1.3.3 Phường Tân Phong
Phường Tân Phong là một phường nằm ở ngoại ô thành phố Biên Hòa, với địa bàn rộng nằm quanh vành đai sân bay Biên Hòa Phường có diện tích tự nhiên 167,8ha Toàn phường có 6.008 hộ với 32.489 nhân khẩu Số nữ là 16.947 bằng 50% tổng dân số của phường với số phụ nữ trong độ tuổi lao động là 10.000 người2
Phường Tân Phong được chia thành 11 khu phố Trong những năm gần đây, cùng với tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa của thành phố Biên Hòa nên trên địa bàn phường người dân nhập cư tự do cũng khá nhiều
Là một phường ngoại ô của thành phố, mặc dù cơ cấu kinh tế của phường đã và đang hướng về dịch vụ nhưng năm 2007 trên địa bàn phường vẫn có 62 ha đất nông nghiệp, trong đó có 52 ha trồng rau và 10 ha trồng màu, đậu các loại Việc chăn nuôi trên địa bàn phường hiện nay đang giảm mạnh do thực hiện chỉ thị của tỉnh và thành phố về việc ngừng chăn nuôi gia súc trong khu dân cư đô thị Việc chăn nuôi gia cầm đã không còn Có
Trang 3311 hộ trước đây chăn nuôi gia cầm tập trung nay đã được yêu cầu di chuyển cơ sở nuôi gia cầm ra huyện khác hoặc chuyển đổi nghề Đàn heo của phường giảm mạnh hiện chỉ còn trên 3.000 con, đàn trâu bò cũng chỉ còn 200 con Thực hiện chỉ thị của tỉnh và thành phố các hộ chăn nuôi heo dọc quốc lộ 1 và một số khu dân cư đông đúc đã thực hiện ngừng nuôi gia súc trước năm 2008
Do đặc điểm của phường nằm ở vùng ngoại ô của thành phố Biên Hòa
có vị trí sát với sân bay Biên Hòa do vậy có sự đan xen giữa những diện tích đất thuộc sự quản lý của UBND phường và đất đai thuộc quyền quản lý của quân đội Người dân hiện đang cư ngụ xâm lấn trên diện tích đất của quốc phòng (nhất là vùng vành đai sân bay)
Tại phường Tân Phong, hiện nay chỉ có khoảng 30% số dân của phường là sử dụng nước sạch được cấp từ nguồn nước của thành phố Biên Hòa, phần còn lại sử dụng nước giếng khoan cho mọi sinh hoạt của gia đình Nguyên nhân của việc có nhiều người dân chưa tiếp cận được với hệ thống nước sạch là do một số gia đình người dân quá nghèo không có khả năng đóng góp để đấu nối vào mạng lưới nước của thành phố và mạng lưới đường dẫn nước của thành phố Biên Hòa chưa đủ sức bao phủ được toàn bộ phường Tân Phong
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC VÀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ CHẤT ĐỘC HÓA HỌC/DIOXIN TẠI BIÊN HÒA
2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường
Trong suốt cuộc chiến tranh Mỹ - Việt Nam, Mỹ và lực lượng đồng minh khởi xướng sử dụng hóa chất diệt cỏ tại Việt Nam thông qua chương trình gọi là Chiến dịch Ranch Hand (Young, 2009) Chiến dịch kéo dài từ năm 1961 -1971 đã phát tán hơn 80 triệu lít hóa chất diệt cỏ và môi trường phía nam Việt Nam Người dân Việt Nam cũng đã bị phơi nhiễm với các chất hóa học này trong suốt quá trình phun rải và trong suốt hơn 40 năm qua, họ tiếp tục bị phơi nhiễm với các chất này thông qua môi trường như đất, trầm tích, bụi và các sản phẩm lương thực gần căn cứ không quân cũ của Mỹ
Hình 2.1: Máy bay quân đội Mỹ đang rải CĐHH xuống chiến trường miền nam Việt Nam
Nguồn: Internet
Trang 35Căn cứ không quân Biên Hòa là khu căn cứ đầu tiên được sử dụng cho chiến dịch Rank Hand tại phía nam Việt Nam Dữ liệu Mỹ cung cấp cho Chính Phủ Việt Nam cho thấy có khoảng hơn 98.000 thùng chứa Chất độc màu Da cam, 45 thành chứa Chất màu trắng, và 16.000 thùng chứa Chất màu xanh da trời được lưu trữ và sử dụng tại sân bay Biên Hòa (BQP Mỹ 2007) Hơn 11.000 thùng hóa chất diệt cỏ được chuyển tới Biên Hào trong Chiến dịch Pacer Ivy vào năm 1970
Trong 2 năm 1969 - 1970 tại khu vực lưu trữ của sân bay đã xảy ra 4 vụ tràn CĐHH từ các bể chứa, trong đó hai vụ tràn Chất trắng với tổng lượng tràn 2.500 lít; 2 vụ tràn Chất da cam: 25.000 lít (BQP Mỹ 2007) Ngoài ra chất độc hóa học bị rò rỉ là do kết quả của việc sử dụng số lượng lớn chất độc hóa học với tần suất cao và sự thiếu kinh nghiệm của nhân viên sử dụng và thực hiện việc kiểm soát các thùng chứa đã gây ra việc rò rỉ Các vỏ thùng chứa vẫn còn lưu lại một lượng hóa chất độc khoảng 2- 5 lít và được đưa vào khu vực loại bỏ, làm hàng rào, xây boong ke hoặc sử dụng bừa bãi nên đã gây
ra ô nhiễm chất độc hóa học trên một diện rộng Ngoài ra, các máy bay sau khi phun rải về, các loại bình phun được xả rửa ở khu vực cuối sân bay do đó tại khu vực này cũng bị nhiễm chất độc hóa học nghiêm trọng (BCĐ 33, 2008) Trong thời gian dài, hệ thống ao, hồ nhằm thoát nước cho sân bay đã lưu chuyển một lượng lớn chất dioxin trong sân bay Biên Hòa vào các hồ, các
ao và ruộng trồng rau xung quanh và hình thành các khu vực phụ cận sân bay nhiễm dioxin với nồng độ cao vượt gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép
Tại Việt Nam, ngưỡng dioxin trong đất ô nhiễm và ngưỡng dioxin trong trầm tích được xác định trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8183:2009 Ngưỡng này đưa ra cơ sở để để hạn chế ra vào khu vực và để yêu cầu xử lý các khu vực này, những khu vực bị ô nhiễm nặng dioxin Ngưỡng dioxin trong đất là 1.000pg/g TEQ, ngưỡng dioxin trong trầm tích là 150pg/g TEQ
Trang 36Sân bay Biên Hòa được đưa vào nghiên cứu từ năm 1993 trong khuôn khổ nội dung của dự án Z1, các mẫu đất được lấy vào năm 1995 và năm 1996
Kể từ đó cho tới nay đã có 6 đợt phân tích dionxin được thực hiện tại Biên Hòa
Bảng 2.1 Dữ liệu phân tích dioxin tại Biên Hòa đƣợc thực hiện từ năm 1995
tới năm 2010 Đơn vị Năm
Số lƣợng mẫu phân tích
Loại mẫu
Công nghệ phân tích
Phòng thí nghiệm
1) Bộ Quốc
phòng
1995 tới1996
(phân giải hiệu năng thấp)
Việt nam (TTNĐVN)
Việt Nam và Nhật Bản (Phòng thí nghiệm ERGO) 4) Hatfield/10-80 2004 tới
2005
36 Đất &
Trầm tích
GCMS (hiệu năng cao)
Canada (AXYS)
Canada (AXYS) Việt Nam (TTNĐVN) 6) Hatfield/ Văn
phòng 33
Trầm tích, Cá/Máu
và mẫu sữa
GCMS (phân giải hiệu năng cao)
Canada (AXYS)
Nguồn: VP BCĐ 33, 2011
Tổng hợp tư liệu phân tích dioxin cho thấy, hiện nay Biên Hòa có 5 điểm có hàm lượng dioxin cao và là nguồn lan tỏa dioxin ra môi trường xung quanh (Văn phòng 33 2011)
Trang 37Khu vực Pacer Ivy
Trong chiến tranh, khu vực Pacer Ivy được sử dụng như là khu lưu trữ hóa chất diệt cỏ và khu tái đóng thùng Khu vực này nằm ở góc Tây của căn
cứ không quân và gần với đường băng hiện tại Tại khu vực này có 2 cuộc phân tích mẫu được thực hiện năm 2008 (Hatfield/TTNĐVN 2009) và năm
2010 (Hatfield/Văn phòng 33 2011) Phía Nam của sân bê tông là khu vực đệm, dốc về phía mương thoát nước, kênh lạch nhỏ và ao Cá vịt được nuôi và bắt tại các hồ nhân tạo trong khu vực
Khu vực Góc Tây Nam sân bay
Khu vực ô nhiễm nằm ở phía Nam của khu căn cứ quân sự có địa hình đều và bằng phẳng, hơi dốc nhẹ về phía Tây Nước chảy bề mặt (nước mưa) mang dioxin từ khu vực ô nhiễm qua đường băng, qua khu vực dân cư rồi tới cánh đồng lúa gần kề
Khu vực Z1
Khu vực này tại khu trung tâm phía nam của căn cứ không quân Biên Hòa, khu vực này bị ô nhiễm dioxin với nồng độ cao Khu vực này là nơi lưu trữ chính hóa chất diệt cỏ và xảy ra 4 vụ đổ tràn lớn hóa chất diệt cỏ Các vùng hạ nguồn của khu vực chứa thùng chất diệt cỏ trong chiến dịch Rank Hand tiếp nhận nước từ điểm nóng, và có một số ao hồ được ngư dân sử dụng (bao gồm Hồ Cổng 2) Trước đây, nước mưa từ khu vực này chảy trực tiếp vào Hồ Biên Hùng và các hồ khác trong sân bay Khu vực này được Bộ Quốc phòng tẩy độc 43.000m2, việc chôn lấp hiệu quả đã làm giảm đáng mức dioxin trong đất khu vực Z1 Tuy nhiên mức dioxin cao cũng được tìm thấy trong mẫu đất tại đây
Vành đai phía Nam
Trang 38Khu vực này nằm ở vị trí xuông dòng từ khu Z1, đây là khu vực nhận nguồn nước từ mương thoát nước của khu vực điểm nóng, và có một số ao hồ được sử dụng cho canh tác thủy canh
Hồ và ao khu vực Z1
Các hồ nằm ở vành đai phía nam căn cứ không quân được sử dụng để nuôi cá và trồng rau Nước mưa đã mang theo dư lượng chất diệt cỏ từ khu vực Z1 vào những hồ, ao này bao gồm hồ Biên Hùng nằm ngoài căn cứ không quân Biên Hòa
Cho đến nay, sân bay Biên Hòa và các vùng phụ cận đã được nghiên cứu và đánh giá cơ bản toàn diện về dioxin trong môi trường Trong hội thảo đánh giá về tình hình nhiễm dioxin tại Biên Hòa vào tháng 10/2014, ông Bakhodir Burkhanov, Phó giám đốc quốc gia UNDP Việt Nam đánh giá nồng
độ dioxin ở sân bay Biên Hòa có nồng độ cao hàng trăm lần so với ngưỡng
cho phép và có một không hai trên thế giới: “Nồng độ nhiễm dioxin ở Việt Nam như vậy quả là có một không hai Đất ô nhiễm ở sân bay Biên Hòa có đặc điểm cấu trúc và thành phần chưa từng được thấy ở bất kỳ nơi nào trên thế giới” và theo cũng theo ông, để xử lý toàn bộ khối lượng đất bị nhiễm
dioxin tại sân bay Biên Hòa, dự kiến kinh phí sẽ cần đến khoảng 250 triệu USD.[44]
2.2 Số lƣợng nạn nhân chất độc hóa học/dioxin
Do là nơi cất cánh của hàng loạt các phi vụ phun rải chất độc hóa học
và trong khu vực sân bay có những nơi là nơi phun rửa máy bay, hơn nữa còn
cả khu vực kho bãi để chất độc hóa học, sân bay Biên Hòa được xác định là điểm nóng nhiễm chất độc hóa học trong cuộc chiến tranh Việt Nam Có vị trí nằm sát với sân bay Biên Hòa, hai phường Tân Phong và Trung Dũng đã được xác định là địa bàn nhiễm chất độc hóa học nặng nề nhất của thành phố Biên Hòa Tuy vậy, theo số liệu của các Uỷ ban Nhân dân phường cung cấp
Trang 39(năm 2008) thì số lượng người được xác định là nạn nhân chất độc màu da cam tại phường không lớn Có 33 người (một người đã chết – số lượng nạn nhân còn sống là 32) là nạn nhân chất độc da cam tại phường Trung Dũng với các triệu chứng chóng mặt, mất ngủ, suy dinh dưỡng, mụn nhọt, bại liệt não
và khuyết tật hệ vận động Số người được xác định là nạn nhân chất độc màu
da cam tại phường Tân Phong, theo báo cáo thống kê của Uỷ ban Nhân dân phường là 13 người cũng có các triệu chứng như trên Và đây chỉ là những con số nạn nhân đã được xác định chắc chắn là có nhiễm chất độc hóa học/dioxin
Theo kết quả điều tra, trong 400 hộ gia đình tham gia vào cuộc nghiên cứu có 10 gia đình trả lời là có người bị nhiễm chất độc dioxin Có thể tạm thời làm một so sánh theo tỷ lệ dân số của địa bàn như sau:
Phường Trung Dũng có tỷ lệ người được xác định là nhiễm chất độc màu da cam là xấp xỉ 0,15%, trong khi đó tại phường Tân Phong thì tỷ lệ này
là 0,04% Tỷ lệ những gia đình có nạn nhân nhiễm chất độc dioxin trong mẫu
là 2,5% - do việc chọn mẫu có chủ định của cuộc điều tra là hướng tới những gia đình có nạn nhân chất độc hóa học Trong số 10 hộ gia đình của cả hai phường Tân Phong và Trung Dũng trả lời là có người là nạn nhân chất độc hóa học có tổng cộng 29 người Tỷ lệ này so với tổng số nhân khẩu của 400
hộ gia đình là 1,69% dân số phường Trung Dũng
Trang 40Biểu 2.1: Số liệu nạn nhân chất độc màu da cam theo báo cáo tại hai phường Tân Phong và Trung Dũng và số nạn nhân của mẫu nghiên cứu
Nguồn: Số liệu thống kê UBND phường Trung Dũng và Tân Phong cung cấp
(2008)
Theo số liệu mới nhất của Hội Nạn nhân chất độc da cam thành phố
Biên Hòa (2014), tổng số nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/dioxin của
thành phố đang được hưởng trợ cấp của Nhà nước hàng tháng là 821 người, trong đó đối tượng tham gia kháng chiến là 747 người và dân thường là 74 người Hiện tại, ở Biên Hòa đã có 86 nạn nhân đã qua đời vì bị nhiễm CĐHH/dioxin và đáng lo ngại hơn là chất độc hóa học/dioxin đã ảnh hưởng đến “thế hệ F3” là cháu, chắt của những người bị trực tiếp phơi nhiễm dioxin [43] Đây là số liệu thống kê theo quy định về nạn nhân chất độc da cam, tuy nhiên trên thực tế số lượng nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam ở Biên Hòa còn lớn hơn rất nhiều, bởi vì:
Thứ nhất, hiện tượng ô nhiễm chất độc hóa học đã xảy ra hàng chục năm trên địa bàn Biên Hòa và trong suốt những năm đó người dân nơi đây