Trong bức điện gửi cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 1251 hải quân nhân kỷ niệm 35 năm mở đường Hồ Chí Minh trên biển 1961-1996, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đánh giá: "Năm tháng sẽ qua đi, nhưng ch
Trang 1đại học quốc gia hà hội
đại học khoa học xã hội và nhân văn
phạm thị thuý nga
đ-ờng hồ chí minh trên biển
(1959-1965)
Chuyên ngành: lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử
ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
TS Vũ Tang Bồng
Hà nội - 2008
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta, công tác chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định
Cùng với tuyến đường chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên bộ nổi tiếng thế giới, dân tộc ta còn lập một kỳ tích nữa trong lịch sử, đó là tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển Đây là một kỳ tích có ý nghĩa chiến lược của quân và dân
ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đứng đầu; là biểu hiện của
ý chí sắt đá, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta
Trong bức điện gửi cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 1251 hải quân nhân kỷ niệm 35 năm
mở đường Hồ Chí Minh trên biển (1961-1996), Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đánh giá: "Năm
tháng sẽ qua đi, nhưng chiến công anh hùng và sự hy sinh cao cả của các lực lượng mở đường vận tải chiến lược mang tên Bác Hồ kính yêu trên biển Đông, của những con tàu
“không số”, của quân và dân các bến bãi, làm nhiệm vụ chi viện cho cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, sẽ mãi mãi đi vào lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh Tổ quốc và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công lao của những người đã làm nên kỳ tích đường
Hồ Chí Minh trên biển" [73; 349]
Trong lịch sử xây dựng, hoạt động và chiến đấu anh dũng của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển, giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1965 là giai đoạn tuyến chi viện chiến lược từng bước hình thành và nhanh chóng đi vào hoạt động Kết quả vận chuyển vũ khí chi viện chiến trường giai đoạn này chẳng những có ý nghĩa chiến đấu, chiến dịch mà còn có ý nghĩa chiến lược to lớn Trong khi tuyến vận chuyển trên
1 Đoàn 125 (khi mới thành lập có phiên hiệu là 759) - đơn vị trực tiếp xây dựng tuyến chi viện chiến lược
và làm nên kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển
Trang 3Trường Sơn đang trong giai đoạn soi đường, chủ yếu vận chuyển bằng phương thức gùi thồ và gặp rất nhiều khó khăn do địch ngăn chặn thì tuyến chi viện chiến lược trên biển lại có những đóng góp to lớn, hiệu quả, với khối lượng lớn vũ khí chi viện chiến trường miền Nam và vận chuyển trực tiếp cho các địa bàn chiến lược mà tuyến chi viện trên bộ chưa thể vươn tới được Nhờ đó đã góp phần bảo đảm cho quân và dân ta ở miền Nam đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - nguỵ
Những đóng góp hiệu quả của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển giai đoạn 1959-1965 đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, vượt lên những tính toán thông thường về chiến tranh của chính quyền Mỹ - ngụy, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý cho hôm nay và mai sau Với lòng biết ơn và tri ân đối với những hy sinh, đóng góp của các thế hệ
cha anh, tôi chọn: "Đường Hồ Chí Minh trên biển (1959-1965)" làm đề tài luận văn Thạc
sĩ khoa học lịch sử của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển Nhiều công trình đã được công bố trong và ngoài nước
2.1 Ở trong nước, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các địa phương, đơn vị, các cấp, các ngành đều tiến hành tổng kết và biên soạn lịch sử chiến tranh, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển
Theo đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu có thể phân các công trình trên theo các nhóm sau:
2.1.1 Những công trình nghiên cứu ở cấp chiến lược như:
- Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1996
- Ban Tổng kết chiến lược trực thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam
(1945-1975) - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000
Trang 4- Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân
Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H, 2005
- Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hậu phương chiến tranh nhân
dân Việt Nam (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H, 1997
- Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu, Tổng kết Bộ Tổng Tham mưu trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1997
- Tổng cục Hậu cần, Lịch sử vận tải Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb
Quân đội nhân dân, H, 1992
- Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, Nxb Quân
đội nhân dân, H, 1995
- Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam (1954-1975), tập
2, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1999
- Tổng cục Hậu cần, Tổng kết công tác hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H, 2001,…
Những công trình trên đều đề cập đến tổ chức, hoạt động của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển - một yếu tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Song do nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, các công trình trên không đi sâu làm nổi bật vị trí, vai trò của tuyến chi viện chiến lược trên biển trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
2.1.2 Nhiều công trình lịch sử đơn vị và địa phương cũng đề cập đến tuyến vận tải chi viện chiến lược trên biển như:
- Bộ Tư lệnh Hải quân có các công trình: Lịch sử Đoàn 125 hải quân (1961-2001), Nxb Quân đội nhân dân, H, 2002; Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị hải quân trong
vận tải quân sự đường biển chi viện chiến trường miền Nam (1961-1975), Nxb Quân đội
nhân dân, H, 2004; Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H, 2005; Lịch sử Ngành kỹ thuật Hải quân nhân dân Việt Nam, tập I (1955-1975), Nxb
Quân đội nhân dân, H, 2005;…
Trang 5Các công trình của địa phương gồm có: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đường Hồ Chí Minh trên biển Bà Rịa - Vũng Tàu, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1993; Ban chỉ huy quân sự Đồ Sơn, Thị xã Đồ Sơn - Lịch sử kháng chiến xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc (1945-2002), Nxb Quân đội nhân dân, H, 2003; Ủy ban
nhân dân tỉnh Phú Yên - Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Phú Yên: Vũng Rô - những
chuyến tàu lịch sử, Phú Yên, 2007 và Sự kiện tàu “không số” Vũng Rô (Kỷ yếu hội
thảo khoa học), Phú Yên, 2007,
Các công trình trên đã khai thác được nhiều tư liệu tốt, có giá trị nhưng chỉ đề cập từng mặt chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội trong phạm vi của mỗi ngành, mỗi địa phương, đơn vị, nên không phản ánh được tính toàn diện của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển; nhiều số liệu và sự kiện chưa chính xác
Ngoài những công trình kể trên, còn có một số bài nghiên cứu đăng tải trên các tạp
chí: Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử quân sự; các báo Trung ương và địa phương như: Nhân
Dân, Quân đội nhân dân, Thanh niên, Cà Mau, Phú Yên, trình bày tuyến chi viện chiến
lược - đường Hồ Chí Minh trên biển theo từng góc độ, nội dung cụ thể
2.2 Nhiều công trình của người nước ngoài viết về cuộc chiến tranh Việt Nam, trong đó có đề cập đến tuyến vận chuyển chi viện chiến lược trên biển, một số đã được dịch ra tiếng Việt
Trong đó các công trình đáng chú ý là:
- Giôn Pho và Rô-bớt Uy-li-am (John Forbes and Robert Williams), Lực lượng
trên sông (Force in river), Nxb Bantani Books, New York, bản dịch của Viện Lịch sử
quân sự Việt Nam, 1987
- Ga-bi-en Côn-cô (Gabriel Kolko), Giải phẫu một cuộc chiến tranh - Việt Nam,
Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991 (Anatomy of a war - Vietnam, the united states and the modern historical experience, Pantheon books,
New York, 1985)
Trang 6- Giôn Pra-đốt (John Prados), Con đường máu (The Blood Road), New York: John
Wiley and Sons, 1998
- Da-ni-en En-béc (Daniel Ellsberg), Những bí mật về chiến tranh Việt Nam: Hồi
ức về Việt Nam và tài liệu Lầu Năm góc (Secrets: A Memmoir of Việt Nam and the Pentagon Papers), người dịch: Tĩnh Hà - Kiều Oanh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2006
- Gioóc-phây Pắc-cơ (Geoffrey Parker), Lịch sử chiến tranh (War history), Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006,
Các công trình trên trình bày khá tỉ mỉ bối cảnh, diễn biến của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ và ít nhiều đều đề cập đến sự chi viện của hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam cả trên bộ và trên biển Tuy nhiên trong các công trình trên, tuyến chi viện chiến lược trên biển chỉ được đề cập có mức độ Mặt khác, do quan điểm, phương pháp nghiên cứu nên hầu hết các công trình đó đều chưa có những nhận định, đánh giá khách quan, khoa học
Điểm lại tình hình nghiên cứu có thể thấy, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện về tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển Ở một
số công trình, nhiều tư liệu, số liệu chưa được đối chiếu, so sánh, phân tích theo phương pháp khoa học nên chưa bảo đảm tính chính xác Song tất cả các công trình trên đều là nguồn tài liệu quý giá, gợi mở để tác giả tham khảo, kế thừa và phát triển trong quá trình nghiên cứu đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ những hoạt động, kết quả đóng góp của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển trong nhiệm vụ chi viện chiến trường
- Khẳng định tầm vóc ý nghĩa, vai trò của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giai đoạn 1959-1965 Qua đó làm rõ vị trí, vai trò của hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Trang 73.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Kế thừa thành quả của các tác phẩm, công trình nghiên cứu đã xuất bản và dựa trên những nguồn tư liệu mới, luận văn trình bày một cách hệ thống, phân tích, đánh giá toàn diện, khách quan, theo quan điểm lịch sử về quá trình hình thành và hiệu quả hoạt động của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giai đoạn 1959-1965 Qua đó, làm nổi bật tầm vóc ý nghĩa của đường Hồ Chí Minh trên biển đối với thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước của quân và dân ta
- Phân tích làm sáng tỏ đường lối, chủ trương của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Hải quân trong tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển
- Bước đầu rút ra một số nhận xét về tổ chức và hoạt động của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển giai đoạn 1959-1965
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên
biển
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Tổ chức và hoạt động của tuyến chi viện chiến lược -
đường Hồ Chí Minh trên biển giai đoạn 1959-1965
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về chiến tranh và quân đội; đường lối chung và đường lối quân sự, nghệ thuật tổ chức chỉ đạo tiến hành chiến tranh nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 8Để thực hiện được đề tài, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau: phương pháp lịch sử, phương pháp lô-gích, phương pháp thống kê, phương pháp đối chiếu, so sánh và các phương pháp khác như phân tích và khai thác tư liệu kể của các nhân chứng
5.3 Nguồn tư liệu
Luận văn chủ yếu khai thác các tài liệu gốc lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, các phông: Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh, báo cáo của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Hải quân và một số địa phương tham gia tuyến vận tải chi viện chiến lược trên biển như Cà Mau, Bà Rịa, Bến Tre, Trà Vinh, Phú Yên,
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số tư liệu thu thập được qua khai thác các nhân chứng trực tiếp tham gia tuyến vận chuyển chi viện chiến trường, cùng một số sách, báo, tài liệu đã được xuất bản trong nước và nước ngoài
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Luận văn làm nổi bật quá trình hình thành, hoạt động và tầm vóc ý nghĩa đặc
biệt quan trọng của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giai đoạn 1959-1965
6.2 Lần đầu tiên tuyến chi viện chiến lược trên biển giai đoạn 1959-1965 được tái
hiện đầy đủ và toàn diện, qua đó, luận văn nêu bật những chủ trương, biện pháp kịp thời, đúng đắn, sáng tạo của Đảng, Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân, cấp ủy, chính quyền các địa phương trong công tác chi viện chiến trường bằng đường biển
6.3 Trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn bổ sung nhiều tư liệu mới, đồng thời
chỉnh lý nhiều tư liệu chưa chính xác trong một số công trình nghiên cứu trước đây
6.4 Luận văn góp phần phục vụ công tác nghiên cứu, tổng kết và giảng dạy lịch sử
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở các học viện nhà trường trong và ngoài quân đội, đồng thời góp phần bồi dưỡng, giáo dục truyền thống yêu nước, “uống nước nhớ nguồn” cho các thế hệ trẻ Với những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn đấu tranh cách mạng để giành độc lập, thống nhất sẽ giúp người nghiên cứu có cái nhìn toàn diện, thấu đáo hơn, góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện những chủ trương, biện pháp đúng
Trang 9đắn, sáng tạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước theo đường lối công nghiệp hoá - hiện đại hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Quá trình hình thành tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh
trên biển (1959-1962)
Chương 2: Hoạt động của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên
biển trong những năm từ 1962 đến 1965
Chương 3: Một vài nhận xét về tổ chức và hoạt động của tuyến chi viện chiến lược
- đường Hồ Chí Minh trên biển giai đoạn 1959-1965
Trang 10Chương một
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TUYẾN CHI VIỆN CHIẾN LƯỢC -
ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN
(1959-1962)
1.1 Đôi nét về tình hình cách mạng miền Nam trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và yêu cầu chi viện chiến trường
1.1.1 Tình hình cách mạng miền Nam trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân (1953-1954), với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết Các nước tham dự Hội nghị long trọng tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào Quân đội Pháp phải rút khỏi các nước Đông Dương Mỗi nước sẽ tổ chức Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước
Đối với Việt Nam, Hiệp định Giơ-ne-vơ quy định thời hạn tổ chức Tổng tuyển cử
để thống nhất đất nước vào ngày 20 tháng 7 năm 1956 Trong khi chờ đợi Tổng tuyển cử,
vĩ tuyến 17 được xác định là đường ranh giới quân sự tạm thời Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền: Miền Bắc hoàn toàn giải phóng; miền Nam tạm thời dưới ách thống trị của
đế quốc Mỹ và tay sai
Hiệp định Giơ-ne-vơ là một thắng lợi to lớn sau 9 năm kháng chiến lâu dài, gian khổ và
vô cùng anh dũng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh Cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ mới: thời kỳ