Lý do chọn đề tài Tài chính tại các đơn vị sự nghiệp kinh tế là hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các khoản tiền gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM THỊ HỒNG LIÊN
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH
THUỘC BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học: TS.PHẠM THỊ THANH VÂN
HÀ NỘI – NĂM 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, những nội dung khoa học đƣợc trình bày trong luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi./
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hồng Liên
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Phạm Thị Thanh Vân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Phòng Quản lý đào tạo thạc
sĩ, Khoa QLNN về kinh tế và tài chính công và quý thầy cô giáo ở Học viện hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện, giúp đỡ và tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh, lãnh đạo và cán bộ Phòng Tài chính - kế toán, các cá nhân có liên quan đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thu thập số liệu để nghiên cứu
và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
Phạm Thị Hồng Liên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP KINH TẾ 6
1.1 Khái quát chung về đơn vị sự nghiệp kinh tế 6
1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp kinh tế 6
1.1.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp kinh tế 8
1.1.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp kinh tế 9
1.2 Quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế 10
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế 10
1.2.2 Nội dung quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế 14
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp kinh tế 29
1.3 Kinh nghiệm quản lý tài chính ở một số đơn vị sự nghiệp kinh tế và bài học rút ra cho Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh 33
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính trong một số đơn vị sự nghiệp kinh tế 33
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁNĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH THUỘC BỘ GIAO THÔNG 39
2.1 Khái quát về Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh 39
2.1.1 Giới thiệu về Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh 39
2.1.2 Tổ chức bộ máy của Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh 40
2.2 Thực trạng quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh 44 2.2.1 Thực trạng quản lý nguồn thu 44
2.2.2 Thực trạng quản lý các khoản chi 46
2.2.3 Thực trạng phân phối kết quả hoạt động tài chính 51
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh 53
Trang 62.3.1 Những kết quả đạt được 53
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI 61
BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH 61
3.1 Quan điểm đổi mới quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp kinh tế ở Việt Nam hiện nay 61
3.1.1 Quan điểm chung của nhà nước 61
3.1.2 Quan điểm của Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh 63
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh 64
3.2.1 Nâng cao nhận thức và tăng cường hơn nữa công tác chỉ đạo, điều hành 64
3.2.2 Quản lý tài chính theo kết quả đầu ra 65
3.2.3 Hoàn thiện tổ chức, quản lý tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh 65
3.2.4 Tăng cường quản lý, sử dụng nguồn chi phí quản lý dự án tính trong tổng mức đầu tư của các dự án được giao thông qua việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ 67
3.2.5 Tăng cường huy động, khai thác và quản lý các nguồn thu ngoài các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án 74
3.2.6 Hoàn thịn công tác lập, chấp hành dự toán, quyết toán thu, chi quản lý dự án 75
3.2.6 Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá quá trình thực hiện tài chính 78 3.2.7 Đổi mới công tác quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của các cán bộ tài chính, kế toán 81
3.2.8 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tin học phục vụ công tác quản lý tài chính 82
3.3 Kiến nghị với Bộ Giao thông Vận tải 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tài chính tại các đơn vị sự nghiệp kinh tế là hệ thống các quan hệ kinh
tế nảy sinh trong quá trình phân phối các khoản tiền gắn liền với việc tạo lập
và sử dụng các quỹ tiền mặt của các đơn vị sự nghiệp kinh tế để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, trong đó, bộ máy kế toán sẽ điều hành toàn bộ hoạt động tài chính tại các đơn vị sự nghiệp kinh tế Chính vì thế vai trò của việc quản lý tài chính cũng rất quan trọng, nó tồn tại và tuân theo quy luật khách quan, và bị chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của các đơn vị sự nghiệp kinh tế
Khi bắt tay vào xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh, có một
số câu hỏi quan trọng mà không một đơn vị sự nghiệp kinh tế nào được phép
bỏ qua là phải tính đến việc các yếu tố tài chính sẽ được quản lý như thế nào, xem các đồng vốn bỏ ra hiệu quả đến đâu, có đem lại lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh như mong muốn ban đầu hay không Có thể nói, tri thức đóng một vai trò quan trọng trong quản lý tài chính, trong đầu tư và kinh doanh Đó là những kiến thức cơ bản mà nếu không có thì bạn không thể nào nhận ra được tình hình thực tế của những dự án đầu tư, của các kế hoạch kinh doanh cũng như thực trạng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế
Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong công tác quản lý Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh, bao gồm lên kế hoạch sử dụng các nguồn vốn, đảm bảo thực hiện các dự án sản xuất và kinh doanh, theo dõi và đánh giá, điều chỉnh kịp thời kế hoạch tài chính, quản lý công nợ của khách hàng, của các đối tác để từ đó thực hiện báo cáo cho các cấp lãnh đạo… Tất cả những công việc như vậy rất cần cho nhà quản lý trong việc hoạch định nguồn lực tài chính
Trang 92
Như chúng ta đã biết một thời gian dài qua, tuy các đơn vị kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của nước ta, bên cạnh nhiều đơn
vị làm ăn có hiệu quả đóng góp lớn cho ngân sách đất nước, thì còn nhiều đơn
vị nhà nước làm ăn kém hiệu quả thậm chí phá sản mà điển hình trong thời gian qua là Tập đoàn Vinashin, Vinalines, Ngân hàng ACB… Đây chính là do
sự lỏng lẻo trong quản lý tài chính tại các tập đoàn, các đơn vi nói trên
Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh là đơn vị sự nghiệp đặc thù chuyên xây dựng các công trình chuyện dụng và đã tạo được thị trường rộng khắp trên cả nước Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện cơ chế tự
chủ tài chính, công tác quản lý tài chính vẫn còn những vấn đề tồn tại, hạn
chế ảnh hưởng đến mục tiêu của quá trình đổi mới Nhận thức được tầm quan
trọng của vấn đề, tôi đã lựa chọn đề tài “Quản lý tài chính tại Ban quản lý
dự án đường Hồ Chí Minh thuộc Bộ Giao thông vận tải” để nghiên cứu
mong muốn đóng góp thiết thực cho việc hoàn thiện quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt nam trong những năm qua được sự quan tâm và chỉ đạo của Chính phủ, hoạt động đầu tư XDCB nói chung và đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông (công trình giao thông) nói riêng đã đạt được một số thành tựu nhất định, giải quyết tốt các vấn đề về an sinh, kinh tế: người dân đi lại dễ dàng, giao thương kinh tế thuận lợi… Tuy nhiên bên cạnh đó còn tồn tại một số hạn chế, bất cập, đặc biệt là vấn đề thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB thời gian qua là rất lớn, hiệu quả đầu tư các công trình thấp Nó tồn tại ở các khâu của đầu tư xây dựng và trở thành mối quan tâm của tất cả các cấp, các ngành, của toàn xã hội Một trong các nguyên nhân không thể không kể đến là do hoạt động quản lý tài chính dự án đầu tư còn nhiều yếu kém Do vậy làm tốt công tác quản lý tài chính tại các Ban quản lý dự án đầu tư là một công việc hết sức quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư
Trang 103
Trong thời gian qua cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực quản lý, sử dụng vốn đầu tư đầu tư xây dựng cơ bản, về quản lý tài chính tại Ban dự án đầu tư xây dựng cơ bản nói chung Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu các đề tài này khá rộng, mang tính chất chung chung, có rất ít đề tài nghiên cứu về quản lý tài chính tại Ban dự án đầu tư chuyên ngành, cụ thể
là quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh
- Luận văn thạc sỹ kinh tế (Đại học Kinh tế quốc dân) “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc” của tác giả Hoàng Đỗ Quyên (2008) Đề tài đề cập đến việc hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc, đưa ra những lý luận cơ bản về quản lý dự án, phân tích thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án tại Ban quản
lý dự án Công trình điện Miền Bắc Đề tài tập trung chủ yếu vào việc công tác quản lý dự án trong giai đoạn thực hiện dự án tại các dự án thuộc phạm vi quản lý của Ban quản lý dự án công trình điện, có phân tích quản lý tài chính nhưng chưa sâu
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế (Đại học Khoa học và Kỹ thuật Long Hoa),
"Hoàn thiện hệ thống quản lý tài chính các dự án đầu tư xây dựng trong Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng" của Nguyễn Mạnh Hà (2012) Đề tài cũng
đã đưa ra những lý luận cơ bản về quản lý tài chính dự án đầu tư xây dựng cơ bản và phân tích một số tồn tại, vướng mắc, khó khăn trong công tác quản lý tài chính dự án đầu tư xây dựng công trình thời gian vừa qua để đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng Tuy nhiên đề tài cũng mới tập trung nghiên cứu về quản lý tài chính dự án đầu tư xây dựng cơ bản nói chung tại một đơn vị quân đội Bên cạnh đó phương pháp nghiên cứu vẫn còn
sơ sài, không có hệ thống bảng biểu để phân tích đánh giá
Trang 11Qua nghiên cứu có thể thấy rằng các dự án giao thông đường bộ có những đặc thù riêng cho nên công tác quản lý tài chính các công trình giao thông là một lĩnh vực quản lý cũng sẽ mang nhiều đặc thù, phức tạp của ngành Tuy nhiên chưa có một đề tài nào nghiên cứu sâu, cụ thể về quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án công trình giao thông tại một đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giao thông như tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh Vì vậy, việc nghiên cứu một cách đầy đủ đề tài này sẽ góp phần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh - một giải pháp để cải cách tài chính công
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được các mục đích sau:
- Hệ thống hóa, phân tích, luận giải và làm rõ hơn những vấn đề lý luận
về quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp kinh tế;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tựơng nghiên cứu
Công tác quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công tác quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh từ năm 2016 – 2018
Trang 125
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; Ngoài ra trong luận văn tác giả còn sử dụng các phương pháp sau: phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và chứng minh; phương pháp điều tra, thu thập thông tin; tổng kết kinh nghiệm
để phân tích thực trạng công tác quản lý tài chính tại Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh
Đề tài nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý, công trình khoa học và các tài liệu có liên quan để thống nhất khung lý thuyết
cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập; Sau
đó, xác định các thông tin cần thu thập, đối tượng cung cấp thông tin, địa điểm, thời gian và phương pháp thu thập thông tin
Trang 136
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP KINH TẾ
1.1 Khái quát chung về đơn vị sự nghiệp kinh tế
1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp kinh tế
Để thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công cho xã hội, Chính phủ thành lập các đơn vị sự nghiệp công để cung cấp dịch vụ công DVC được hiểu là những hoạt động dịch vụ của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ những nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và
ổn định xã hội
Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt
động có thu thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực y tế, giáo dục đào tạo, kinh tế và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm
Như vậy, đơn vị sự nghiệp kinh tế là một bộ phận thuộc đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, giao thông vận tải, công thương, xây dựng, lao động thương binh
và xã hội, tư pháp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập
Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau:
- Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương
Trang 147
- Được Nhà nước cung cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu theo chế độ Nhà nước quy định
- Có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nước hiện hành
- Đơn vị sự nghiệp mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước để phản ánh các khoản kinh phí thuộc ngân sách nhà nước (NSNN) theo quy định của Luật NSNN; được mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng hoặc Kho bạc nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ
- Thực hiện nghĩa vụ với NSNN: Đơn vị sự nghiệp có các hoạt động dịch vụ phải đăng ký, kê khai, nộp đủ các loại thuế và các khoản khác (nếu có), được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật
- Được huy động vốn và vay vốn tín dụng: Đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật
- Việc quản lý và sử dụng tài sản: Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước đơn vị được để lại
bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Số tiền trích khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay Trường hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với số còn lại (nếu có)
Trang 158
1.1.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp kinh tế
- Thứ nhất, đơn vị sự nghiệp kinh tế là một tổ chức hoạt động theo
nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự
nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hoá cung ứng cho mọi thành phần
trong xã hội Việc cung ứng các hàng hoá này cho thị trường chủ yếu không
vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nước tổ chức,
duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm,
dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong
việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng
khi can thiệp vào thị trường nhằm, hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế
hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn
nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao
hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khoẻ, văn hoá, tinh
thần của nhân dân
- Thứ hai, sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp kinh tế là sản phẩm mang
lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của
cải vật chất và giá trị tinh thần Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá
trị về tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị về xã hội
Mặt khác, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp chủ yếu tạo ra các "hàng
hoá công cộng" ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếp hoặc gián
tiếp quá trình tái sản xuất xã hội
Việc sử dụng những "hàng hoá công cộng" do hoạt động sự nghiệp tạo
ra làm cho quá trình sản xuất của cải vật chắt được thuận lợi và ngày càng đạt
hiệu quả cao Vì vậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động
tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội
- Thứ ba, hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập luôn
Trang 161.1.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp kinh tế
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, đơn vị SNCL bao gồm: Đơn vị SNCL
hoạt động trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật; Đơn vị SNCL hoạt động trong lãnh vực giáo dục đào tạo; Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học; Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao; Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực y tế; Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực
xã hội; Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực kinh tế
Căn cứ vào chế độ sở hữu tài sản của các đơn vị sự nghiệp công lập và coi như công lập, các đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quản lý, bao gồm: Các đơn vị SNCL của Nhà nước; Các đơn vị sự nghiệp của tổ chức
chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội; ngoài ra còn có các đơn vị sự nghiệp của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp là những đơn vị sự nghiệp ngoài công lập như các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam; các đơn vị sự nghiệp trực thuộc các tổ chức quần chúng
khác,…
Trang 17+ Đơn vị đơn vị sự nghiệp kinh tế tự bảo đảm chi thường xuyên;
+ Đơn vị đơn vị sự nghiệp kinh tế tự bảo đảm một phần chi thường
xuyên;
+ Đơn vị đơn vị sự nghiệp kinh tế do Nhà nước bảo đảm chi thường
xuyên
1.2 Quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc quản lý tài chính trong các đơn vị
sự nghiệp kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, quản lý được hiểu với nghĩa chung nhất “là cách thức, biện pháp, nguyên tắc tác động lên các hoạt động của con người nhằm đạt được các mục đích đã định với hiệu quả mong muốn”
Tài chính được hiểu là sự vận động của vốn tiền tệ, nó phản ánh tổng hợp các quan hệ kinh tế phát sinh trong việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội
Trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế, tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng để đảm bảo thực hiện việc phân phối và sử dụng các nguồn tài chính đúng mục đích nhằm hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu Nhà nước đề ra Những hoạt động này đòi hỏi Nhà nước định ra các nguyên tắc, biện pháp… để kiểm tra, giám sát hoạt động phân phối sử dụng các nguồn tài chính trong lĩnh vực kinh tế một cách có hiệu quả
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đưa ra khái niệm về quản
lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế là việc Nhà nước sử dụng các
Trang 1811
cách thức, biện pháp, nguyên tắc để tác động lên các hoạt động diễn ra trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính phát sinh trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu của chiến lược phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1.2.1.2 Đặc điểm của quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế
Đơn vị sự nghiệp kinh tế mang những đặc điểm riêng so với việc quản
lý về tài chính trong các lĩnh vực khác
Thứ nhất: Đối tượng của quản lý tài chính trong các là các hoạt động
thu chi gắn liền với việc tạo ra các hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu của xã hội và sự phát triển kinh tế đất nước Chất lượng các sản phẩm này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nguồn lực tài chính Vấn đề cốt lõi trong quá trình quản lý
là cần khai thác tối đa nguồn lực tài chính và tập trung chi tiêu cho những nội dung cần thiết, tránh lãng phí và không hiệu quả
Thứ hai: Về phương pháp quản lý tài chính, trong các đơn vị sự
nghiệp kinh tế có sự kết hợp của nhiều phương pháp khác nhau Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp tổ chức, hành chính, cũng sử dụng phương pháp kinh tế nhằm tạo tính chủ động trong khai thác nguồn thu, tự chủ trong chi tiêu
Thứ ba: Về nội dung vật chất, nguồn thu trong các đơn vị sự nghiệp
kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, sự trợ cấp của Chính phủ và đóng góp của người sử dụng là hai nội dung chính Ở các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng, NSNN đóng vai trò chủ chốt trong việc đầu tư cơ
sở vật chất tạo nên một hệ thống nghiên cứu đồng bộ, định hướng điều phối
sự phát triển của Đơn vị sự nghiệp kinh tế , có tác dụng lôi kéo thu hút vốn đầu tư của các thành phần khác vào hoạt động khoa học công nghệ
Thứ tư: Quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế phải luôn
chú trọng đến tính tiết kiệm và hiệu quả chi tiêu Các đơn vị sự nghiệp kinh
Trang 1912
tế nói riêng và các đơn vị khác nói chung trong hoạt động chi tiêu của mình luôn phải đề ra mục tiêu đạt hiệu quả, hoàn thành các nhiệm vụ đề ra trong khả năng tiết kiệm nguồn kinh phí nhất Tiết kiệm, hiệu quả trong chi tiêu không chỉ làm giảm phần NSNN cấp, nguồn kinh phí khác của đơn vị sự nghiệp kinh tế mà nó liên quan trực tiếp đến phần kinh phí tiết kiệm được cho đơn vị sự nghiệp kinh tế, tăng nguồn thu nhập và các quỹ phúc lợi của người lao động
1.2.1.3 Nguyên tắc quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp kinh
tế
Mục tiêu hoạt động của các Đơn vị sự nghiệp kinh tế là phục vụ lợi ích chung, cung cấp hoạt động dịch vụ công nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Để đề ra được cách thức quản lý tài chính các Đơn vị sự nghiệp kinh tế hiệu quả, công tác quản
lý tài chính ở các Đơn vị sự nghiệp kinh tế phải bảo đảm được các nguyên tắc cơ bản sau:
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Tự chủ được hiểu là hành động tự mình chủ động giải quyết các vấn đề
Tự chủ, hiện nay luôn là một nhu cầu cần thiết của các đơn vị trong việc quản
lý, điều hành hoạt động của mình Bởi đứng trước nền kinh tế thị trường, nếu các Đơn vị sự nghiệp kinh tế không có quyền tự chủ sẽ không thể giải quyết các vấn đề khi thực hiện nhiệm vụ
Tự chủ về tài chính trong các Đơn vị sự nghiệp kinh tế là sự chủ động của các đơn vị trong việc khai thác các nguồn thu, chủ động sử dụng các nguồn lực tài chính theo mục tiêu ưu tiên mà đơn vị đã chọn
Tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các Đơn vị sự nghiệp kinh tế
là việc các đơn vị phải chấp nhận kết quả hoạt động tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của đơn vị theo những mục tiêu đã cam kết
Tự chủ luôn đi liền với tự chịu trách nhiệm Mọi cá nhân đều cần tự
Trang 2013
chịu trách nhiệm với những quyết định tương ứng với nghĩa vụ và bổn phận của mình Tự chịu trách nhiệm trước những cam kết về tài chính Chính vì thế, tự chủ thường cùng chiều với nâng cao chất lượng khi những quyết định đưa ra đều cần phải được cân nhắc trước lợi ích và những hậu quả nhận được
- Trách nhiệm giải trình
Trách nhiệm giải trình là một trong các nghĩa vụ đi kèm với tự chịu trách nhiệm khi giải quyết một vấn đề nào đó Trách nhiệm giải trình được hiểu là sự sẵn sàng cung cấp, giải thích, biện minh cho kết quả hành động của mình với các bên liên quan
Trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính các Đơn vị sự nghiệp kinh tế là sự thừa nhận, chấp nhận trách nhiệm của mình trong việc cung cấp thông tin, thuyết minh rõ các căn cứ, cơ sở khi đưa ra các quyết định, hành động trong khai thác, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính
Trách nhiệm giải trình về tài chính được xem là nghĩa vụ của Đơn vị
sự nghiệp kinh tế với các bên có liên quan đến tài chính và khoa học công nghệ Bao gồm trách nhiệm giải trình của cá nhân đối với cấp quản lý trực tiếp, trách nhiệm giải trình trong nội bộ đơn vị, trách nhiệm giải trình của cơ
sở với bên ngoài, trách nhiệm giải trình của các cơ sở đối với hệ thống quản
lý
Các Đơn vị sự nghiệp kinh tế cần phải giải trình được các vấn đề về các nguồn thu, nội dung chi tiêu, kết quả đạt được trong phát triển khoa học công nghệ nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung không chỉ trước các cơ quan quản lý cấp trên mà còn với công chúng Bởi nguồn thu chủ yếu vẫn là từ NSNN (nguồn NSNN là từ thuế do người dân đóng góp chiếm tỷ lệ quan trọng) và từ các hoạt động sự nghiệp, vì vậy xã hội có quyền được biết chất lượng dịch vụ nhận được có tương xứng với chi phí bỏ ra hay không
- Công khai, minh bạch
Trang 21vị này, có thể phân tích và đưa ra quyết định cuối cùng trong việc phân bổ NSNN (đối với Nhà nước) cũng như quyết định lựa chọn dịch vụ (đối với người tiêu dùng) Đến lượt nó, công khai minh bạch sẽ tạo áp lực về hoạt động quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp kinh tế để tạo ra kết quả tốt nhất nhằm cải thiện quyết định của những người quan tâm Đây là một yêu cầu rất
cơ bản cho công tác quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp kinh tế, nhất là trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay và Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đang được triển khai rộng rãi và mạnh mẽ ở mọi lĩnh vực
1.2.2 Nội dung quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp kinh tế
1.2.2.1 Quản lý nguồn thu của đơn vị sự nghiệp kinh tế
Quản lý thu được hiểu là cách thức, biện pháp thực hiện nhằm xác định các khoản thu, tổ chức khai thác các nguồn thu trong Đơn vị sự nghiệp kinh tế một cách hợp pháp, hiệu quả nhằm đạt được các mục đích như đã định
* Nguồn thu của các Đơn vị sự nghiệp kinh tế: Cụ thể, nguồn thu của
các Đơn vị sự nghiệp kinh tế bao gồm các nội dung chủ yếu:
+ Nguồn NSNN cấp: Nhận thức được vai trò của khoa học công nghệ và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường nên các chính phủ luôn dành một phần ngân sách của mình cho hoạt động khoa học công nghệ,
ở mức nào tùy thuộc chính sách, hoàn cảnh điều kiện của mỗi nước NSNN đóng vai trò chủ chốt trong việc đầu tư cơ sở vật chất tạo nên một hệ thống
Trang 2215
nghiên cứu đồng bộ, định hướng điều phối sự phát triển của khoa học công nghệ, có tác dụng lôi kéo, thu hút vốn đầu tư của các thành phần khác vào hoạt động khoa học công nghệ
Nguồn NSNN bao gồm: Kinh phí bổ sung hoạt động chi thường xuyên: là khoản thu của các Đơn vị sự nghiệp kinh tế từ NSNN trong trường hợp nguồn thu sự nghiệp của đơn vị không đủ bù đắp các khoản chi thường xuyên; Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước do các cơ quan nhà nước giao, đặt hàng trực tiếp hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu và được cấp theo phương thức khoán trên cơ sở hợp đồng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ giữa cơ quan nhà nước và tổ chức khoa học và công nghệ Kinh phí thanh toán cho các đơn vị theo chế độ đặt hàng để thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát…) theo giá hoặc khung giá do nhà nước quy định; Kinh phí cấp để thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định đối với
số lao động trong biên chế dôi ra; Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án và kế hoạch hàng năm, vốn đối ứng cho các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt
+ Nguồn thu sự nghiệp: Thu từ phí và lệ phí theo quy định; thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ; thu từ hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hợp đồng chuyển giao công nghệ; thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; thu sự nghiệp khác (nếu có)
+ Thu khác: Là những khoản thu khác ngoài NSNN cấp và thu sự nghiệp như: vốn khấu hao tài sản cố định; thu thanh lý tài sản được để lại theo quy định; vốn huy động của các cá nhân, vốn vay các tổ chức tín dụng; vốn tài trợ, viện trợ, quà biếu, tặng của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước; các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật (nếu có)
* Đối với các ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước
Trang 2316
Các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư,
BQLDA gồm có:
+ Khoản thu từ nguồn chi phí quản lý dự án tính trong tổng mức đầu
tư của các dự án được giao nhiệm vụ quản lý và thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền Kinh phí này được xác định bằng cách lập dự toán hoặc áp dụng định mức chi phí quản lý dự án theo quy định của Bộ Xây dựng
+ Khoản thu từ các khoản phí được khấu trừ và để lại từ việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý dự án như: tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế xây dựng; thẩm định dự toán xây dựng và các hoạt động khác theo quy định hiện hành
+ Các khoản thu của BQLDA chuyên ngành, BQLDA khu vực từ hoạt động dịch vụ tư vấn cho các chủ đầu tư, BQLDA khác như: quản lý các dự
án được các chủ đầu tư khác ủy nhiệm, ủy thác theo quy định tại Thông tư số 16/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn thực hiện một số Điều của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng; tổ chức lựa chọn nhà thầu, giám sát thi công, lắp đặt thiết bị, thẩm định, thẩm tra thiết kế, dự toán và các hoạt động tư vấn khác Mức thu theo hợp đồng được ký kết, không trái với quy định của pháp luật
+ Thu từ việc tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư (ngoài khoản chi phí tổ chức thực hiện công tác giải phóng mặt bằng thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư đã được tính trong chi phí quản lý dự án được giao theo quy định của Bộ Xây dựng);
+ Thu từ nhiệm vụ quản lý, bảo trì dự án sau hoàn thành của BQLDA khu vực, BQLDA chuyên ngành theo quy định tại Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ
+ Các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật Các
Trang 24bị đầu tư và thực hiện dự án của dự án PPP được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 55/2016/TT-BTC ngày 23/3/2016 của Bộ Tài chính quy định một số nội dung về quản lý tài chính đối với dự án PPP và chi phí lựa chọn
nhà đầu tư
* Cơ chế quản lý các nguồn thu
Cơ chế quản lý thu trong các Đơn vị sự nghiệp kinh tế đảm bảo xác định các nguồn thu, tổ chức các khoản thu một cách hợp pháp
- Xác định mức độ đảm bảo chi thường xuyên:
Cơ chế quản lý áp dụng cho các Đơn vị sự nghiệp kinh tế khác nhau
phụ thuộc vào mức độ tự chủ của các đơn vị, thông qua việc xác định mức
độ bảo chi phí hoạt động thường xuyên Đối với các đơn vị sự nghiệp kinh
tế, khả năng đảm bảo chi phí hoạt động được xác định dựa trên tỷ lệ giữa thu
sự nghiệp của đơn vị so với tổng các khoản chi thường xuyên Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp càng lớn, nguồn kinh phí NSNN cấp bổ sung cho các đơn vị vì thế giảm xuống Những ràng buộc này giúp phân tầng các đơn vị theo các mức độ tự chủ khác nhau Khả năng đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên càng cao, mức độ tự chủ càng lớn, các đơn vị càng có nhiều quyền tự quyết, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ Hoạt động quản lý thu theo đó, có những quy định chung cho tất cả các đơn vị sự nghiệp kinh tế có sử dụng NSNN và có những cơ chế quản lý riêng cho từng loại Đơn vị sự nghiệp kinh tế theo mức độ tự chủ
- Xác định các nguồn thu và tổ chức khai thác các nguồn thu:
+ Nguồn đầu tư từ NSNN cho các Đơn vị sự nghiệp kinh tế chịu tác
Trang 2518
động bởi nhiều nhân tố:
Khả năng của NSNN: Quy mô NSNN càng lớn thì khả năng cung cấp cho sự nghiệp phát triển khoa học công nghệ càng cao và ngược lại
Chính sách ưu tiên phát triển kinh tế của Nhà nước: Trong từng thời
kỳ phát triển của đất nước, Nhà nước tập trung ưu tiên nguồn lực cho từng lĩnh vực, nội dung nhất định Tuy nhiên, đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ là nhiệm vụ hàng đầu bên cạnh đầu tư cho giáo dục, nên Nhà nước ưu tiên dành một tỷ lệ nhất định từ nguồn NSNN và đảm bảo tăng dần hàng năm cho phát triển khoa học và công nghệ
Sự phát triển của nền kinh tế: Thế kỷ XXI là thế kỷ của nền kinh tế trí thức – nền kinh tế trong đó việc sản sinh ra, phổ chập và sử dụng tri thức đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống Đặc điểm của kinh tế tri thức là vai trò ngày càng to lớn của những đổi mới liên tục về khoa học và công nghệ trong sản xuất với
tư cách là nguồn lực cơ bản tạo nên sự tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, yu cầu cần thiết phải tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ
Nguồn NSNN cấp kinh phí cho các đơn vị sự nghiệp kinh tế tuân thủ theo cơ chế quản lý NSNN và theo quy định của pháp luật (Luật NSNN, các quy định về trao quyền tự chủ về tài chính cho các đợn vị sự nghiệp, ) Theo đó, đối với các khoản cấp phát cho chi đầu tư XDCB được quản lý theo
cơ chế quản lý vốn đầu tư XDCB; khoản cấp phát cho chi thường xuyên được xác định trên cơ sở các tiêu chí, định mức, tiêu chuẩn, phù hợp với khả năng NSNN và đảm bảo công bằng giữa các đơn vị sự nghiệp kinh tế Mức kinh phí cụ thể có thể xác định từng năm hoặc ổn định trong từng thời kỳ nhất định (từ 3 đến 5 năm) Khoản kinh phí NSNN cấp cho đơn vị được hòa vào các nguồn để đơn vị thực hiện chi tiêu theo cơ chế chi tiêu nội bộ
+ Nguồn thu sự nghiệp của các Đơn vị sự nghiệp kinh tế bao gồm các
Trang 2619
khoản thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ
à công nghệ theo giá quy định của cấp có thẩm quyền; Nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ sự nghiệp công không
sử dụng ngân sách nhà nước, hợp tác, liên doanh, liên kết về khoa học và công nghệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu khác
Với xu hướng tạo sự tự chủ, được tự quyết định về nguồn tài chính, các Đơn vị sự nghiệp kinh tế được phép chủ động khai thác nguồn thu phù hợp với chuyên môn của đơn vị mình Những khoản thu này phản ánh rất rõ hoạt động của đơn vị sự nghiệp kinh tế, chất lượng dịch vụ mà đơn vị cung cấp, sự năng động của đơn vị trong việc lựa chọn dịch vụ cung cấp cho xã hội Ngân sách và các khoản phí có thể bị giới hạn, nhưng những hoạt động dịch vụ này tùy thuộc vào khả năng của từng đơn vị, định hướng phát triển
có nhanh nhạy và đáp ứng nhu cầu ngày một khắt khe của xã hội và người tiêu dùng hay không
Đối với các khoản thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ, hoạt động quản
lý thể hiện cơ chế linh hoạt, không chịu sự chi phối từ Nhà nước trước những quy định hay định mức, giao quyền tự chủ nhiều hơn cho các Đơn vị sự nghiệp kinh tế trong việc khai thác nguồn thu và sử dụng các nguồn thu này một cách linh hoạt Bên cạnh việc giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp kinh tế, các đơn vị phải chịu trách nhiệm với quyết định của mình
1.1.2.2 Quản lý chi của đơn vị sự nghiệp kinh tế
Quản lý chi là việc sử dụng cơ chế, chính sách tác động lên các hoạt động chi tiêu trong Đơn vị sự nghiệp kinh tế đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ được giao
* Chi thường xuyên:
Nguồn để thực hiện chi trả cho những khoản chi này trước tiên được lấy từ nguồn thu sự nghiệp, bao gồm các khoản phí và khác khoản thu sự nghiệp khác Phần còn lại được bổ sung từ NSNN Những khoản chi này,
Trang 27để kiểm tra giám sát hoạt động chi tiêu của đơn vị Định mức chi vô cùng quan trọng Khi xây dựng định mức chi phải được dựa trên những căn cứ chính xác, có tính thực tiễn cao Định mức chi thường xuyên được chia ra làm hai loại: Chi tiết và tổng hợp
Định mức chi tiết: Định mức được đưa ra cho từng loại mục chi, được quy định khác nhau với các Đơn vị sự nghiệp kinh tế khác nhau dựa trên khả năng tài chính của từng đơn vị, nó có ưu điểm là tính chính xác, thực tiễn Tuy nhiên không phải nội dung chi nào cũng có thể quy định cụ thể, lúc này, định mức tổng hợp được sử dụng, là những định mức chung mà nhà nước quy định cho các Đơn vị sự nghiệp kinh tế cùng loại, cùng mức độ đảm bảo chi phí Theo đó, tùy khả năng tài chính mà đơn vị tự quy định mức chi cho đơn vị mình
Các Đơn vị sự nghiệp kinh tế đều phải xây dựng quy chế chi tiêu nội
bộ cho đơn vị mình, nhằm tăng quyền tự chủ cho các đơn vị, giúp các đơn
vị, các cơ quan quản lý thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động chi tiêu hiệu quả, tiết kiệm
Theo quy định hiện hành các tổ chức khoa học và công nghệ công lập được chủ động sử dụng các nguồn tài chính giao tự chủ để chi thường xuyên, trong đó một số nội dung chi được quy định như sau:
+ Chi tiền lương cho công chức, viên chức, người lao động theo ngạch, bậc, hạng chức danh nghề nghiệp, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương cơ sở, đơn vị tự bảo
Trang 28* Đối với các ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước
- Chi tiền lương: Lương ngạch, bậc theo quỹ lương được giao; lương
theo hợp đồng lao động đối với các cá nhân được hưởng lương từ dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền và quy định hiện hành của Nhà nước về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang
Chi tiền lương làm thêm giờ, làm đêm theo quy định của Luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và các văn bản hướng dẫn thực hiện (Nghị định số 45/2013/NQ-CP ngày 10/05/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Thông tư liên tịch Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính số 08/2005/TTLT-BNV-BTC ngày 05/01/2005 hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có))
- Các khoản phụ cấp lương:
Phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp chức vụ, phụ cấp kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo, phụ cấp khu vực, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp thu hút, phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, các chế độ phụ cấp đặc thù theo nghề hoặc công việc theo quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với các cán bộ công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Nghị định số 17/2013/NĐ-CP ngày 19/2/2013 và số 117/2016/NĐ-CP ngày 21/7/2016 của Chính phủ về sửa đổi,
Trang 29100% mức lương theo cấp bậc, phụ cấp lương được hưởng
* Chi không thường xuyên
Đối với các khoản chi không thường xuyên, những khoản chi không
ổn định và có sự biến động hàng năm, nguồn để thực hiện các khoản chi này chủ yếu là từ NSNN (thông qua dự toán chi đầu tư XDCB, chi chương trình mục tiêu hoặc phần kinh phí sự nghiệp khoa học giao cho đơn vị…)
Cơ chế quản lý chi trong các Đơn vị sự nghiệp kinh tế mặc dù thể hiện tính tự chủ, giao quyền cao hơn cho các đơn vị đối với các khoản chi thường xuyên, các đơn vị được chủ động xây dựng các định mức, tiêu chuẩn trong quy chế chi tiêu nội bộ và được thay đổi cơ cấu chi nhưng vẫn phải đảm bảo theo đúng quy chế, đúng mục đích Đối với các khoản chi không thường xuyên (chi ĐTXDCB, chi NCKH, chi CTMT quốc gia, ), cơ chế quản lý thể hiện sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước với các Đơn vị sự nghiệp kinh
tế không được phép thay đổi các khoản chi mà phải nộp lại Nhà nước nếu không sử dụng hết
1.2.2.3 Quản lý việc phân phối kết quả hoạt động tài chính
Quản lý phân phối kết quả hoạt động tài chính là việc sử dụng cơ chế,
Trang 30Theo quy định hiện hành, hằng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có), đơn
vị được sử dụng theo trình tự như sau:
+ Trích tối thiểu 20% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã tự bảo đảm được trên 70% chi thường xuyên;
+ Trích tối thiểu 15% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã tự bảo đảm được từ 30% đến dưới 70% chi thường xuyên;
+ Trích tối thiểu 10% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã tự bảo đảm được dưới 30% chi thường xuyên;
+ Trích tối thiểu 5% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với
tổ chức khoa học và công nghệ công chưa đảm bảo chi thường xuyên
+ Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 2,5 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, hạng chức danh nghề nghiệp, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã tự bảo đảm được trên 70% chi thường xuyên; không quá 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, hạng chức danh nghề nghiệp, chức vụ và các
Trang 3124
khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã tự bảo đảm được từ 30% đến dưới 70% chi thường xuyên; không quá 1,5 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, hạng chức danh nghề nghiệp, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định đối với
tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã tự bảo đảm dưới 30% chi thường xuyên; không quá 1 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, hạng chức danh nghề nghiệp, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định đối với
tổ chức khoa học và công nghệ công lập chưa đảm bảo chi thường xuyên;
+ Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 2,5 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã tự bảo đảm được trên 70% chi thường xuyên; không quá 2 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã tự bảo đảm được từ 30% đến dưới 70% chi thường xuyên; không quá 1,5 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã tự bảo đảm được dưới 30%; không quá 1 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập chưa đảm bảo chi thường xuyên
+ Trích lập Quỹ khác theo quy định hiện hành; Việc trích lập và mức trích cụ thể của Quỹ bổ sung thu nhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, các quỹ khác do thủ trưởng đơn vị quyết định theo Quy chế chi tiêu nội bộ
và phải công khai trong đơn vị; Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
* Đối với các ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước
- Chi thu nhập tăng thêm:
Trong phạm vi nguồn kinh phí tiết kiệm được, chủ đầu tư, BQLDA xác định hệ số tăng thêm quỹ tiền lương tối đa 1,0 (một) lần so với tiền
Trang 3225
lương ngạch, bậc, chức vụ do nhà nước quy định để chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức, những người hưởng lương từ chi phí quản lý dự án
Việc chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động đảm bảo nguyên tắc gắn với khối lượng, nhiệm vụ công việc được giao, mức độ hoàn thành công việc, bảo đảm thu hút được lao động có trình độ cao và tương quan hợp
lý với tiền lương của cán bộ, công chức trong cùng đơn vị
- Chi khen thưởng: chi khen thưởng định kỳ hoặc đột xuất cho tập thể,
cá nhân theo kết quả công việc và thành tích đóng góp (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định hiện hành của Luật Thi đua khen thưởng)
- Chi các hoạt động phúc lợi tập thể: Hỗ trợ các hoạt động đoàn thể;
Hỗ trợ các ngày lễ, tết, các ngày kỷ niệm (ngày Phụ nữ Việt Nam, ngày Thương binh liệt sỹ, ); Ăn trưa, hiếu, hỷ, thăm hỏi, ốm đau, nghỉ hưu, nghỉ mất sức; Hỗ trợ chi trang phục cho cán bộ và người lao động; Hỗ trợ cán bộ, công chức và người lao động trong biên chế khi thực hiện tinh giản biên chế;
Chi xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi
1.2.2.4 Quy trình quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp kinh tế
Cơ chế quản lý tài chính các Đơn vị sự nghiệp kinh tế thể hiện việc giao quyền tự chủ ở những mức độ khác nhau đối với các khoản thu, chi khác nhau nhằm tạo sự chủ động cho các đơn vị trong việc quản lý, phân phối và sử dụng nguồn tài chính Tuy nhiên, việc quản lý tài chính cũng thể hiện vai trò của Nhà nước khi kiểm soát các hoạt động này thông qua một chu trình với các khâu: Lên kế hoạch (lập dự toán), chấp hành và quyết toán kinh phí nhằm tạo ra sự thống nhất trong quản lý các đơn vị sự nghiệp kinh
tế
- Lập dự toán: Đây là khâu đầu tiên có ý nghĩa quan trọng và quyết định đến các khâu khác trong chu trình quản lý NSNN Lập dự toán được thực hiện bắt đầu từ các ĐVSNCL khoa học và công nghệ, khi lên kế hoạch
Trang 3326
thu chi trong một năm Ngân sách theo đúng căn cứ, yêu cầu, nguyên tắc lập
dự toán trong Luật NSNN
+ Lập dự toán năm đầu thời kỳ ổn định phân loại đơn vị sự nghiệp công lập: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, nhiệm
vụ của năm kế hoạch, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành; căn cứ kết quả hoạt động sự nghiệp, tình hình thu, chi tài chính của năm trước liền kề; đơn
vị lập dự toán thu, chi năm kế hoạch; xác định phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định
+ Lập dự toán 2 năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định phân loại đơn vị sự nghiệp: Căn cứ mức kinh phí NSNN bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao của năm trước liền kề
và nhiệm vụ tăng hoặc giảm của năm kế hoạch, đơn vị lập dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên của năm kế hoạch Đối với kinh phí hoạt động không thường xuyên, đơn vị lập dự toán theo quy định hiện hành
Dự toán kinh phí hoạt động của đơn vị sự nghiệp, gửi cơ quan quản lý cấp trên theo quy định hiện hành
Lập dự toán của cơ quan quản lý cấp trên
+ Căn cứ vào dự toán thu, chi năm đầu thời kỳ ổn định do đơn vị lập,
cơ quan quản lý cấp trên dự kiến phân loại đơn vị sự nghiệp trực thuộc và tổng hợp dự toán thu, dự toán ngân sách bảo đảm chi hoạt động thường xuyên, không thường xuyên (nếu có) cho đơn vị gửi cơ quan tài chính cùng cấp và các cơ quan liên quan theo quy định hiện hành
+ Hàng năm, trong thời kỳ ổn định phân loại đơn vị sự nghiệp, cơ quan chủ quản căn cứ vào dự toán thu, chi của đơn vị sự nghiệp lập, xem xét tổng hợp dự toán NSNN, gửi cơ quan tài chính cùng cấp
Việc lập dự toán NSNN hàng năm được thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp từ cơ sở và tổng hợp từ dưới lên Đơn vị dự toán cấp dưới lập dự toán gửi đơn vị cấp trên trực tiếp, đến đơn vị dự toán cấp I thì số liệu được tổng hợp và
Trang 3427
gửi cơ quan tài chính cùng cấp để cơ quan tài chính tổng hợp và lập dự toán ngân sách theo từng cấp chính quyền
- Giao dự toán và thực hiện dự toán
+ Giao dự toán thu, chi:
Bộ chủ quản (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương); cơ quan chủ quản địa phương (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc địa phương) quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách năm đầu thời kỳ ổn định phân loại cho đơn vị sự nghiệp, trong phạm vi dự toán thu, chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cơ quan tài chính cùng cấp
+ Thực hiện dự toán thu, chi
Đối với kinh phí chi hoạt động thường xuyên: trong quá trình thực hiện, đơn vị được điều chỉnh các nội dung chi, các nhóm mục chi trong dự toán chi được cấp có thẩm quyền giao cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, đồng thời gửi cơ quan quản lý cấp trên và Kho bạc nhà nước nơi đơn
vị mở tài khoản để theo dõi, quản lý, thanh toán và quyết toán Kết thúc năm ngân sách, kinh phí do ngân sách cấp chi hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự nghiệp chưa sử dụng hết, đơn vị được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng
Đối với kinh phí chi cho hoạt động không thường xuyên: khi điều chỉnh các nhóm mục chi, nhiệm vụ chi, kinh phí cuối năm chưa sử dụng hoặc chưa sử dụng hết, thực hiện theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn hiện hành
- Hạch toán, quyết toán thu - chi
Để đảm bảo cho việc chi tiêu công từ các nguồn lực của Nhà nước được thực hiện một cách có hiệu quả, cần theo dõi, giám sát và kiểm tra việc chi tiêu một cách chặt chẽ để đảm bảo đáp ứng các mục tiêu ngân sách đã đặt
ra Các công cụ để theo dõi giám sát và kiểm tra chi tiêu cơ bản và có hiệu lực
Trang 351.2.3 Công cụ quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp kinh tế
1.2.3.1 Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước
Bao gồm các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp Các văn bản pháp luật quy định các điều kiện, chuẩn mực pháp lý cho các hoạt động tài chính tại các đơn vị Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước thực hiện theo hướng tạo điều kiện phát huy quyền tự chủ tài chính cho các ĐVSN khoa học công nghệ thì đó sẽ là động lực nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý tài chính của các đơn vị
sở dự kiến cho năm kế hoạch
1.2.3.3 Quy chế chi tiêu nội bộ
Công cụ này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý tài chính, đảm bảo các khoản thu chi tài chính của Đơn vị sự nghiệp kinh tế được thực hiện theo quy định Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính Thông qua quy chế chi tiêu nội bộ, các đơn vị sẽ thực hiện quản lý tập trung, thống nhất các nguồn thu, duy trì và khuyến khích mở rộng các nguồn thu, đảm bảo chi tiêu thống nhất trong toàn
Trang 3629
đơn vị, thực hiện chi tiết kiệm và hợp lý Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, các ĐVSN tiến hành xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ để cán bộ viên chức trong đơn vị thực hiện và kho bạc nhà nước thực hiện kiểm soát chi
1.2.3.4 Hạch toán, kế toán, kiểm toán
Hạch toán, kế toán là một phần không thể thiếu của quản lý tài chính Để ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản lý, đòi hỏi công tác ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sử dụng kinh phí của đơn vị phải kịp thời, chính xác
Thông qua công tác kiểm toán đơn vị có thể kiểm tra tình hình thực hiện
kế hoạch thu chi tài chính, kiểm tra việc giữ gìn và sử dụng tài sản, sử dụng kinh phí, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hành động tham ô, lãng phí, xâm phạm tài sản, vi phạm các chế độ chính sách, kinh tế của Nhà nước và đơn vị
1.2.3.5 Hệ thống thanh tra, kiểm tra
Công cụ này cho phép chủ động ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực về tài chính trong hoạt động thu chi tài chính của các Đơn vị sự nghiệp kinh tế Đồng thời phát hiện ngăn chặn những hành vi sai trái, tiêu cực trong quản lý tài chính Vì vậy, cần thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên nhằm giúp cho các đơn vị sự nghiệp kinh tế quản lý và sử dụng các nguồn tài chính chặt chẽ và hiệu quả
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp kinh tế
1.2.4.1 Cơ chế quản lý tài chính
Cơ chế quản lý tài chính là tổng thể các phương pháp, công cụ và hình thức tác động lên một hệ thống để liên kết phối hợp hành động giữa các bộ phận thành viên trong hệ thống nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của quản
Trang 3730
lý Quyết định sự thành công hay thất bại trong quản lý nói chung và trong quản lý thu - chi tại đơn vị nói riêng, đó chính là phương pháp và công cụ quản lý
Cơ chế quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp kinh tế là một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp kinh tế Nó có vị trí rất quan trọng thể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:
- Một là, cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp kinh tế có vai trò
cân đối giữa việc hình thành, tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính (các nguồn thu) nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động (các khoản chi) của đơn vị
Do đó, cơ chế phải được xây dựng phù hợp với loại hình hoạt động của đơn vị nhằm tăng cường và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động và phong phú đa dạng về hình thức, giúp cho các đơn vị sự nghiệp kinh
tế hoàn thành tốt nhiệm vụ được Nhà nước giao
- Hai là, cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp kinh tế tác động
đến quá trình chi tiêu ngân quỹ quốc gia, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị Vì vậy, cơ chế đó phải khắc phục được tình trạng lãng phí các nguồn tài chính, đồng thời khuyến khích sử dụng tiết kiệm trong chi tiêu và tôn trọng nhiệm vụ và hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị sự nghiệp kinh tế
- Ba là, cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp kinh tế đóng vai trò
như một cán cân công lý, đảm bảo tính công bằng hợp lý trong việc phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính giữa các loại hình đơn vị sự nghiệp kinh tế, nhằm tạo môi trường bình đẳng, cũng như sự phát triển hài hoà giữa các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong khu vực sự nghiệp khoa học công nghệ
- Bốn là, cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp kinh tế góp phần
tạo hành lang pháp lý cho quá trình tạo lập và sử dụng nguồn tài chính trong
Trang 3831
các đơn vị Nó được xây dựng trên quan điểm thống nhất và hợp lý, từ việc xây dựng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu đến quy định về cấp phát, kiểm tra, kiểm soát quá trình chi tiêu nhằm phát huy vai trò của cơ chế tự chủ tài chính, đạt được mục tiêu của kinh tế vĩ mô Mặt khác, cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp kinh tế quy định khung pháp lý về mô hình tổ chức, hoạt động của đơn vị Chính vì vậy, xây dựng cơ chế quản lý tài chính phải quan tâm về tổ chức bộ máy, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ cán bộ, kết hợp với tăng cường chế độ thống nhất chỉ huy, trách nhiệm thủ trưởng các đơn vị dự toán và các cấp, các ngành trong quản lý
1.2.4.2 Công tác tổ chức quản lý thu - chi
Tổ chức quản lý thu - chi tại các đơn vị sự nghiệp kinh tế cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến khả năng tự chủ tài chính tại đơn
vị Công tác tổ chức có tốt mới có thể tạo thêm được nhiều nguồn thu và tăng thêm doanh thu trong những nguồn thu đã có đồng thời sử dụng hợp lý các khoản chi trong điều kiện các nguồn thu cho phép Để công tác tự chủ tài chính mang lại hiệu quả cao thì công tác tổ chức quản lý thu chi cần phải:
Đối với các nguồn thu: Phải tổ chức lập kế hoạch, dự toán thật khoa
học, chính xác và kịp thời Đề ra các biện pháp tổ chức thu thích hợp đối với các nguồn thu từ phí, lệ phí (các nguồn thu không phải từ NSN cấp) để tránh tình trạng thất thoát nguồn thu
Đối với các khoản chi: Nhằm đạt được tiêu chuẩn tiết kiệm và hiệu quả
trong quản lý các khoản chi của các đơn vị sự nghiệp có thu cần thiết phải tổ chức chặt chẽ từ khâu xây dựng kế hoạch, dự toán, xây dựng định mức, thường xuyên phân tích, đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện các khoản chi của các đơn vị sự nghiệp kinh tế nói riêng cũng như công tác tài chính của các đơn vị sự nghiệp nói chung
Đối với các khoản chi tại đơn vị sự nghiệp kinh tế, việc tổ chức quản
lý thu - chi được thực hiện theo một quy trình thống nhất: Lập dự toán ngân
Trang 3932
sách - chấp hành ngân sách - kế toán và quyết toán ngân sách Quy trình này được lặp đi lặp lại hàng năm tạo nên chu trình ngân sách
Trong quá trình tổ chức quản lý thu - chi tại các đơn vị sự nghiệp kinh
tế thì kiểm tra là một hoạt động rất quan trọng, không thể thiếu được, bởi lẽ kiểm tra tài chính tại các đơn vị có tác dụng tăng cường công tác tự chủ tài chính nói chung và tăng cường quản lý thu - chi nói riêng, thúc đẩy thực hiện
kế hoạch sử dụng hợp lý các khoản thu - chi nói riêng, thúc đẩy thực hiện kế hoạch công tác của đơn vị, đảm bảo tính mục đích của đồng vốn, thúc đẩy việc sử dụng hợp lý các khoản thu - chi nhằm tăng hiệu quả kinh tế, hiệu quả
xã hội của số vốn ngân sách đầu tư cho các hoạt động sự nghiệp cũng như góp phần thực hành tiết kiệm, thúc đẩy đơn vị tôn trọng chính sách, chế độ,
kỷ luật tài chính của Nhà nước
1.2.4.3 Trình độ cán bộ quản lý
Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý, là khâu trọng yếu trong việc xử lý các thông tin để đề ra các quyết định quản lý Trình độ cán bộ quản lý là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời chính xác của các quyết định quản lý, do đó nó có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý, quyết định sự thành bại của công tác quản lý tài chính tại đơn vị
sự nghiệp kinh tế
Đối với các cơ quan quản lý cấp trên, nếu cán bộ quản lý tài chính có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sẽ đưa ra được những giải pháp phù hợp, xử lý thông tin quản lý kịp thời, chính xác làm cho hoạt động quản lý ngày càng đạt kết quả tốt
Đối với các đơn vị cơ sở trực tiếp chi tiêu, một đội ngũ cán bộ kế toán tài chính có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác là một điều kiện hết sức cần thiết để đưa công tác quản lý tài chính kế toán của các đơn vị cơ sở ngày càng đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài
Trang 40có tư cách pháp nhân đầy đủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của mình Ban quản lý dự án 2 chịu sự chỉ đạo trực tiếp toàn diện của
Bộ Giao thông Vận tải, gửi KBNN nơi giao dịch để kiểm soát chi theo quy định, Phòng Tài chính- Kế toán để theo dõi, giám sát
+ Ban quản lý dự án 2 đã rà soát sửa đổi bổ sung các định mức kinh tế -
kỹ thuật như: định mức lao động, định mức vật tư, định mức chi phí khác phù hợp với tình hình thực tế; tận dụng triệt để vật tư tồn kho còn sử dụng