1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1959 1975)

12 437 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 37,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1959 1975).Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta, công tác chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định nhất đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cùng với tuyến đường chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh nổi tiếng thế giới, dân tộc ta còn lập một kỳ tích nữa trong lịch sử, đó là tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh trên biển. Đây là một kỳ tích có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; là biểu hiện của ý chí sắt đá, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong bức điện gửi cán bộ, chiến sỹ Lữ đoàn 125 (khi mới thành lập có phiên hiệu là đoàn 759 đơn vị trực tiếp xây dựng tuyến chi viện chiến lược và làm nên kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển) hải quân nhân kỷ niệm 35 năm mở đường Hồ Chí Minh trên biển (1961 1996), Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đánh giá: “Năm tháng sẽ qua đi, nhưng chiến công anh hùng và sự hy sinh cao cả của các lực lượng mở đường vận tải chiến lược mang tên Bác Hồ kính yêu trên biển Đông, của những “con tàu không số” của quân và dân các bến bãi, làm nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại sẽ mãi mãi đi vào lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh, Tổ quốc và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công lao của những người đã làm nên kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển”. Những đóng góp hiệu quả của tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh trên biển (1961 1975) đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, vượt lên những tính toán thông thường về chiến tranh của chính quyền Mỹ Ngụy, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho hôm nay và mai sau. Với lòng biết ơn và sự tri ân sâu sắc đối với những hy sinh, đóng góp của các thế hệ cha anh, nhóm chúng tôi xin chọn “ Vai trò đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1959 1975)” làm đề tài tiểu luận của mình. Hy vọng qua đó không chỉ chúng tôi mà nhiều người khác không những hiểu biết sâu sắc hơn về những hoạt động, vai trò to lớn của tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh trên biển trong nhiệm vụ chi viện cho chiến trường mà qua đó cũng thấy được sự sáng tạo, thành công của Đảng ta trong tổ chức lãnh đạo, chỉ huy tuyến chi viện chiến lược này. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp logic, phương pháp so sánh, liệt kê số liệu.Kết cấu bài tiểu luận gồm ba chương: Chương I: Quá trình hình thành tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh trên biển Chương II: Hoạt động của tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh trên biển và vai trò của nó đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chương III: Ý nghĩa của tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh trên biển. B. NỘI DUNGChương I: quá trình hình thành và phát triển của đường Hồ Chí Minh trên biển1.1Tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ những năm 19581959.Những năm 19581959, cách mạng miền Nam ở vào thời kỳ vô cùng khó khăn. Tổ chức đảng từ cấp xứ xuống đến các chi bộ bị đánh phá ác liệt. Số cán bộ, cấp ủy bị thiệt hại lớn, số lượng đảng viên sụt giảm chưa từng thấy. Năm 1956, toàn Nam Bộ có 800 chi bộ, đến cuối năm 1959, chỉ còn một số ít chi bộ, hoạt động rất khó khăn. Đến giữa năm 1959, Nam Bộ chỉ còn 3 nghìn đảng viên bám xã. Số cán bộ tương đương huyện ủy, tỉnh ủy bị bắt nhiều. Ở Đông Nam Bộ, cuối năm 1954, ta bố trí ở lại Gia Định 3.700 đảng viên, đến năm 1959, Đảng bộ chỉ còn 1 chi bộ. Đảng bộ Sài Gòn Chợ Lớn đầu năm 1957 còn 600 đảng viên, đến cuối năm 1958 còn 200 đồng chí. Có những địa phương bị thiệt hại nặng như: huyện Hóc Môn (Gia Định) năm 1954 bố trí ở lại 1 nghìn đảng viên, đầu năm 1959 chỉ còn 1 đảng viên.Trước thực tế như vậy, Đảng vẫn kiên trì không đấu tranh vũ trang, các cán bộ, đảng viên tại chỗ vừa phải đối phó với sự khủng bố gắt gao của chính quyền Ngô Đình Diệm, vừa chịu sức ép lớn từ phía cơ sở và những quần chúng cách mạng. Không ít cán bộ đảng viên và quần chúng thắc mắc, hoài nghi đường lối của Đảng, họ muốn đấu tranh vũ trang ngay.1.2 Đường Hồ Chí Minh trên biển hình thành.Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sau những năm đầu hết sức khó khăn, đến năm 1959, đặc biệt là sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam có bước phát triển nhảy vọt. Phong trào nổi dậy của quần chúng kết hợp với đấu tranh vũ trang ngày càng lan rộng. Trước tình hình địch đẩy mạnh chiến tranh, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp và ra Nghị quyết về “nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam”, để chi viện cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, ngày 1951959, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập “Đoàn quân sự đặc biệt” có nhiệm vụ mở đường, vận chuyển vũ khí, lương thực, tổ chức đưa đón bộ đội từ Nam ra Bắc và ngược lại. Hai con đường huyết mạch quan trọng được hình thành. Đó là con đường 559 theo dãy Trường Sơn và đường Hồ Chí Minh trên biển. Đường Hồ Chí Minh trên biển là tên gọi của tuyến đường vận tải quân sự do Hải quân nhân dân Việt Nam và quân giải phóng miền Nam bí mật thực hiện trên biển Đông vào ngày 23 tháng 10 năm 1961 trong chiến tranh chống Mỹ để vận chuyển con người, vũ khí, lương thực từ miền Bắc vào để chi viện cho quân giải phóng miền Nam. Với vị trí địa lý mang tính chiến lược, đường Hồ Chí Minh trên biển đóng vai trò vô cùng quan trọng và được xem là bước ngoặt của cuộc kháng chiến cam go góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc trước đế quốc Mỹ hùng mạnh.Chương 2: Vai trò của đường Hồ Chí Minh trên biển trong kháng chiến chống Mỹ2.1. Hoạt động chính của đường Hồ Chí Minh trên biển trong kháng chiến chống MỹVận chuyển cung cấp cho các mặt trận nóng bỏng nhất trên chiến trường miền Nam nơi mà cuộc chiến đấu phải tính đến từng khẩu súng, từng viên đạn, thì giá trị của số vũ khí hàng hoá đó được nhân lên gấp bội.Đường Hồ Chí Minh trên biển đã góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại và trọn vẹn của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.Với tên gọi “Đoàn tàu Không số”, con đường Hồ Chí Minh trên biển đãvận chuyển 150.000 tấn vũ khí, trang bị và 80.000 lượt cán bộ vượt biển vào Nam chiến đấu. Đường Hồ Chí Minh trên biển là con đường của niềm tin tất thắng, con đường tự hào của bộ đội Hải quân Nhân dân Việt Nam. Với phương châm hoạt động bí mật bất ngờ, sử dụng các loại tàu nhỏ, ngụy trang giống tàu đánh cá, tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển đã mở ra một hướng chi viện mới, hết sức quan

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta, công tác chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định nhất đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Cùng với tuyến đường chi viện chiến lược- đường

Hồ Chí Minh nổi tiếng thế giới, dân tộc ta còn lập một kỳ tích nữa trong lịch sử, đó

là tuyến chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh trên biển Đây là một kỳ tích có

ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; là biểu hiện của ý chí sắt đá, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta Trong bức điện gửi cán bộ, chiến sỹ Lữ đoàn 125 (khi mới thành lập có phiên hiệu

là đoàn 759- đơn vị trực tiếp xây dựng tuyến chi viện chiến lược và làm nên kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển) hải quân nhân kỷ niệm 35 năm mở đường Hồ Chí Minh trên biển (1961- 1996), Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đánh giá: “Năm tháng sẽ qua đi, nhưng chiến công anh hùng và sự hy sinh cao cả của các lực lượng mở đường vận tải chiến lược mang tên Bác Hồ kính yêu trên biển Đông, của những

“con tàu không số” của quân và dân các bến bãi, làm nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại sẽ mãi mãi

đi vào lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc ta Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh, Tổ quốc và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công lao của những người đã làm nên kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển” Những đóng góp hiệu quả của tuyến chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh trên biển (1961-1975) đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, vượt lên những tính toán thông thường về chiến tranh của chính quyền Mỹ- Ngụy, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho hôm nay và mai sau Với lòng biết ơn và sự tri ân sâu sắc đối với những hy sinh, đóng góp của các thế hệ cha anh, nhóm chúng tôi xin chọn “ Vai trò đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1959- 1975)” làm đề tài tiểu luận của mình Hy vọng qua đó không chỉ chúng tôi mà nhiều người khác không những hiểu biết sâu sắc hơn về những hoạt động, vai trò to lớn của tuyến chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh trên biển trong nhiệm vụ chi viện cho chiến trường mà qua đó cũng thấy được sự sáng tạo, thành công của Đảng ta trong tổ chức lãnh đạo, chỉ huy tuyến chi viện chiến lược này

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp logic, phương pháp so sánh, liệt kê

số liệu

Trang 2

Kết cấu bài tiểu luận gồm ba chương:

Chương I: Quá trình hình thành tuyến chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh trên biển

Chương II: Hoạt động của tuyến chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh trên biển và vai trò của nó đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Chương III: Ý nghĩa của tuyến chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh trên biển

B NỘI DUNG

Chương I: quá trình hình thành và phát triển của đường Hồ Chí Minh trên biển

1.1Tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ những năm 1958-1959

Những năm 1958-1959, cách mạng miền Nam ở vào thời kỳ vô cùng khó khăn Tổ chức đảng từ cấp xứ xuống đến các chi bộ bị đánh phá ác liệt Số cán bộ, cấp ủy bị thiệt hại lớn, số lượng đảng viên sụt giảm chưa từng thấy Năm 1956, toàn Nam Bộ có 800 chi bộ, đến cuối năm 1959, chỉ còn một số ít chi bộ, hoạt động rất khó khăn Đến giữa năm 1959, Nam Bộ chỉ còn 3 nghìn đảng viên bám

xã Số cán bộ tương đương huyện ủy, tỉnh ủy bị bắt nhiều Ở Đông Nam Bộ, cuối năm 1954, ta bố trí ở lại Gia Định 3.700 đảng viên, đến năm 1959, Đảng bộ chỉ còn 1 chi bộ Đảng bộ Sài Gòn - Chợ Lớn đầu năm 1957 còn 600 đảng viên, đến cuối năm 1958 còn 200 đồng chí Có những địa phương bị thiệt hại nặng như: huyện Hóc Môn (Gia Định) năm 1954 bố trí ở lại 1 nghìn đảng viên, đầu năm 1959 chỉ còn 1 đảng viên

Trước thực tế như vậy, Đảng vẫn kiên trì không đấu tranh vũ trang, các cán

bộ, đảng viên tại chỗ vừa phải đối phó với sự khủng bố gắt gao của chính quyền Ngô Đình Diệm, vừa chịu sức ép lớn từ phía cơ sở và những quần chúng cách mạng Không ít cán bộ đảng viên và quần chúng thắc mắc, hoài nghi đường lối của Đảng, họ muốn đấu tranh vũ trang ngay

1.2 Đường Hồ Chí Minh trên biển hình thành

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sau những năm đầu hết sức khó khăn, đến năm 1959, đặc biệt là sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam

có bước phát triển nhảy vọt Phong trào nổi dậy của quần chúng kết hợp với đấu tranh vũ trang ngày càng lan rộng Trước tình hình địch đẩy mạnh chiến tranh, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp và ra Nghị quyết về “nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam”, để chi viện cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược,

Trang 3

ngày 19/5/1959, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập “Đoàn quân sự đặc biệt” có nhiệm vụ mở đường, vận chuyển vũ khí, lương thực, tổ chức đưa đón bộ đội từ Nam ra Bắc và ngược lại Hai con đường huyết mạch quan trọng được hình thành Đó là con đường 559 theo dãy Trường Sơn và đường Hồ Chí Minh trên biển

Đường Hồ Chí Minh trên biển là tên gọi của tuyến đường vận tải quân sự do Hải quân nhân dân Việt Nam và quân giải phóng miền Nam bí mật thực hiện trên biển Đông vào ngày 23 tháng 10 năm 1961 trong chiến tranh chống Mỹ để vận chuyển con người, vũ khí, lương thực từ miền Bắc vào để chi viện cho quân giải phóng miền Nam

Với vị trí địa lý mang tính chiến lược, đường Hồ Chí Minh trên biển đóng vai trò vô cùng quan trọng và được xem là bước ngoặt của cuộc kháng chiến cam

go góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc trước đế quốc Mỹ hùng mạnh

Chương 2: Vai trò của đường Hồ Chí Minh trên biển trong kháng chiến chống Mỹ

2.1 Hoạt động chính của đường Hồ Chí Minh trên biển trong kháng chiến chống Mỹ

Vận chuyển cung cấp cho các mặt trận nóng bỏng nhất trên chiến trường miền Nam nơi mà cuộc chiến đấu phải tính đến từng khẩu súng, từng viên đạn, thì giá trị của số vũ khí hàng hoá đó được nhân lên gấp bội.Đường Hồ Chí Minh trên biển đã góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại và trọn vẹn của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Với tên gọi “Đoàn tàu Không số”, con đường Hồ Chí Minh trên biển đãvận chuyển 150.000 tấn vũ khí, trang bị và 80.000 lượt cán bộ vượt biển vào Nam chiến đấu Đường Hồ Chí Minh trên biển là con đường của niềm tin tất thắng, con đường tự hào của bộ đội Hải quân Nhân dân Việt Nam Với phương châm hoạt động bí mật bất ngờ, sử dụng các loại tàu nhỏ, ngụy trang giống tàu đánh cá, tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển đã mở ra một hướng chi viện mới, hết sức quan trọng, đưa hàng chi viện của miền Bắc đến với các chiến trường xa mà tuyến đường Hồ Chí Minh trên bộ chưa có điều kiện vươn tới được Tháng 8 - 1963, Đoàn 759 được giao cho Quân chủng Hải quân phụ trách và trực tiếp đảm đương nhiệm vụ vận chuyển, chi viện đường biển cho các chiến trường miền Nam Đến ngày 24/01/1964, Đoàn 759 được điều chỉnh tổ chức, phát triển thành Lữ đoàn 125

Trang 4

Hải quân Trong hơn 3 năm hoạt động (1962 - 1965), đường Hồ Chí Minh trên biển đã chi viện cho các tỉnh ven biển thuộc chiến trường Khu 5, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ được 89 chuyến tàu với gần 5 nghìn tấn vật chất, chủ yếu là vũ khí, đạn dược

2.2Các hoạt động chính tại căn cứ và bến bãi

• K15

K15 là bí danh được đặt tên cho bến tàu xuất phát có quy mô lớn đầu tiên của các con tàu không số vận chuyển người và vũ khí từ Bắc vào Nam bằng đường biển trong Chiến tranh Việt Nam Nó còn có tên khác là "Vạn Xép" Bến này được

mở lần đầu tiên tại các thôn Vạn Hoa và Vạn Sơn (Đồ Sơn, Hải Phòng), do Trung đoàn công binh 83 xây dựng Đây là một vịnh nhỏ ăn sâu vào đất liền ở bờ Đông bán đảo Đồ Sơn, Hải Phòng Vịnh này có ba phía là núi, đường ra biển duy nhất nằm ở hướng Tây Nam, độ sâu khoảng 3 m khi thủy triều xuống và đến 4 m khi thủy triều lên Cầu cảng được xây hình chữ T Thân chính rộng 6 m, dài 60 m; thân ngang rộng 6 m, dài 12 m Toàn bộ cầu tàu được làm bằng bê tông cốt thép dạng khung chịu lực kiểu dầm gác hai đầu Ngày 15 tháng 5 năm 1964, cầu tàu K15 bắt đầu hoạt động Tuy ra đời sau tuyến vận tải quân sự bí mật trên biển đầu tiên từ Quảng Bình vào miền Nam và các chuyến tàu từ miền Nam ra miền Bắc nhận vũ khí và trở lại miền Nam nhưng lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam vẫn coi đây như "Cột km số 0" của các tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển

Cầu cảng K15 đánh dấu một bước chuyển biến lớn của Đường Hồ Chí Minh trên biển Đó là việc các tàu sắt được đưa vào sử dụng, dần thay thế cho các con tàu gỗ kém an toàn Trong quá trình hoạt động, cảng K15 đã tổ chức xếp hàng và xuất phát cho 88 chuyến vận tải quân sự trên biển, gồm 4.919 tấn vũ khí đạn dược

và hàng nghìn tấn hàng hóa khác Do được ngụy trang rất kín đáo nên trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam, không quân và hải quân Hoa Kỳ vẫn không phát hiện được cầu cảng K15 Sau nửa thế kỷ, đặc biệt từ năm 1975 đến nay không còn được hoạt động, công trình đã hư hại nặng Hiện nay, tại bãi biển Vạn Sơn (Đồ Sơn, Hải Phòng) chỉ còn lại di tích các cọc bê tông của cầu tàu trên bến cảng quân sự bí mật K15

• Sa Huỳnh

Sa Huỳnh là một làng chài cổ đồng thời là một bãi biển nổi tiếng ở miền Trung Trung Bộ với nghề đánh cá từ lâu đời Trong quá trình hoạt động của

"Đường Hồ Chí Minh trên biển"; Sa Huỳnh là một trong những bến bãi tiếp nhận

Trang 5

vũ khí, đạn dược, hàng hóa do các chuyến tàu không số chuyên chở từ miền Bắc gửi vào cho Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại chiến trường Khu V

• Quy Thiện

Địa điểm Quy Thiện thuộc xã Phổ Hiệp, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

Là một trong các bến đỗ dự bị của các chuyến tàu không số trong trường hợp tàu bị hỏng, là nơi tránh trú khi gặp bão lớn hoặc bị hải quân Việt Nam Cộng hòa vây ráp Tháng 3 năm 1968, tại đây đã diễn ra cuộc hội ngộ không hẹn mà gặp giữa các cán bộ, nhân viên của Bệnh xá Đức Phổ nổi tiếng do bác sĩ Đặng Thùy Trâm lãnh đạo với các thủy thủ Tàu 43 khi tàu bị không quân và hải quân Việt Nam Cộng hòa bắn hỏng Các thủy thủ phải đổ bộ lên bờ và được người dân trong vùng bí mật đưa đến trạm xá này để cứu chữa Sau đó, họ được Bộ Chỉ huy Khu V của Quân giải phóng miền Nam tổ chức vượt Trường Sơn trở lại miền Bắc.[3]

• Lộ Diêu

Bến này nằm trên địa bàn xã Hoài Diêu, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

Ở vào vị trí giữa đèo Lộ Diêu trong và đèo Lộ Diêu ngoài, phía Tây là núi, phía Đông là bãi biển, Lộ Diêu được chọn làm bến trung chuyển vũ khí, đạn dược và hàng hóa do các con tàu không số chở từ miền Bắc vào chiến trường khu V Bến

Lộ Diêu bắt đầu hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1964 khi đón con tàu đầu tiên chở hàng chục tấn vũ khí xuất phát từ Hòn Dấu, Hải Phòng đi vào

• Lộc An

Địa điểm này nay thuộc huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Đây là bến xuất phát của một trong năm con thuyền gỗ đầu tiên mở tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển từ Nam ra Bắc và ngược lại Trong quá trình hoạt động, bến này đã đón 3 tàu không số cập bến, vận chuyển 109 tấn vũ khí cho Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại Khu IX

• Cồn Tàu

Đây là bến chính trong hệ thống bến bãi Trà Vinh, nằm ở gần cửa Cung Hầu, một trong ba cửa chảy ra biển của sông Hậu, thuộc huyện Duyên Hải Bến này bắt đầu hoạt động từ tháng 6 năm 1963 khi đón chuyến tàu sắt đầu tiên chở 44 tấn vũ khí từ Bắc vào Nam

• Bến "Ông Hai Ghiền"

Đây là biệt danh được những người lính của Trung đoàn vận tải 962 đặt cho Bến Thạnh Phong Địa điểm này nay thuộc xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Đây là nơi xuất phát của con tàu đầu tiên của Việt Minh ở vùng Tây Nam Bộ ra Bắc xin vũ khí để tổ chức kháng chiến chống Pháp từ năm 1946 Từ

Trang 6

năm 1961 đến năm 1962, 2 chuyến tàu của lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam ở Tây Nam Bộ cũng xuất phát từ đây ra Bắc xin chi viện vũ khí và trở về

an toàn Bến này cũng với các bến Cồn Tra và Cồn Lợi hợp thành một hệ thống bến bãi đón nhận vũ khí, đạn dược, hàng hóa của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại tỉnh Bến Tre Mặc dù theo sự bố trí của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Thạnh Phong thuộc khu VIII nhưng lại đóng vai trò là bến trung chuyển lớn cho cả miền Đông và miền Tây Nam Bộ trong thời kỳ 1961-1963 Kho cất giữ vũ

ký bí mật phục vụ cho bến Thạnh Phong được xây dựng dưới lòng đất tại xã Thạnh Thới A, gần bến phà Cầu Ván, thuộc huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tra Xã Thạnh Thới

A cũng là nơi đóng sở chỉ huy Trung đoàn vận tải 962 của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại Khu IX

2.3 Vai trò của đường HCM trên biển qua các giai đoạn kháng chiến

a Vai trò của đường HCM trên biển giai đoạn 1962-1965:

Có thể nói ở giai đoạn này, đường Hồ Chí Minh trên biển làm nhiệm vụ chi viện, góp phần đánh thắng chiến lược “chiến tranh đặc biệt của Mỹ”, cụ thể:

Đường Hồ Chí Minh viện chiến lược, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Từ chuyến đi thành công của tàu Phương Đông I đến khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tuyến chi viện chiến lược - Đường Hồ Chí Minh trên biển đã vận chuyển hơn 96.000 tấn vũ khí đạn dược và các vật chất khác cùng hơn 17.000 lượt cán bộ chiến

sĩ chi viện chiến trường miền Nam Con số đó tuy không thể sánh với khối lượng vận chuyển của đường Hồ Chí Minh trên bộ, nhưng lại có ý nghĩa và tầm quan trọng rất đặc biệt Tuyến chi viện chiến lược - Đường Hồ Chí Minh trên biển ra đời

đã kịp thời đáp ứng được yêu cầu cấp thiết hiện tại.Từ khi được chi viện vũ khí từ miền Bắc, việc hạ máy bay, bắn cháy tàu chiến, xe bọc thép M113, nhổ đồn bốt diễn ra liên tục khiến cho kẻ địch từ chỗ chủ quan, hung hăng ngạo mạn thành khiếp sợ, né tránh, chùn bước Ngoài cung cấp vũ khí và các vật chất khác cho các chiến trường xa, tuyến chi viện chiến lược trên biển có ưu thế hơn đường bộ là thời gian nhanh hơn, kịp thời hơn, vũ khí trang bị đồng bộ hơn do không bị nhầm lẫn, thất lạc Đường Hồ Chí Minh trên biển đạt hiệu quả rất cao

Tính từ tháng 10-1962 đến tháng 2-1965, ta đã sử dụng 3 tàu vỏ gỗ, 17 tàu

vỏ sắt tổ chức đưa 88 chuyến tàu tới đích (không tính các chuyến trinh sát, mở đường) vận chuyển được 4.919,636 tấn vũ khí và một số mặt hàng thiết yếu vào chiến trường2 (Cà Mau, Bạc Liêu 45 chuyến, Bến Tre 23 chuyến, Trà Vinh 12 chuyến, Bà Rịa 3 chuyến, Vũng Rô 4 chuyến, Bình Định 1 chuyến), đạt 93% kế

Trang 7

hoạch, vượt chỉ tiêu Trung ương giao (Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng giao chỉ tiêu đưa được 50% số hàng tới đích đã là thành công) Riêng hai năm 1962 và 1964, đạt tỷ lệ cao nhất: 100% (57/57) số chuyến thành công

Qua con đường vận tải biển, hậu phương lớn miền Bắc đã tiếp tế kịp thời vũ khí, đạn dược cho chiến trường miền Nam Được trang bị vũ khí, kỹ thuật quân sự tương đối đầy đủ, đồng bộ, năm 1964, Quân giải phóng mở chiến dịch tiến công Bình Giã; năm 1965, mở chiến dịch Đồng Xoài và Ba Gia đánh bại hoàn toàn

“chiến lược chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ Sau các chiến thắng có ý nghĩa chiến lược này, năm 1965, khối chủ lực cơ động Quân giải phóng phát triển thành

5 sư đoàn và 11 trung đoàn bộ binh, cùng nhiều trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng

kỹ thuật, sẵn sàng bước vào cuộc đọ sức với quân Mỹ Sự kiện này đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam nhờ vào sự chi viện tích cực của hậu phương miền Bắc qua 2 con đường chiến lược huyền thoại: Đường bộ Trường Sơn và Đường vận tải biển

Tuyến chi viện chiến lược trên biển bảo đảm thời gian nhanh hơn, kịp thời hơn, vũ khí trang bị đồng bộ và đạt hiệu quả cao

Trong giai đoạn từ tháng 10-1962 đến tháng 2-1965, với 88 chuyến tàu, mỗi tàu có từ 10-20 cán bộ chiến sĩ, tỷ lệ đến đích đạt 93% (trong khi tỷ lệ cấp trên cho phép là 50%), tuyến chi viện chiến lược trên biển đưa tới các chiến trường được 4.919,636 tấn vũ khí và các mặt hàng thiết yếu Với khối lượng đó, nếu dùng người gùi thồ, mỗi người trung bình gùi 25kg thì phải huy động tới 196.785 người đi liên tục trong 6 tháng (trong điều kiện đường sá bị địch đánh phá ngăn chặn) Mỗi người mỗi tháng sử dụng 21kg, 6 tháng 126kg gạo thì phải cần tới 24.794.910kg gạo (chưa tính các nhu yếu phẩm khác và tổn thất dọc đường) Còn nếu dùng ôtô, trung bình 1 xe chở được 2,5 tấn thì phải huy động 1.968 xe đi trong 2 tháng, sử dụng khoảng 4.000 tấn xăng dầu, chưa kể các chi phí bảo đảm khác và tổn thất dọc đường

b.Vai trò của đường HCM trên biển giai đoạn 1965-1968

Trong giai đoạn này, đường Hồ Chí Minh khắc phục khó khăn, gian khổ, vượt qua thử thách cam go để tiếp tục chi viện cho chiến trường miền Nam đồng thời góp phần đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ ” và “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ Hàng nghìn lượt người, vũ khí, hàng hóa đã được chi viện vào chiến trường miền Nam cam go, thử thách, cụ thể:

Trong 4 năm 1965-1968, Đoàn 125 đã tổ chức 27 chuyến tàu, trong đó chỉ

có 7 chuyến tàu tới đích, giao được hơn 400 tấn hàng quân sự cho các chiến

Trang 8

trường Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, tận dụng thời điểm không quân Mỹ tạm ngừng ném bom miền Bắc, Đoàn 125 vận chuyển được một khối lượng hàng lớn tới các địa điểm vùng giới tuyến, sau đó Đoàn 559 vận chuyển bằng đường bộ vào chiến trường miền Nam Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu vũ khí, đạn dược ngày càng tăng cho chiến trường miền Nam, ta còn tổ chức vận chuyển hàng viện trợ quân sự của các nước anh em bằng tàu biển quốc tế, quá cảnh qua cảng Xi-ha-núc Vin (Cam-pu-chia) Bằng cách này, Đoàn 125 đã đưa vào chiến trường miền Nam hơn 90.000 tấn hàng hóa, trong đó có hơn 20.000 tấn vũ khí, đạn dược

Đường Hồ Chí Minh trên biển hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho chiến trường góp công lớn vào thắng lợi của sự nghiệp thống nhất nước nhà Điều

đó được thể hiên qua các con số cụ thể:

Con số vài chục ngàn tấn đi theo đường biển nếu so với con số vận tải của đường Trường Sơn trên bộ thì ít hơn nhiều Nhưng nó cũng có những nét ưu việt

mà tuyến chi viện đường bộ trên dãy Trường Sơn không thể có được Con đường Trường Sơn trên đất liền chủ yếu vận tải cho các chiến khu miền núi, miền Đông Nam Bộ Những vùng ven biển miền Trung và nhất là miền Tây Nam Bộ thì rất khó vận chuyển vũ khí đạn dược qua hệ thống đường bộ, ở đây chỉ có dùng đường biển Chính con đường này đã tạo ra sức mạnh chiến đấu trên tất cả mọi vùng: Duyên Hải miền Trung, đồng bằng Nam Bộ

Ngày 15/10/1965, tức 8 tháng sau "Vụ Vũng Rô", cuộc thử nghiệm bắt đầu với con tàu 42, do Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng và Chính trị viên Trần Ngọc

An chỉ huy, chở 61,6 tấn vũ khí lên đường Phải mất 20 ngày giờn dứ với máy bay

và tàu chiến đối phương, nhiều lần vào bến phải lộn ra, cuối cùng mới lừa được hệ thống phong tỏa và vào bến Rạch Kiến vùng Bạc Liêu an toàn

Sau đó ngày 10 tháng 11 năm 1965, tàu 69 lên đường, chở 62 tấn, sau 14 ngày lênh đênh ngoài khơi xa để chờ cơ hội, đã vào được bến Vàm Lũng, Cà Mau, ngày 24/11

Ngày 17/12 tàu 68 lên đường với 64 tấn vũ khí Đây là chuyển đi quanh co lâu ngày nhất: 2 tháng 5 ngày Mãi đến ngày 20/02/1966 tàu mới vào được Bạc Liêu Ngày 24/12/1965 tàu 100 chở 61,4 tấn vũ khí lên đường và ngày 13/01/1966

đã vào bến Bạc Liêu an toàn Ngày 15/03/1966 tàu 42 lại lên đường một lần nữa,

và hơn 1 tháng sau, ngày 19/04 thì vào được Bạc Liêu với 61,2 tấn vũ khí

Như vậy là hơn một năm sau "Vụ Vũng Rô", đã có năm chuyến tàu chọc thủng được hệ thống ngăn chặn dày đặc của đối phương Tuy nhiên, do đối phương

Trang 9

đã đề phòng rất kỹ, nên mọi hoạt động đều khó khăn và gặp nhiều trắc trở hơn trước.Trong tình thế hai bên phải “lừa miếng" nhau, có khi thắng, có khi thất bại.Cụ thể là rất nhiều chuyến tàu không lọt được lưới kiểm soát, buộc phải quay về.Đã có nhiều lần đối phương phát hiện "tàu lạ”, tổ chức vây bắt

Đã có những trận thủy chiến ác liệt Cũng không ít lần các chiến sĩ đã phải chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, sau đó phá hủy tàu để bảo vệ tàu và hàng không lọt vào tay đối phương, đảm bảo bí mật của con đường, và giữ được lời thề danh

dự Lại cũng đã có những con tàu không kịp phá và bị bắt Hàng chục trường hợp phải quay về

Sau những thất bại kể trên, năm 1967 Đoàn 125 tổ chức năm chuyến vận tải cho Khu V, nhưng tất cả đều bị tàu đối phương đánh chặn, ba chuyến phải quay về, chỉ có hai chuyến tàu số 43 và 198 vào được bến nhưng phải chiến đấu ác liệt, tổn thất khá lớn

Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, Đoàn 125 đã tổ chức bốn chuyến đi.Vì biết tình thế rất khó khăn nên Đoàn đã bố trí rất công phu Mỗi tàu xuất phát từ một bến khác nhau, đi theo những hướng khác nhau, vào các bến khác nhau Nhưng cuối cùng không một tàu nào tới đích.Chỉ có tàu 235 chuyển giao được hàng bằng cách thả hàng xuống nước tại bến Ninh Phước

Tính từ vụ Vũng Rô đến cuối năm 1968, Đoàn 125 tổ chức vận tải 28 chuyến, nhưng chỉ có 7 chuyến thành công, chở được 410 tấn vũ khí cho cả Nam

Bộ và Nam Trung Bộ So với yêu cầu thì con số đó hoàn toàn không đủ

Kể từ sau Tết Mậu Thân, tháng 2 năm 1968, hoạt động của Đoàn 125 phải tạm thời đình chỉ phương pháp hàng hải thiên văn và tìm hướng giải quyết khác

c.Vai trò của đường HCM trên biển giai đoạn 1968-1976

Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, đường HCM trên biển càng cho thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng của mình Vai trò to lớn đó được thể hiện cụ thể qua những thành công mà quân nhân ta đã đạt được sau mỗi chuyến tàu vận chuyển qua con đường HCM trên biển

Đường Hồ Chí Minh là tuyến chi viện chiến lược trên biển bảo đảm thời gian nhanh hơn, kịp thời hơn, vũ khí trang bị đồng bộ và đạt hiệu quả cao biển đã

đã vượt qua thử thách ác liệt, khắc phục khó khăn để vận chuyển chi viện cho chiến trường giai đoạn này,góp phần đánh thắng chiến lược chiến tranh cục bộ

‘’Việt Nam hóa chiến tranh’’ đế quốc Mỹ.Tổ chức 411 chuyến tàu vận chuyển 50 tấn hang hóa,đưa đón 2042 lượt người.Đặc biệt đoàn 371 dùng thuyền gỗ vận

Trang 10

chuyển hợp pháp ven biển từ Bắc vào Nam 37 chuyến,vận chuyển 620 tấn vũ khí,hang hóa và quân khu IX từ tháng 11/1968 đến tháng 6/1969.Đoàn tổ chức 598 chuyến tàu vận chuyển gián tiếp 34774 vũ khí hang hóa cho chiến trường Đường

Hồ Chí Minh biển lại tiếp tục tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (1973-1975).Cụ thể :Vận chuyển tham gia chiến dịch tổng tiến công xây dựng mùa xuân 1975 cùng với 143 tàu khơi, chuyên chở 8721 tấn vũ khí, 50 xe tang pháo,vận chuyển 1847 cán bộ,chiến sĩ thi đấu,hành trình 65721 hải lí.Đánh chìm PCF,đánh hỏng nặng tàu khác,gọi hang tàu ,bắt sống

42 tù binh.Tham gia giải phóng quần đảo trường sa, gồm song Tử Tây,Nam Yết , Sơn Ca, Sinh tồn ,Trường Sa Tham gia giải phóng khu vực Cù Lao Thu, quần đảo Tây Nam, Phó Quốc,Thổ Chu,Po-lo-vai.Chở 1000 chiến sỹ nhà tù Côn Đảo trở về.Tham gia tiếp quản số quân cảng Những đóng góp không thể không kể đến hoạt động đoàn tàu không số ngày đêm kháng chiến chống Mỹ cứu nước ta

Trong gia đoạn này, tuyến chi viện chiến lược trên biển còn vận chuyển những loại hàng “đặc biệt” Đó là những ngoại tệ mạnh, những loại máy móc thiết

bị y tế quý hiếm, những hóa chất đặc biệt Và đặc biệt hơn cả là đã đưa đón an toàn tuyệt đối hàng trăm cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, quân đội và các chuyên gia đầu ngành tăng cường cho chiến trường như các đồng chí: Lê Đức Anh (đi Tàu 55 vào Nam Bộ năm 1964 và đi Tàu 159.TT của Đoàn 371 ra miền Bắc tháng 11-1973), Võ Văn Kiệt (đi Tàu 159.TT vào Nam Bộ tháng 10-1973)

Chương 3: Ý nghĩa của tuyến chi viện đường Hồ Chí Minh trên biển

Sự thành công của con đường đã để lại những ý nghĩa lịch sử to lớn, đó là: Thắng lợi của Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện tầm nhìn chiến lược, sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ kính yêu Cùng với Đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh trên biển đã góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại và trọn vẹn của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đồng thời, con đường còn là khát vọng độc lập dân tộc, ý chí nghị lực, sự mưu trí sáng tạo và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, là một trong những con đường huyền thoại, kỳ tích có một không hai trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc mà Quân chủng Hải quân, trực tiếp là Đoàn 125 Anh hùng,

đã xây đắp nên

Đường Hồ Chí Minh trên biển là con đường nối liền giữa hậu phương lớn miền Bắc với các chiến trường miền Nam, những địa bàn mà tuyến đường Trường Sơn trên bộ lúc đó chưa vươn tới được để kịp thời vận chuyển chi viện vũ khí trang

bị cho lực lượng vũ trang, góp phần nâng cao khả năng chiến đấu, phát triển lực

Ngày đăng: 31/03/2019, 22:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w