1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đường hồ chí minh trên biển (1959 1965)

158 626 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bức điện gửi cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 1251 hải quân nhân kỷ niệm 35 năm mở đường Hồ Chí Minh trên biển 1961-1996, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đánh giá: "Năm tháng sẽ qua đi, nhưng ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ THUÝ NGA

ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN (1959-1965)

Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM

Mã số: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VŨ TANG BỒNG

HÀ NỘI - 2008

Ket-noi.com dien dan giao duc

Trang 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 6

6 Đóng góp của luận văn 7

Chương một

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TUYẾN CHI VIỆN CHIẾN LƯỢC-

ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN

Trang 3

1.2.2 Chuẩn bị lực lượng, phương tiện, bến bãi 38

1.2.3 Chuyến đi trinh sát mở đường 41

Chương 2

HOẠT ĐỘNG CỦA TUYẾN CHI VIỆN CHIẾN LƯỢC -

ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN TRONG NHỮNG NĂM TỪ 1962 ĐẾN 1965

2.2.3 Mở tuyến chi viện chiến trường Đông Nam Bộ 58

2.2.4 Đoàn 759 trực thuộc Cục Hải quân (đổi tên thành Đoàn 125), tiếp tục đẩy mạnh vận chuyển chi viện chiến trường

67

2.2.5 Mở tuyến chi viện chiến trường Khu 5 76

2.2.5.1 Chuyến mở đường vào Khu 5 giao hàng tại bến Lộ Giao (Bình Định)

78

2.2.5.2 Những chuyến tàu vào Vũng Rô 80

2.3 Sự kiện Vũng Rô và phương thức vận chuyển mới 87

2.3.1 Sự kiện Vũng Rô (tháng 2-1965) 87

2.3.2 Chuyển sang phương thức vận chuyển mới 93

2.3.2.1 Địch tăng cường phong toả vùng biển phía Nam 93

2.3.2.2 Ta kịp thời chuyển phương thức vận chuyển 97

Trang 4

GIAI ĐOẠN 1959-1965

3.1 Quán triệt đường lối quan điểm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Đảng, đề ra phương châm, phương thức vận chuyển linh hoạt, sáng tạo, phát huy hiệu quả hoạt động vận chuyển chi viện chiến trường bằng đường biển

105

3.2 Dựa vào dân phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các địa phương, ban ngành, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế để thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chi viện chiến trường miền Nam

114

3.5 Tổ chức xây dựng lực lượng tinh gọn; chỉ huy kiên quyết, linh hoạt

và tuyệt đối giữ bí mật là những yếu tố quan trọng quyết định thắng lợi của tuyến vận chuyển chi viện chiến trường bằng đường biển

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta, công tác chi viện sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam giữ vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định

Cùng với tuyến đường chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên bộ nổi tiếng thế giới, dân tộc ta còn lập một kỳ tích nữa trong lịch sử, đó là tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển Đây là một kỳ tích có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đứng đầu; là biểu hiện của ý chí sắt đá, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta

Trong bức điện gửi cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 1251

hải quân nhân kỷ niệm 35 năm mở đường Hồ Chí Minh trên biển (1961-1996), Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đánh

giá: "Năm tháng sẽ qua đi, nhưng chiến công anh hùng và sự hy sinh cao cả của các lực lượng mở đường vận tải chiến lược mang tên Bác Hồ kính yêu trên biển Đông, của những con tàu “không số”, của quân và dân các bến bãi, làm nhiệm vụ chi viện cho cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, sẽ mãi mãi đi vào lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh Tổ quốc và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công lao của những người đã làm nên kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển" [73; 349]

Trong lịch sử xây dựng, hoạt động và chiến đấu anh dũng của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển, giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1965 là giai đoạn tuyến chi viện chiến lược từng bước hình thành và nhanh chóng đi vào

1 Đoàn 125 (khi mới thành lập có phiên hiệu là 759) - đơn vị trực tiếp xây dựng tuyến chi viện chiến lược và làm nên kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển

Trang 6

hoạt động Kết quả vận chuyển vũ khí chi viện chiến trường giai đoạn này chẳng những có ý nghĩa chiến đấu, chiến dịch mà còn có ý nghĩa chiến lược to lớn Trong khi tuyến vận chuyển trên Trường Sơn đang trong giai đoạn soi đường, chủ yếu vận chuyển bằng phương thức gùi thồ và gặp rất nhiều khó khăn do địch ngăn chặn thì tuyến chi viện chiến lược trên biển lại có những đóng góp to lớn, hiệu quả, với khối lượng lớn vũ khí chi viện chiến trường miền Nam và vận chuyển trực tiếp cho các địa bàn chiến lược mà tuyến chi viện trên bộ chưa thể vươn tới được Nhờ đó đã góp phần bảo đảm cho quân và dân ta ở miền Nam đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - nguỵ

Những đóng góp hiệu quả của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển giai đoạn 1959-1965 đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, vượt lên những tính toán thông thường về chiến tranh của chính quyền Mỹ - ngụy, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý cho hôm nay và mai sau Với lòng biết ơn và tri ân đối với những hy sinh, đóng

góp của các thế hệ cha anh, tôi chọn: "Đường Hồ Chí Minh trên biển (1959-1965)"

làm đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển Nhiều công trình đã được công bố trong và ngoài nước

2.1 Ở trong nước, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các địa phương, đơn vị, các cấp, các ngành đều tiến hành tổng kết và biên soạn lịch sử chiến tranh, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển

Theo đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu có thể phân các công trình trên theo các nhóm sau:

2.1.1 Những công trình nghiên cứu ở cấp chiến lược như:

Trang 7

- Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, H,

- Tổng cục Hậu cần, Lịch sử vận tải Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1975),

Nxb Quân đội nhân dân, H, 1992

- Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, Nxb

Quân đội nhân dân, H, 1995

- Tổng cục Hậu cần, Lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam (1954-1975), tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1999

- Tổng cục Hậu cần, Tổng kết công tác hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H, 2001,…

Những công trình trên đều đề cập đến tổ chức, hoạt động của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển - một yếu tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Song do nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, các công trình trên không đi sâu làm nổi bật vị trí, vai trò của tuyến chi viện chiến lược trên biển trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

2.1.2 Nhiều công trình lịch sử đơn vị và địa phương cũng đề cập đến tuyến vận tải chi viện chiến lược trên biển như:

- Bộ Tư lệnh Hải quân có các công trình: Lịch sử Đoàn 125 hải quân 2001), Nxb Quân đội nhân dân, H, 2002; Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị hải

Trang 8

(1961-quân trong vận tải (1961-quân sự đường biển chi viện chiến trường miền Nam (1961-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H, 2004; Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, H, 2005; Lịch sử Ngành kỹ thuật Hải quân nhân dân Việt Nam, tập I (1955-1975), Nxb Quân đội nhân dân, H, 2005;…

Các công trình của địa phương gồm có: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đường Hồ Chí Minh trên biển Bà Rịa - Vũng Tàu, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1993; Ban chỉ huy quân sự Đồ Sơn, Thị xã Đồ Sơn - Lịch sử kháng chiến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1945-2002), Nxb Quân đội nhân dân,

H, 2003; Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên - Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Phú Yên: Vũng Rô - những chuyến tàu lịch sử, Phú Yên, 2007 và Sự kiện tàu

“không số” Vũng Rô (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Phú Yên, 2007,

Các công trình trên đã khai thác được nhiều tư liệu tốt, có giá trị nhưng chỉ đề cập từng mặt chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội trong phạm vi của mỗi ngành, mỗi địa phương, đơn vị, nên không phản ánh được tính toàn diện của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển; nhiều số liệu và sự kiện chưa chính xác

Ngoài những công trình kể trên, còn có một số bài nghiên cứu đăng tải trên các

tạp chí: Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử quân sự; các báo Trung ương và địa phương như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Thanh niên, Cà Mau, Phú Yên, trình bày tuyến chi

viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển theo từng góc độ, nội dung cụ thể

2.2 Nhiều công trình của người nước ngoài viết về cuộc chiến tranh Việt Nam, trong đó có đề cập đến tuyến vận chuyển chi viện chiến lược trên biển, một

số đã được dịch ra tiếng Việt

Trong đó các công trình đáng chú ý là:

- Giôn Pho và Rô-bớt Uy-li-am (John Forbes and Robert Williams), Lực lượng trên sông (Force in river), Nxb Bantani Books, New York, bản dịch của Viện

Lịch sử quân sự Việt Nam, 1987

- Ga-bi-en Côn-cô (Gabriel Kolko), Giải phẫu một cuộc chiến tranh - Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991

Trang 9

(Anatomy of a war - Vietnam, the united states and the modern historical experience, Pantheon books, New York, 1985)

- Giôn Pra-đốt (John Prados), Con đường máu (The Blood Road), New York:

John Wiley and Sons, 1998

- Da-ni-en En-béc (Daniel Ellsberg), Những bí mật về chiến tranh Việt Nam: Hồi ức về Việt Nam và tài liệu Lầu Năm góc (Secrets: A Memmoir of Việt Nam and the Pentagon Papers), người dịch: Tĩnh Hà - Kiều Oanh, Nxb Công an nhân dân,

Điểm lại tình hình nghiên cứu có thể thấy, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện về tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển Ở một số công trình, nhiều tư liệu, số liệu chưa được đối chiếu, so sánh, phân tích theo phương pháp khoa học nên chưa bảo đảm tính chính xác Song tất cả các công trình trên đều là nguồn tài liệu quý giá, gợi mở để tác giả tham khảo, kế thừa và phát triển trong quá trình nghiên cứu đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ những hoạt động, kết quả đóng góp của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển trong nhiệm vụ chi viện chiến trường

- Khẳng định tầm vóc ý nghĩa, vai trò của tuyến chi viện chiến lược - đường

Hồ Chí Minh trên biển trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,

Trang 10

giai đoạn 1959-1965 Qua đó làm rõ vị trí, vai trò của hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Kế thừa thành quả của các tác phẩm, công trình nghiên cứu đã xuất bản và dựa trên những nguồn tư liệu mới, luận văn trình bày một cách hệ thống, phân tích, đánh giá toàn diện, khách quan, theo quan điểm lịch sử về quá trình hình thành và hiệu quả hoạt động của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giai đoạn 1959-1965 Qua

đó, làm nổi bật tầm vóc ý nghĩa của đường Hồ Chí Minh trên biển đối với thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta

- Phân tích làm sáng tỏ đường lối, chủ trương của Đảng, trực tiếp là Quân

ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Hải quân trong tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển

- Bước đầu rút ra một số nhận xét về tổ chức và hoạt động của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển giai đoạn 1959-1965

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh

trên biển

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Tổ chức và hoạt động của tuyến chi viện chiến

lược - đường Hồ Chí Minh trên biển giai đoạn 1959-1965

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh và quân đội; đường lối chung và đường lối quân sự, nghệ thuật

tổ chức chỉ đạo tiến hành chiến tranh nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

Để thực hiện được đề tài, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau: phương pháp lịch sử, phương pháp lô-gích, phương pháp thống kê, phương pháp đối chiếu, so sánh và các phương pháp khác như phân tích và khai thác tư liệu kể của các nhân chứng

5.3 Nguồn tư liệu

Luận văn chủ yếu khai thác các tài liệu gốc lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, các phông: Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng,

Bộ Tổng Tham mưu, Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh, báo cáo của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Hải quân và một số địa phương tham gia tuyến vận tải chi viện chiến lược trên biển như Cà Mau, Bà Rịa, Bến Tre, Trà Vinh, Phú Yên,

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số tư liệu thu thập được qua khai thác các nhân chứng trực tiếp tham gia tuyến vận chuyển chi viện chiến trường, cùng một số sách, báo, tài liệu đã được xuất bản trong nước và nước ngoài

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Luận văn làm nổi bật quá trình hình thành, hoạt động và tầm vóc ý

nghĩa đặc biệt quan trọng của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giai đoạn 1959-

1965

6.2 Lần đầu tiên tuyến chi viện chiến lược trên biển giai đoạn 1959-1965

được tái hiện đầy đủ và toàn diện, qua đó, luận văn nêu bật những chủ trương, biện pháp kịp thời, đúng đắn, sáng tạo của Đảng, Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân, cấp ủy, chính quyền các địa phương trong công tác chi viện chiến trường bằng đường biển

6.3 Trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn bổ sung nhiều tư liệu mới,

đồng thời chỉnh lý nhiều tư liệu chưa chính xác trong một số công trình nghiên cứu trước đây

6.4 Luận văn góp phần phục vụ công tác nghiên cứu, tổng kết và giảng dạy lịch

sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở các học viện nhà trường trong và ngoài

Trang 12

quân đội, đồng thời góp phần bồi dưỡng, giáo dục truyền thống yêu nước, “uống nước nhớ nguồn” cho các thế hệ trẻ Với những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn đấu tranh cách mạng để giành độc lập, thống nhất sẽ giúp người nghiên cứu có cái nhìn toàn diện, thấu đáo hơn, góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện những chủ trương, biện pháp đúng đắn, sáng tạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước theo đường lối công nghiệp hoá - hiện đại hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Quá trình hình thành tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển (1959-1962)

Chương 2: Hoạt động của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển trong những năm từ 1962 đến 1965

Chương 3: Một vài nhận xét về tổ chức và hoạt động của tuyến chi viện chiến lược - đường Hồ Chí Minh trên biển giai đoạn 1959-1965

Trang 13

Chương một

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TUYẾN CHI VIỆN CHIẾN LƯỢC -

ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN

Đối với Việt Nam, Hiệp định Giơ-ne-vơ quy định thời hạn tổ chức Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước vào ngày 20 tháng 7 năm 1956 Trong khi chờ đợi Tổng tuyển cử, vĩ tuyến 17 được xác định là đường ranh giới quân sự tạm thời Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền: Miền Bắc hoàn toàn giải phóng; miền Nam tạm thời dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai

Hiệp định Giơ-ne-vơ là một thắng lợi to lớn sau 9 năm kháng chiến lâu dài, gian khổ và vô cùng anh dũng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ mới: thời kỳ

Trang 14

xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam

Là nước trực tiếp giúp Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương (1945-1954) và là một thành viên của Hội nghị Giơ-ne-vơ, nhưng với âm mưu hất cẳng Pháp, chia cắt lâu dài đất nước ta; biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam châu Á nên đế quốc Mỹ đã tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ Ngay sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký chưa ráo mực, Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao

tuyên bố: "Mỹ không bị hiệp nghị này ràng buộc" [23; 354]

Tháng 6 năm 1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về lập nên chính phủ bù nhìn ở miền Nam Việt Nam Phái đoàn quân sự Mỹ (S.M.M) được thành lập ở Sài Gòn, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ thông qua "chương trình khẩn cấp" tăng cường viện trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm

Tháng 11 năm 1954, Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao cử tướng Cô-lin đến Sài Gòn Một kế hoạch đặt ách thống trị thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam được vạch ra mang tên "Kế hoạch Cô-lin" Nội dung chủ yếu của kế hoạch này bao gồm 6 điểm:

- Hất cẳng thực dân Pháp và các lực lượng thân Pháp để độc chiếm miền Nam Việt Nam;

- Tiêu diệt lực lượng cách mạng, phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, chia cắt Việt Nam

- Giúp Diệm xây dựng chính quyền “hợp pháp”, “hợp hiến” đứng được trên thế ba chân: chính trị, kinh tế, quân sự

- Giúp Diệm xây dựng “quân đội quốc gia” gồm cả trang bị và huấn luyện

- Thực hiện nhiều cải cách kinh tế nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thị trường tiêu thụ

- Dành ưu tiên cho hàng hoá và vốn đầu tư của Mỹ để phát triển kinh tế miền Nam

Trang 15

Âm mưu của Mỹ là muốn biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, rồi dùng miền Nam Việt Nam làm bàn đạp tiến công miền Bắc, ngăn chặn làn sóng cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa tại khu vực Đông Nam Á

Với kế hoạch trên, Mỹ - nguỵ tập trung xây dựng quân đội ngụy và mạng lưới tề điệp, lập hệ thống đồn bốt dày đặc cùng bộ máy nguỵ quyền ở cơ sở Chúng buộc những người tham gia kháng chiến phải trình diện, những người có chồng, con

đi theo cách mạng phải tuyên bố "ly khai" Chúng thẳng tay đàn áp, khủng bố những người yêu nước, gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm máu man rợ như ở Hướng Điền (Quảng Trị), Vĩnh Trinh (Quảng Nam), Mỏ Cày (Bến Tre),

Tháng 3 năm 1956, chính quyền Diệm tiến hành tuyển cử riêng rẽ, hợp pháp hoá chính quyền tay sai, đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo hộ của khối quân sự Đông Nam Á (SEATO)

Sau hai năm xây dựng và củng cố bộ máy thống trị, Mỹ - Diệm đã xây dựng được một đội quân phản động, trang bị hiện đại gồm 150.000 quân chủ lực và 10.000 bảo an, dân vệ, cảnh sát Chúng tuyên bố "tố cộng, diệt cộng" là quốc sách,

ra sức thi hành một chính sách phản động, phát xít khủng bố dã man trả thù những người yêu nước, nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng ở miền Nam Việt Nam

Tháng 5 năm 1957, chúng ban hành đạo luật đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật

Trước phong trào đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của nhân dân miền Nam, tháng 3 năm 1959, nguỵ quyền Ngô Đình Diệm ra tuyên bố đặt miền Nam Việt Nam trong tình trạng chiến tranh Tháng 5 năm 1959, Ngô Đình Diệm lại ban hành Luật 10/59 lê máy chém đi khắp miền Nam, gây nên những vụ giết người man rợ, tàn sát các chiến sĩ cách mạng, khủng bố phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Từ năm 1954 đến năm 1959, Mỹ - Diệm mở hàng vạn cuộc càn quét, vây ráp, điển hình như các chiến dịch Phan Chu Trinh, Trịnh Minh Thế,… tàn sát đẫm máu người yêu nước, những người kháng chiến cũ… Theo con số ước tính, đến năm

1959 ở miền Nam có 446.000 người bị bắt, 400.000 người bị tù đày, 68.000 người

Trang 16

bị giết hại, Ở đồng bằng Nam Bộ, nhiều xã không còn chi bộ Các tỉnh Gia Định, Biên Hoà mỗi tỉnh chỉ còn 1 chi bộ đảng Toàn miền Nam chỉ còn khoảng 5.000 đảng viên Các cơ sở cách mạng ở miền Nam đều bị tổn thất nặng nề [74; 46]

Cuối năm 1960, Ken-nơ-đi thay Ai-xen-hao làm Tổng thống nước Mỹ Ngày 28 tháng 1 năm 1961, Ken-nơ-đi thông qua chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”

và chọn miền Nam Việt Nam làm nơi thí điểm chiến lược quân sự này Về thực chất, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam là “dùng người Việt đánh người Việt” bằng vũ khí trang bị Mỹ và cố vấn Mỹ, dưới cái ô “bảo trợ” của Mỹ Đây

là một âm mưu thâm độc, một chiến lược quân sự – chính trị nguy hiểm Bởi lẽ, Mỹ

sẽ thực hiện sự kết hợp giữa những thủ đoạn chiến tranh tàn bạo và vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại của chúng với sự điên cuồng, man rợ của bọn tay sai bao gồm tất cả các thế lực của giai cấp phong kiến, tư sản mại bản phản động ở Việt Nam, mà trực tiếp

là ở miền Nam Việt Nam

Trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", việc ngăn chặn sự chi viện về người, vũ khí và trang bị tiếp tế của miền Bắc cho miền Nam nhằm cô lập phong trào cách mạng miền Nam là nội dung được đế quốc Mỹ hết sức coi trọng Tháng 5 năm 1961, Ken-nơ-đi đưa hai đại đội trực thăng và 400 quân thuộc "lực lượng đặc biệt" Mỹ vào miền Nam Việt Nam, chuẩn y chương trình hành động của lực lượng đặc biệt và tăng cường mọi khả năng, phương tiện nhằm bịt biên giới, vùng giới tuyến và vùng ven biển (bằng hệ thống tình báo, hệ thống ra-đa, máy bay trinh sát, hải thuyền và hệ thống đồn trại của "lực lượng đặc biệt" )

Từ tháng 6 năm 1961, đế quốc Mỹ tăng nhanh số quân và vũ khí trang bị cho quân nguỵ, bố trí lại lực lượng toàn chiến trường, huấn luyện quân chính quy, bảo

an và dân vệ chiến thuật "chống du kích"; đồng thời phát triển mạng lưới tình báo,

tề điệp nhằm phát hiện lực lượng vũ trang, các căn cứ và cơ quan lãnh đạo cách mạng Đối với quân chính quy nguỵ, Mỹ tăng cường hệ thống cố vấn và lực lượng yểm trợ hoả lực Cố vấn Mỹ được đưa tới các tiểu khu và cấp tiểu đoàn Phi công

Mỹ tham gia các cuộc hành quân càn quét của nguỵ Lực lượng phòng vệ dân sự do

Trang 17

“lực lượng đặc biệt” của lục quân Mỹ ở Việt Nam huấn luyện và chỉ huy, phối hợp chiến đấu với quân chính quy trong kế hoạch "bình định"

Để thực thi Hiệp ước phòng thủ chung do Mỹ và chính quyền tay sai Sài Gòn

ký kết từ ngày 18 tháng 10 năm 1961, Ngô Đình Diệm tuyên bố “tình hình khẩn cấp” và sử dụng “quyền đặc biệt” ở miền Nam Tại Oa-sinh-tơn, Tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi thông báo: Quân lực Hoa Kỳ đã được chuẩn bị tham gia vào nỗ lực liên quân gia tăng với Việt Nam cộng hoà và sẽ tham gia hành quân với quân đội Nam Việt Nam [23; 429]

Ngày 8 tháng 2 năm 1962, Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) được thành lập, đánh dấu giai đoạn chuyển từ hình thức cố vấn quân sự sang hình thức có lực lượng vũ trang Mỹ tham chiến

Mục đích của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, mà Mỹ vẫn gọi là “chiến tranh chống lật đổ” là để chống chiến tranh du kích, chống lại chiến tranh giải phóng của nhân dân các dân tộc bị áp bức Đó là loại chiến tranh không có chiến tuyến cố định và thường ít huy động những binh đoàn chủ lực lớn Hình thức của loại chiến tranh này là phối hợp đầy đủ các hoạt động chính trị, quân sự, tâm lý, kinh tế… Công cụ chủ yếu được sử dụng là quân đội ngụy cùng vũ khí, phương tiện chiến tranh và tiền bạc của Mỹ, do cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” được Mỹ cho là một sáng tạo về lý luận quân sự, một phương pháp

có hiệu quả để dập tắt phong trào giải phóng dân tộc, thực hiện vai trò sen đầm quốc

tế của Mỹ

Để thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ đã ráo riết tăng viện trợ kinh tế, quân sự cho chính quyền Ngô Đình Diệm Năm 1960, Mỹ viện trợ cho nguỵ quyền Sài Gòn 164 triệu đô-la; hai năm 1961 và 1962 tăng lên 750 triệu

đô-la [24; 331]

Dưới sự chỉ huy của Mỹ, cùng đô-la và vũ khí do Mỹ chi viện, chính quyền Diệm ra sức đôn quân, bắt lính Chỉ trong vòng 1 năm (1961), chúng đưa lực lượng quân chính quy ngụy lên 20 vạn tên, tổ chức thành 7 sư đoàn bộ binh, 6 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ; đồng thời đưa lực lượng bảo an lên 8 vạn tên, tổ chức ở mỗi tỉnh

từ một đến hai tiểu đoàn bảo an Lực lượng dân vệ cũng được đôn lên đến 7 vạn tên,

Trang 18

tổ chức thành các đại đội dân vệ ở cấp quận, huyện Chúng đóng thêm hàng nghìn đồn bốt, huy động một lực lượng lớn quân nguỵ mở hàng vạn cuộc hành quân càn quét với các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”… nhằm tiêu diệt lực lượng

vũ trang cách mạng, dập tắt phong trào đấu tranh của quần chúng, tái chiếm lại các vùng giải phóng

Với âm mưu và thủ đoạn như trên, Mỹ - nguỵ đã gây cho ta rất nhiều khó khăn, nhất là khi chúng đẩy mạnh tái chiếm một số nơi nhân dân ta đã giành được quyền làm chủ trong thời gian đồng khởi

Trước âm mưu của Mỹ - ngụy, ngày 15 tháng 7 năm 1954, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 mở rộng Hội nghị quyết định phương châm sách lược đấu

tranh của ta trong giai đoạn mới là: "Chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp, dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hiện hoà bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương, củng cố hoà bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và thực hiện dân chủ trong toàn quốc" [53; 225]

Từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, ra nghị quyết về "Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng" Nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ trước mắt của quân và dân ta trên hai miền

Nam, Bắc là: đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phòng và khắc phục âm mưu phá hoại Hiệp định đình chiến để củng cố hoà bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, đặng củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc [53; 287]

Thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 9 năm 1954), nhân dân miền Nam chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị Xứ ủy Nam Bộ, Liên khu ủy Liên khu 5, Ban cán sự Đảng các tỉnh cực Nam Trung Bộ và các tỉnh ủy chỉ thị cho cán bộ, đảng viên bám địa bàn, xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, duy trì một số căn cứ ở rừng núi, đồng thời

Trang 19

lựa chọn để lại tại mỗi địa phương một số cán bộ quân sự và bí mật cất giấu một số

vũ khí Một số cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng được Đảng đưa vào hoạt động bí mật trong nguỵ quân, nguỵ quyền

Tháng 8 năm 1956, đồng chí Lê Duẩn - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị phân công ở lại chỉ đạo phong trào cách

mạng miền Nam đã viết "Đề cương cách mạng miền Nam", trong đó khẳng định: con

đường đưa cách mạng miền Nam tiến lên là bạo lực cách mạng

Quán triệt Nghị quyết Bộ Chính trị và đáp ứng nguyện vọng của quần chúng nhân dân, vận dụng tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kinh nghiệm vũ trang tuyên truyền trước Cách mạng tháng Tám vào điều kiện lịch sử mới, Xứ ủy Nam Bộ và các cấp ủy Đảng địa phương ở miền Nam đã kịp thời đề ra những chủ trương và phương thức hoạt động thích hợp nhằm duy trì lực lượng ở miền Nam, từng bước chống lại những âm mưu, chiến lược mới của Mỹ - nguỵ

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ, các địa phương đã xây dựng và phát triển những tổ chức nòng cốt từ đảng viên qua quần chúng trung kiên đến quần chúng rộng rãi, móc nối liên lạc với các cơ sở trong hội tề, dân vệ và một số đơn vị chính quy nguỵ Các đội tự vệ bảo vệ cơ quan tỉnh ủy, huyện ủy và các tiểu đội, trung đội vũ trang bí mật được tổ chức ở nhiều tỉnh

Tại Nam Bộ, tháng 10 năm 1957, Tiểu đoàn 250 - đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của miền Đông Nam Bộ được thành lập Đến giữa năm 1958, thành lập Bộ

Tư lệnh miền Đông Nam Bộ

Tại Liên khu 5, năm 1958, Liên khu ủy ra Nghị quyết về "Xây dựng căn cứ địa cách mạng và bước đầu xây dựng lực lượng vũ trang ở Liên khu" Đến cuối năm

1958, nhiều khu căn cứ đã hình thành ở Hiên (Quảng Nam), Trà Bồng (Quảng Ngãi), xã Hiến (Kon Tum), Bác Ái (Ninh Thuận),

Phong trào cách mạng miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng từng bước được khôi phục và phát triển, các đơn vị vũ trang đẩy mạnh diệt ác trừ gian,

Trang 20

khiến bọn tay sai rất hoang mang Sang năm 1959, hoạt động vũ trang ở miền Nam càng phát triển mạnh

Được duy trì, khôi phục và phát triển từ lực lượng chính trị của quần chúng,

từ trong cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn, ác liệt của nhân dân nhằm giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, đến năm 1959, lực lượng vũ trang tự vệ ở miền Nam đã có 139 trung đội ở Nam Bộ, 34 trung đội ở miền núi Liên khu 5 và hàng trăm tổ đội tự vệ mật ở các xã, ấp [23; 398]

Đây là một thành quả rất quan trọng của cách mạng miền Nam trong những năm đấu tranh chính trị 1954-1959, là một trong những yếu tố đảm bảo cho nhân dân miền Nam tiến lên khởi nghĩa vũ trang, đồng thời là cơ sở để phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang tại chỗ trong những năm tiếp theo

Từ ngày 13 đến ngày 21 tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II mở rộng họp Hội nghị lần thứ 15 tại Thủ đô Hà Nội đề ra nhiệm vụ cơ

bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là "giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh" [54; 81]

Nghị quyết chỉ rõ quá trình thực hiện nhiệm vụ ấy là quá trình lâu dài, phải đi từng bước, tiến từ những hình thức thấp, từ đẩy lùi chính quyền địch đến những hình thức cao hơn

Nghị quyết cũng đề ra phương pháp cách mạng là "lấy sức mạnh của quần chúng nhân dân, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân" Muốn đạt mục tiêu đó, "phải tích cực chuẩn bị về mọi mặt theo phương hướng căn bản là khởi nghĩa đánh đổ chế độ Mỹ - Diệm" [54; 82-83]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Trung ương Đảng khoá II là bước khởi điểm quan trọng dẫn đến thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Nghị quyết thể hiện tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng ta, một lần nữa

Trang 21

khẳng định con đường giải phóng miền Nam là con đường cách mạng bạo lực Đây là nghị quyết lịch sử, vạch ra con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của đông đảo quần chúng nhân dân Nghị quyết không chỉ đề ra đường lối có tính nguyên tắc cho cách mạng miền Nam mà còn đặt cơ sở để tiến tới đề ra nhiệm vụ chiến lược một cách chính xác và toàn diện, mở ra bước ngoặt cho cách mạng miền Nam Đảng ta chủ trương chuyển hướng chiến lược từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Đó cũng là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của lực lượng vũ trang ở cả hai miền

Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15 mở ra một bước ngoặt mới thúc đẩy cách mạng miền Nam tiến lên Nghị quyết như một luồng gió thổi bùng ngọn lửa cách mạng ở miền Nam Việt Nam vốn đang âm ỉ cháy, đáp ứng nhu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam lúc đó, cứu phong trào cách mạng miền Nam đang trong cơn nguy biến trước sự đàn áp tàn bạo và khốc liệt của Mỹ - ngụy

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng, các cấp ủy Đảng ở miền Nam đã nhanh chóng lãnh đạo chuyển hướng đấu tranh với phương châm đấu tranh chính trị kết hợp chặt chẽ đấu tranh vũ trang, phát động quần chúng nổi dậy có sự hỗ trợ tích cực của đấu tranh vũ trang, đưa phong trào cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công giành quyền làm chủ ở vùng nông thôn

Những tháng đầu năm 1959, tình hình miền Nam hết sức sôi động Quần chúng nhân dân ở nhiều nơi dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng địa phương đã nổi dậy, kiên quyết chống lại địch, bảo vệ các quyền dân sinh, dân chủ Tình thế cách mạng xuất hiện ở các xã, ấp, nông thôn đồng bằng Nam Bộ và miền núi Trung

Bộ Với chủ trương đúng đắn và kịp thời của Trung ương Đảng, cùng lực lượng cách mạng được giữ gìn và phát triển trong những năm 1954-1959, nhân dân miền Nam đã vùng dậy đấu tranh cách mạng bằng nhiều hình thức rất phong phú, sáng tạo Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra từ giữa năm 1959 đến cuối năm 1960 Từ trong

Trang 22

những cuộc khởi nghĩa đó, lực lượng vũ trang tự vệ đã phát triển nhảy vọt, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng khởi nghĩa

Tại miền núi Liên khu 5, nổ ra nhiều cuộc nổi dậy vũ trang của đồng bào các dân tộc ít người chống địch dồn dân lập các khu tập trung, đòi trở về buôn làng cũ Đồng bào các dân tộc Chăm, H,rê,… ở Thồ Lồ (Phú Yên); Ê-đê, Gia-rai, Xê-đăng,

ở Tà Boóc, Mang Khênh (Kon Tum) liên tiếp nổi dậy diệt ác ôn, bỏ làng cũ vào rừng lập làng mới, bất hợp tác với giặc

Nhân dân các dân tộc huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) được đơn vị 339 tỉnh

hỗ trợ nổi dậy diệt ác, phá kìm ở 16 xã, bức rút 7 đồn, diệt 161 tên, trừng trị 61 tên

tề nguỵ ác ôn, lập chính quyền cách mạng ở một số thôn xã vùng rừng núi, xoá bỏ

tề ở xã vùng thấp Đến ngày 1 tháng 9 năm 1959, nhân dân làm chủ toàn huyện Trà Bồng (trừ quận lỵ) Tiếp đó, nhân dân miền Tây Quảng Ngãi nổi dậy lật đổ chính quyền ở thôn, xã và bao vây, uy hiếp đồn bốt địch Chỉ trong một tuần, toàn

bộ vùng cao huyện Sơn Hà và hơn 20 xã thuộc hai huyện Ba Tơ, Minh Long do nhân dân làm chủ

Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long,… miền Tây Quảng Ngãi - cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên ở vùng núi của quân và dân miền Nam hoàn toàn thắng lợi; mở đầu thời kỳ phong trào cách mạng ở Khu 5 chuyển sang thế tiến công, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng toàn miền Nam… Cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc huyện Trà Bồng và miền Tây tỉnh Quảng Ngãi chuyển sang một cục diện mới, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữ quyền làm chủ mà nhân dân đã giành được trong cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1959 [23; 407]

Tại đồng bằng Nam Bộ, các trận diệt ác diễn ra hằng ngày Phong trào đặc biệt sôi nổi ở các vùng ven các căn cứ U Minh, Đồng Tháp Mười Các đơn vị vũ trang ở đây sau một thời gian củng cố đã xây dựng được cơ sở vững chắc trong quần chúng, diệt nhiều tên ác ôn, đánh lui nhiều cuộc hành quân càn quét của địch

Tại miền Đông Nam Bộ và nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, được tiếp thu tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

Trang 23

các đơn vị vũ trang tập trung, các đội vũ trang tuyên truyền đẩy mạnh hoạt động làm nhiệm vụ xung kích hỗ trợ quần chúng khởi nghĩa

Đầu tháng 1 năm 1960, Hội nghị cán bộ quân sự miền Đông Nam Bộ được tổ chức ở Bàu Rá (tỉnh Tây Ninh) Hội nghị bàn nhiệm vụ xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ trong năm 1960, hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành chính quyền, làm chủ ở vùng nông thôn lấy vũ khí địch trang bị cho các đơn vị vũ trang ta, nhằm thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương và chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ Phương án đánh trận Tua Hai do Hội nghị đề ra được Xứ ủy Nam Bộ phê chuẩn [23; 409]

Tua Hai là một đồn binh cũ của Pháp, cách thị xã Tây Ninh 7 ki-lô-mét về phía tây bắc, được quân nguỵ mở rộng thành căn cứ trung đoàn 3 thuộc sư đoàn 21 Trong dịp Tết Nguyên đán Canh Tý (năm 1960), đề phòng binh biến xảy ra, địch chỉ cho một trung đội thường trực chiến đấu được mang vũ khí Nhận thấy đây là thời cơ hết sức thuận lợi, Ban Quân sự miền Đông Nam Bộ sử dụng 3 đại đội bộ binh: 59, 70, 80; Đại đội đặc công 60 (chủ lực miền) và 3 tiểu đội vũ trang tỉnh Tây Ninh, do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến - Trưởng ban Quân sự Miền chỉ huy Một số

vũ khí các loại cất giấu từ năm 1954 được kịp thời trang bị cho các đơn vị

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 1 năm 1960, phối hợp với nội ứng, các đơn vị bất ngờ tập kích làm chủ hoàn toàn căn cứ Tua Hai, loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên, thu 1.500 khẩu súng Đây là trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng làm chấn động toàn miền Nam, khiến cho quân địch, đặc biệt là lực lượng bảo

an, dân vệ hoang mang lo sợ, đồng thời cổ vũ mạnh mẽ quân và dân Tây Ninh đứng lên đồng khởi, giải phóng 24 xã trong tỉnh Trên 70% bộ máy kìm kẹp của địch ở

xã, ấp bị xoá bỏ Vùng giải phóng được mở rộng đến sát thị xã và các thị trấn

Đầu năm 1960, phong trào đồng khởi nổ ra ở Bến Tre Ngày 17 tháng 1 năm 1960, nhân dân xã Định Thuỷ nổi dậy diệt tổng đoàn dân vệ gồm 12 tên và tiểu đội dân vệ đóng ở xã, bắt bọn tề điệp, ác ôn, phá tan bộ máy kìm kẹp của địch, thu 28 khẩu súng Tiếp đó trong hai ngày 18 và 19 tháng 1, các xã Phước Hiệp, Bình Khánh nổi dậy giành chính quyền Thắng lợi của cuộc đồng khởi ở ba

Trang 24

xã ở tỉnh Bến Tre, khiến cho bộ máy thống trị của địch bị rúng động, khí thế quần chúng lên rất cao Ngày 19 tháng 1 năm 1960, ba tiểu đội vũ trang được thành lập tại Bình Khánh Một số cán bộ, chiến sĩ và vũ khí thu được của địch được ưu tiên tập trung cho xây dựng đại đội vũ trang đầu tiên của tỉnh Bến Tre mang phiên hiệu Đại đội 264 Như vậy, từ tay không nổi dậy, Bến Tre đã xây dựng được đại đội vũ trang, từng bước thực hiện phương thức tiến công địch bằng chính trị, quân sự và cả binh vận

Những ngày từ 17 đến 24 tháng 1 năm 1960 là "tuần lễ toàn dân đồng khởi" của tỉnh Bến Tre Nhân dân 47 xã thuộc các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri, Thạnh Phú nhất tề nổi dậy Tính đến cuối tháng 1 năm 1960, quân

và dân Bến Tre đã giành quyền làm chủ ở 22 xã; còn ở 25 xã khác, nhân dân tiến hành vây đồn, giải phóng thêm nhiều thôn, ấp Tại thị xã Bến Tre, lực lượng tự vệ đánh bốt Lò Tương, diệt ác ở phường 1, ngã ba Tháp - Phú Khương; 300 tên tề, điệp ác ôn bị bắt, 37 đồn bị bức rút, bức hàng Nhân dân Bến Tre thu được 150 khẩu súng và nhiều loại đạn dược các loại Tháng 2 năm 1960, Tỉnh ủy Bến tre tập hợp các đội vũ trang ở cù lao Bảo (các huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Châu Thành) thành lập đơn vị vũ trang tập trung thứ hai, mang phiên hiệu Đại đội 269

Đồng thời với phong trào đồng khởi của quân và dân Bến Tre, ngày 14 tháng 9 năm 1960, các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Long An, Châu Đốc, An Giang tiến hành đồng khởi Tiếp đó, các ngày 23, 24, 25 tháng 9 năm 1960, các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Kiến Phong, Kiến Tường cũng đồng khởi

Cuộc đồng khởi ở Bến Tre đã nhanh chóng tạo nên bước phát triển nhảy vọt cho cách mạng miền Nam Bộ máy chính quyền của địch ở phần lớn các xã, ấp nông thôn đồng bằng Nam Bộ và miền núi Nam Trung Bộ bị tan rã Hàng vạn tên tề điệp ác ôn và lực lượng vũ trang của địch ở cơ sở bị tiêu diệt Nhiều khu dinh điền, khu trù mật, khu tập trung dân của địch bị phá tan Phong trào đồng khởi đã giáng một đòn mạnh mẽ và bất ngờ vào chính quyền phát xít Mỹ - Diệm Vùng giải phóng

và vùng quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ được mở rộng Trên 70% số

Trang 25

ruộng đất bị địch chiếm đoạt được trao trả lại cho nông dân Lực lượng đấu tranh có

tổ chức của quần chúng phát triển mạnh mẽ, trở thành một lực lượng tiến công hùng hậu và sắc bén của cách mạng Bằng cuộc đồng khởi, cách mạng miền Nam từ thế

giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công

Qua phong trào đồng khởi, lực lượng vũ trang ba thứ quân ở miền Nam (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân tự vệ xã, ấp) từng bước được hình thành Bộ đội chủ lực có Tiểu đoàn 500 (có 997 người) thuộc Liên tỉnh Đông Nam Bộ; Tiểu đoàn 261 (có 266 người) thuộc Liên tỉnh miền Trung Nam Bộ; Tiểu đoàn 306 (có 771 người) thuộc Liên tỉnh miền Tây Nam Bộ Liên khu 5 có 2 đại đội bộ binh và 12 đội đặc công (khoảng 1.000 người) Đây là những đơn vị chủ lực được lựa chọn từ các đơn vị vũ trang tập trung tỉnh, huyện; phần lớn đã trải qua kháng chiến chống thực dân Pháp và trưởng thành trong cao trào đồng khởi

Bộ đội địa phương ở Nam Bộ có 17 đại đội tỉnh, 70 trung đội huyện (khoảng 700 người); ở Liên khu 5 có 123 trung đội và 76 đội vũ trang công tác (khoảng 5.500 người) Đây là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân trên địa bàn tỉnh, huyện

Lực lượng dân quân tự vệ, du kích xã, ấp ở Nam Bộ có khoảng 1 vạn người,

190 xã có trung đội du kích, gồm khoảng 7.000 người Ở Liên khu 5, lực lượng tự

vệ, du kích xã miền núi có khoảng 3.000 người Ra đời từ lực lượng chính trị của quần chúng, phát triển nhanh chóng trong quá trình đồng khởi, du kích, tự vệ là lực lượng vũ trang rộng rãi của Đảng ở cơ sở làm nhiệm vụ xung kích và hỗ trợ quần chúng đấu tranh chính trị, bảo vệ chính quyền cách mạng ở xã, ấp, phối hợp với bộ

đội tập trung trong chiến đấu [23; 416]

Ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại Rùm Đuông xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh - một vùng giải phóng ở Đông Nam Bộ, Đại hội đại biểu nhân dân toàn miền Nam đã họp và tuyên bố thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, bầu ra Ủy ban Trung ương do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch Mặt trận chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, đảng phái, tôn giáo, dân tộc, nhân sĩ dân chủ, thân sĩ yêu nước không phân biệt

Trang 26

xu hướng chính trị Tiếp đó, Ủy ban mặt trận dân tộc giải phóng các tỉnh, huyện,

xã lần lượt ra mắt nhân dân, vừa làm chức năng tập hợp lực lượng của mặt trận vừa làm chức năng của chính quyền cách mạng Ban chỉ huy quân sự các cấp khu, tỉnh, huyện, xã cũng được thành lập, giúp cấp ủy Đảng chỉ đạo và chỉ huy các đơn vị vũ trang, động viên thanh niên tòng quân, tiếp nhận sự giúp đỡ vật chất của nhân dân cho các lực lượng vũ trang

Cuối tháng 1 năm 1961, để tăng cường chỉ đạo cách mạng miền Nam trong điều kiện giao thông liên lạc giữa hai miền có nhiều khó khăn, Ban Chấp hành Trung ương quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ Đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) được cử làm Bí thư Trung ương Cục [104; 195]

Theo dõi sát từng bước phát triển của phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam và những diễn biến mới trong âm mưu và hành động của Mỹ - nguỵ, ngay từ đầu năm 1961, Bộ Chính trị đã dự kiến về sự xuất hiện một tình hình mới, một cuộc đấu tranh ác liệt, giằng co phức tạp giữa ta và địch để giành giật chính quyền cơ sở ở thôn

xã Bộ Chính trị chỉ thị: " tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên phạm vi ngày càng rộng lớn; tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ đồng bằng, ra sức xây dựng cơ sở

và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị; tạo mọi điều kiện và nắm mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam" [56; 159]

Từ sự phân tích sắc bén, đúng đắn và toàn diện tình hình, Đảng ta quyết định

nhanh chóng chuyển hướng từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng

Tháng 1 năm 1961, Bộ Chính trị họp ra Nghị quyết về cách mạng miền Nam Nghị quyết đã đề ra phương hướng đấu tranh chính trị song song với đấu tranh vũ trang, đánh địch bằng ba mũi giáp công, trên cả ba vùng chiến lược

Để phù hợp với sự phát triển nhảy vọt của các lực lượng vũ trang giai đoạn này và cụ thể hoá chủ trương của Bộ Chính trị, tháng 1 năm 1961 Tổng Quân ủy ra

chỉ thị nêu rõ: “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, do Đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo” Ngày 15

tháng 2 năm 1961, Quân giải phóng miền Nam chính thức ra mắt tại Chiến khu Đ,

Trang 27

thống nhất tất cả các lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam thành "Quân giải phóng miền Nam" [23; 418]

Hệ thống chỉ huy quân sự nhanh chóng hình thành từ Miền đến xã Ban Quân

sự Miền trực thuộc Trung ương Cục miền Nam do Thiếu tướng Trần Lương (Trần Nam Trung) - Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Trưởng ban Các tỉnh, huyện đều có ban quân sự; cấp xã có xã đội trưởng; các thành phố, thị xã có cơ sở vũ trang bí mật, các đội tuyên truyền vũ trang Ngày

27 tháng 7 năm 1961, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Quân khu 6 được thành lập

Sự phát triển lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đánh dấu bước chuyển biến của cách mạng miền Nam sang giai đoạn mới - giai đoạn tiến hành chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Đến cuối năm 1961, lực lượng du kích tự vệ miền Nam đã lên tới 100.000 người, gồm 70.000 ở Nam Bộ và 30.000 ở Khu 5 (cả Trị Thiên và Tây Nguyên) Có nhiều xã giải phóng đã thành lập được trung đội du kích tập trung, sử dụng một số súng thu được của địch và vũ khí tự tạo1 Đây là lực lượng nòng cốt của phong trào đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị ở xã, ấp, đồng thời là lực lượng chiến đấu quan trọng và là nguồn bổ sung thường xuyên cho các đơn vị vũ trang tập trung

Bộ đội địa phương, tỉnh, huyện và bộ đội chủ lực Khu có 24.500 cán bộ, chiến sĩ Mỗi huyện đều xây dựng được các trung đội bộ đội địa phương, có huyện

tổ chức đến đại đội Các tỉnh có từ một đến hai đại đội, có tỉnh lập đến cấp tiểu đoàn Quân số đại đội bộ đội địa phương của tỉnh thường khoảng 100 người, biên chế thành các trung đội bộ binh, công binh, trợ chiến và các phân đội bảo đảm

Bộ đội chủ lực thuộc các khu có đến 11 tiểu đoàn, gồm sáu tiểu đoàn của Quân khu 5, năm tiểu đoàn của Quân khu 6 (cực Nam Trung Bộ), Quân khu 7 (miền Đông Nam Bộ), Quân khu 8 (miền Trung Nam Bộ), Quân khu 9 (miền Tây Nam Bộ) và Quân khu Sài Gòn - Gia Định; mỗi tiểu đoàn có khoảng 400 đến 500 quân

1 Súng giàn thun, súng ngựa trời, lựu đạn, đạp lôi, chông, thò…

Trang 28

Ngày 9 tháng 2 năm 1962, Trung đoàn 1 bộ binh - trung đoàn chủ lực cơ động đầu tiên trên chiến trường Nam Bộ chính thức được thành lập tại vùng căn cứ Dương Minh Châu, có phiên hiệu là Q761 [23; 433]

Như vậy, sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam có bước phát triển mới Đấu tranh vũ trang ngày càng lan rộng Yêu cầu về cán bộ và vũ khí ngày càng lớn Đường dây Thống Nhất - trên cơ sở đường giao liên bí mật xuyên Trường Sơn trong kháng chiến chống thực dân Pháp không thể đáp ứng được yêu cầu đó, nhất là đối với các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ

1.1.2 Chủ trương của Đảng về công tác chi viện lực lượng và vũ khí trang

bị cho chiến trường miền Nam - Đoàn 559 được thành lập

Để kịp thời đáp ứng yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam, giữa

năm 1959, Bộ Chính trị ra chỉ thị: "Tổ chức một đoàn giao thông quân sự đặc biệt,

mở đường đưa cán bộ, tiếp tế vũ khí và những hàng cần thiết khác vào miền Nam Đây là một việc lớn, có tính chất chiến lược, quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc" [23; 402]

Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, ngày 15 tháng 5 năm 1959, Tổng Quân ủy và

Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập một cơ quan nghiên cứu mở đường vận tải

để đưa lực lượng, vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam lấy tên là "Đoàn công tác quân sự đặc biệt" Thượng tá Võ Bẩm - Phó cục trưởng Cục Nông trường quân đội, người có nhiều năm công tác ở chiến trường Liên khu 5 và Tây Nguyên, thông thuộc đường bộ và đường biển từ Bắc vào Nam, được giao nhiệm vụ phụ trách cơ quan nghiên cứu này [16; 110]

Sau một thời gian nghiên cứu và chuẩn bị, ngày 19 tháng 5 năm 1959, Thường trực Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng triệu tập Ban cán sự, chính thức giao nhiệm vụ cho Đoàn 5591, tổ chức mở đường giao thông quân sự vào miền Nam dọc

1 Ngày 12 tháng 9 năm 1959, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 446/QĐ-QP chính thức thành lập

"Đoàn công tác quân sự đặc biệt" lấy phiên hiệu là Đoàn 559 (tên gọi thời điểm thành lập)

Trang 29

theo dãy Trường Sơn, vận chuyển hàng quân sự cho miền Nam; đưa, đón bộ đội, cán bộ từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc; trước mắt cho Liên khu 5 [63; 22]

Ngày 1 tháng 6 năm 1959, Tiểu đoàn 301 - tiểu đoàn vận tải bộ đầu tiên của Đoàn 559 thành lập, gồm 440 cán bộ, chiến sĩ tuyển chọn từ Lữ đoàn 305 do Đại úy Chu Đăng Chữ làm Tiểu đoàn trưởng và Đại úy Nguyễn Danh (tức Chính) làm Chính trị viên, có nhiệm vụ mở đường bộ vào Nam; tổ chức vận chuyển bằng sức người: gùi, thồ đi theo đường mòn trên dãy Trường Sơn Tiểu đoàn 301 đặt căn cứ xuất phát tại Khe Hó (Vĩnh Linh), đặt trạm đầu tiên tại động Hàm Nghi, từ đó vượt sông Bến Hải qua những đỉnh núi cao chót vót, vách đá dựng đứng của miền Tây Quảng Trị, vừa mở đường vừa đặt trạm men theo triền phía đông dãy Trường Sơn qua khu vực của đồng bào các dân tộc Tà Ôi, Vân Kiều, Pa Cô, nối liền đường dây liên lạc của Trung ương với Liên khu 5 rồi tiếp tục tiến xuống phía Nam

Ngày 20 tháng 8 năm 1959, Tiểu đoàn 301 đặt trạm thứ 9 ở Pa Lin (A Lưới, miền Tây Thừa Thiên), giao chuyến hàng đầu tiên, khối lượng khoảng 500kg cho chiến trường Liên khu 5 gồm vũ khí, thuốc chữa bệnh, công văn, thư tín, trong đó có 5 khẩu trung liên Từ đây, con đường chi viện chiến lược trên bộ dọc theo dãy Trường Sơn, nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam hình thành [91; 150]

Trong những ngày đầu, để tuyệt đối giữ bí mật cho chiến trường, kỷ luật bảo mật phòng gian được đề ra nghiêm ngặt với tinh thần "đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng"; vũ khí và hàng hoá đưa vào miền Nam lúc này đều dùng những loại do các nước tư bản chủ nghĩa sản xuất Cán bộ, chiến sĩ ở các trạm vận chuyển và giao liên, các đoàn cán bộ hành quân vào miền Nam được lệnh tránh đụng độ với địch

Tính đến cuối năm 1959, bằng cách gùi thồ, Tiểu đoàn 301 đã đưa đến Pa Lin giao cho Quân khu 5 được 31 tấn hàng quân sự gồm 1.700 súng bộ binh, 850 dao găm, 188 ki-lô-gam thuốc nổ và một số đồ dùng, trang bị quân sự Cũng theo con đường này, đến cuối năm 1959, có 542 cán bộ, chiến sĩ gồm phần lớn là cán bộ chỉ huy cấp trung đội, đại đội, cán bộ huấn luyện bộ đội đặc công, nhân

Trang 30

viên cơ yếu, thợ sửa chữa vũ khí được bổ sung cho các chiến trường (trong đó

có 515 người vào Liên khu 5 và 27 người vào Nam Bộ) [91; 150]

Phát hiện những dấu hiệu ta đưa cán bộ quân sự và vũ khí vào miền Nam,

Mỹ - Diệm lập tức cho quân lên càn quét các huyện miền Tây tỉnh Quảng Trị, tỉnh Thừa Thiên để ngăn chặn Đường phía đông Trường Sơn bị tắc nghẽn nhiều ngày

Để tiếp tục nhiệm vụ vận chuyển đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của cách mạng miền Nam sau đồng khởi, Ban cán sự Đảng Đoàn 559 đã bàn với Khu ủy Khu 5 và

đề đạt lên Quân ủy Trung ương cho khai thông một đoạn đường số 9 từ Lao Bảo đến Mường Phìn (phía Tây dãy Trường Sơn) để mở đường vận tải mới

Tháng 1 năm 1961, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tăng cường tiếp tế vũ khí, lương thực, thực phẩm, tài chính cho miền Nam Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị và được sự đồng ý của bạn Lào, Quân ủy Trung ương quyết định tăng cường lực lượng cho Đoàn 559 nhằm mở rộng tuyến vận tải Trường Sơn theo phương hướng: kiên trì giữ vững hành lang phía Đông, mở rộng sang hành lang

phía Tây Trường Sơn [74; 87-88]

Sau khi Liên quân Lào - Việt giải phóng một khu vực rộng lớn ở Trung Lào, được sự đồng ý của Chính phủ kháng chiến Lào, sự ủng hộ, giúp đỡ hết lòng của nhân dân các bộ tộc Lào, chúng ta bắt đầu mở đường dọc theo tuyến Tây Trường Sơn chi viện cho miền Nam Cuối năm 1961, bộ đội công binh hoàn thành việc mở đường 129 nối liền đường 12 với đường số 9 Con đường cơ giới từ Bản Đông đến Mường Noòng (Nam đường số 9) cũng được khôi phục Từ đây, hoạt động chi viện trên tuyến đường phía tây dãy Trường Sơn được đẩy lên một quy mô mới Từ tháng 1 năm 1962, Trung đoàn 245 (Đoàn xe 3) của Tổng cục Hậu cần bắt đầu giao hàng cho Đoàn 559 ở Na Bo (bắc đường số 9) Từ Na Bo trở vào, Đoàn 559 sử dụng các phương tiện thô sơ (xe đạp thồ, voi, ngựa) và người gùi bộ chuyển hàng vượt qua đường số 9 vào đến Mường

Trang 31

Noòng, giao hàng cho lực lượng vận tải Khu 5 ở A Túc Từ A Túc, lực lượng vận tải của Quân khu 51

chuyển tiếp vào đến Tăng Non (Quảng Nam), Đắc Lan (Kon Tum) Đến cuối năm 1962, Đoàn 559, từ lực lượng ban đầu là Tiểu đoàn 301 phát triển thành 2 trung đoàn vận tải 70, 71 và một số tiểu đoàn, đại đội công binh, giao liên độc lập, với quân số 6.000 người, phương tiện vận chuyển có hơn 1.000 xe đạp thồ, một số xe ô tô, voi, ngựa, song vận chuyển bằng gùi thồ vẫn là phương thức

chủ yếu và cũng chỉ mới vươn tới được chiến trường Trị Thiên và Khu 5 [74; 155]

Tuy được tăng cường lực lượng, phương tiện nhưng hiệu quả vận chuyển của tuyến đường bộ vẫn rất thấp vì phương thức vận chuyển giai đoạn này chủ yếu là gùi thồ trong điều kiện rất gian khổ và phải tuyệt đối bí mật Đường mới xoi tìm nên chưa được cải tạo, nhiều dốc cao, nhiều muỗi, vắt, rắn, rết, Thêm vào đó, còn gặp muôn vàn khó khăn do mưa lũ, do địch ngăn chặn Mỗi chiến sĩ cao nhất cũng chỉ gùi được 20kg hàng, muốn đưa được 10 tấn hàng vào Nam cần có 500 người, đó là chưa kể số ốm đau, số vật chất phải bảo đảm cho 500 người gùi thồ, người phục vụ

và lượng tổn thất do nhiều nguyên nhân khác Có thời gian Đoàn 559 phải tạm ngừng hoạt động vận chuyển Đến cuối năm 1962, Đoàn 559 chỉ đưa được vào chiến trường 961 tấn vũ khí Sang năm 1963, có sự hỗ trợ của bộ đội vận tải cơ giới, không quân vận tải, nhưng hai trung đoàn 70 và 71 (Đoàn 559) cũng chỉ vận chuyển được vài nghìn khẩu súng các loại và vài trăm tấn gạo, quân trang quân dụng Như vậy, cả hai năm 1962 và 1963, khối lượng hàng do lực lượng vận tải trên bộ vận chuyển được rất nhỏ so với nhu cầu bức thiết ngày càng lớn của các lực lượng vũ trang toàn chiến trường miền Nam

Theo nhận định của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, trong thời gian từ 3 đến 4 năm trước mắt dù cố gắng đến mức cao nhất, Đoàn 559 cũng chưa thể mở được đường vận tải dọc theo dãy Trường Sơn vào đến các chiến trường xa là Nam Trung Bộ và Nam Bộ Trong khi đó nhu cầu chi viện vật chất cho xây dựng và phát

1 Năm 1962, lực lượng vận tải thuộc Phòng Vận tải quân sự Quân khu 5 có 2.000 người, tổ chức thành 60 đội gùi, thồ

Trang 32

triển lực lượng vũ trang và cho hoạt động quân sự hỗ trợ đấu tranh chính trị của quần chúng cách mạng ở Nam Bộ và Khu 5 rất lớn, rất cấp bách

Đồng thời với việc quyết định mở đường vận tải trên bộ (Đoàn 559), Bộ Chính trị quyết định tổ chức vận chuyển bằng đường biển để bảo đảm kịp thời yêu cầu của chiến trường Tổng Quân ủy phân công đồng chí Trung tướng Trần Văn Trà- Phó tổng tham mưu trưởng trực tiếp phụ trách việc mở tuyến vận tải trên biển

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tổng Quân uỷ và Bộ Quốc phòng, cùng với Tiểu đoàn 301 làm nhiệm vụ vận chuyển trên bộ, tháng 7 năm 1959, Tiểu đoàn 603 - đơn vị vận tải đường biển được thành lập, thuộc Đoàn vận tải quân sự 559 Tiểu đoàn 603 có 107 người (hầu hết là cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết) do đồng chí Hà Văn Xá làm Tiểu đoàn trưởng, Thượng úy Lưu Đức làm Chính trị viên Tiểu đoàn đóng quân ở thôn Thanh Khê, xã Thạch Trạch (Bố Trạch - Quảng Bình), bên bờ sông Gianh1 Để giữ bí mật, Tiểu

đoàn 603 được mang tên: Tập đoàn đánh cá Sông Gianh

Tiểu đoàn 603 được tổ chức thành 2 đại đội Đại đội 1 do Trung úy Nguyễn Bất làm Đại đội trưởng; Trung úy Đông Yên làm Chính trị viên Đại đội 2 do Trung

úy Lê Quang làm Đại đội trưởng, đồng chí Trương Kia làm Chính trị viên Cơ quan tiểu đoàn bộ gồm các đồng chí: Thượng úy Nguyễn Long phụ trách công tác chính trị; đồng chí Đinh Trực phụ trách thuyền, buồm, dây, lưới; các đồng chí Nguyễn Thái và Huỳnh Trác phụ trách đóng thuyền2

Được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, Sư đoàn 325, công an nhân dân vũ trang, Tiểu đoàn 603 nhanh chóng ổn định nơi ăn, ở và bắt tay vào đóng thuyền Bước đầu, đơn vị đóng được 4 chiếc, mỗi chiếc có trọng tải 20 tấn Thuyền

có hai đáy, phía dưới chứa vũ khí, phía trên để lưới và dụng cụ đánh cá để nguỵ trang Một khó khăn lớn của Tiểu đoàn 603 lúc này là làm sao sắm buồm và dây

Trang 33

lưới như thuyền của dân đánh cá miền Nam Các thuyền đánh cá ở miền Nam lúc bấy giờ đều dùng buồm lá nón, dây kéo bằng ni lông hoặc bẹ dừa Nhờ đường dây trên bộ, từ các vùng ven biển miền Nam, buồm, lưới, dây đã được gửi ra Trong vòng hai tháng, các thuyền được cải dạng theo kiểu thuyền đánh cá ở miền Nam, mỗi thuyền có 2 vàng lưới đã chuẩn bị xong

Các đại đội tranh thủ ra khơi "đánh cá", thực chất là tập luyện: tập kéo lưới, tập chịu đựng sóng gió, tập lấy phương hướng theo sao, theo địa hình Ban đầu, các đại đội tập gần bờ, dần dần tập xa bờ và tập ra khơi,

Để chuẩn bị cho chuyến đi biển đầu tiên, Tiểu đoàn 603 đã tổ chức một tổ điện đài gồm 5 đồng chí do đồng chí Nguyễn Nam làm đài trưởng theo đường bộ vào Khu 5 Ngày 9 tháng 5 năm 1959, tổ điện đài lên đường Đến tháng 10, tổ điện đài của đồng chí Nam đến đèo Hải Vân và liên lạc với tiểu đoàn Nhờ vậy, tiểu đoàn

đã xác định được điểm đổ hàng Không khí chuẩn bị cho chuyến vượt biển đầu tiên vào Khu 5 rộn rịp khắp đơn vị

Ban chỉ huy Tiểu đoàn quán triệt hai phương án chiến đấu:

- Thứ nhất, nếu đưa được hàng vào bến an toàn sẽ tìm cách hủy tàu và đi theo đường bộ để trở lại đơn vị

- Thứ hai, nếu lạc đường, lạc hướng thì thả hàng xuống biển để giữ bí mật con đường vận chuyển trên biển Trường hợp bị địch bắt, cho nổ mìn phá thuyền

Theo chủ trương của cấp trên, chuyến đi biển đầu tiên của Tiểu đoàn 603 sẽ chở 5 tấn vũ khí và thuốc men bí mật vượt qua giới tuyến quân sự tiến vào vùng biển miền Nam chi viện cho Khu 5 Địa điểm tập kết là chân đèo Hải Vân

Sau khi Đài tiếng nói Việt Nam thông báo có đợt gió mùa Đông Bắc lớn sẽ tràn về, Tiểu đoàn 603 quyết định cho thuyền nhổ neo lúc 18 giờ ngày 27 tháng 1 năm 1960 (tức 30 Tết Canh Tý) Đó là chiếc thuyền của Đại đội 1, trên thuyền có 6 người, do đồng chí Trung úy Nguyễn Bất - Đại đội trưởng Đại đội 1 làm Thuyền trưởng, đồng chí Trần Mức làm Thuyền phó; bốn thành viên còn lại là: Huỳnh Ba,

Trang 34

Nguyễn Sanh, Huỳnh Sơn và Nguyễn Nữ Cả sáu thành viên trong đoàn đều từng tham gia vận chuyển từ Khu 5 vào Khu 6 bằng đường biển trong kháng chiến chống thực dân Pháp [78; 18]

Đêm đầu tiên, thuyền chạy thẳng ra vùng biển quốc tế với ý định từ đó sẽ đi dần vào chân đèo Hải Vân Ngày hôm sau gió to, sóng lớn, thuyền có nguy cơ bị lật Sáu người cố chèo chống nhưng thuyền cứ dạt mãi về phía Nam và bị gãy mất một lái Đến ngày thứ ba, thuyền dạt vào cù lao Ré (tức đảo Lý Sơn - Quảng Ngãi) Mọi người định cho thuyền ngược lên thì tay lái còn lại bị gãy nốt Gió bắt đầu lặng nên tàu tuần tiễu của địch và tàu đánh cá của dân ra biển ngày càng đông Để giữ bí mật chủ trương mở đường vận chuyển chi viện vũ khí bằng đường biển vào chiến trường, Thuyền trưởng Nguyễn Bất quyết định phi tang hàng theo phương án đã định Năm tấn súng đạn và thuốc men lần lượt được anh em thả xuống biển trong sự tiếc nuối Chiều hôm đó, 6 thủy thủ trên thuyền buộc phải bơi vào bờ, một số người được nhân dân cứu vớt, một vài người bị bắt1

và đày đi các nhà tù của Mỹ - nguỵ nhưng không ai để lộ bí mật con đường và phương thức vận chuyển của ta nên địch chưa khai thác được gì

Cùng thời gian này, Tỉnh ủy Quảng Nam nhận được tin từ miền Bắc điện vào: nhận hàng ở bến Hố Chuối, chân đèo Hải Vân từ đêm 30 Tết Tỉnh ủy cử đồng chí Nguyễn Chơn, phụ trách Ban Quân sự tỉnh ra Hố Chuối, chờ liên tục cả tháng không thấy thuyền vào đành phải trở về [46; 68]

Chuyến vượt biển đầu tiên vận chuyển hàng chi viện chiến trường Khu 5 không thành công Sau khi nắm tình hình, Tổng Quân ủy nhận định: Việc dùng thuyền gỗ, chạy bằng buồm chở vũ khí vào chiến trường có rất nhiều khó khăn và không an toàn Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Tiểu đoàn 603 tạm ngừng hoạt động Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 603 được điều sang Tiểu đoàn 301 để tập trung mở đường bộ chi viện cho chiến trường miền Nam

1 Khi bị địch bắt, các cán bộ, chiến sĩ ta bị địch giam ở Đà Nẵng, sau đó địch phân tán, người thì bị giải về Sài Gòn, người bị giam ở Phú Lợi, người bị đày đi Côn Đảo

Trang 35

Tuy chuyến đi đầu tiên của Tiểu đoàn 603 không thành công nhưng lợi thế của việc vận tải đường biển phục vụ cho chi viện cách mạng miền Nam vẫn được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng hết sức quan tâm, bởi đó là loại hình vận chuyển có hiệu quả cao lại có thể đưa đến những chiến trường xa là Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ và Khu 5 Do đó sau khi ngừng tổ chức vận chuyển đường biển bằng thuyền buồm, Tổng Quân ủy tiếp tục chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu khẩn trương nghiên cứu tình hình trên biển, tìm hiểu các hoạt động kiểm soát vùng biển, bờ biển của địch và các điều kiện, khả năng vật chất, kỹ thuật, con người của ta để xây dựng đề án mới về xây dựng và tổ chức lực lượng vận chuyển chi viện chiến trường Nam Bộ và Liên khu 5 Mặt khác Tổng Quân ủy đề nghị Bộ Chính trị chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ đưa thuyền ra miền Bắc nhận vũ khí

1.1.3 Những chiếc thuyền vượt biển từ miền Nam ra miền Bắc nhận vũ khí

Sau thắng lợi của phong trào đồng khởi ở Bến Tre (tháng 1 năm 1960), lần lượt các tỉnh từ miền Tây Nam Bộ tới Khu 6, Khu 5 cũng đồng khởi thắng lợi Chính quyền Mỹ - Diệm ở nhiều nơi bị xoá bỏ, nhiều khu dinh điền, ấp chiến lược

bị phá rã Chính quyền cách mạng được thành lập Quần chúng nhân dân được tổ chức vào các đoàn thể cách mạng Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân

du kích cũng được xây dựng và phát triển rất nhanh Vấn đề quan trọng đặt ra cho các cấp lãnh đạo lúc bấy giờ là làm sao có đủ vũ khí trang bị để đẩy mạnh đấu tranh

vũ trang Do đó, yêu cầu mở đường vận chuyển chi viện miền Nam bằng đường biển càng trở nên cấp thiết

Tháng 2 năm 1961, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ chuẩn bị bến bãi để đón tàu vào và cho thuyền thăm dò, mở đường ra Bắc

Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, Xứ ủy Nam Bộ chỉ thị cho một số tỉnh có điều kiện tổ chức đưa thuyền ra miền Bắc nhận vũ khí, đồng thời nghiên cứu tình hình bố phòng, tuần tra của địch trên biển

Trang 36

Đang thiếu vũ khí, nhận được lệnh của Trung ương Đảng, các tỉnh ven biển như Bến Tre, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bà Rịa đều khẩn trương chuẩn bị lực lượng và phương tiện vượt biển ra miền Bắc nhận vũ khí

Tại Bến Tre, Tỉnh ủy cử đồng chí Nguyễn Văn Khước (Năm Chung; Mười Khước) - Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Nguyễn Thị Định - người đã vượt biển ra Bắc xin vũ khí từ năm 1946 - lo tìm người, phương tiện và chuẩn bị tổ chức chuyến đi Chỉ trong một thời gian ngắn Bến Tre đã tổ chức được hai đội tàu

Đội tàu thứ nhất do đồng chí Đặng Bá Tiên (Sáu Giáo), quê Thanh Hoá (được tổ chức bố trí di cư cùng bà con giáo dân vào Bến Tre năm 1954), làm Đội trưởng Đội có 6 thủy thủ Ngày 1 tháng 6 năm 1961, thuyền xuất phát tại Cồn Lợi (Thạnh Phong - Thạnh Phú) Sau 9 ngày đêm vật lộn với sóng gió và tránh sự kiểm soát của địch, ngày 9 tháng 6, thuyền ra đến Hà Tĩnh Hai ngày sau, đoàn được Trung ương Đảng cho người đón ra Hà Nội

Đội tàu thứ hai do đồng chí Lê Công Cẩn (Năm Công) phụ trách, có 7 thủy thủ Ngày 18 tháng 8 năm 1961, thuyền xuất phát tại Cồn Tra (Thạnh Phong - Thạnh Phú) Ngày 28 tháng 8, thuyền cập biển Thanh Hoá và mấy ngày sau cũng được Trung ương Đảng cho đón ra Hà Nội

Tiếp sau Bến Tre, tỉnh Cà Mau cũng cử hai đội thuyền ra Bắc Đội thứ nhất do đồng chí Bông Văn Dĩa (Hai Dĩa) phụ trách1 Đêm 1 tháng 8 năm 1961, thuyền rời bến rạch Cá Mòi (Mũi Cà Mau) Đến chiều ngày 7 tháng 8 thuyền cập vào cửa sông Nhật Lệ - Quảng Bình Tại đây, đồng chí Bông Văn Dĩa và thủy thủ đoàn bị công

an Quảng Bình bắt vì tình nghi là biệt kích của chính quyền Sài Gòn Sau ít ngày thẩm vấn, đoàn được đưa về nhà khách tỉnh và hai hôm sau được đưa ra Hà Nội

1 Chiếc thuyền do đồng chí Bông Văn Dĩa phụ trách được đồng chí Phạm Ngọc Sến (Mười Kỹ) - Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau trực tiếp giao nhiệm vụ Đồng chí Dĩa là người Cà Mau Nhưng khi nhận nhiệm vụ đồng chí đang ở Bạc Liêu để thành lập Mặt trận tỉnh nên chiếc thuyền do đồng chí phụ trách còn được gọi là thuyền của Bạc Liêu Mặt khác trước kia, Cà Mau và Bạc Liêu là một tỉnh, gọi chung là Bạc Liêu Sau này qua nhiều lần tách nhập, Bạc Liêu và Cà Mau còn được gọi là tỉnh Minh Hải Do vậy các tàu ở Bạc Liêu ra hoặc tàu đi vào Bạc Liêu còn gọi là Cà Mau

Trang 37

Đội thuyền thứ hai do đồng chí Nguyễn Thanh Trầm (Tư Lưới) phụ trách, có

4 thủy thủ Ngày 3 tháng 8 năm 1961, thuyền xuất phát, song đi đến ngang Huế, thuyền bị thủng, nước tràn vào, nên phải quay về Trà Vinh để sửa chữa, sau đó trở

về Cà Mau

Sau khi nhận được chỉ thị của cấp trên, đồng chí Mười Dài - Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh xuống huyện Duyên Hải thành lập một đội thuyền đặc biệt chuẩn bị vượt biển ra Bắc, gồm 15 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Văn Lồng (Hai Pháp) làm Đội trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Chấp (Hai Lửa) làm Đội phó Đồng chí Mười Dài chọn 6 đồng chí trong đội đi chuyến đầu tiên, đó là: Trần Văn Mau (được đổi tên thành Ba Đoàn); Nguyễn Văn Khương (Tám Kết); Nguyễn Văn Chăm (Hai Đấu); Nguyễn Thanh Lồng (Hai Tranh); Hồ Văn In (Bảy Thắng); Ngô Văn Tôi (Bẩy Lợi) Tên của 6 người hợp thành khẩu hiệu: Đoàn Kết Đấu Tranh Thắng Lợi Thuyền do đồng chí Hồ Văn In phụ trách Ngày 3 tháng 8 năm 1961 thuyền xuất phát tại Khâu Hút Ra tới vùng biển Nha Trang thì gặp bão, thuyền bị dạt sang Ma Cao (Trung Quốc) rồi trôi xuống phía Nam Ngày 15 tháng 8, thuyền bị bộ đội biên phòng Trung Quốc bắt giữ và đưa về Du Hải - Quảng Châu Ngày 16 tháng 8, đại diện Đại

sứ quán Việt Nam ở Quảng Châu đón và đưa anh em về Hà Nội

Tại tỉnh Bà Rịa, sau khi nhận được chỉ thị của Trung ương, đầu năm 1961, đồng chí Mai Chí Thọ (Tám Cao) - Bí thư Khu ủy miền Đông giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Minh Thịnh (Sáu Thịnh) - Phó bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa, kiêm Trưởng ban Quân sự tỉnh, trở lại vùng ven biển Long Đất - Xuyên Mộc nghiên cứu việc mở bến tiếp nhận hàng chi viện từ miền Bắc, đồng thời tổ chức thuyền ra Bắc nhận vũ khí Đồng chí Sáu Thịnh là người đã từng chiến đấu nhiều năm trên chiến trường Bà Rịa

và miền Đông Nam Bộ

Vùng ven biển Xuyên Mộc dân cư rất thưa thớt, các lõm giải phóng chỉ có vài chục hộ dân, nhưng có ưu thế là biển liền rừng Rừng Xuyên Mộc nối dài một dải với núi Mây Tàu, Núi Bể, tạo thành một cụm núi non hiểm trở Vùng này còn có các bãi biển Bình Châu, Hồ Cốc, Hồ Tràm và cửa Lộc An phía sông Ray có luồng lạch khá sâu Các khu vực hành lang xung quanh như: Hồ Tràm, Bình Châu, Phước

Trang 38

Bửu, Phước Hải, Long Mỹ, Hội Mỹ, là những vùng nhân dân có truyền thống cách mạng, có liên hệ mật thiết với kháng chiến

Hơn nữa, mạng lưới bố phòng của địch ở vùng này cũng còn mỏng Đồn Bình Châu cách đồn Phước Hải chừng 20km, đồn Bưng Riềng cách bờ biển Lộc An khoảng 7km Chi khu Xuyên Mộc ở phía bắc, cách Lộc An 8km nhưng do địa hình rừng núi ngăn cách nên tầm hoạt động và quan sát của địch bị hạn chế

Với những đặc điểm trên việc tổ chức xây dựng bến bãi ở Bà Rịa có những thuận lợi và khó khăn riêng

Đầu tháng 3 năm 1961, đồng chí Lê Minh Thịnh về Xuyên Mộc phối hợp với Huyện ủy Xuyên Mộc và Huyện ủy Long Đất thành lập đội trinh sát mở bến nhận

vũ khí và tổ chức lực lượng mở đường ra miền Bắc xin vũ khí Thời gian đầu đội trinh sát có 6 đồng chí, gồm: Lê Minh Thịnh - Phó bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa; Trần Minh Phú - quê ở Lộc An, chiến sĩ Đại đội 445 (bộ đội địa phương tỉnh Bà Rịa); Nguyễn Sơn (Chiến) - Xã đội trưởng xã Phước Hải; Thôi Văn Nam (Bảy Đen) - thợ máy, du kích mật xã Phước Hải; Lê Hà (Tư Thuận) - Đội trưởng đội du kích Bình Châu và một đồng chí bảo vệ Tất cả đều là những người quen nghề sông biển Nhiệm vụ của đội được xác định là: "Dựa vào địa phương xã, huyện xây dựng cơ sở trong dân, nắm tình hình, nhất là quy luật hoạt động của địch ở trên biển, trên bộ

Từ đó tổ chức ghe, thuyền mở tuyến ra Bắc dò đường, xây dựng hành lang bảo vệ tuyến ven biển Bình Châu - Phước Hải, khảo sát bến bãi để tiếp nhận vũ khí, khảo

sát địa hình để xây dựng kho tàng " [4; 20-21]

Vừa làm công tác trinh sát, các đồng chí trong đội vừa khẩn trương chọn người để tổ chức đội thuyền Qua giới thiệu của đồng chí Lê Văn Vinh (Mười Vinh) -

Bí thư xã Bình Châu huyện Xuyên Mộc, đồng chí Sáu Thịnh liên lạc với ông Nguyễn Văn Bảy - quê Quảng Bình và ông Sáu Thợ - quê Trị Thiên vào làm ăn sinh sống tại xã Bình Châu Sau một thời gian tìm hiểu, đồng chí Sáu Thịnh bàn với ông Bảy và ông Sáu Thợ tổ chức đi buôn chuyến đường dài để lấy tiền ủng hộ kháng chiến, đồng thời thăm dò tình hình địch dọc ven biển

Trang 39

Ông Sáu Thợ có con rể là anh Tư Gạch - cán bộ kháng chiến, quê ở xã Bình Châu, tự nguyện dùng chiếc thuyền đánh cá trọng tải khoảng 2 tấn để tổ chức chuyến vượt biển ra Bắc xin vũ khí

Trước lúc lên đường, đồng chí Sáu Thịnh mới giao nhiệm vụ chính thức và mật hiệu liên lạc nếu thuyền vượt được giới tuyến ra Bắc Anh Tư Gạch được giao nhiệm vụ làm tổ trưởng tổ 3 người Theo kế hoạch, chuyến thăm dò mở tuyến sẽ cố gắng gói gọn trong 1 tháng (cả đi lẫn về)

Hạ tuần tháng 5 năm 1961, chiếc thuyền chở tổ công tác xuất phát từ bến Bình Châu Vì thuyền nhỏ nên suốt cuộc hành trình, tổ phải vượt qua rất nhiều khó khăn thử thách, nhất là giông bão Thuyền vừa đi vừa đánh cá, vừa buôn bán dầu chai để che mắt địch và nắm tình hình ven biển, ngoài khơi Khi thuyền ra đến Quảng Nam thì bị địch bắt, nhưng không phát hiện được chứng cứ gì chúng buộc phải thả Nhận thấy khả năng không thể đi được nữa, anh Tư Gạch cùng ông Bảy và ông Sáu Thợ quyết định cho thuyền quay về và đến bến Bình Châu khoảng đầu tháng 7 năm 1961

Chuyến trinh sát mở đường ra Bắc đầu tiên của tỉnh Bà Rịa không thành, nhưng đội công tác đã cơ bản nắm được hoạt động của ngư dân làm ăn trên biển Quảng Nam, Trị Thiên và tình hình tuần tra của địch trên biển Từ những kết quả trên, đội đưa ra nhận định: Không thể mở đường bằng con đường hợp pháp vì địch kiểm soát rất chặt chẽ, nhất là khu vực từ Quảng Nam ra Trị Thiên đến vùng biển giáp ranh giới tuyến Hơn nữa nếu đi theo ven biển cũng không thể dò tìm được để dẫn tàu từ miền Bắc chở vũ khí vào miền Nam Nên chỉ còn một phương án là đưa thuyền ra khơi xa, đương đầu với bão tố để vượt tuyến

Đồng thời với chuyến đi mở đường, đội công tác tiến hành khảo sát luồng lạch sông, biển, chuẩn bị bến bãi, kho tàng, hậu cứ, nhất là xác định luồng lạch và mực nước sông Ray để sẵn sàng đón tàu chi viện vũ khí từ miền Bắc vào

Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 27 tháng 2 năm 1962, chiếc thuyền thứ hai của Bà Rịa tiếp tục lên đường, xuất phát tại Hồ Cốc (Phước Hải - Long Đất),

do đồng chí Nguyễn Sơn (Nguyễn Văn Phe) - Xã đội trưởng xã Phước Hải phụ

Trang 40

trách, có 3 thuyền viên Sau 4 ngày lênh đênh trên biển, thuyền gặp bão Vượt qua sóng to, gió lớn và muôn vàn khó khăn, thuyền ra đến Cam Ranh thì bị địch bắt Sau hơn 1 tháng không khai thác được gì, ngày 17 tháng 4 năm 1962, địch buộc phải thả đội thuyền Sau khi bàn bạc, cả đoàn nhất trí bằng mọi giá phải tiếp tục cuộc hành trình Không đủ tiền, anh em bán bớt một ít lưới để mua xăng dầu và ngày 19 tháng 4 tiếp tục lên đường Ngày 25 tháng 4 năm 1962, thuyền bị dạt vào đảo Hải Nam Sau đó, đoàn được đưa về Lãnh sự quán Việt Nam Đến ngày 15 tháng 5 đoàn được đưa về Hà Nội

Như vậy, trong ba năm 1960-1962, các tỉnh Nam Bộ đã tổ chức 6 chuyến, dùng thuyền gỗ đánh cá bí mật ra Bắc (2 thuyền của Bến Tre, 2 thuyền của Bạc Liêu, 1 thuyền của Trà Vinh, 1 thuyền Bà Rịa), gồm 42 người, trong đó có 18 đảng viên, 2 cán bộ xã, còn lại là ngư dân Các con tàu vượt biển ra Bắc đều có những khó khăn chung là: đa số chưa từng đi biển xa, chỉ đi đánh cá ven bờ, không ai có kinh nghiệm và trình độ để đi biển xa và cũng không ai biết gì về tình hình của địch trên biển; đa số tàu thuyền có trọng tải nhỏ (từ 2 đến 6 tấn); máy yếu (từ 20 đến 30 CV); công tác bảo đảm hàng hải hầu như không có gì, mỗi tàu chỉ được trang bị 1 chiếc la bàn để gióng hướng Bắc mà đi Chỉ với điều kiện ban đầu như vậy đã có 5 trong 6 thuyền ra được đến miền Bắc Mỗi thuyền ra đến miền Bắc lại báo cáo với Bộ Tổng Tham mưu những kinh nghiệm đi biển và tình hình hoạt động của hải quân địch

1.2 Thành lập Đoàn 759 - tuyến vận chuyển chi viện chiến lược - đường

Hồ Chí Minh trên biển hình thành

1.2.1 Đoàn 759 được thành lập

Trước yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định: nhiệm vụ vận chuyển chiến lược phải theo kịp tình hình phát triển của chiến trường; nếu có điều kiện phải đi trước một bước Trong khi tuyến đường chi viện trên đường Trường Sơn nhanh nhất cũng phải từ ba đến năm năm nữa mới vươn được tới miền Đông Nam Bộ, còn đồng bằng Nam Bộ

Ngày đăng: 15/02/2016, 19:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Đình An, “Hành quân phá hủy mật khu Vũng Rô”, http://vantuyen.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành quân phá hủy mật khu Vũng Rô
2. Huỳnh Ba - Trần Phong (2004), "Đón giao thừa giữa biển Đông", nguyệt san Sự kiện và nhân chứng (số 121, tháng 1-2004), tr. 22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đón giao thừa giữa biển Đông
Tác giả: Huỳnh Ba - Trần Phong
Năm: 2004
3. Ban chấp hành Đảng bộ Hải Phòng (1982), Lịch sử Đảng bộ Cảng Hải Phòng, Nxb Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Cảng Hải Phòng
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Hải Phòng
Nhà XB: Nxb Hải Phòng
Năm: 1982
4. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (1993), Đường Hồ Chí Minh trên biển Bà Rịa - Vũng Tàu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường Hồ Chí Minh trên biển Bà Rịa - Vũng Tàu
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
5. Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
7. Ban Liên lạc chiến sĩ đường Hồ Chí Minh trên biển và Đoàn 125 hải quân (1998), "Đường Hồ Chí Minh trên biển khu vực miền Trung", tạp chí Huế xưa và nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường Hồ Chí Minh trên biển khu vực miền Trung
Tác giả: Ban Liên lạc chiến sĩ đường Hồ Chí Minh trên biển và Đoàn 125 hải quân
Năm: 1998
9. Ban Lịch sử quân sự - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Minh Hải (1994), Hậu cần nhân dân Minh Hải (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu cần nhân dân Minh Hải (1945-1975)
Tác giả: Ban Lịch sử quân sự - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Minh Hải
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1994
10. Ban Tổng kết chiến lược trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban Tổng kết chiến lược trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
11. Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu (1980), Thống kê số liệu trong kháng chiến chống Mỹ, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê số liệu trong kháng chiến chống Mỹ
Tác giả: Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1980
12. Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu (1997), Tổng kết Bộ Tổng Tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết Bộ Tổng Tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Tác giả: Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1997
13. Ban Tuyên giáo tỉnh Minh Hải (1979), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Minh Hải (1930-1975), Nxb Mũi Cà Mau, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Minh Hải (1930-1975)
Tác giả: Ban Tuyên giáo tỉnh Minh Hải
Nhà XB: Nxb Mũi Cà Mau
Năm: 1979
14. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên (1996), Lịch sử Phú Yên kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Phú Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phú Yên kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên
Năm: 1996
15. Ban chỉ huy quân sự Đồ Sơn (2003), Thị xã Đồ Sơn - Lịch sử kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1945-2002), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị xã Đồ Sơn - Lịch sử kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1945-2002)
Tác giả: Ban chỉ huy quân sự Đồ Sơn
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2003
16. Thiếu tướng Võ Bẩm (2006), Những nẻo đường kháng chiến, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nẻo đường kháng chiến
Tác giả: Thiếu tướng Võ Bẩm
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2006
17. Bộ chỉ huy quân sự Bà Rịa - Vũng Tàu (2000), Lịch sử lực lượng vũ trang Bà Rịa - Vũng Tàu, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang Bà Rịa - Vũng Tàu
Tác giả: Bộ chỉ huy quân sự Bà Rịa - Vũng Tàu
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2000
18. Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng (1990), Hải Phòng - Lịch sử kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Phòng - Lịch sử kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược
Tác giả: Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1990
19. Bộ chỉ huy quân sự Minh Hải (1986), Minh Hải - 30 năm chiến tranh giải phóng, Nxb Mũi Cà Mau, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh Hải - 30 năm chiến tranh giải phóng
Tác giả: Bộ chỉ huy quân sự Minh Hải
Nhà XB: Nxb Mũi Cà Mau
Năm: 1986
20. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên (1993), Phú Yên - 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), Phú Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phú Yên - 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975)
Tác giả: Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Phú Yên
Năm: 1993
21. Bộ chỉ huy quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng (1989), Quảng Nam - Đà Nẵng - 30 năm chiến đấu và chiến thắng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam - Đà Nẵng - 30 năm chiến đấu và chiến thắng
Tác giả: Bộ chỉ huy quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1989
22. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh (1996), Quảng Ninh - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Ninh - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
Tác giả: Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w