Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự p
Trang 1Câu 1:
MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ HÀNH HÓA VÀ ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM
Trả lời:
Để tìm hiểu về mối quan hệ giữa kinh tế hàng hóa (KTHH)
và đô thị ở Việt Nam trước hết chúng ta phải hiểu khái niệm KTHH và đô thị là gì?
- KTHH: là một nền kinh tế có sự phân công lao động và trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa người này với người khác Nó trái với nền kinh tế tự cung tự cấp trong đó người ta tự sản xuất sản phẩm và tự tiêu dùng Ở giai đoạn sơ khai, trao đổi hàng hóa mang hình thức trực tiếp, gọi là hàng đổi hàng Người sản xuất gạo và cần thịt có thể gặp người sản xuất thịt và cần gạo để đổi trực tiếp gạo lấy thịt Đây đã là kinh tế hàng hóa Tuy nhiên, nếu không gặp được người có thứ mình cần và cần thứ mình có, thì trao đổi không được thực hiện
Khi tiền ra đời, khi có nhiều hơn hai cá nhân, người ta có thể sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi
Kinh tế hàng hóa là một hình thái của nền sản xuất xã hội nối tiếp và cao hơn nền sản xuất tự cung tự cấp, trong đó sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi thông qua mua - bán trên thị trường; hình thái quan hệ kinh tế thống trị của các mối liên hệ kinh tế là quan hệ hàng hoá - tiền tệ Nó đối lập với kinh tế tự nhiên, trong đó hình thái thống trị là các quan hệ hiện vật Theo Mac K (K Marx), KTHH là một giai đoạn phát triển nhất định trong lịch sử phát triển của xã hội theo tiến trình: kinh tế tự nhiên - kinh tế hàng hoá - kinh tế sản phẩm
Trang 2- Đô thị: là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp sống và làm việc theo kiểu thành thị
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy
sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện, một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện
Khái niệm về đô thị có tính tương đối do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế xã hội, hệ thống dân cư mà mỗi nước
có quy định riêng tuỳ theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình Song phần nhiều đều thống nhất lấy hai tiêu chuẩn cơ bản:
+ Quy mô và mật độ dân số: Quy mô trên 2000 người sống tập trung, mật độ trên 3000 người/km2 trong phạm vi nội thị
+ Cơ cấu lao động: Trên 65% lao động là phi nông nghiệp
Như vậy, đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ có
số dân từ 2000 người trở lên và trên 65% lao động là phi nông nghiệp Việt Nam quy định đô thị là những thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ với tiêu chuẩn về quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp thấp hơn Điều đó xuất phát từ đặc điểm nước ta là một nước đông dân, đất không rộng, đi từ một nước nông nghiệp lên chủ nghĩa xã hội
Từ hai khái niệm, giữa KTHH và đô thị ở Việt Nam có mội quan hệ như sau:
Trang 3- Các đô thị ở Việt Nam ngay từ thời phong kiến đã được hình thành từ các thành cổ hay những điểm buôn bán lớn Đô thị đầu tiên xuất hiện khi xã hội có giai cấp, lúc đầu chỉ là nơi giao lưu hàng hóa (chợ) sau này giai cấp thống trị thường chọn nơi đó
để làm điểm tọa lạc của bộ máy chính quyền Những nơi giai cấp thống trị đóng thường xuất hiện sản xuất thủ công nghiệp
để cung cấp sản phẩm cho giai cấp đó Vì thế hai khái niệm chợ
và đô thường đi đôi với nhau tạo thành đô thị Như vậy, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã góp phần hình thành nên các
đô thị
- Khi các đô thị hình thành trên cơ sở của các trung tâm chính trị, quân sựDo sự phân công lao động xã hội lao động thủ công được giai cấp thống trị ủng hộ vì phục vụ lợi ích của họ thì nền kinh tế hàng hóa sẽ được tạo điều kiện để phát triển
- Giữa kinh tế hàng hóa và đô thị ở Việt Nam có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau, kinh tế hàng hóa phát triển sẽ tạo động lực cho sự hình thành, thúc đẩy các đô thị phát triển, có nguồn vốn mới xây dựng được đô thị, tạo cho các ngành nghề trong đô thị phát triển khi kinh tế khi đô thị phát triển thì thúc đẩy ngược lại cho kinh tế hàng hóa được lưu thông mạnh hơn,
- Kinh tế hàng hóa đã thúc đẩy sự hình thành các đô thị Việt Nam từ cổ trung đại cho đến cận đại, hiện đại
- Đô thị hóa mạnh mẽ tại các đô thị lớn đang tạo hiệu ứng thúc đẩy đô thị hóa nhanh lan toả diện rộng trên phạm vi các tỉnh, các vùng và cả nước Nhiều đô thị mới, khu đô thị mới được hình thành phát triển; nhiều đô thị cũ được cải tạo, nâng cấp hạ tầng cơ sở: đường xá, điện nước, cơ sở giáo dục, y tế, vệ sinh
Trang 4môi trường…Các đô thị Việt Nam đang nỗ lực phát triển, nâng tầm cao với kiến trúc hiện đại
- Các đô thị lớn như ở Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng đã
có nền tảng phát triển kinh tế vững chắc, số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ thương mại cũng tăng mạnh hơn Tại đây, các động lực phát triển mới đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các lĩnh vực giáo dục, dịch vụ tài chính – ngân hàng, bất động sản, viễn thông và truyền thông… Các nơi có điều kiện tự nhiên đặc biệt như Hạ Long, Nha Trang, Đà Lạt, Sa
Pa, Phú Quốc… hay các đô thị có di sản văn hóa - lịch sử tầm cỡ quốc gia và quốc tế như Huế, Hội An, Hạ Long, Côn Đảo,…thì du lịch đã trở thành động lực phát triển chính Hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật các đô thị loại II trở lên đã được tăng cường, đô thị loại IV trở lên đã được nâng cấp, cải thiện điều kiện hạ tầng
cơ sở (điện đường, trường trạm, môi trường nước, rác…) nhờ các khoản đầu tư trong và ngoài nước
- Các khu kinh tế cấp quốc gia như: Khu kinh tế Vân Đồn (Quản Ninh), Đình Vũ – Cát Hải (Hải Phòng), Nghi Sơn (Thanh Hóa), Nghệ An (Bắc TP Vinh), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Hòn La (Quảng Bình), Chân Mây – Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế), Chu Lai (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Nhơn Hội (Bình Định), Văn Phong (Khánh Hòa), Nam Phú Yên (Phú Yên), đảo Phú Quốc (Kiên Giang), là các khu kinh tế tổng hợp đa ngành có quy mô sản xuất lớn, có hạ tầng quan trọng là cảng biển có diện tích đất đai rất lớn là nền tảng để hình thành và phát triển các đô thị mới
- Các khu công nghiệp tập trung và khu công nghệ cao cấp quốc gia, các khu, cụm, điểm công nghệ cấp địa phương do
Trang 5tỉnh/ huyện quản lý được phát triển ở gần các đô thị hiện có hoặc dọc theo các tuyến giao thông quốc gia để tận dụng các
hạ tầng xã hội và kỹ thuật sẵn có như nguồn nhân lực, các cơ
sở y tế, gíao dục, đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay Các khu công nghiệp Trung ương và địa phương thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có tỷ lệ lấp đầy tương đối cao, thu hút nhiều ngành công nghiệp và nhân công, mức độ đô thị hóa ở đây cũng gia tăng rất nhanh Đây là các tiền đề quan trọng để hình thành và phát triển các vùng đô thị lớn, vùng kinh tế trọng điểm có khả năng cạnh tranh với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực Đông Nam Á Bên cạnh đó, các khu công nghiệp Trung ương và địa phương ở các tỉnh có đóng góp đáng kể vào tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, hình thành các đô thị mới hay khu đô thị mới Các cụm, điểm công nghiệp ở các tỉnh có tác động rất tích cực tới quá trình công nghiệp hóa nông thôn các Vùng nơi
có mạng lưới công nghiệp địa phương, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề phát triển khá dày đặc
- Trong nhiều năm qua thương mại quốc tế thông qua các cảng biển đã thúc đẩy các đô thị ven biển có tiềm năng cảng phát triển mạnh Trong những năm gần đây, khối lượng thương mại quốc tế trên đất liền thông qua các cửa khẩu đã được tăng cường đáng kể, thúc đẩy phát triển nhanh các đô thị cửa khẩu quốc gia, quốc tế đã có từ trước như Lạng Sơn, Lào Cai hay mới được hình thành như Cầu Treo (Hà Tĩnh), Bờ Y (Kon Tum), Bu Phơ Răng (Đắc Nông), Mộc Bài (Tây Ninh), Xà Xía (Kiên Giang)… Một số đô thị cửa khẩu kinh tế thuộc tiểu vùng sông Mê Kông
mở như Lào Cai trên các hành lang Côn Minh (Trung Quốc) - Lào
Trang 6Cai Hà Nội Hải Phòng; Lao Bảo trên hành lang kinh tế Đông Tây nối Mukdahan (Đông Bắc Thái Lan) Savanakhet (Trung -Nam Lào) - Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng; Bờ Y trên tuyến Đông Bắc Campuchia - Pakse (Nam Lào) - Kon Tum - Quy Nhơn; hay Mộc Bài trên hành lang Đông Nam Campuchia Tây Ninh -TP.HCM -Vũng Tàu Các đô thị cửa khẩu là các điểm tựa đô thị hóa quan trọng đối với các khu vực biên giới miền núi vốn chậm phát triển ở nước ta và cũng là những mốc giới quan trọng đảm bảo an ninh biên giới tổ quốc
- Đánh giá chung phát triển đô thị hóa Việt Nam trong giai đoạn vừa qua có nhiều chuyển biến số lượng Năm 1999 cả nước có 629 đô thị đến nay có 772 đô thị, trong đó có 2 đô thị đặc biệt, 15 đô thị loại I, 14 đô thị loại II, 47 đô thị loại III, 64 đô thị loại IV và 630 đô thị loại V Trong 6 tháng đầu năm, có TP Thanh Hóa nâng lên đô thị loại I, các TP Rạch Giá, TP Bạc Liêu,
TP Ninh Bình, TP Thái Bình nâng lên loại II, 3 đô thị loại V hình thành mới và 1 đô thị (thị trấn Cầu Diễn thuộc huyện Từ Liêm
cũ sát nhập vào quận mới)
- Về đơn vị hành chính đô thị do hiện nay Hiến pháp 2013 đã
có hiệu lực nên việc nâng cấp quản lý hành chính và điều chỉnh ranh giới hành chính đô thị phải thông qua thường trực Quốc hội, 6 tháng đầu năm 2014 không có biến động về cấp quản lý hành chính, cả nước có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 63 thành phố thuộc tỉnh, 47 thị xã thuộc tỉnh, 613 thị trấn (trong
đó 27 thị trấn là đô thị loại IV) Tỉnh có nhiều thị trấn nhất là Thanh Hóa với 28 thị trấn Tỉnh Ninh Thuận chỉ có 3 thị trấn, thành phố Đà Nẵng không có thị trấn nào
Trang 7- Về dân số thành thị (gồm dân số nội thành, nội thị và thị trấn) đạt khoảng 30,4 triệu người, tập trung tại 2 đô thị loại đặc biệt và 15 đô thị loại I khoảng 14,8 triệu người chiếm 49% dân
số các đô thị trên toàn quốc) Tỷ lệ đô thị hóa trung bình cả nước đạt khoảng 34%, tăng trung bình 1% năm Đô thị hóa tập trung cao nhất tại vùng Đông Nam Bộ (64,15%), thấp nhất tại vùng Trung Du miền núi phía Bắc (21,72%) Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có tỷ lệ dân số thành thị cao, cao nhất cả nước là TP HCM 83%, Bình Dương 71,6%, Quảng Ninh 68,86%,
… Các tỉnh có tỷ lệ dân số thành thị thấp nhất cả nước gồm: Thái Bình 10,7%, Tuyên Quang 12,41%, Sơn La 13,7%, Bắc Giang: 13,05%
- Về đất đô thị, tổng diện tích cả nước 331.698 km2, diện tích đất đô thị không có biến động so với năm 2013, đến nay, tổng diện tích đất tự nhiên toàn đô thị đạt 34,017 km2 chiếm khoảng 10,26% diện tích đất tự nhiên của cả nước, nội thành nội thị 14.760 km2 chiếm khoảng 4,42% diện tích đất tự nhiên của cả nước Nhiều khu vực nội thành nội thị vẫn còn 50-60% diện tích đất nông nghiệp hoặc để trống chưa sử dụng phát triển đô thị Hiện tượng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuêu thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đặc biệt vùng ven đô đang rất cần quản lý chặt chẽ
Câu 2:
SO SÁNH ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM THỜI CỔ TRUNG ĐẠI VÀ CẬN ĐẠI ĐẶC TRƯNG ĐÔ THỊ VIỆT NAM THỜI CỔ TRUNG ĐẠI
Trả lời:
Trang 81 Theo dòng lịch sử, các đô thị đã trải qua các thời kì phát triển của nó và ở Việt Nam cũng vậy Các đô thị đều trải qua quá trình phát triển từ thời cổ đại đến trung đại và cận, hiện đại Sự tiếp nối đó đã làm cho các đô thị có những nét tương đồng cũng như có những nét riêng khác biệt nhau Đô thị cổ trung đại và cận đại ở Việt Nam cũng vậy, đều có những nét giống và khác nhau
- Giống nhau:
+ Đô thị thời cổ trung đại và cận đại đều mang yếu tố kinh tế, chính trị xen kẽ nhau Đặc biệt là lao động phi nông nghiệp, trong đô thị phát triển công nghiệp – thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vân tải, các đô thị xây dựng lên gắn liền với chính trị, phục vụ cho chính quyền nhà nước là đa số Đây là những trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa
+ Đô thị thời cổ trung đại và cận đại đều ra đời dựa trên cơ sở chính trị, quân sự
- Khác nhau:
+ Đô thị thời cổ trung đại: Ngay từ thế kỷ III TCN, thành Cổ Loa
- kinh đô của nhà nước Âu Lạc được xem là đô thị đầu tiên ở nước ta, các đô thị Việt Nam đã được hình thành và phát triển
từ các thành cổ hay từ những điểm buôn bán lớn
Từ khi mới hình thành các đô thị đã có những chức năng khác nhau, đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển KTXH nước ta và theo thời gian các chức năng đó cũng dần thay đổi
Trong thời kì này đô thị còn ít ỏi, quy mô nhỏ bé, chủ yếu là các
đô thị mang chức năng chính trị, quân sự bên cạnh đó tập trung dân cư tiểu thủ công nghiệp, các thương gia
Trang 9Các đô thị cổ phát triển thời bấy giờ như thành Luy Lâu (Thuận Thành- Bắc Ninh), Long Biên, Tống Bình (Hà Nội)…Thời nhà Lê:
có thành Hoa Lư - thủ đô
Thời nhà Lý: thành Thăng Long- phát triển mạnh cả về kinh tế, chính trị, xã hội…tập trung các khu dân cư, sản xuất thủ công tập trung theo phố, phường buôn bán tấp nập…ngày càng lớn mạnh Thời nhà Trần: mở rộng quan hệ nước ngoài nên các đô thị thương cảng rất phát triển như Vân Đồn - Quảng Ninh
Thời nhà Lê: tiểu thủ công nghiệp và cơ sở buôn bán phát triển nhưng hạn chế buôn bán nước ngoài nên đô thị cảng biển chậm phát triển
Thời Trịnh- Nguyễn phân tranh: Các đô thị phát triển mạnh như: Kinh Kì, Phố Hiến ( Hưng Yên), Hội An (Quảng Nam), Gia Định Thời nhà Nguyễn: đầu thế kỷ 19, đô thị kém phát triển, các thương cảng suy tàn… kinh đô dời vào Huế
+ Đô thị thời cận đại: gắn liền với thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và đô hộ
Người Pháp đã áp dụng chính sách chia để trị nên tổ chức mạng lưới đô thị hành chính cùng với các đồn trú rải đều trên khắp lãnh thổ nước ta
Ngoài ra, để thực hiện chính sách vơ vét tài nguyên, bót lột thuộc địa chúng đã xây dựng các nhà máy và khu công nghiệp Hình thành các đô thị với các thị dân hoạt động công nghiệp như; Hòn Gai, Cẩm Phả, Nam Định, Hải Phòng, Đà Nẵng, Biên Hòa, Sài Gòn Đồng thời phát triển các đô thị quân sự chính trị nhằm phục vụ cho các tầng lớp thống trị, các đô thị nghỉ dưỡng
ra đời: Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt, Đồ Sơn, Nha Trang,…
Trang 10Đô thị thời này hình thành thành 3 cụm lớn theo các chức năng hành chính, kinh tế, quân sự Đó là: (1) Hà Nội – Hải Phòng, (2) Huế - Đà Nẵng, (3) Sài Gòn – Chợ Lớn
2 Đặc trưng đô thị Việt Nam thời cổ trung đại
Đặc điểm chung của đô thị Việt Nam trong thời kỳ này chủ yếu gắn liền với mục đích hành chính - chính trị, ngoài ra còn có yếu tố kinh tế - văn hóa, các đô thị như: Cổ Loa, Hoa Lư, Thăng Long, Hà Nội, Huế,…Ở đó thường có ba yếu tố: Thành quách pháo đài, tượng trưng cho bạo lực thống trị đối nội và quốc phòng, cung điện, lâu đài thể hiện quyền cai trị hành chính và
hệ thống chợ búa, phố phường tập trung sản xuất và trao đổi cả nước
Đô thị gồm: Phần "đô" xuất hiện trước, kéo theo nó là phần
"thị" xuất hiện nhằm phục vụ trước tiên cho bản thân gia đình những vua chúa, quan lại, tầng lớp trên trong xã hội
Các tầng lớp thị dân trong phần "thị" luôn bị chi phối bởi tầng lớp trên là các tầng lớp quan lại, quý tộc
Trong các đô thị trung đại Việt Nam, phần đô – chính trị thường quan trọng hơn và có xu thế lấn át phần thị - kinh tế Toàn đô thị sẽ phát triển cùng với sợ phát triển phần đô Ở Việt Nam cũng có những đô thị - kinh tế, mà ở đó vai trò kinh tế nổi trội hơn chính trị, nhưng thường các đô thị này không tồn tại lâu bền ( ví dụ Hội An) Khi phần đô giảm thiểu đi, trị sở hành chính chuyển dời đi nơi khác, hoặc ở vùng đó xảy ra chiến tranh loạn lạc, tình hình đó thường kéo theo sự suy thoái và nông thôn hóa trở lại của đô thị
Nhân tố kinh tế đến sau nhân tố chính trị, nhưng lại là điều kiện chủ chốt tạo nên sự hung khởi của đô thị