Có tình hình đó không chỉ do sự phục hồi, phát triển mạnh mẽ của các hình thức tín ngỡng, tôn giáo ở mộtsốnớc mà còn vì trong thời đại ngày nay, tôn giáo có liên quan chặt chẽ đếnnhững c
Trang 1PGS.TS Nguyễn Đức Lữ
(Chủ biên)
Tôn giáo, tín ngỡng
Lý luận và chính sách đối với tôn giáo, tín ngỡng ở Việt Nam
(Tài liệu tham khảo)
Hà Nội, 2- 2007
Trang 2Danh s¸ch céng t¸c viªn
PGS, TS NguyÔn §øc L÷ (Chñ biªn): Bµi 1, 2, 3
TS Ph¹m V¨n DÇn: Bµi 4
PGS.TS Hoµng Minh §«: Bµi 5, 6
PGS, TS Ng« H÷u Th¶o: Bµi 7, 8, 9
GS,TS Ph¹m Ngäc Quang: Bµi 10
2
Trang 3Lời giới thiệu
Những thập kỷ cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, tình hìnhtôn giáo trên thế giới và trong nớc có nhiều diễn biến phức tạp, đã và đang đặt ranhiều vấn đề cần đợc lý giải trên cơ sở khoa học Trong xã hội hiện đại ngàynay, tôn giáo đang trở thành một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm, chú ýcủa nhiều nhà khoa học cũng nh những nhà hoạt động thực tiễn
Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo, chúng tôi tiến hành
biên soạn tập sách tham khảo “Lý luận về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo ở Việt Nam” nhằm phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu và đáp ứng
nhu cầu cho những ngời muốn tìm hiểu về tín ngỡng và tôn giáo Tập sách thamkhảo này, đã đợc biên tập nhiều lần qua ý kiến góp ý của nhiều bạn đọc ở các cơquan Trung ơng và các địa phơng, cũng nh của các đọc giả trong và ngoài ViệnNghiên cứu Tôn giáo và Tín ngỡng Chúng tôi hy vọng tập sách này sẽ là tài liệutham khảo hữu ích, góp phần nâng cao sự hiểu biết về tôn giáo, tín ngỡng chongời học và cho tất cả những ai quan tâm đến vấn đề này
Tuy tập tài liệu này đã đợc điều chỉnh, bổ sung, sửa chữa nhiều lần, nhngkhó tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết trong quá trình biên tập Chúng tôirất mong nhận đợc ý kiến phê bình, góp ý của các nhà khoa học, các nhà quản
lý, các học viên và các bạn độc giả gần xa quan tâm đến lĩnh vực này
Hà Nội, tháng 4/2007
3
Trang 4Bài 1 Chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo
Mấy thập kỷ gần đây vấn đề tín ngỡng, tôn giáo đợc nhiều ngời quan tâm,theo dõi trên cả phơng diện lý luận cũng nh thực tiễn Có tình hình đó không chỉ
do sự phục hồi, phát triển mạnh mẽ của các hình thức tín ngỡng, tôn giáo ở mộtsốnớc mà còn vì trong thời đại ngày nay, tôn giáo có liên quan chặt chẽ đếnnhững cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc đang diễn ra ở nhiều nơi; không chỉ vì nó
có vai trò và tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống xã hội mà cònbiểu hiện của sự bảo lu, gìn giữ bản sắc văn hoá của từng cộng đồng dân tộc trớc
xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá hiện nay Tín ngỡng, tôn giáo là nhu cầu tinhthần của một bộ phận nhân dân, nhng lại liên quan đến các lĩnh vực của đời sốngxã hội, tác động đến văn hoá, đạo đức, kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng
Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngỡng, tôn giáo và đang
có xu hớng phát triển Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo làmột quá trình và đổi mới về tôn giáo cũng là quá trình lâu dài, quá trình ấy đòihỏi phải từng bớc đợc hoàn thiện Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nớc,việc đổi mới nhận thức, đánh giá và ứng xử với tôn giáo cũng cần đợc đặt ra Tuyvậy, sự đổi mới đúng đắn và khoa học phải dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đó
là chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo cùng với những
đặc điểm tín ngỡng, tôn giáo ở Việt Nam
I Bản chất, nguồn gốc của tôn giáo
1 Bản chất của tôn giáo
Tín ngỡng và tôn giáo là hiện tợng xã hội đa chiều, vì vậy khái niệm tínngỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan đang có nhiều ý kiến khác nhau Tín ngỡng,tôn giáo có sự khác nhau, song lại có quan hệ chặt chẽ mà ranh giới để phân biệtgiữa chúng chỉ là tơng đối
Tín ngỡng là niềm tin của con ngời vào những điều thiêng liêng, huyền bí
vợt khỏi thế giới tự nhiên Còn tôn giáo là tín ngỡng của những ngời cùng chung
một tổ chức có hệ thống giáo lý, giáo luật và lễ nghi
Vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau khi định nghĩa về tôn giáo Chẳnghạn: “tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào lòng tin và sùngbái thợng đế, thần linh”1; “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quanniệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lợng siêu nhiên, cho rằng có
1 Từ điển Tiếng Việt Nxb KHXH- Trung tâm Từ điển- 1995 tr 239 4
Trang 5những lực lợng siêu nhiên quyết định sốphận con ngời Con ngời phải phục tùng,tôn thờ”1
Mê tín dị đoan là một hiện tợng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và vẫntồn tại ở thời đại chúng ta Trên thực tế, mê tín dị đoan thờng xen vào các hìnhthức sinh hoạt tín ngỡng, tôn giáo Việc xác định hiện tợng mê tín dị đoan chủyếu dựa vào biểu hiện và hậu quả tiêu cực của nó
Mê tín dị đoan là tin một cách mù quáng vào những điều nhảm nhí gây
tổn hại về sức khoẻ, tài sản, tính mạng và tổn phí về thời gian cho cá nhân, gia
đình và xã hội
Hiện tợng mê tín dị đoan thờng gắn liền với các hình thức sinh hoạt tín ỡng, tôn giáo Vì vậy cùng với việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngỡngcủa nhân dân thì đồng thời phải loại bỏ dần mê tín dị đoan nhằm làm lành mạnhhoá đời sống xã hội
ng-Tôn giáo tuy có những mặt tiêu cực, nhất là khi các thế lực chính trị phản
động lợi dụng để bảo vệ lợi ích của chúng, nhng tôn giáo còn chứa đựng trong nónhững nhân tố tích cực phù hợp với xã hội tiến bộ Dới chế độ bóc lột, một mặttôn giáo hợp pháp hoá chế độ đơng thời; mặt khác là hình thức phản kháng xãhội đó một khi nó không phù hợp với xu thế tiến bộ Điều này đã đợc C Máckhẳng định: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiệnthực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếngthở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũnggiống nh nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần” 2
Những ngời theo chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, về bản chất, tôn giáokhông chỉ là hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xã hội Với t cách làhình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh một cách hoang đờng, h ảo hiện thựckhách quan Điều này đợc Ph.Ăngghen nêu: “Nhng tất cả mọi tôn giáo chẳngqua chỉ là sự phản ánh h ảo - vào trong đầu óc của con ngời - của những lực lợng
ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó nhữnglực lợng ở trần thế đã mang hình thức những lực lợng siêu trần thế”3
2 Nguồn gốc của tôn giáo
Xuất phát từ đối tợng và mục đích của các lĩnh vực khoa học mà ngời tatìm hiểu nguồn gốc của tôn giáo dới những góc độ khác nhau Nghiên cứunguồn gốc của tôn giáo, C.Mác cho rằng: con ng ời sáng tạo ra tôn giáo chứkhông phải tôn giáo sáng tạo ra con ngời Nhng, theo C.Mác, không phải là
1 Từ điển Tiếng Việt Nxb Đà Nẵng và Từ điển Hà Nội- Đà Nẵng 2000, tr 1011, 1218
2 C.Mác- Ănghen toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H, 1995, tr.570
3 C.Mác - Ph.Ăng ghen, toàn tập, T.20, Nxb CTQG, H, 1994, tr.437.5
Trang 6con ngời trừu tợng mà chính là thế giới những con ngời, là Nhà nớc, là xã hội:
Nhà nớc ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo Vì vậy, tìm hiểu nguồn gốc ra đời và
điều kiện tồn tại của tôn giáo cũng cần phải nghiên cứu từ hiện thực đời sống củacon ngời và từ các mối quan hệ xã hội
Đã có nhiều cách lý giải khác nhau về nguồn gốc của tôn giáo Tuy nhiên,trong các nguồn gốc của tôn giáo cần lu ý đến nguồn gốc kinh tế - xã hội, nguồngốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý
2.1 Nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo
Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ do trình độ của lực lợng sản xuất và
điều kiện sinh hoạt vật chất còn rất thấp kém, con ngời cảm thấy yếu đuối và bấtlực trớc tự nhiên Vì vậy, ngời nguyên thuỷ đã gán cho tự nhiên những sức mạnhsiêu nhiên
Nhng về sau, bên cạnh những sức mạnh tự nhiên lại xuất hiện những sứcmạnh xã hội Khi xã hội xuất hiện chế độ t hữu về t liệu sản xuất, giai cấp hìnhthành, đối kháng giai cấp nảy sinh Trong xã hội có giai cấp đối kháng, các mốiquan hệ xã hội ngày càng phức tạp và con ngời càng chịu tác động của nhiều yếu
tố tự phát, ngẫu nhiên, may rủi, bất ngờ với những hậu quả khó lờng nằm ngoài
ý muốn và khả năng điều chỉnh của mình Một lần nữa, con ngời lại bị động, bấtlực trớc lực lợng tự phát nảy sinh trong lòng xã hội
Sự bần cùng về kinh tế, nạn áp bức về chính trị, sự hiện diện của những bấtcông xã hội, cùng với những thất vọng, bất lực trong cuộc đấu tranh giai cấp củagiai cấp bị trị - đó là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo
2.2 Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Các nhà duy vật trớc C Mác thờng nhấn mạnh về nguồn gốc nhận thứccủa tôn giáo Còn những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin lại quan tâmtrớc hết đến nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo Chính vì vậy mà học thuyếtduy vật của C Mác đã vợt lên trên các nhà duy vật đơng thời Tuy nhiên, chủnghĩa Mác - Lênin không phủ nhận nguồn gốc nhận thức của tôn giáo mà cònlàm sáng tỏ một cách có cơ sở khoa học nguồn gốc đó
ở một giai đoạn lịch sử nhất định thì sự nhận thức của con ngời về tựnhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn Chức năng của khoa học làtìm hiểu, khám phá ra những điều mà nhân loại cha biết; vận dụng các tri thức đãbiết để tiếp tục nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con ngời ngàymột tiến bộ hơn Song, ở thời kì lịch sử cụ thể thì khoảng cách giữa “biết” và
“cha biết” vẫn tồn tại, mà điều gì khoa học cha giải thích đợc thì điều đó thờng
6
Trang 7chỉ đợc giải thích một cách h ảo qua các tôn giáo Ngay cả những vấn đề đã đợckhoa học chứng minh, nhng trình độ dân trí thấp kém vẫn là mảnh đất cho tôngiáo ra đời, tồn tại và phát triển.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo còn gắn liền với đặc điểm của quá trìnhnhận thức của con ngời về thế giới khách quan - đó là quá trình phức tạp đầymâu thuẫn Nhận thức của con ngời là một quá trình thống nhất giữa nội dungkhách quan và hình thức chủ quan của nhận thức Một mặt, hình thức phản ánhcàng đa dạng, phong phú bao nhiêu thì con ngời càng có khả năng nhận thức đầy
đủ, sâu sắc thế giới khách quan bấy nhiêu; mặt khác, do đặc điểm của quá trìnhnhận thức từ cảm giác, tri giác, biểu tợng, khái niệm, phán đoán đến suy lýkhông chỉ tạo ra khả năng nhận thức đầy đủ thế giới mà còn có khả năng phản
ánh sai lầm và xa rời hiện thực
Tính phức tạp của quá trình nhận thức đã tạo ra khả năng xuất hiện cácquan niệm sai lầm mang tính h ảo của tôn giáo
2.3 Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Vấn đề ảnh hởng của yếu tố tâm lý, tình cảm của con ngời đối với sự ra
đời và tồn tại của tôn giáo đã đợc các nhà vô thần cổ đại nghiên cứu Họ thờng
đ-a rđ-a những luận điểm: “sự sợ hãi sinh rđ-a thần linh” Lênin tán thành và phân tíchthêm: “Sự sợ hãi trớc thế lực mù quáng của t bản - mù quáng vì quần chúng nhândân không thể đoán trớc đợc nó - là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của ng-
ời vô sản và ngời tiểu chủ, cũng đe doạ đem lại cho họ và đang đem lại cho họ sựphá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm cho họ phải diệt vong, biến họthành một ngời ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm, và dồn họ vào cảnh chết
đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại”1
Nhng không phải chỉ có sự sợ hãi trớc sức mạnh tự phát của tự nhiên và xãhội mới dẫn con ngời đến nhờ cậy ở thần linh, mà ngay cả những tình cảm tíchcực nh lòng biết ơn, sự kính trọng, tình yêu thơng trong mối quan hệ giữa conngời với tự nhiên và con ngời với con ngời cũng đợc thể hiện qua các hình thứctín ngỡng, tôn giáo
Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Không kể ở những nớc xã hội chủ nghĩa, trong quá trình tồn tại đã làmbiến dạng chủ nghĩa xã hội với những khuyết tật không phải từ bản chất của nó,cộng với những sai lầm trong cải tổ, cải cách đã dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩaxã hội ở đấy, mà ngay ở những nớc đang trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
1 V.I.Lênin toàn tập, tập 17, Nxb TB, M., 1979 (bản tiếng Việt), tr 515-5167
Trang 8hội đạt nhiều thành tựu thì tín ngỡng, tôn giáo vẫn tồn tại Có nhiều nguyên nhâncho sự tồn tại của tín ngỡng, tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội, song có mấynguyên nhân chủ yếu sau đây:
Trong chủ nghĩa xã hội, nhất là giai đoạn đầu của thời kì quá độ lên chủnghĩa xã hội, còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế với những lợi ích khác nhaucủa các giai tầng xã hội, sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội vẫn là một thực tế Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chếthị trờng khiến cho con ngời chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố ngẫunhiên, may rủi Điều đó dễ làm cho ngời ta có tâm lý thụ động, trông chờ, cầumong vào những lực lợng siêu nhiên
Cuộc đấu tranh giữa các lực lợng xã hội khác nhau diễn ra dới nhiều hìnhthức đa dạng, tinh vi và phức tạp Trong đó có những lực lợng phản động trong
và ngoài nớc vẫn cha từ bỏ ý định lợi dụng tôn giáo để chống phá sự nghiệp cáchmạng của nhân dân Tình hình ấy làm cho tôn giáo có lúc, có nơi diễn biến phứctạp
Hoạt động tôn giáo có khả năng đáp ứng ở một mức độ nào đó nhu cầuvăn hoá, tinh thần và có ý nghĩa nhất định về giáo dục ý thức cộng đồng, đạo
đức, phong cách, lối sống Vì vậy, việc kế thừa có chọn lọc những giá trị đạo đứcnhân loại, trong đó có đạo đức tôn giáo là cần thiết Vả lại, tín ngỡng, tôn giáo
có liên quan đến tình cảm, t tởng của một bộ phận dân c và do đó sự tồn tại củatín ngỡng, tôn giáo trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội nh một hiện tợng xãhội khách quan
Ngày nay, chiến tranh hạt nhân có quy mô thế giới có khả năng bị đẩy lùi,nhng những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng
bố, bạo loạn, lật đổ còn xảy ra ở nhiều nơi Nỗi lo sợ về chiến tranh, bệnh tật,
đói nghèo cùng với những mối đe doạ khác là điều kiện thuận lợi cho tôn giáotồn tại
8
Trang 9Cha có thời kì lịch sử nào mà nhân loại đạt đợc những thành tựu lớn lao vềkhoa học và công nghệ nh hiện nay Gần đây, với những tiến bộ vợt bậc củacông nghệ thông tin, sinh học, vật liệu mới đã giúp con ngời có những khảnăng để nhận thức xã hội và làm chủ tự nhiên Song thế giới vật chất vô cùng, vôtận, đa dạng, phong phú, còn đặt ra nhiều vấn đề mà hiện tại khoa học cha thểlàm rõ Những sức mạnh tự phát của tự nhiên, xã hội đôi khi rất nghiêm trọngcòn tác động và chi phối đời sống con ngời Do vậy, tâm lý sợ hãi, trông chờ,nhờ cậy và tin tởng ở thần, phật, thánh, thần cha thể gạt bỏ hết khỏi ý thức củanhiều ngời trong xã hội.
Trong mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, thì ý thức xã hộibảo thủ hơn so với tồn tại xã hội mà tôn giáo lại là một trong những hình thái ýthức xã hội bảo thủ nhất Vì tín ngỡng, tôn giáo đã in sâu vào đời sống tinh thần,
ảnh hởng đến cả nếp nghĩ, lối sống của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệ.Nên, dù có thể có những biến đổi lớn lao về kinh tế, chính trị, xã hội thì tín ng-ỡng, tôn giáo cũng không thay đổi ngay theo tiến độ của những biến đổi kinh tế,xã hội mà nó phản ánh
Trong quá trình tồn tại, chủ nghĩa xã hội đã đạt đợc những thành tựu tolớn về nhiều mặt Nhng có nhiều nguyên nhân khiến một sốnớc xã hội chủ nghĩa
đã lâm vào tình trạng khủng hoảng rồi dẫn đến sự sụp đổ của xã hội chủ nghĩa ở
đấy Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô đã làm cho niềm tin củaquần chúng vào xã hội mới bị giảm sút Thêm vào đó là một sốcán bộ trong bộmáy Đảng, Nhà nớc thoái hoá, biến chất, xa rời quần chúng, hiện tợng tiêu cựcchậm đợc khắc phục, tệ nạn xã hội nảy sinh, công bằng xã hội bị vi phạm Đó lànhững điều kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại và phát triển
Tuy nhiên, sự tồn tại của tín ngỡng, tôn giáo trong xã hội chủ nghĩa cũng
có những đặc điểm riêng Trớc hết, giai cấp công nhân lấy chủ nghĩa Mác-Lêninlàm nền tảng t tởng của mình, vì vậy, việc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa duyvật mác xít trong xã hội là cần thiết Nhà nớc xã hội chủ nghĩa đề ra chính sách
đối với tôn giáo trên nguyên tắc không chỉ tôn trọng, bảo đảm và thực hiện quyền tự dotín ngỡng mà còn đảm bảo quyền tự do không tín ngỡng của công dân
II Tính chất và chức năng của tôn giáo
1 Tính chất của tôn giáo
1.1 Tính lịch sử của tôn giáo
Tôn giáo còn tồn tại lâu dài, nhng không phải là hiện tợng xã hội vĩnhhằng, bất biến mà nó có tính lịch sử Tôn giáo có bớc khởi đầu, biến động và sẽmất đi, khi mà: “Con ngời không chỉ mu sự, mà lại còn làm cho thành sự nữa, thì9
Trang 10khi đó, cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôngiáo mới sẽ mất đi, và cùng với nó bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáocũng sẽ mất đi, vì khi đó sẽ không có gì để phán ánh nữa”1.
1.2 Tính quần chúng của tôn giáo
Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện ở sốlợng tín đồ các tôngiáo chiếm tỉ lệ cao trong dân sốthế giới, mà còn ở chỗ tôn giáo là một trong cáchình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân lao
động Dù tôn giáo hớng con ngời hy vọng vào hạnh phúc h ảo ở thế giới bên kia,song nó luôn luôn phản ánh khát vọng của những ngời bị áp bức về một xã hội tự
do, bình đẳng, bác ái Khi thể hiện tính quần chúng, tôn giáo thờng có tính nhânvăn, nhân đạo, hớng thiện Do vậy, tôn giáo là một trong những nhu cầu tinhthần của bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân lao động
1.3 Tính chính trị của tôn giáo
ở thời kì công xã nguyên thủy, tôn giáo chỉ phản ánh nhận thức hồnnhiên, ngây thơ của con ngời về bản thân và thế giới quanh mình Nhng, khi xuấthiện giai cấp thì tôn giáo thờng phản ảnh lợi ích giai cấp và đấu tranh giai cấp
Nh vậy, tính chính trị của tôn giáo chỉ có khi xã hội đã phân chia giai cấp, khi cónhững lực lợng chính trị lợi dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo
Trong lịch sử và đơng đại, những cuộc chiến tranh tôn giáo đã và đang xảy
ra, thực chất vẫn là xuất phát từ những lợi ích vật chất của những lực l ợng xã hộikhác nhau Trớc khi có cuộc đấu tranh giữa các giai cấp trên mặt trận kinh tế,chính trị, quân sự thờng diễn ra cuộc đấu tranh trên lĩnh vực t tởng, tôn giáo.Những cuộc đấu tranh hệ t tởng tôn giáo luôn là một bộ phận của đấu tranh giaicấp Và, khi xã hội còn giai cấp thì tôn giáo cũng luôn bị các giai cấp thống trịbóc lột sử dụng nh một công cụ quan trọng để bảo vệ lợi ích của mình
Dĩ nhiên, đông đảo quần chúng tín đồ đến với tôn giáo là nhằm thoả mãnnhu cầu tinh thần Song trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các lực lợng chính trịlợi dụng cho mục đích ngoài tôn giáo
1 C.Mác-Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H., 1995, tr.43910
Trang 11thức đợc không? v.v Dù phản ánh h ảo thế giới khách quan, nhng tôn giáo luôn
có kỳ vọng đáp ứng nhu cầu của con ngời về nhận thức thế giới: tự nhiên, xã hội
có thể tìm thấy trong tôn giáo những giải đáp làm nguôi nguây đi những khổ đau
và ủ ấp một hi vọng h ảo Đó là sự cứu rỗi của Chúa nhân từ, của Đức Phật từ bi,
sự thởng phạt công minh đối với hành vi của mỗi ngời ngay trong trần thế, vàkhả năng đến đợc cõi hạnh phúc, vĩnh hằng (Thiên đờng, Niết bàn ), thông quamột quy tắc sống an phận, chịu đựng, hớng thiện, tu tâm dỡng tính- những phơngthức để đạt mục đích cuối cùng nh tôn giáo đã chỉ ra Sự đền bù h ảo của tôngiáo, nhng lại có tác dụng hiện thực, bởi nhờ có nó mà con ngời trong những lúckhổ đau tuyệt vọng nhất vẫn đợc an ủi và vẫn nuôi một hi vọng vợt qua, hạn chế
đợc những hành vi vô nghĩa hoặc tai hại cho đồng loại
2.4 Chức năng liên kết
Tôn giáo có khả năng liên kết những ngời cùng tín ngỡng Họ có chungmột niềm tin, cùng bị giàng buộc bởi giáo lý, giáo luật, cùng thực hiện mộtsốnghi thức tôn giáo và những điểm tơng đồng khác Sự liên kết giữa các cộng
đồng cùng tôn giáo rất chặt chẽ và lâu bền Tuy nhiên, đôi khi tôn giáo cũng bịlợi dụng để phục vụ cho âm mu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc Vìvậy, bên cạnh chức năng liên kết, tôn giáo cũng có khả năng bị phân ly vì sựkhác biệt tín ngỡng
III Phơng pháp giải quyết vấn đề tôn giáo
11
Trang 121 Thái độ của ngời Cộng sản đối với tôn giáo
Về phơng diện thế giới quan thì thế giới quan duy vật mác- xít và thế giớiquan tôn giáo là đối lập nhau Tuy vậy, nhìn chung trong thực tiễn những ngờicộng sản có lập trờng duy vật mác- xít không có thái độ xem thờng hoặc phủnhận nhu cầu tín ngỡng, tôn giáo của nhân dân Ngợc lại, chủ nghĩa Mác- Lênin
và những ngời cộng sản chân chính luôn tôn trọng quyền tự do tín ngỡng vàkhông tín ngỡng của quần chúng
Giữa ngời có tín ngỡng và ngời không có tín ngỡng có sự khác nhau về thếgiới quan Song, trong những điều kiện của một xã hội nhất định, họ có thể cùngnhau xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn ở thế giới hiện thực Mục tiêu của nhữngngời cộng sản là hớng tới xây dựng một xã hội mà trong đó không còn những sựkhác biệt giai cấp, không còn chế độ t hữu, không còn chế độ áp bức bóc lột vàbất bình đẳng giữa ngời với ngời Xã hội ấy chính là xã hội mà quần chúng tín
đồ cũng từng mơ ớc và phản ánh nó qua một sốtôn giáo Trong lịch sử cũng nhhiện tại, vì nhiều lý do và động cơ khác nhau mà có một sốngời không mấy thiệncảm với chủ nghĩa xã hội, họ cho rằng “chủ nghĩa xã hội không tơng dung vớitôn giáo”, rằng “chủ nghĩa xã hội phủ nhận sự tồn tại của tôn giáo” và rằng “chủnghĩa xã hội không phù hợp với văn minh Kitô giáo” v.v Sự thật thì không phải
nh vậy Những ngời cộng sản cha bao giờ có ý định phủ nhận sự tồn tại của tôngiáo trong xã hội chủ nghĩa và cũng cha khi nào có chủ trơng chống tôn giáo màchỉ chống những kẻ lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị phản động Ngay từnăm 1844, trong “Bản thảo kinh tế và triết học”, C Mác đã viết: “Chủ nghĩa vôthần, với t cách là sự phủ định tính không đồng nhất đó, không còn ý nghĩa gìnữa, bởi vì chủ nghĩa vô thần là phủ nhận Thợng Đế và đặt làm định đề sự tồn tại
của con ngời thông qua sự phủ định đó: nhng chủ nghĩa xã hội nh chính nó
không cần đến cầu nối đó”1
ở nớc ta, sau khi miền Bắc đợc giải phóng, một sốbà con tín đồ còn bănkhoăn về sinh hoạt tôn giáo trong chế độ mới, để đồng bào có đạo an tâm, HồChí Minh đã nêu rõ: “Đảng cộng sản chẳng những không tiêu diệt tôn giáo màcòn bảo hộ tôn giáo Đảng cộng sản chỉ tiêu diệt tội ác ngời bóc lột ngời”2
Ngày 10- 05- 1958, khi trả lời câu hỏi của các cử tri Hà Nội: “Tiến lên chủnghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?”, Hồ Chí Minh một lần nữa nhắclại thái độ của ngời cộng sản đối với tôn giáo: “Không, ở các nớc xã hội chủnghĩa, tín ngỡng hoàn toàn tự do ở Việt Nam cũng vậy”3
1 Về tôn giáo, tập I, Nxb KHXH, H., 1994, tr.228
2 Xem báo Nhân Dân, ngày 27/11/1955.
3 Hồ Chí Minh toàn tập,,tập 9, Nxb CTQG, H., 1996, tr.76.12
Trang 13Tôn giáo với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học là hai hệ t tởng khácnhau, nhng cả hai đều phản ánh khát vọng và nhu cầu về sự giải phóng con ngờikhỏi áp bức, bất công, nô dịch và nghèo khổ
Trở về với những tôn giáo sơ khởi, ta dễ nhận thấy trong những tôn giáo
ấy thờng phản ánh mơ ớc của con ngời về một mô hình xã hội lý tởng Chủ nghĩaMác- Lênin thừa nhận: “Trong lịch sử đạo Cơ đốc sơ kì có những điểm giống
đáng lu ý với phong trào công nhân hiện đại Cả đạo Cơ đốc lẫn chủ nghĩa xã hộicông nhân đều tuyên truyền sự giải phóng con ngời trong tơng lai khỏi cảnh nô
Tôn giáo là sản phẩm của con ngời, gắn với những điều kiện lịch sử tựnhiên và xã hội nhất định Tuy nhiên, tín ngỡng, tôn giáo là vấn đề tế nhị, nhạycảm và phức tạp, những sai sót, thậm chí những sơ xuất nhỏ trong việc ứng xử
đối với tôn giáo cũng có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Vì vậy, việc
xử lý những vấn đề nảy sinh từ tôn giáo cần phải hết sức thận trọng, tỉ mỉ vàchuẩn xác, vừa đòi hỏi giữ vững nguyên tắc, vừa phải mềm dẻo và linh hoạt
1 C Mác-Ph Ăngghen, tập 22, Nxb CTQG, H., 1995, tr.663
2 V.I Lênnin toàn tập, tập 12, Nxb TB, M., 1979, tr.17413
Trang 142 Những bài học lịch sử trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo
Trong lịch sử đã từng tồn tại khuynh hớng hữu khuynh và tả khuynh trongviệc giải quyết tôn giáo mà Ăng-ghen, Lênin đã từng phê phán
Một sốnhững nhà lý luận thuộc giai cấp t sản cho rằng, tôn giáo sở dĩ duytrì đợc trong tầng lớp lạc hậu của giai cấp vô sản, nửa vô sản và nông dân là dotình trạng ngu dốt của họ Các nhà Hêghen trẻ đã phê phán tất cả những gì có hơihớng tôn giáo Nhng hầu hết tìm “con đờng giải thoát” khỏi tôn giáo một cáchduy tâm Lí luận mác- xít bác bỏ phơng pháp tuyên truyền trừu tợng tách khỏicuộc đấu tranh giai cấp khi giải quyết vấn đề tôn giáo Lênin viết: “Bất luận thếnào, chúng ta cũng không đợc vì thế mà đi đến chỗ đặt vấn đề tôn giáo một cáchtrừu tợng duy tâm chủ nghĩa, xuất phát từ lý tính ở bên ngoài đấu tranh giai cấp”.Bởi vì: “Sẽ thật vô lý nếu tởng rằng ngời ta có thể đánh tan đợc những thiên kiếntôn giáo bằng tuyên truyền không thôi, nếu quần chúng quên rằng ách áp bức tôngiáo đè nặng trên loài ngời chẳng qua chỉ là sản phẩm, là phản ánh của ách ápbức kinh tế trong xã hội mà thôi, thì nh thế là có đầu óc thiển cận t sản”1
Vì “không có sách vở nào cũng không có sự tuyên truyền nào mà lại giáodục đợc giai cấp vô sản, nếu họ không đợc giáo dục bởi quá trình đấu tranh củachính mình chống những thế lực đen tối của chủ nghĩa T bản”, và bởi vì “đối vớichúng ta sự thống nhất của cuộc đấu tranh thật sự cách mạng để sáng tạo nênmột cảnh cực lạc trên trái đất là quan trọng hơn sự thống nhất của ngời vô sản vềcảnh cực lạc trên thiên đờng”2
Điều mà Lênin nhắc nhở đến nay càng có ý nghĩa sâu sắc: “sai lầm lớnnhất và tệ hại nhất mà một ngời mác xít có thể mắc phải là tởng rằng có thể chỉ
do con đờng trực tiếp giáo dục chủ nghĩa Mác thuần tuý mà làm cho quần chúngbừng tỉnh khỏi giấc mê tôn giáo Không, cần phải biết tuyên truyền vô thần đủmọi vẻ, bằng những sự việc lấy trong mọi mặt của đời sống thực tế, đến với họbằng nhiều cách lay động họ từ mọi phía khác nhau, dùng đủ mọi phơng pháp
để thức tỉnh họ”
Nói nh vậy không có nghĩa là xem thờng hay phủ nhận công tác tuyêntruyền, giáo dục thế giới quan duy vật khoa học, mà ngợc lại việc tuyên truyền ttởng tiến bộ, phê phán tôn giáo bằng sách báo, bằng lời nói của chúng ta là cần
thiết và có ích- nếu nó phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp.
Điều mà Lênin phê phán là ở chỗ tuyên truyền chỉ bó hẹp trong lý luậnthuần tuý, trừu tợng và coi là nhiệm vụ chính, thậm chí duy nhất, đặt ngoài và
1 Lênin, toàn tập, T12, Nxb TB 1979, tr.174
Trang 15trên đấu tranh giai cấp chứ không phải là ông phản đối tuyên truyền giáo dục nóichung.
Tuyên truyền thế giới quan khoa học, phê phán, đấu tranh “chống tínhchất không triệt để của một sốtín đồ Thiên Chúa giáo” là cần thiết, nhng nh thế
không có nghĩa là “Phải đa vấn đề tôn giáo lên hàng đầu, vì đó không phải chỗ
của nó” mà đấu tranh “chính trị và kinh tế thật sự cách mạng” mới là vấn đề
hàng đầu Nhng tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là mộtthực thể xã hội Nó có tổ chức, có lực lợng chức sắc, tín đồ … những sinh hoạt những sinh hoạttôn giáo không phải chỉ trong phạm vi tín ngỡng thuần tuý mà còn liên quan tớinhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Với t cách là chủ thể quản lý xã hội thì Nhànớc có trách nhiệm và quyền hạn trên 2 vấn đề có liên quan đến tôn giáo, đó là
Pháp luật và chính trị
Trong khi vận động quần chúng có tôn giáo, chúng ta không nên đặt vấn
đề đấu tranh t tởng về tôn giáo, về thần học, không đặt vấn đề tuyên truyền chủ nghĩa vô thần Vấn đề chủ yếu là cần vận động quần chúng đoàn kết xây dựng một xã hội tốt đẹp.
Ăng-ghen và Lênin phê phán có phần gay gắt hơn đối với những phần tửtả khuynh vô chính phủ chủ trơng khai chiến với Thợng đế, truy kích tôn giáo
mà đại biểu là Đuy- rinh và phái Blăng- ki
Đuy- rinh quan niệm rằng một quốc gia tơng lai của ông không chấp nhận
sự thờ cúng, rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa, đợc hiểu một cách đúng đắn, phải phế bỏ mọi trang bị của sự mê hoặc tinh thần và do đó phế bỏ tất cả những yếu
tố cơ bản của sự thờ cúng Ông ta không chỉ chống Thiên Chúa giáo mà chốngcả tôn giáo nói chung, ông ta tỏ ra Bismác hơn cả Bismác, khi ông “tung bọnhiến binh tơng lai của ông ta ra truy kích tôn giáo”
Còn phái Blăng- ki đòi xoá bỏ thần thánh bằng sắc lệnh Họ đòi công xãhãy làm cho loài ngời vĩnh viễn thoát khỏi cái bóng ma của những tai hoạ đã qua
ấy Trong quá trình xây dng chủ nghĩa xã hội một sốnớc vấn mắc phải khuynh ớng này
h-Đi đôi với việc đấu tranh chống những biểu hiện “tả” khuynh, định kiến,mặc cảm, hẹp hòi, thô bạo xúc phạm đến tình cảm, niềm tin tôn giáo và quyền
tự do tín ngỡng của quần chúng có đạo, cần phải đấu tranh chống những biểuhiện hữu khuynh, buông lỏng quản lý tôn giáo, hoặc mất cảnh giác với những âm
mu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo gây mất ổn định chính trị, trật tự - an toàn xã hộicủa các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội
3 Mấy vấn đề mang tính nguyên tắc khi giải quyết tôn giáo 15
Trang 16Một là, khắc phục dần những ảnh hởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo đã đợc các nhà sáng lập chủ nghĩaMác- Lênin nghiên cứu và công bố trên cơ sở thực tiễn và cơ sở triết học duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử Các ông chỉ ra rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội,trớc hết cần phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xoá bỏ ảo tởng nảy sinhtrong t tởng con ngời, phải xoá bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tởng ấy: “Phê phán th-ợng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phánpháp quyền, phê phán thần học biến thành phê phán chính trị”1 Đấu tranh chốngnhững biểu hiện tiêu cực trong tôn giáo là gián tiếp đấu tranh với cái thế giới
đang cần có ảo tởng Điều cần thiết trớc hết là phải xác lập đợc một thế giới hiệnthực không có áp bức, bất công, nghèo đói và thất học cùng những tệ nạn nảysinh trong xã hội Đó là một quá trình lâu dài, quá trình ấy không thể thực hiện
đợc nếu tách rời việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Chỉ có thông quaquá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nhằm nâng cao đời sống vậtchất, tinh thần và trí tuệ cho con ngời thì mới có khả năng gạt bỏ dần những ảnhhởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống xã hội
Cũng sẽ là ảo tởng, là sai lầm khi đề ra mục tiêu khắc phục có hiệu quảnhững tác động tiêu cực của tôn giáo mà lại không hớng con ngời vào việc xâydựng một xã hội tốt đẹp, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Cầnkiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ vì sự khácnhau về tín ngỡng, tôn giáo Cần khai thác và phát huy tiềm năng của đồng bàocác tôn giáo vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và vănminh Đó là những việc làm có ý nghĩa thiết thực hiện nay Sự thống nhất về lợiích dân tộc, giai cấp và quốc gia sẽ tạo điều kiện tiến tới sự thống nhất về t tởng
và hành động
Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là lãng quên hay từ bỏ cuộc đấu tranhtrên lĩnh vực t tởng mà ngợc lại, cần quan tâm và coi trọng việc tuyên truyền,giáo dục thế giới quan duy vật khoa học một cách thờng xuyên dới nhiều hìnhthức Nhng công tác tuyên truyền, giáo dục phải gắn liền và phục vụ cho côngcuộc xây dựng xã hội mới, đồng thời đảm bảo quyền tự do tín ngỡng và tự dokhông tín ngỡng của nhân dân
Hai là, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngỡng, tôn giáo và không tín ngỡng, tôn giáo của nhân dân.
Trong chủ nghĩa xã hội, việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngỡng,
và không tín ngỡng là một nguyên tắc Quyền ấy không chỉ thể hiện về mặt pháp
1 C Mác -Ph Ăng ghen toàn tập, Nxb CTQG, H., 1995, tập 1, tr 57116
Trang 17lý mà còn đợc thực hiện trên thực tiễn một cách nhất quán, xuyên suốt, lâu dàicủa các Đảng mác xít Nguyên tắc ấy là căn cứ vào nguồn gốc, tính chất của tôngiáo, căn cứ vào bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, và qui luật của quátrình chuyển biến về mặt t tởng của con ngời - đó là một sự chuyển biến tự giác,dần dần từ thấp đến cao.
Điều cần lu ý là tín ngỡng, tôn giáo với nhiều hình thức khác nhau vẫn tồntại trong mọi xã hội Nhng cho đến nay, những cuộc chiến tranh do ý đồ khaithác sự khác biệt về tín ngỡng, tôn giáo vẫn còn là nguy cơ đối đầu dẫn đến xung
đột, vẫn còn những lực lợng xã hội lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị Vìvậy, đi đôi với việc tôn trọng quyền tự do tín ngỡng phải chống lại những kẻ lợidụng tín ngỡng
Ba là, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo.
ở những thời kì lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đốivới đời sống xã hội không nh nhau Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ,giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt Vì vậy, cầnphải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với nhữngvấn đề có liên quan đến tôn giáo
Có những tôn giáo khi mới xuất hiện nh một phong trào bảo vệ lợi ích củangời nghèo, ngời bị áp bức và nô lệ Nhng rồi, tôn giáo ấy lại biến thành công cụcủa giai cấp thống trị Có những giáo sĩ suốt đời hành đạo theo xu hớng đồnghành với dân tộc, nhng cũng có những ngời đã hợp tác với các thế lực phản động
đi ngợc lại lợi ích của quốc gia Có những vị chân tu luôn “kính chúa yêu nớc”,thiết tha muốn sống “tốt đời đẹp đạo”; nhng lại có những ngời sẵn sàng hy sinhquyền lợi tổ quốc cho lợi ích của ngoại bang Điều đó khiến cho Nhà nớc xã hộichủ nghĩa luôn cần có thái độ, cách ứng xử phù hợp đối với từng trờng hợp cụthể, nh Lênin đã nhắc nhở: “Ngời mác xít phải biết chú ý đến toàn bộ tình hình
cụ thể”1 khi giải quyết vấn đề tôn giáo
Bốn là, cần phân biệt hai mặt nhu cầu tín ngỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngỡng, tôn giáo
Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, tín ngỡng, tôn giáo chỉ biểu hiện thuầntuý nhận thức của con ngời về tự nhiên, xã hội Nhng khi xã hội đã xuất hiện giaicấp thì dấu ấn chính trị ít nhiều đều có trong tôn giáo Và do đó, tôn giáo luôntồn tại hai mặt: nhu cầu tín ngỡng, tôn giáo chân chính của nhân dân và một bộphận lợi dụng tín ngỡng, tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo
1 V.I Lênin toàn tập, tập 17, TB, M., 1979 (bản tiếng Việt), tr 51817
Trang 18Sự phân biệt này, trên thực tế không đơn giản, nhng việc phân biệt hai mặtnày là cần thiết, vì có phân biệt đợc hai mặt đó mới tránh khỏi khuynh hớng tảhoặc hữu trong quá trình quản lý, ứng xử với những vấn đề nảy sinh từ tín ngỡng,tôn giáo Nhu cầu tín ngỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của đồngbào có đạo sẽ còn tồn tại lâu dài Nhu cầu ấy phải đợc tôn trọng và bảo đảm Mọibiểu hiện vi phạm quyền ấy là trái với t tởng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Xuất phát từ lợi ích giai cấp, dân tộc và an ninh quốc gia, Nhà nớc xã hộichủ nghĩa phải thờng xuyên đấu tranh loại bỏ yếu tố chính trị phản động trongtôn giáo Ngày nay, các thế lực phản động quốc tế đang lợi dụng tôn giáo đểthực hiện chiến lợc “diễn biến hoà bình” nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở các n-
ớc xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam Điều đó nhắc nhở Đảng củagiai cấp công nhân cần nêu cao cảnh giác, giải quyết kịp thời, cơng quyết đối vớinhững kẻ lợi dụng tôn giáo Tuy nhiên cũng cần tránh khuynh hớng nôn nóng,vội vàng Quá trình giải quyết vấn đề nảy sinh từ tôn giáo phải thận trọng và tỉ
mỉ nhằm đạt đợc những yêu cầu chính sau đây:
Thứ nhất, đoàn kết rộng rãi quần chúng có tín ngỡng cũng nh quần chúng
không có tín ngỡng và đồng bào các tôn giáo khác nhau nhằm phấn đấu vì mụctiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh Động viên đồng bào có
đạo đóng góp sức lực, trí tuệ cho sự nghiệp đổi mới và dân chủ hoá đời sống xãhội, giành thắng lợi cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc hiệnnay
Thứ hai, phát huy tinh thần yêu nớc, thơng dân, chuyên cần việc đạo của
các vị chân tu trong hàng ngũ chức sắc, tu sĩ Hớng các giáo hội thành những tổchức hoạt động thuần tuý tôn giáo, một giáo hội ở một nớc độc lập hành đạo phùhợp với lợi ích dân tộc, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách và pháp luật của nhànớc
Thứ ba, kiên quyết trừng trị những kẻ lợi dụng tín ngỡng, tôn giáo để hoạt
động chống phá sự nghiệp cách mạng của toàn dân, đi ngợc lại lợi ích của quốcgia, dân tộc Nghiêm cấm những phần tử tuyên truyền xuyên tạc đờng lối, chủ tr-
ơng chính sách của Đảng và Nhà nớc, những kẻ gây hoang mang, kích động,chia rẽ, bè phái làm ảnh hởng xấu đến xã hội và những hành vi phạm phápkhác Làm cho quần chúng - trớc hết là tín đồ các tôn giáo - thấy rõ âm mu, thủ
đoạn của những phần tử lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng và tự giác đấutranh với chúng
Sự khác biệt về nhận thức của con ngời còn tồn tại lâu dài và sẽ là ảo tởngkhi đặt yêu cầu ngay một lúc phải có sự thống nhất tuyệt đối về nhận thức, t tởng
18
Trang 19đối với mọi thành viên trong xã hội Việc hớng ớc mơ của con ngời về “hạnhphúc” h ảo ở “thế giới bên kia” cho hạnh phúc thực sự ở thế giới hiện tại là mộtquá trình lâu dài Quá trình ấy, có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của khoahọc, trình độ dân trí, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và giảiquyết hài hoà các mối quan hệ xã hội.
19
Trang 20Bài 2
T tởng Hồ Chí Minh về tín ngỡng,tôn giáo
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho thế hệ sau những di sản t tởng quýbáu, trong đó có vấn đề tín ngỡng, tôn giáo Những lời di huấn, các bài viết,những cử chỉ, hành động cũng nh phong cách ứng xử của Ngời đối với các tôngiáo nói chung và đối với tín đồ, giáo sĩ, nhà tu hành của đạo Công giáo nóiriêng là những bài học quí báu T tởng đoàn kết tôn giáo hoà hợp dân tộc và tôntrọng, bào đảm quyền tự do tín ngỡng, tự do không tín ngỡng là nội dung cơ bảncủa t tởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “T tởng HồChí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơbản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạochủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện cụ thể của nớc ta, kế thừa và phát triển cácgiá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại
Đó là t tởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngời; về
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghiã xã hội”1
Vì vậy, T tởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là bộ phận của t tởng Hồ ChíMinh nói chung, đó là sự vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủnghĩa Mác - Lênin về tôn giáo trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam
I T tởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lơng giáo
T tởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lơng giáo, đoàn kết các tôn giáo với nhaunằm trong chiến lợc đại đoàn kết dân tộc của Ngời Đoàn kết theo t tởng Hồ ChíMinh là đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, giaicấp, tôn giáo Đoàn kết là một chiến lợc lâu dài chứ không phải là một thủ đoạnchính trị nhất thời Năm 1955, phát biểu trong hội nghị Mặt trận Liên Việt, Ngời
khẳng định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi, mà còn đoàn kết lâu dài.
Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị Ta
đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nớc nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta phải đoàn kết với họ”2 Đoàn kết là một t tởng lớn, baotrùm của Hồ Chí Minh, chính nhờ vậy mà Ngời đã quy tụ, tập hợp đợc toàn dântham gia kháng chiến và kiến quốc thắng lợi Trong đó, đoàn kết giữa những ng-
ời cộng sản với những ngời có tín ngỡng tôn giáo, giữa những ngời có tín ngỡng,tôn giáo khác nhau và giữa những ngời có tín ngỡng với những ngời không có tín
1 Văn kiện Đại hội đại biểu tôn giáo lần thứ IX, Nxb CTQG, H,2001, tr.20
2 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H 1996, t7, tr.43820
Trang 21ngỡng là một bộ phận quan trọng trong t tởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ ChíMinh.
Cơ sở của t tởng đoàn kết lơng giáo ở Hồ Chí Minh
T tởng đoàn kết lơng giáo ở Hồ Chí Minh đợc hình thành trên cơ sở sau
đây:
Một là, kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc.
Có thể thấy, t tởng đoàn kết lơng giáo, hòa hợp dân tộc ở Hồ Chí Minh
đ-ợc hình thành trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của truyền thống đoàn kết toàn
dân trong lịch sử dân tộc Việt Nam
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nớc và giữ nớc Trongsuốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta luôn phải đối mặt với thiên tai, định họa Vì sựsinh tồn và phát triển, ngay từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, ông cha ta đãthờng xuyên phải đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chiến đấu chống ngoạixâm để dựng nớc và giữ nớc Chính điều đó đã sớm cố kết mọi ngời lại với nhau,hun đúc thành một truyền thống quý báu: “Nhân dân ta có truyền thống yêu nớc,thơng nòi, đoàn kết trong quá trình dựng nớc và giữ nớc”1
Truyền thống quý báu đó đã thấm sâu và kết tinh trong mỗi con ngời ViệtNam mà Hồ Chí Minh là hiện thân tiêu biểu Từ lịch sử dân tộc và thực tiễn cáchmạng, Hồ Chí Minh đã rút ra một bài học: “Sử ta đã dạy cho ta bài học này: lúcnào dân ta đoàn kết muôn ngời nh một thì nớc ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nàodân ta không đoàn kết thì bị nớc ngời xâm lấn”2
Hai là, vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng trong chủ nghĩa
Mác- Lênin là nền tảng t tởng cho chiến lợc đoàn kết lơng giáo, hòa hợp dân tộccủa Hồ Chí Minh
Từ sự nhận thức sâu sắc về vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách
mạng của học thuyết Mác- Lênin, Ngời đã chỉ ra rằng: “Lực lợng toàn dân là lực
lợng vĩ đại nhất Không ai chiến thắng đợc lực lợng đó”3 Đoàn kết toàn dân làyếu tố cơ bản đa tới mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam “Đoàn kết, đoànkết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” là kết luận có ýnghĩa lớn lao trong mọi thời đại
Ba là, nhiệm vụ nặng nề của sự nghiệp cách mạng Việt Nam là cơ sở thực
tiễn hình thành t tởng đoàn kết lơng giáo, hòa hợp dân tộc ở Hồ Chí Minh
1 Văn kiện Hội nghị lần thứ Bẩy BCH Trung ơng khoá IX, Nxb CTQG, H., 2003, tr.10
2 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.,1995, t3, tr.217
3 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H., 1995, t4, tr.2021
Trang 22Là một ngời suốt đời phấn đấu hy sinh cho độc lập của Tổ quốc, hạnhphúc cho nhân dân, Hồ Chí Minh luôn ấp ủ trong mình mơ ớc, niềm khát vọng làlàm sao cho đất nớc ta đợc giải phóng, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, aicũng đợc học hành Độc lập dân tộc đã khó, xây dựng chủ nghĩa xã hội còn khókhăn hơn Ngời cho rằng, độc lập rồi mà dân vẫn cứ đói, vẫn cứ rét thì thứ độclập đó chẳng làm gì Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh lịch sử nớc ta lúcbấy giờ là sự nghiệp vĩ đại cha hề có tiền lệ trong nớc và quốc tế Thực hiện đợckhát vọng đó là một nhiệm vụ vô cùng lớn lao, gian khổ và nặng nề Nhiệm vụ
ấy là trách nhiệm chung của nhân dân cả nớc và cũng chỉ hoàn thành khi hội tụ
đợc sức mạnh của toàn dân
Nhiệm vụ nặng nề của sự nghiệp cách mạng vừa là cơ sở vừa là điều kiệntạo nên t tởng Hồ Chí Minh về đoàn kết nói chung và đoàn kết lơng giáo nóiriêng
Bốn là, chống âm mu chia rẽ lơng giáo của kẻ thù
Chia để trị vốn là âm mu của các thế lực thực dân, đế quốc Thực dân,phong kiến âm mu chia rẽ, phá vỡi khối đoàn kết dân tộc để dễ bề thôn tính vànô dịch dân tộc Việt Nam Vì vậy, đoàn kết lơng giáo cũng nhằm chống lại âm
mu thâm độc đó
Mục tiêu đoàn kết lơng giáo, hòa hợp dân tộc của Hồ Chí Minh là nhằm
đạt ớc vọng mà cả cuộc đời Ngời hy sinh phấn đấu để thực hiện, đó là giải
phóng dân tộc, giải phóng con ngời thoát khỏi sự nô dịch, áp bức, bất công
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, vì vậy vấn đề đặt ra không chỉ có
đoàn kết giữa ngời có đạo và không có đạo mà còn cần đoàn kết đồng bào có tínngỡng, tôn giáo khác nhau vì mục tiêu chung của dân tộc Đây là một nội dungquan trọng trong t tởng Hồ Chí Minh về chiến lợc đại đoàn kết dân tộc Ngời chorằng: dới chế độ thực dân phong kiến, đồng bào các tôn giáo đều bị áp bức, bóclột nặng nề, khi Tổ quốc bị ngoại bang đô hộ thì các tôn giáo cũng không đợc tự
do Vì vậy, đồng bào các tôn giáo cần đoàn kết lại và đoàn kết với toàn dân đấutranh mu giành lại độc lập cho Tổ quốc và tự do cho tôn giáo Quan điểm đó đã
đợc Hồ Chí Minh nêu lên từ những năm 20 của thế kỷ XX, khi Ngời còn bôn bahải ngoại để tìm đờng cứu nớc, cứu dân
Trong tác phẩm “Đờng Cách Mệnh”, Hồ Chủ tịch viết: “Công hội chútrọng mặt kinh tế hơn Đảng chú trọng mặt chính trị hơn Ai là thợ thuyền thì đ -
ợc vào hội, dù tin Phật, tin đạo, tin cộng sản, tin vô Chính phủ, tin gì cũng mặc,miễn là theo đúng quy tắc hội là đợc”1
1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H., 1995, t 2, tr.30322
Trang 23Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 13 tháng 9 năm
1945, Hồ Chí Minh đã có cuộc họp mặt với đại biểu các tôn giáo nh Phật giáo,Công giáo, Cao Đài tại thủ đô Hà Nội, Ngời nói: “Dân tộc giải phóng thì tôngiáo mới đợc giải phóng Lúc này chỉ có quốc gia mà không phân biệt tôn giáonữa, mỗi ngời đều là công dân của nớc Việt Nam và có nhiệm vụ chiến đấu chonền độc lập hoàn toàn của Tổ quốc”1 Ngời kêu gọi các tôn giáo hãy dẹp bỏ hiềmkhích, đoàn kết cùng toàn dân lo cho nền độc lập của nớc nhà
Đầu năm 1946, phát biểu trong lễ mừng liên hiệp quốc gia do các phật tửtrong Hội Phật giáo cứu quốc tổ chức tại Hà Nội, Hồ Chí Minh đã nói: “NớcPhật ngày xa có những bốn Đảng phái làm li tán lòng dân và hại Tổ quốc, nhngnớc Việt Nam ngày nay chỉ có một Đảng phái là toàn dân quyết tâm giành độclập Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Gia tô tin ở Chúa trời; cũng nh chúng tatin ở đạo Khổng Đó là những bậc chí tôn nên chúng ta tin tởng Nhng đối vớidân, ta đừng làm gì trái với ý dân Dân muốn gì ta phải làm nấy”2 Độc lập chodân tộc và hạnh phúc cho toàn dân là mẫu sốchung để đoàn kết mọi ngời, không
kể lơng hay giáo, có đạo hay không có đạo, cũng nh có tín ngỡng khác nhautrong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Sau khi kí hiệp định Giơ- ne- vơ, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn thể
đồng bào cả nớc hãy đoàn kết, Ngời nói: “Tôi thiết tha kêu gọi tất cả những ngờithật thà yêu nớc không phân biệt tầng lớp nào, tín ngỡng nào, chính kiến nào vàtrớc đây đã đứng về phe nào, chúng ta thật thà cộng tác, vì dân, vì nớc mà phấn
đấu để thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong nớc Việt Nam yêuquý của chúng ta”3
Năm 1965, khi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ ra miền Bắc ngàycàng ác liệt, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Đồng bào các dân tộc, các tôn giáohãy đoàn kết chặt chẽ nh anh em một nhà, cùng nhau ra sức chống Mĩ, cứu n-ớc”4
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Công giáo hay không Công giáo, Phật giáo haykhông Phật giáo đều phải nên nỗ lực đấu tranh cho nền độc lập của nớc nhà.Nhiệm vụ của toàn thể chúng ta là phải giữ vững nền độc lập Trong Công giáo
có câu “Tam vị nhất thể”, nhà Phật có câu “Vạn chúng nhất linh” nên chúng taphải hi sinh cho nhân loại và chúng sinh”5
1 Hồ chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb CTQG, H., 1993, t 3, tr.15
Trang 24Bất cứ ở đâu và vào thời điểm nào, nếu có cơ hội là Ngời đều nêu và giáo
dục ý thức đoàn kết cho nhân dân Trong một lần tiếp Việt kiều trong đó có
nhiều tín đồ Công giáo, Ngời nói: “Tôi và phái đoàn sang đây, mang cho kiềubào một món quà, không phải là bánh trái cũng không phải là tiền bạc, mà làkhẩu hiệu “Đoàn kết trên hết, Tổ quốc trên hết”1
Nhờ nêu cao tinh thần đoàn kết lơng giáo, hoà hợp dân tộc nên Hồ Chủtịch đã tập hợp xung quanh mình nhiều giáo sĩ, giáo dân hết lòng phấn đấu cho
sự nghiệp cứu nớc, kiến quốc, từ đó xoá dần những định kiến, mặc cảm do lịch
sử để lại và âm mu chia rẽ của kẻ địch
Để đoàn kết lơng giáo, Ngời còn luôn nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ cả
n-ớc phải quan tâm, chăm sóc cho cuộc sống vật chất và tinh thần của đồng bào
các tôn giáo Lúc nào trong tâm tởng của Ngời cũng trăn trở bởi một điều là làm
sao để “các cấp uỷ phải thật quan tâm đến phần đời và phần đạo của đồng bàocông giáo”2, làm thế nào để “sản xuất ngày càng phát triển, phần xác ta đợc ấm
no thì phần hồn cũng đợc yên vui”3
Từ t tởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lơng giáo, chúng ta thấy:
Muốn đoàn kết những ngời có tín ngỡng, tôn giáo khác nhau phải đặt lợiích dân tộc, lợi ích toàn dân lên trên hết (độc lập dân tộc và ấm no, hạnh phúccủa nhân dân)
Muốn đoàn kết lơng giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngỡng và khôngtín ngỡng của nhân dân; khắc phục những mặc cảm, định kiến và chống âm muchia rẽ của bọn phản động
Muốn đoàn kết lơng giáo phải phân biệt đợc nhu cầu tín ngỡng chân chínhcủa đồng bào có đạo để đáp ứng kịp thời; với việc lợi dụng tín ngỡng, tôn giáocủa các phần tử phản động để phê phán, đấu tranh
Muốn đoàn kết phải chú ý kế thừa giá trị nhân bản của tôn giáo, trân trọngnhững ngời thành lập các tôn giáo lớn, tranh thủ giáo sĩ, quan tâm đến giáo dân; độlợng, vị tha với những ngời lầm lỗi; đấu tranh kiên quyết với bọn phản động lợidụng tôn giáo
1 Báo Cứu quốc ngày 27-9-1946
2 Sđd, t.11, tr.83.
3 Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, HN 1996, t 8, tr 285.24
Trang 25II - T tởng Hồ Chí Minh về tôn trọng và bảo đảm quyền
tự do tín ngỡng, tôn giáo và không tín ngỡng, tôngiáo; đồng thời chống âm mu lợi dụng tín ngỡng,tôn giáo
Tự do tín ngỡng, tôn giáo và không tín ngỡng, tôn giáo là một trong nhữngquan điểm quan trọng trong t tởng của Hồ Chí Minh về tôn giáo T tởng đó đợcthể hiện nhất quán cả trong lý luận và hoạt động thực tiễn của Ngời, và đã trởthành nguyên tắc nền tảng xuyên suốt trong chính sách đối với tôn giáo của
Đảng và Nhà nớc ta T tởng đó đã thâm nhập sâu rộng vào quần chúng nhân dânnói chung, cán bộ, Đảng viên nói riêng
Cơ sở xuất phát của t tởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngỡng, tôn giáo là:tôn trọng đức tin của mỗi ngời Hồ Chí Minh nói: “Tất cả mọi ngời đều cóquyền nghiên cứu một chủ nghĩa Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu Chủ nghĩa Mác.Cách đây 2000 năm, Đức Chúa Giê su đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của
ta Điều đó đến bây giờ vẫn cha thực hiện đợc”1 Và Ngời nhấn mạnh rằng: “Tín
đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia Tô tin ở Đức Chúa Trời cũng nh chúng ta tin ở
đạo Khổng Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tởng”2
Ngời đã chỉ ra rằng mặc dù thế giới quan của ngời cách mạng khác với thếgiới quan tôn giáo, song không vì vậy mà đối đầu, nghi kỵ nhau; ngợc lại, phảitôn trọng đức tin của mỗi ngời
Dù với t cách là Chủ tịch Đảng, ngời đứng đầu Chính phủ, hay với t cách
là một công dân, Hồ Chí Minh luôn thể hiện là một con ngời mẫu mực trong việctôn trọng tự do tín ngỡng tôn giáo của quần chúng nhân dân
Năm 1945, chỉ sau một ngày đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trờng Ba
Đình, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời (3- 9- 1945),
Hồ Chủ tịch đã phát biểu: “Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngỡng tự doLơng Giáo đoàn kết”3
Năm 1946, Hiến pháp đầu tiên ghi nhận “Nhân dân có quyền tự do tín ỡng” Chính cơng của Mặt trận Liên Việt, tại điều thứ 7, điểm 1 có ghi: “Tôntrọng quyền tự do tín ngỡng, tự do thờ cúng của mọi ngời” Chính cơng của
ng-Đảng Lao động Việt Nam, tại điều 8 cũng ghi nhận: “Tôn trọng và bảo đảmquyền tự do tín ngỡng của mọi ngời dân” Tất cả những văn bản ấy đều có sự chỉ
đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch
Năm 1951, trớc luận điệu xuyên tạc của kẻ địch, Hồ Chủ tịch thấy cầnphải nói rõ để tránh sự hiểu lầm của tín đồ các tôn giáo Trong buổi kết thúc Lễ
1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN 1995, Tập 4, Tr 272.
2 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN 1995, t.4 tr.148
3 Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch Nxb ST, H., 1970, tr.12325
Trang 26ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, Ngời phát biểu: “Chúng tôi xin nói rõ đểtránh sự hiểu lầm: Vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôntrọng quyền tự do tín ngỡng của mọi ngời”1.
Năm 1955, khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, ngày 8- 3- 1955, một lần nữaNgời khẳng định chính sách nhất quán lâu dài của Đảng và Nhà nớc: “Hiến pháp
đã ghi rõ chính sách tự do tín ngỡng Chính phủ nhất định làm đúng nh vậy Phảivạch trần những luận điệu xuyên tạc của bọn đế quốc và bè lũ tay sai hòng lừadối, chia rẽ đồng bào nh chúng thờng nói Chính phủ cấm đạo và nhiều điều vô lýkhác”
Đến ngày 14- 6- 1955, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh 234/SL về vấn đề tôngiáo gồm 5 chơng và 16 điều rất chi tiết và cụ thể về quyền tự do tín ngỡng, tôngiáo của nhân dân Sắc lệnh này đợc đồng bào có đạo nhiệt liệt hoan nghênh vàủng hộ2
Hồ Chí Minh là ngời mác xít chân chính theo quan điểm duy vật, nhngkhông ai tìm đợc, dù là một biểu hiện rất nhỏ, của sự bài xích, chế giễu với bất
kỳ một tôn giáo nào Ngợc lại, Hồ Chí Minh đã tiếp cận tôn giáo, coi nó nh một
di sản văn hoá của loài ngời, và tìm thấy ở đấy những mặt tích cực nhất định,những nhân tố hợp lý để kế thừa, tiếp thu những giá trị nhân bản, nhân văn củatôn giáo
1 Báo Nhân dân sốra ngày 25-3-1951
Trang 27Nội dung cơ bản về quyền tự do tín ngỡng trong t tởng Hồ Chí Minh
- Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngỡng và tự do thờ cúng của nhândân Không ai đợc xâm phạm quyền tự do ấy Mọi ngời Việt Nam đều có quyền
tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào
Về vấn đề này, Hồ Chí Minh viết: mọi công dân Việt Nam “có quyền tự
do tín ngỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”1
- Các nhà tu hành đợc tự do giảng đạo tại các cơ sở thờ tự Khi truyền bá tôngiáo các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nớc, nghĩa vụcủa ngời công dân, ý thức tôn trọng chính quyền và pháp luật của Nhà nớc
- Mọi công dân có hay không có tín ngỡng, tôn giáo đều đợc hởng mọiquyền lợi của ngời công dân (kể cả trong bầu cử ngời vào cơ quan quyền lực caonhất của Nhà nớc) và phải làm mọi nghĩa vụ của ngời công dân
- Các tôn giáo đợc xuất bản và phát hành kinh sách có tính chất tôn giáo,nhng phải tuân theo luật xuất bản, đợc mở trờng đào tạo những ngời chuyên hoạt
động tôn giáo của mình
- Những nơi thờ tự và các đồ thờ, các trờng giáo lý của tôn giáo đợc phápluật bảo hộ Các di sản văn hoá có trong tôn giáo cần đợc bảo vệ, giữ gìn Liênquan tới vấn đề này, khi nói về Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đợc xây dựngtrực tiếp dới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngời đã nhấn mạnh: “TrongHiến pháp nớc ta đã định rõ: Tín ngỡng tự do Nếu ai làm sai Hiến pháp, sẽ bịtrừng phạt”2
- Tôn trọng tự do tín ngỡng, nhng kiên quyết trừng trị những kẻ lợi dụngtôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân, tuyên truyền chiến tranh,phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự dotín ngỡng và tự do t tởng của ngời khác hoặc làm những việc trái pháp luật Ngời
đã nhấn mạnh: “Bảo vệ tự do tín ngỡng, nhng kiên quyết trừng trị những kẻ độilốt tôn giáo để phản Chúa, phản nớc”3
Để việc thực hiện tự do tín ngỡng góp phần tích cực vào việc phát triển xã
hội, nội dung tự do tín ngỡng phải đợc luật hoá Bởi vì, những quy định pháp
luật có liên quan tới tín ngỡng, tôn giáo vừa là điều kiện, vừa là công cụ thựchiện tự do tín ngỡng
Hồ Chí Minh rất chú trọng đế tín ngỡng truyền thống ở Việt Nam nhất làtín ngỡng thờ cúng Tổ tiên mà Ngời cho rằng: “Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn
1 Sđd t 9 tr.593
2 Sđd, t.5, tr.44.
Trang 28là một hiện tợng xã hội.”4 Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ, Đảng viên tôntrọng phong tục tập quán, tín ngỡng của mọi ngời Đối với những ngời có côngvới dân với nớc, những bậc tiên hiền, liệt sĩ hy sinh vì dân, vì nớc Ngời luôn tỏlòng ngỡng mộ Bản thân Bác đã nhiều lần nhắc đến “tổ tiên” với tình cảm chântình, tôn kính và nhận thấy “tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà” Hồ Chí Minh luônnhắc nhở hậu thế ghi lòng, tạc dạ công ơn của các bậc tiền bối T tởng của Bácphù hợp với truyền thống của dân tộc Việt Nam là “uống nớc nhớ nguồn, ăn quảnhớ ngời trồng cây” Ngời thờng dấy lên trong mỗi con ngời niềm tự hào về conRồng cháu Lạc, về nghĩa “đồng bào” và khuyên mọi ngời dân Việt dù có khácnhau về tín ngỡng, dân tộc, thế hệ cũng đều phải có trách nhiệm với ông cha
để gìn giữ những gì mà tổ tiên để lại “Các Vua Hùng đã có công dựng nớc, Báccháu ta phải cùng nhau giữ lấy nớc”
Thờ cúng tổ tiên vừa là tín ngỡng vừa là đạo lý làm ngời, đồng thời cũng
là nét đẹp của văn hoá dân tộc Do vậy, ngời Việt dù là dân tộc đa sốhay thiểu
số, theo tín ngỡng này hay tôn giáo khác, ở trong nớc hay nớc ngoài vẫn vọng vềquê hơng xứ sở, nơi có mồ mả tổ tiên, có những anh hùng tiệt liệt đã từng hysinh vì dân vì nớc để gìn giữ cội nguồn của mình Văn kiện Hội nghị Trung ơnglần thứ bảy BCHTƯ khoá IX nêu quan điểm: “Giữ gìn và phát huy những giá trịtích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những ngời có công với Tổquốc và nhân dân” là kế thừa t tởng của Hồ Chủ tịch và cũng phù hợp với nguyệnvọng của đa sốnhân dân
Bên cạnh những giá trị tốt đẹp, trờng tồn của tín ngỡng thờ cúng tổ tiên,tôn vinh các vị anh hùng dân tộc chúng ta đang chứng kiến sự trỗi dậy của hiệntợng mê tín dị đoạn và hủ tục lạc hậu- biểu hiện của phi giá trị, phản văn hoá HồChí Minh cũng đã từng phê phán hiện tợng này
Từ chỗ làm rõ những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới mê tín, dị đoan, Hồ ChíMinh đã nêu ra một sốphơng hớng lớn nhằm khắc phục tệ nạn đó:
- Bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan phải đi đôi với việc xây dựng nếp sống văn
hoá mới, xây dựng thuần phong mỹ tục Việc đấu tranh nhằm khắc phục tệ mê
tín dị đoan phải tế nhị, tránh thô bạo
III- Một sốvấn đề cần chú ý trong công tác tôn giáoqua nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh về tôn giáo 1- Hồ Chí Minh luôn hớng những ngời có tín ngỡng, tôn giáo cũng nhnhững ngời không có tín ngỡng, tôn giáo đoàn kết để phấn đấu cho lợi ích chung
Trang 29của dân tộc Để giải quyết có hiệu quả vấn đề tín ngỡng, tôn giáo, phải quan
tâm, chăm lo đến phần đời và phần đạo của quần chúng tín đồ các tôn giáo.
Điều đó giải thích vì sao đối với đồng bào có đạo, Hồ Chí Minh thờng nhắcnhở: “Các cấp uỷ phải thật quan tâm đến phần đời và phần đạo”1 của đồng bàoCông giáo Trong điều kiện đang tiến hành xây dựng xã hội mới, muốn thực hiện đ-
ợc điều đó, phải “ra sức củng cố hợp tác xã, phát triển sản xuất, tăng thu nhậpcho xã viên, đồng thời phải đảm bảo tín ngỡng tự do”2
2- Tôn trọng và thực hiện đầy đủ quyền tự do tín ngỡng nhng cơng quyết
xử lý những phần tử lợi dụng tín ngỡng, tôn giáo vi phạm pháp luật
3- Quan tâm đối với quần chúng tín đồ, tôn trọng và chân thành đối vớichức sắc các tôn giáo để động viên họ tham gia vào sự nghiệp cách mạng chungcủa dân tộc
Đối với các vị sáng lập ra các tôn giáo lớn, Ngời coi họ là những nhà hiền
triết, nhà t tởng lớn và luôn gắn lý tởng cao cả của họ với nhiệm vụ cách mạng.
4- Công tác vận động quần chúng có tín ngỡng đợc Ngời rất chú trọng và
có những phơng pháp phù hợp
Hồ Chí Minh cho rằng, muốn làm tốt công tác tôn giáo, phải ra sức tuyên
truyền, giải thích cho đồng bào tín đồ các tôn giáo hiểu rõ chính sách của Đảng
và Chính phủ để họ tự giác thực hiện và đấu tranh chống âm mu lợi dụng tôngiáo của địch Ngời thờng xuyên nhắc nhở cán bộ, Đảng viên: “Khi đi phát độngquần chúng, cán bộ phải hết sức chú ý đến điều đó Sai một ly đi một dặm, nơinào dân cũng tốt, lơng cũng nh giáo; nhng vì có cán bộ không biết tổ chức,không biết giải thích tuyên truyền, lại tự t tự lợi, không cảnh giác nên đã để chobọn phản động chui vào các đoàn thể rồi phá hoại”3
5- Muốn thực hiện tốt công tác tôn giáo, theo Hồ Chí Minh, cần phải
nghiên cứu sâu sắc tình hình thực tế, hiểu rõ phong tục, tập quán, truyền thống
tín ngỡng, tôn giáo của nhân dân để gây cảm tình với quần chúng Ngời cho rằngmuốn làm tốt công tác tôn giáo, phải kiên nhẫn và phải thực sự “ba cùng” (cùngsống, cùng ăn, cùng làm việc) với nhân dân Phải biết nhẫn nại “Nói với ngờinghe một lần ngời ta không hiểu thì nói đến hai lần, ba lần về đức tính này phảihọc theo những ngời đi truyền giáo”4
1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN 1996, tập 11, tr 83-84.
2 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN 1996, tập 10, tr 606.
3 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN 1995, t 7, tr 55.
4 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN 1995, t 4, tr 64.
Trang 30Công tác tôn giáo phải đợc xem nh một nghệ thuật để thuyết phục, cảmhoá quần chúng có đạo, phải biết cách vận động, tổ chức, tập hợp họ lại Hồ ChíMinh thờng xuyên nhắc nhở cán bộ, Đảng viên: “Phải nhớ rằng đại đa sốđồngbào Công giáo cũng là nông dân nghèo khổ, cũng bị bóc lột tàn tệ, cũng muốn
có cơm ăn, ruộng cày Nếu ta kiên nhẫn thật sự cùng với họ, khéo giác ngộ và tổchức họ thì nhất định làm đợc”1
Nh vậy, theo t tởng Hồ Chí Minh, một trong những biện pháp quan trọng
để thực hiện chính sách tôn giáo là phải có sự kiên trì, bền bỉ, liên tục; không
đ-ợc nóng vội, thô bạo mà phải thật khéo léo, tế nhị; biết cách tổ chức, hớng dẫnquần chúng tham gia kháng chiến, kiến quốc và chấp hành đúng đờng lối của
Đảng và Nhà nớc về vấn đề tôn giáo
Phơng pháp vận động đồng bào có đạo ở Ngời vừa ngắn gọn giản dị, dễhiểu lại vừa chân thành, cởi mở, tế nhị đôi khi nh những lời tâm sự đầy sứcthuyết phục, điều đó đã giải toả đợc những băn khoăn, vớng mắc ở bà con giáodân Ngời không bao giờ đem lý luận về chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa vô thần ratuyên truyền với đồng bào có đạo, mà giáo dục họ ở mức độ dễ tiếp nhận nhất, ví
dụ giáo dục lòng yêu đất nớc, quê hơng, kính Chúa gắn với yêu nớc, trách nhiệmcông dân với bổn phận dân Chúa
6- Chấp nhận sự khác biệt, khai thác điểm tơng đồng nhằm thu hút mọi ngờidân- dù có đạo hay không có đạo- phấn đấu cho mục tiêu chung của dân tộc
Hồ Chí Minh khẳng định: Mỗi ngời đều có quyền nghiên cứu một chủ
nghĩa, có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo và những ngời khác cần phải
tôn trọng niềm tin tôn giáo của nhau, với một thái độ đúng mực, chân thành Tôn
trọng tự do tín ngỡng phải trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau, thật “độ lợng”, xoá bỏ mọi thành kiến, mặc cảm, đố kị, hiềm khích lẫn nhau “Không đợc báo thù, báo
oán Đối với những kẻ đi lầm đờng lạc lối, đồng bào ta cần dùng chính sách khoan hồng Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ Ai cũng có lòng yêu nớc, chẳng qua có lúc vì lợi nhỏ mà quên nghĩa lớn Tuyệt đối không đợc dùng cách kịch liệt”2
Tôn trọng tự do tín ngỡng để đoàn kết lơng giáo nhng phải phân biệt đợcnhu cầu tín ngỡng chân chính của quần chúng với những âm mu lợi dụng tôngiáo của các thế lực thù địch Hồ Chí Minh phê phán những kẻ nhân danh tôn
1 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, HN 1996, t.8, tr 77.
Trang 31giáo làm tay sai cho địch hại dân, hại nớc; chúng không chỉ là “việt gian mà còn
là giáo gian”.
Từ chủ nghĩa yêu nớc, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác- Lênin vớikhát vọng giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân Qua thực tiễnhoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đẫ để lại cho Đảng và nhân dân tanhững di sản quý giá T tởng của Ngời về tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo nhữngquan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo trong hoàn cảnh cụ thể
ở Việt Nam, cho đến ngày nay t tởng ấy còn nguyên giá trị Nghiên cứu t tởngcủa Ngời về vấn đề tôn giáo trong hoàn cảnh trong nớc và quốc tế hiện nay là rấtcần thiết
Trang 32Bài 3 Tình hình tôn giáo trên thế giới
và một sốđặc điểm tôn giáo ở Việt Nam
I- Tình hình tôn giáo trên thế giới
1- Thực trạng
Với t cách là một hình thái ý thức xã hội tôn giáo luôn biến động phản ánh
sự biến đổi của lịch sử nhân loại Thực tế đã chúng minh rằng, một tôn giáo cụthể ở một quốc gia nhất định có thể suy tàn, hng thịnh, hoặc mất đi, song nhìnchung, từ khi ra đời cho đến nay, tôn giáo luôn tồn tại trong xã hội loài ngời Vịtrí, vai trò của mỗi tôn giáo ở từng khu vực, từng quốc gia và các thời kỳ lịch sửkhác nhau cũng không nh nhau
Lịch sử phơng Tây đã từng có thời kì thần quyền chi phối thế quyền, giáohội đứng trên nhà nớc, tôn giáo thống trị toàn bộ đời sống xã hội, chi phối conngời cả phần hồn lẫn phần xác, cả đạo lẫn đời Lịch sử cũng đã chứng kiếnnhững cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu diễn ra thời trung cổ với những cuộcThập tự chinh kéo dài hàng trăm năm
Ngày nay, sau thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, t tởng khoan dung, hợp tác,
đối thoại đợc khởi xớng và đề cao đã làm cho mọi ngời ngày một tôn trọng lẫnnhau hơn, để tiến đến một xã hội hoà bình và thịnh vợng Tuy nhiên, nhân loạicha đợc hởng cuộc sống bình yên thì ở một sốquốc gia lại đang chịu thảm hoạcủa những cuộc chiến tranh dân tộc, sắc tộc gắn với tôn giáo
Tôn giáo có khả năng liên kết con ngời trong một cộng đồng cùng tín ỡng, nhng cũng có thể đẩy ngời ta đến thái độ nghi kị, đối đầu, hận thù và xung
ng-đột gây nên những thảm hoạ cho nhân loại, một khi nó bị các lực lợng xã hộiphản động lợi dụng, kích động vì những tham vọng mang tính chất chính trịphản tiến bộ
ở mọi thời đại, quá khứ cũng nh hiện tại, dù một quốc gia có thể chếchính trị ra sao, cũng cần quan tâm đến tôn giáo; bởi lẽ, tôn giáo tác động đếnnhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, quan niệm về tôn giáo và bảnthân nó cũng luôn biến động Có thời kì, không ít ngời cho rằng tôn giáo là tàn
d của một hình thái kinh tế xã hội cũ, nên nó sẽ mất đi nhanh chóng trong quátrình xây dựng xã hội mới Đã có ngời dự báo về sự cáo chung của tôn giáo ởcuối thế kỷ XX và cho rằng kỉ nguyên hậu tôn giáo đang đến gần; thậm chí họcòn tuyên bố “Thợng đế đã chết”
Trang 33Quả thực có những giai đoạn lịch sử do nhiều nguyên nhân, tôn giáo có xuhớng suy giảm Nhng, những thập kỉ gần đây dờng nh tôn giáo đợc phục hồi và
có nơi còn phát triển Vì thế, một sốngời lại dự đoán rằng: “thế kỷ XXI là thế kỷcủa tôn giáo”, nhng lại có ý kiến cho rằng: “Thế kỷ XXI, tôn giáo vẫn tồn tại,nhng không quy trở lại thời hoàng kim mà cũng không phải là thế kỷ của tôngiáo”1 Việc dự đoán tơng lai của tôn giáo còn có nhiều ý kiến khác nhau Nhng
điều hiển nhiên là tôn giáo thế giới đang biến động với nhiều hình thức phức tạp,khó lờng
Bên cạnh sự suy tàn của một vài tôn giáo truyền thống, lại thấy xuất hiệntôn giáo mới, có nơi tôn giáo chủ lu bị giải thể; có nớc nó lại đợc chấn hng ởtừng khu vực, từng quốc gia, từng tôn giáo, sự chấn hng và suy tàn cũng cónhững biểu hiện và mức độ khác nhau
Vì vậy, việc đánh giá thực trạng tôn giáo trên thế giới hiện nay, đang cònnhiều ý kiến và trong tơng lai gần vẫn khó có sự thống nhất, nhng tựu chung hiệnnay có mấy cách đánh giá sau đây:
Một sốngời cho rằng, trớc sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kĩ thuật,công nghệ, tin học, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đợc cải thiện,tri thức nhân loại ngày càng nâng cao, con ngời đang vơn lên làm chủ tự nhiên,xã hội và chính bản thân mình thì đơng nhiên tín ngỡng, tôn giáo sẽ tiếp tục bịsuy thoái Tuy sự suy giảm của tôn giáo biểu hiện dới những hình thức và mức
độ khác nhau Nhng, những ngời theo quan điểm này cho rằng tôn giáo không cótơng lai
Sự suy giảm tôn giáo thể hiện trớc hết trên lĩnh vực thực hành tôn giáo nh:
đi lễ nhà thờ, lễ hôn phối, lễ mai táng và các hoạt động khác theo nghi thức tôngiáo; sau nữa là sự suy giảm niềm tin tôn giáo và cuối cùng là suy giảm sốlợngtín đồ, chức sắc và sự suy thoái phẩm hạnh của hàng ngũ giáo sĩ
Nhng lại có ý kiến cho rằng chỉ có tôn giáo ở Tây âu, Trung âu suy tàn,nhng ở các nớc, các châu lục còn lại đang có xu hớng phát triển
Từ khoảng 30 năm nay, ngời ta nhận thấy có sự suy thoái của tôn giáo ởcác nớc Trung âu và Tây Âu
Cũng có không ít ngời cho rằng, sự tăng giảm tôn giáo tuỳ theo từng loại
và tuỳ theo khu vực khác nhau
Nhng hiện nay có nhiều ngời cho rằng tôn giáo đang phục hồi và pháttriển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia Dù bản thân tôn giáo đang biến đổi sâu sắc vềnhiều mặt, nhng nhìn chung đang có cơ hội thể hiện vai trò, vị trí của mình trong
1 Những vấn đề tôn giáo hiện nay Nxb KHXH H., 1994.
Trang 34một thế giới đầy biến động Sự phục hồi và chấn hng tôn giáo không phải chỉ là
sự trở về với tôn giáo truyền thống, xu hớng dân tộc hoá, mà còn là sự đổi mới,cách tân tôn giáo hoặc thay thế bằng những giáo phái mới mang đậm tính thếtục
Khi đề cập tới sự hồi sinh của tôn giáo vào thiên niên kỉ thứ III, các tác giảcủa cuốn sách “Các xu thế lớn năm 2000” khẳng định: “Vào buổi bình minh củathiên niên kỉ thứ III có dấu hiệu không thể nhầm lẫn về sự hồi sinh của nhiềugiáo phái khắp thế giới”1 Khi nói về sự gia tăng của các trào lu bảo thủ tôn giáo,tác giả của cuốn “Sự đảo lộn của thế giới địa chính trị thế kỷ XX” viết: “Thờigian cuối thế kỷ này đợc đánh dấu bằng sự khẳng định một sự phục hồi tôngiáo Phong trào nay bắt đầu từ giữa những năm 70”2
Nhìn chung, bức tranh tôn giáo thế giới là đa màu sắc với những tốc độphát triển khác nhau ở từng tôn giáo, từng thời kỳ lịch sử, cũng nh mỗi quốc gia
và châu lục Nhìn chung những thập kỷ qua, cả 3 tôn giáo lớn trên thế giới đềukhẳng định vai trò, vị trí trong đời sống chính trị - xã hội ở thế giới hiện đại
Trên thế giới ngày nay có nhiều loại tôn giáo, nhng chỉ có hai tôn giáophát triển tín đồ với tốc độ lớn nhất đó là: Hồi giáo và Tin lành
Hồi giáo cho đến năm 1900 chỉ không đầy 200 triệu tín đồ nhng 100 nămsau (năm 2000) đã lên tới 1.188.000.000 tín đồ, phát triển gấp gần 6 lần và đứngvào hàng đầu
Đạo Tin lành (tính chung tất cả các hệ phái không phải là Kitô giáo vàChính thống giáo) cũng có một tốc độ phát triển tơng tự Năm 1960, đạo Tinlành trên thế giới chỉ có 291 triệu, đến năm 1990 là 423 triệu, vào năm 2000 lêntới 451 triệu tín đồ
Tuy nhiên, không phải đạo Tin lành phát triển theo một tốc độ nh nhau ởcác khu vực khác nhau trên thế giới ở Tây Âu và Bắc Mỹ, đạo Tin lành gần nhkhông phát triển3 Ví dụ: năm 1960 sốtín đồ Tin lành là 236 triệu, năm 1990 là277,3 triệu, vào năm 2000 chỉ là 276,6 triệu Trong khi đó ở Châu á, châu Phi,châu Mỹ La Tinh thì đạo Tin lành lại phát triển với tốc độ lớn Năm 1960 là 55triệu; năm 1990 là 166 triệu và đến năm 2000 lên đến 280 triệu
ở Tây Âu và Bắc Mỹ, Công giáo chẳng những không phát triển mà còngiảm sút nhiều So với dân sốnăm 1990 sốlợng tín đồ Công giáo chiếm tỉ lệ 37%,năm 2000 tỉ lệ ấy chỉ còn 27%
1 Xem trong cuốn “Các xu hớng lớn năm 2000”- Nxb TP HCM ; 1992; tr.241
2 Xem trong cuốn “Các xu hớng lớn năm 2000”- Nxb TP HCM ; 1992; tr.241
3 Xem Bản tin Tôn giáo số6/2003
Trang 35Thật ra độ tăng sốtín đồ bao giờ cũng phải so sánh với độ tăng dân số Nếu
độ tăng sốtín đồ cao hơn độ tăng dân sốthì đó là sự phát triển tơng đối Nếu độtăng sốtín độ thấp hơn độ tăng dân sốthì dù sốlợng tuyệt đối có tăng lên nhng tôngiáo ấy vẫn đợc xem là giảm sút tơng đối
Dân sốthế giới 10 năm từ 1990- 2000 đã tăng 15% Hồi giáo và đạo Tinlành tăng khoảng 23% Công giáo 13,7%, Phật giáo11,4%, Chính thống giáo5,6%, ấn Độ giáo 18,3% Nh vậy, những năm gần đây sốlợng tuyệt đối các tôngiáo trên thế giới đều tăng, nhng so với tốc độ tăng dân sốthì chỉ có Hồi giáo và
đạo Tin lành là hai tôn giáo tăng cả sốtuyệt đối lẫn tơng đối
Vấn đề đặt ra là vì sao những năm bản lề của hai thế kỷ và hai thiên niên
kỷ thì tôn giáo lại phát triển, khi mà khoa học, công nghệ, tin học và các ngànhkhoa học khác phát triển nh vũ bão trong thời đại ngày nay?
2- Nguyên nhân sự phát triển của một sốtôn giáo trong thời đại ngày nay
Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng tôn giáo là một vấn đề không đơngiản Điều này cần có sự nghiên cứu của nhiều ngời, nhiều ngành khoa học khácnhau Tuy nhiên, bớc đầu có thể nêu lên mấy nguyên nhân chủ yếu của sự giatăng tôn giáo hiện nay nh sau:
Thứ nhất: Những mâu thuần về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ngày nay
Thứ hai: Trật tự thế giới đang có sự biến động khó đoán định trớc, giá trị
đạo đức đang xáo trộn, tệ nạn xã hội gia tăng
Thế giới hai cực đã chuyển thành thế giới mà ở đấy sự phân chia quyềnlực cha rõ ràng, chứa đựng những yếu tố bất chắc khó lờng Điều đó, đã tạo nêntâm lý bất an trong xã hội Hơn nữa, trên thế giới vẫn đang còn đầy rẫy những tệnạn xã hội nh: mại dâm, cờ bạc, trộm cắp, ma tuý, bạo lực, khủng bố quốc tế , sựsuy thoái về đạo đức, sự xuống cấp về lối sống, sự biến động về thang bậc giá trị
Trang 36xã hội, tâm lý thất vọng và bế tắc nảy sinh ở ngay những nớc đợc mệnh danh là
“văn minh” Chiến tranh sắc tộc, dân tộc và tôn giáo xảy ra ở nhiều nơi
Thứ ba: khủng hoảng niềm tin về mô hình xã hội tơng lai.
Từ khi xã hội có giai cấp và ách áp bức giai cấp, thì ớc mơ về một xã hộibình đẳng, tự do, bác ái luôn ấp ủ trong lòng quần chúng nhân dân lao động.Tôn giáo đã phần nào phản ánh đợc nguyện vọng ấy, song tôn giáo vẫn chỉ manglại “hạnh phúc h ảo” cho nhân dân
Khi chủ nghĩa xã hội hiện thực xuất hiện thì mơ ớc của những ngời có tôngiáo về cõi thiên đờng h ảo giảm dần để nhờng chỗ cho việc thực hiện ớc mơ vềviệc thiết lập đợc “thiên đờng” ở ngay nơi trần thế Song, nhiều nguyên nhânkhách quan và chủ quan đã dẫn đến chủ nghĩa xã hội hiện thực bị sụp đổ ở Đông
Âu và Liên Xô Trong khi đó chủ nghĩa T bản không phải là mô hình xã hội lý ởng mà con ngời vơn tới Đổ vỡ và thất vọng về mô hình xã hội tơng lai, ngời ta
t-đi tìm chỗ dựa tinh thần nơi tôn giáo
Thứ t: Những hậu quả tiêu cực của sự phát triển khoa học - kỹ thuật và
công nghệ mới
Phải thừa nhận rằng con ngời đã đạt đợc những thành tựu kì diệu trênnhiều lĩnh vực của đời sống xã hội là nhờ ở sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật,công nghệ mới Nhng đồng thời những cuộc cách mạng ấy cũng để lại nhữnghậu quả nặng nề mà nhân loại đang phải gánh chịu
Lời kêu cứu về tình trạng môi trờng bị suy thoái: rừng cây đang bị tàn phá, tàinguyên bị cạn kiệt, không khí và nguồn nớc bị ô nhiễm Hậu quả là trái đất nóng lên,tầng ôzôn đang bị phá hoại, “mái nhà chung” của nhân loại đang bị xuống cấp
Điều đó làm cho lời tiên tri về “nạn hồng thuỷ mới”, “ngày tận thế” lại có dịp pháttriển, tạo cơ hội cho tôn giáo truyền thống trấn hng và các giáo phái mới xuất hiện
3- Sự biến động và xu hớng của tôn giáo trong thời đại ngày nay
Thời đại ngày nay đang có sự biến đổi nhanh chóng và sâu sắc trên mọilĩnh vực của đời sống xã hội và do đó, tôn giáo cũng biến động theo Sự biến
động ấy đang diễn ra theo mấy xu hớng chủ yếu sau đây:
3.1- Xu hớng đa dạng hoá tôn giáo
Tôn giáo đang diễn khuynh hớng đa dạng hoá với tình trạng: bảo thủ và
đổi mới, thoái trào và phục hng, xung đột và hoà giải, liên hợp và phân ly, cạnhtranh và hợp tác với nhiều loại, nhiều kiểu, nhiều hình thức, tính chất, đặc điểm
và nhiều cách thức tổ chức khác nhau Là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo
Trang 37luôn biến động, đổi thay theo tồn tại xã hội Xu hớng đa dạng hoá tôn giáo đợcthể hiện rõ ở xu hớng phân ly, tách biệt từ những tôn giáo lớn.
Một khi cá nhân càng đợc khẳng định, thậm chí đến mức cờng điệu hoávai trò cá thể để dẫn đến chủ nghĩa cá nhân, thái quá ở một sốnớc thì tôn giáocũng đang có xu hớng giảm dần tính cộng đồng Xu hớng này đợc thể hiện ở sựphân lập, tách biệt thành các giáo phái nhỏ hơn, thậm chí “cá thể hoá tôn giáo”.Hiện tợng này, thấy khá rõ ở một sốnớc phát triển
Bên cạnh xu hớng phân ly, tách biệt hiện nay dờng nh đang diễn ra một xuhớng ngợc lại, đó là xu hớng “liên tôn”, “đại kết”, “hoà hợp”, “khoan dung” (hay ítnhất cũng tôn trọng lẫn nhau) kể cả những tôn giáo trong quá khứ đã từng xoay l-
ng, đối đầu với nhau Xu hớng hoà hợp, liên tôn, khoan dung tôn giáo thấy rõ ởgiáo hội Công giáo khi có thái độ đối với anh em đồng đạo và ngoại đạo
3.2- Xu hớng thế tục hoá tôn giáo
Thế tục hoá là quá trình thích nghi của giáo hội các tôn giáo với những
điều kiện đang thay đổi của thế giới đơng đại
Dới tác động của làn sóng toàn cầu hoá, xu thế thế tục hoá tôn giáo đợcnhiều ngời chú ý “Thế tục hoá” ở đây bao hàm hai ý: thứ nhất “Thế tục hoá” tức
là “phi thần thánh hoá” ý chỉ sự giải thích hiện tợng tự nhiên, xã hội một cáchhuyễn hoặc, thần bí qua ý tởng tôn giáo đợc thay bằng cách giải thích có lý tính,gần với hiện thực hơn Tất nhiên về bản chất, hệ thống giá trị của tôn giáo vẫn đ-
ợc bảo lu Thứ hai, “Thế tục hoá” cũng có nghĩa là tôn giáo đang tích cực tiếnvào thế giới, trở lại với hiện thực, trực diện với cuộc sống và đang cố gắng giảiquyết những vấn đề của nhân gian
Xu hớng “Thế tục hoá” đã thúc đẩy tôn giáo thâm nhập sâu rộng vào đờisống con ngời Xu hớng thế tục hoá là xu hớng trái ngợc với xu hớng thần thánhhoá, thiêng liêng hoá Cho dù tính siêu nhiên là đặc trng của tôn giáo, nhng ngàynay tôn giáo đang có xu hớng gần với đời sống hiện thực hơn Tuy trong bảnchất của mình, các tôn giáo đều liên quan đến thần thánh, trời, Phật, ma quỷ vànhững phép mầu… những sinh hoạt Song, những năm gần đây đang diễn ra tình hình là giảm dầnnhững sự huyền hoặc, thần bí trong niềm tin tôn giáo Sự phát triển của khoahọc, kĩ thuật cùng với nâng cao dân trí, thông tin đa chiều, toàn diện và phongphú đã làm cho niềm tin tôn giáo truyền thống bị phai nhạt
Ngay nh một sốtôn giáo vốn có cả hệ thống giáo lý đồ sộ, giáo luật rấtnghiêm ngặt, tổ chức chặt chẽ, và do đó đã tạo nên niềm tin ăn sâu vào đời sốngtinh thần của tín đồ hàng ngàn năm, thì ngày nay đã không còn mang tính toànvẹn, tuyệt đối nh xa nữa Không ít ngời chểnh mảng, thờ ơ với việc học giáo lý
Trang 38Những phép bí tích nh: phép giải tội, phép hôn phối ngày càng mang ý nghĩasinh hoạt đời thờng hơn là ý nghĩa thiêng liêng tôn giáo Trong một bộ phận tín
đồ, việc tham gia sinh hoạt tôn giáo không phải chỉ do niềm tin vào Thợng đế,thánh thần mà còn do thói quen, nhng càng ngày càng rõ những sinh hoạt ấy đợcxem nh một tập tục truyền thống của gia đình và những cộng đồng cùng tín ng-ỡng Một sốgiáo hội và giáo sỹ quan tâm ngày càng nhiều đến nhu cầu của conngời ở thế giới hiện hữu, thậm chí vợt qua cả những qui định đôi khi rất ngặtnghèo của một sốgiáo hội các tôn giáo
Sự biến động của điều kiện kinh tế, xã hội đơng đại cũng tác động mạnh
mẽ đến sinh hoạt tôn giáo
Tôn giáo từ chỗ chỉ chú ý hớng về thế giới “bên kia” thì ngày nay càng tỏ
ra trực tiếp quan tâm phục vụ cho chính bản thân con ngời nơi trần thế Dù tinhthần của Công đồng Vatican II gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện,nhng cần ghi nhận Công đồng đó đã là bớc khởi đầu hớng tôn giáo quan tâm đếncon ngời ở thế giới hiện hữu
Trong xu hớng thế tục hoá tôn giáo, cũng cần cảnh giác trớc xu hớngchính trị hoá khi lợi dụng quan hệ tôn giáo với dân tộc để thực hiện mục đíchngoài tôn giáo Xu hớng dung tục hoá, với những chủ trơng kích thích dục vọngthấp hèn, bản năng của con ngời nh: tình dục, bạo lực, ham muốn vật chất mộtsốtôn giáo đang có xu hớng thơng mại hoá với việc dựa vào sinh hoạt tín ngỡng,tôn giáo để đạt mục đích kinh tế
3.3- Xu hớng dân tộc hoá tôn giáo
Trớc xu hớng toàn cầu hoá hiện nay, trong đó có cả tham vọng xâm lăngvăn hoá, một sốdân tộc đang ra sức giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hoá riêng củamình qua hình thức tín ngỡng, tôn giáo truyền thống Tôn giáo đang có xu hớngbiến đổi cho phù hợp với phong tục truyền thống, bản sắc văn hoá của mỗi dântộc quốc gia Hiện tợng trở về với tín ngỡng truyền thống, xảy ra không chỉ ởnhững dân tộc còn lạc hậu chậm tiến mà cả một sốnớc có nền kinh tế phát triển
và văn minh lâu đời Xu hớng dân tộc hoá tôn giáo trớc kia phổ biến diễn ra ởnhững nớc có nguy cơ thâm nhập và bành trớng bởi tôn giáo ngoại lai, thì nay cóbiểu hiện lan sang nhiều nớc
Dĩ nhiên, dân tộc hoá tôn giáo cũng không loại trừ đợc xu hớng khu vựchoá và quốc tế hoá tôn giáo
Sự hẫng hụt trong t tởng, sự đứt đoạn trong tôn giáo, tín ngỡng truyềnthống sẽ tạo cơ hội cho sự du nhập và xuất hiện tôn giáo mới
Trang 393.4- Xu hớng xuất hiện các giáo phái mới, trong đó có một sốgiáo phái phi nhân tính, phản văn hoá.
Trong một thế giới đầy biến động, tôn giáo phản ánh thế giới ấy cũng phải
đổi thay Nhng, trớc các xu hớng vận động đa chiều của tôn giáo (có cả tích cựclẫn tiêu cực; tiến bộ và phản tiến bộ) Ngời ta có lý do để lo ngại trớc sự xuấthiện của những giáo phái phản ánh tham vọng quyền lực hoặc phi nhân tính phảnvăn hoá, khủng điên, rồ dại với những biểu hiện: khuyến khích tình dục, loạnluân, bạo lực, tự sát gây hậu quả xấu cho xã hội
Những xu hớng trên của tôn giáo vừa có tính tích cực lại có cả tiêu cực.Vấn đề là ở chỗ dự báo đợc những xu hớng tiến bộ để phát huy và kịp thời ngănngừa những khuynh hớng tiêu cực có thể nảy sinh
Trang 40II- Đặc điểm tín ngỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia nằm giữa ngã ba của Đông Nam châu á, là nơigiao lu của các luồng t tởng, văn hoá khác nhau Với địa hình phong phú và đadạng lại ở vùng nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên vừa u đãi, vừa đe doạ cộng đồngngời sống ở đây Do đó, thờng nảy sinh tâm lý sợ hãi, nhờ cậy vào sự che chởcủa lực lợng tự nhiên Việt Nam có lịch sử lâu đời và nền văn minh hình thànhsớm, lại kề bên hai nền văn minh lớn của loài ngời là trung Hoa và ấn Độ, nêntín ngỡng, tôn giáo có ảnh hởng sâu đậm từ hai nền văn minh ấy
Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm, những ngời có công lớntrong việc giúp dân, cứu nớc đợc cả cộng đồng tôn sùng và đời đời thờ phụng.Trong tâm thức của ngời Việt luôn tiềm ẩn, chứa đựng đạo lý “uống nớc, nhớnguồn” Điều đó đợc thể hiện khá rõ nét trong đời sống sinh hoạt tín ngỡng, tôngiáo của họ
Đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hoá đó có ảnh hởng lớn đến đặc điểm tínngỡng, tôn giáo ở Việt Nam
1- Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngỡng, tôn giáo khác nhau đang tồn tại
Nớc ta là nơi thuận lợi cho việc giao lu của nhiều luồng t tởng, văn hoákhu vực và thế giới, lại chịu ảnh hởng sâu sắc của hai nền văn minh lớn trungHoa và ấn Độ, đồng thời là một nớc có nhiều dân tộc c trú ở nhiều khu vực với
điều kiện tự nhiên, khí hậu, lối sống, phong tục, tín ngỡng, tôn giáo khác nhau.Hơn nữa, ngời Việt bản tính vốn cởi mở, khoan dung chứ không kỳ thị, khép kín.Vì thế cùng một lúc họ có thể tiếp nhận nhiều hình thức tín ngỡng, tôn giáo khácnhau Từ những hình thức tôn giáo, tín ngỡng sơ khai đến hiện tại, từ tôn giáophơng Đông cổ đại đến phơng Tây cận, hiện đại- tất cả đã và đang cùng tồn tạibên cạnh tín ngỡng dân gian, bản địa của nhiều dân tộc, bộ tộc khác nhau Cónhững tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyên, lại cónhững tôn giáo xuất hiện ở nớc ta vào những thập niên đầu thế kỷ này Có tôngiáo với sốlợng hàng triệu tín đồ, nhng có tôn giáo lại có sốlợng tín đồ không
đáng kể Lịch sử đã từng chứng minh một sốtôn giáo đã có ảnh hởng lớn đến đờisống, nếp nghĩ và văn hoá của cả cộng đồng, đã góp phần nâng cao ý thức dântộc Nhng cũng có tôn giáo trong quá trình du nhập, hình thành và tồn tại đã bịcác thế lực chính trị lợi dụng vì mục đích ngoài tôn giáo Lịch sử hình thành và
du nhập, sốlợng tín đồ, vai trò xã hội cũng nh tác động chính trị của các tôngiáo ở nớc ta cũng rất khác nhau
2- Tính đan xen, hoà đồng khoan dung của tín ngỡng, tôn giáo ở Việt Nam