1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo tại huyện trảng bàng, tỉnh tây ninh

67 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Chương Trình Tín Dụng Hộ Nghèo Đến Thoát Nghèo Tại Huyện Trảng Bàng, Tỉnh Tây Ninh
Trường học Trường Đại Học Tây Ninh
Thể loại Đề Tài
Thành phố Trảng Bàng
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 biến tác động tích cực đến khả năng thoát nghèo của hộ gia đình là: trình độ học vấn, số người có việc làm trong hộ, tổng số tiền vay, số lần tham gia tậ

Trang 1

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU

Trong chương này nghiên cứu khái quát mô ̣t số nô ̣i dung đầu tiên của đề tài bao

gồ m vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mu ̣c tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm

vi nghiên cứ u, phương pháp và ý nghĩa nghiên cứu

và những bất công vẫn thường xuyên đe dọa sự sống của người nghèo Do đó, trong mọi xã hội, người nghèo lúc nào cũng cần được sự quan tâm nhiều hơn để tạo điều kiện hỗ trợ họ có điều kiện vươn lên thoát nghèo và thoát nghèo một cách bền vững Nhiều chương trình, giải pháp được Đảng và Nhà nước đề ra nhằm giúp cho các hộ nghèo có điều kiện vươn lên thoát nghèo và đã được các tỉnh thành trog cả nước tổ chức thực hiện trong đó có tỉnh Tây Ninh và huyện Trảng Bàng nói riêng

Trảng Bàng là một trong 9 huyện, thành phố của Tỉnh Tây Ninh, có tổng diện tích tự nhiên là: 340,27 km2, dân số đến 31/12/2015 là 159.287 người; có 41.429 hộ gia đình; có đường biên giới giáp với Campuchia dài 14,7 km Có đường Xuyên á quốc lộ 22 và đường Hồ Chí Minh đi qua Là cửa ngỏ để Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác vào Thành phố Tây Ninh và qua Campuchia Về đường thủy phía đông

có sông Sài Gòn đi qua, phía tây có sông Vàm Cỏ, cả 2 tuyến đường thủy này đều có

dự án kho cảng của khu Công nghiệp - Đô thị - Dịch vụ Phước Đông - Bời Lời và khu Công nghiệp Thành Thành Công An Hòa được Chính phủ phê duyệt quy mô mỗi kho cảng gần 200 ha

Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Trảng Bàng khoá XI (2015) đã khẳng định qua 30 năm đổi mới Trảng Bàng từ một huyện thuần nông, có mức sống thấp đến nay

Trang 2

bộ mặt của huyện ngày càng thay đổi đáng kể so với trước đây các tuyến đường trục chính qua huyện như: Quốc lộ 22 (đường xuyên Á), đường xuyên á tránh Thị Trấn Trảng Bàng, đường Hồ Chí Minh, tỉnh lộ 782, tỉnh lộ 787, tỉnh lộ 786,… đều được đầu tư nâng cấp mở rộng và làm mới; quy hoạch và triển khai hệ thống cảng dọc theo sông Vàm Cỏ Đông, sông Sài Sòn tạo thuận lợi cho việc giao thương, thúc đẩy phát triển kinh tế của huyện Tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng, nhiều công trình kiến trúc mộc lên tạo diện mạo mới cho Thị Trấn Trảng Bàng đáp ứng tiêu chí của đô thị loại IV

và bộ mặt nông thôn ngày càng phát triển có 6/11 xã được công nhận xã văn hóa trong

đó có 2 xã được công nhận đạt chuẩn xã nông thôn mới Công tác đảm bảo an sinh xã hội được quan tâm chu đáo, tỷ lệ hộ nghèo được kéo giảm qua từng năm, cụ thể theo báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bàng về công tác giảm nghèo (2010, 2011,

2012, 2013, 2014) như sau: năm 2010: hộ nghèo chuẩn TW : 1.451 hộ, hộ cận nghèo:

958 hộ; năm 2011: hộ nghèo chuẩn TW : 1.282 hộ, hộ cận nghèo: 1.010 hộ; năm 2012:

Hộ nghèo chuẩn TW : 862 hộ, hộ cận nghèo: 745 hộ; năm 2013: Hộ nghèo chuẩn TW: 601 hộ, hộ cận nghèo: 563 hộ; năm 2014 Hộ nghèo chuẩn TW : 433 hộ, hộ cận nghèo: 443 hộ

Chính phủ Việt Nam (2002) đã ban hành chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo và ban hành nhiều chương trình, kế hoạch hỗ trợ khác cho người nghèo Theo báo cáo của Phòng giao dịch ngân hàng chính sách xã hội huyện Trảng Bàng (2013, 2015) thì Phòng giao dịch ngân hàng chính sách huyện Trảng Bàng được thành lập năm 2003 Ngay khi thành lập và đi vào hoạt động, Phòng giao dịch NHCSXH huyện Trảng Bàng đã phối hợp với các tổ chức đoàn thể cấp huyện, cấp xã tổ chức củng cố, sắp xếp lại Tổ tiết kiệm & vay vốn từ NHNo&PTNT chuyển sang, ký các văn bản liên tịch, hợp đồng uỷ thác, hợp đồng uỷ nhiệm thu lãi Phòng giao dịch tổ chức tập huấn hàng năm cho cán bộ hội các cấp, Ban giảm nghèo xã và trên 220 tổ trưởng tổ tiết kiệm& vay vốn về quy trình nghiệp vụ cho vay, quyền lợi và trách nhiệm của các bên trong việc tổ chức phối hợp thực hiện với NHCSXH để triển khai cho vay, kiểm tra đôn đốc thu hồi vốn vay của các chương trình tín dụng; từ đó chất lượng tín dụng ngày càng được nâng lên Việc tổ chức xét cho vay được thực hiện công khai và đúng đối tượng, giải ngân kịp thời đến hộ vay không để nguồn vồn bị tồn đọng Dư nợ cho vay

hộ nghèo đến 31/12/2015 là 29.847 triệu đồng với 2.675 hộ

Trang 3

Để có nhìn nhận khái quát kết quả thoát nghèo qua từng năm được hỗ trợ từ rất nhiều chương trình, giải pháp cho việc giảm nghèo trong đó có chương trình tín dụng cho hộ nghèo và để xác định xem chính sách tín dụng cho hộ nghèo có tác động nhiều hay ít hoặc không có tác động đến việc thoát nghèo tại huyện Trảng Bàng Do vậy, Tôi

chọn nghiên cứu vấn đề “Tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh”, để lượng hoá mức độ tác động của

chương trình tín dụng hộ nghèo đối với việc thoát nghèo tại huyện Trảng Bàng, để có

cơ sở khoa học đóng góp vào quá trình tổ chức thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tại địa phương

1.2 Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn tập trung trả lời 3 câu hỏi theo mục tiêu nghiên cứu đề ra, gồm:

Chương trình tín dụng hộ nghèo có giúp cho việc thoát nghèo của hộ gia đình tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh không ?

Tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo của hộ gia đình tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh như thế nào?

Các giải pháp gì để nâng cao chất lượng sử dụng vốn của chương tình tín dụng

hộ nghèo của hộ gia đình tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh?

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn này tập trung nghiên cứu 02 vấn đề sau:

Đo lường tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo của hộ gia đình tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh

Đề ra các giải pháp trong quản lý điều hành nguồn vốn hoặc trong tổ chức thực hiện nhằm sử dụng vốn vay hiệu quả, tăng số hộ thoát nghèo từ chương trình tín dụng

hộ nghèo tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là 10 xã và 01 thị trấn của huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, giai đoạn 2011-2015

Đối tượng là hộ nghèo, cận nghèo có vay vốn từ chương trình nay điều tra lại xem đã thoát nghèo được bao nhiêu

Trang 4

Bảng 1.1 Các xã, thị trấn thuộc huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra xã hội học: thực hiện phỏng vấn hộ dân cư nhằm tạo cơ

sở dữ liệu sơ cấp phục vụ việc xây dựng mô hình kinh tế lượng

Phương pháp định lượng: Để phân tích các yếu tố tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo, sử dụng phương pháp hồi quy để lượng hoá các yếu tố ảnh hưởng, xem xét mức độ tác động của các yếu tố khác nhau tới việc thoát nghèo

Phân tích hồi quy là sự phân tích quan hệ phụ thuộc của một biến số (được gọi

là biến số phụ thuộc) vào các biến số khác (được gọi là biến số độc lập) Trong nghiên cứu về tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thu nhập và thoát nghèo của

hộ dân vùng nghiên cứu, nghiên cứu quan hệ phụ thuộc của thu nhập bình quân/người/năm của hộ gia đình vào các biến đặc điểm hộ gia đình (quy mô hộ, giới tính, trình độ văn hóa, tín dụng, v.v)

Phương pháp định tính và thống kê mô tả: mô tả thông tin thu thập từ hộ dân cư

và phân tích thông tin về kinh tế, xã hội, đời sống của người dân trên địa bàn để cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất giải pháp nâng cao tỷ lệ thoát nghèo thông qua chương trình tín dụng hộ nghèo

1.6 Ý nghĩa thực tiễn

Với kết quả nghiên cứu của đề tài tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến việc thoát nghèo sẽ là cơ sở khoa học thiết thực đóng góp vào quá trình tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo tại địa phương; là cơ sở chính quyền địa phương tham khảo đề ra các giải pháp để tổ chức thực hiện chương trình tín dụng đạt hiệu quả cao

Trang 5

nhất; và để có những góp ý xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp điều kiện thực tế của mình, nhằm kéo giảm hộ nghèo, cũng nhưng khắc phục những thiếu sót trong quá trình sử dụng nguồn vốn vay của các hộ dân

1.7 Kết cấu luận văn

Chương 1: Mở đầu: Nghiên cứu khái quát mô ̣t số nô ̣i dung đầu tiên của đề tài bao gồ m vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mu ̣c tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và ý nghĩa nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước: Trình bày sơ lược cơ sở lý

thuyết về tình tra ̣ng nghèo, chương trình tín dụng hộ nghèo tác động đến thoát nghèo, những nghiên cứu liên quan thoát nghèo từ chương trình tín dụng

Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu: Chương này giới thiệu về sơ

đồ nghiên cứu, cách thức chọn mẫu, cỡ mẫu, phương pháp thu thập số liệu, nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, thiết kế mô hình, diễn giải các biến độc lập

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Chương này phân tích kết quả nghiên cứu, kiểm định các biến quan sát, kiểm định sự phù hợp của mô hình, kiểm định ý nghĩa thống kê các biến và đặc biệt là phân tích hồi quy và kiểm định liên quan đến

mô hình nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Chương này nêu lên những kết luận tổng quát của đề tài, đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả vốn vay từ tín dụng hộ nghèo và quá trình tổ chức thực hiện chương trình tín dụng hộ nghèo tại địa phương và nêu những hạn chế của đề tài

Trang 6

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Trong Chương này trình bày sơ lược cơ sở lý thuyết về tình tra ̣ng nghèo, tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo, những nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài

2 1 Các khái niệm

2.1.1 Nghèo

Hầu hết các tiêu chí để xác định nghèo đều dùng mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhất của con người như: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội Sự khác nhau thường là ở chỗ mức độ thỏa mãn cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia

Tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch, năm 1995, trích bởi Nguyễn Trọng Hoài (2007), cho rằng: “Người nghèo

là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người,

số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại.”

Ở Việt Nam một khái niệm về nghèo đói thường được sử dụng là khái niệm được đưa ra tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 và được các quốc gia trong khu vực thống nhất, trích bởi Nguyễn Trọng Hoài (2007), cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”

Như vậy, tất cả những khái niệm về nghèo tuy đa dạng nhưng luôn chứa đựng

ba khía cạnh cơ bản và quan trọng: thứ nhất, người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư Thứ hai, người nghèo không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người Thứ ba, người nghèo thiếu

cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng

2.1.2 Giảm nghèo

Trang 7

Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Điều này được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống Hay giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn

Chính phủ Việt Nam (2011) mục tiêu giảm nghèo là mục tiêu lớn của Đảng và Nhà nước nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã ký kết

2.1.3 Hô ̣ thoát nghèo

Theo Bộ lao động, thương binh và xã hội (2014), hô ̣ mới thoát nghèo là hô ̣ nghèo, qua điều tra, rà soát hàng năm có thu nhâ ̣p cao hơn chuẩn nghèo theo quy đi ̣nh

củ a pháp luâ ̣t, bao gồm: Hô ̣ mới thoát nghèo nhưng có mức thu nhâ ̣p thuô ̣c đối tượng

hộ câ ̣n nghèo; Hô ̣ mới thoát nghèo có thu nhâ ̣p cao hơn chuẩn hô ̣ câ ̣n nghèo theo quy

đi ̣nh của pháp luâ ̣t

2.2 Cơ sở lý thuyết

2.2.1 Các trường phái lý thuyết về tín dụng cho người nghèo

2.2.1.1 Trường phái cổ điển

Rất phổ biến trong thời kỳ những năm 60 và nữa đầu thập kỷ 70, do nhà kinh tế học Ranar Nurkse khởi sướng với quan điểm về vòng lẩn quẩn của nghèo đói Lý thuyết của ông tập trung vào các điểm như sau (Ellis,1992, trích bởi Nguyễn Mạnh Cường, 2015):

- Tập trung vào cung cấp tín dụng, đây là điều kiện cần và đủ để tạo ra những cải cách thực sự trong xoá đói giảm nghèo

- Chính sách cho vay lãi suất thấp

2.2.1.2 Trường phái kiềm chế tài chính

Ở các nước đang phát triển, cung cấp tín dụng là một trong những mối quan tâm lớn của chính phủ Với sự trợ giúp của các nhà tài trợ Chính phủ xác định mục đích hoạt động, chi phối hệ thống tài chính và cung cấp tín dụng có ưu đãi cho đối tượng mục tiêu Đây được coi như một công cụ chính yếu để quản lý chặc chẽ hệ

Trang 8

thống tài chính thông qua các công cụ như khống chế lãi suất, tín dụng theo mục tiêu chỉ định, lãi suất ưu đãi và sự hạn chế về mặt pháp lý đối với tính thể chế của các tổ chức tài chính đã kiềm nén sự tăng trưởng và phát triển của hệ thống tài chính

Tiền lãi thu được rất thấp và đôi khi tiền lãi còn bị giảm do lạm phát đã không khuyến khích được dân chúng gửi tiền tiết kiệm, trần lãi suất cản trở ngân hàng đạt được doanh thu để bù đắp chi phí Để bù đắp những khoản bị lỗ, các ngân hàng thường phải tăng quy mô tiền cho vay Chính vì vậy người nghèo, người thường vay món vay nhỏ bị hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn do ngân hàng cung cấp (Bravemen và Guasch, 1986, trích bởi Nguyễn Mạnh Cường, 2015)

2.2.1.3 Trường phái thể chế kiểu mới

Trường phái này ra đời và phát triển dựa trên những lập luận của trường phái kiềm chế tài chính và thực tiễn giải quyết vấn đề phát triển kinh tế ở hầu hết các nước đang phát triển, quan điểm của trường phái này được phân loại như sau:

Thứ nhất: Thị trường tín dụng nông thôn ở hầu hết các nước đang phát triển đều

có nét nổi bậc là thông tin không hoàn hảo, thông tin bất cân xứng Chính vì điều này làm cho việc lựa chọn bất lợi và xói mòn đạo đức trở nên phổ biến ở thị trường tín dụng nông thôn, gây ra các tác động tiêu cực đối với sản xuất nông nghiệp đặc biệt đối với các nước đang phát triển Vì người nghèo bị vướng vào thông tin bất cân xứng nhiều hơn so với hộ nông dân khá giả và người cho vay Vì vậy, đáp ứng về mặt thể chế cho thị trường bị bỏ rơi, giảm chi phí giao dịch là vấn đề chủ chốt và đóng vai trò quan trọng trong hành vi hoạt động kinh tế

Thứ hai: Đề cập đến vấn đề tài sản thế chấp, nông dân luôn vấp phải những khó khăn trong vấn đề tài sản thế chấp khi đi vay, đặc biệt là người nghèo Trường phái này cho rằng, vấn đề trên có thể được giải quyết bằng “tín chấp” thông qua sự bảo đảm của hợp tác xã và các nhóm nông dân được thành lập chính thức nhằm giúp người nghèo vượt qua tình trạng thiếu vốn

Thứ ba: Quan điểm về thị trường không chính thức Từ thực tế cả trường phái

cổ điển và kiềm chế tài chính chỉ có thể lý giải một phần thị trường tín dụng không chính thức Hai trường phái này có vẻ không phù hợp trong việc trình bày một số đặc điểm thực tiễn, trường phái kinh tế thể chế hoá kiểu mới đưa ra một quan điểm tổng

Trang 9

hợp Những học giả xây dựng trường phái này cho rằng tình trạng thông tin không hoàn hảo có thể lý giải tốt hơn, những đặc điểm chung là:

- Tỷ lệ lãi suất tiền gửi và tiền vay không chính thức nói chung đều cao hơn tỷ

lệ lãi suất ở khu vực chính thức

- Tín dụng không chính thức chủ yếu được dùng vào hoạt động sản xuất

- Lãi suất cho vay không chính thức cao không thể là lý giải độc quyền

- Lý giải về thị trường tín dụng không chính thức là thị trường cạnh tranh thì không xác đáng hơn là thị trường độc quyền

- Trong một số trường hợp, tín dụng không chính thức được phân bổ rất hiệu quả nhưng trong các trường hợp khác thì không (Bravemen và Guasch, 1986, trích bởi Nguyễn Mạnh Cường, 2015)

2.2.2 Lý thuyết về sinh kế

Ý tưởng về sinh kế được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của Chamber những năm 1980 Về sau khái niệm này được xuất huyện nhiều hơn trong các nghiênc ứu của F.Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mỗi cá nhân hay hộ gia đình Về căn bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực

và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng

Trong nhiều nghiên cứu của mình, F.Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hay nông hộ (Ellis (2000), trích bởi Nguyễn Mạnh Cường, (2014))

Theo Uỷ ban phát triển quốc tế, sinh kế được hiểu là:

Trang 10

- Tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ

- Các nguồn lực mà con người có được bao gồm: vốn con người, vốn vật chất, vốn tự nhiên, vốn tài chính và vốn xã hội

2.2.3 Lý thuyết về sinh kế bền vững

Theo Chamber(1998), Reardon and Taylor (1996, trích bởi Nguyễn Mạnh Cường (2014)), một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục được trước những tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên

Các chính sách để xác định sinh kế cho người dân theo hướng bền vững được xác định liên quan chặc chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động của các yếu tố bên ngoài Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Ellis (2004, 2005), Barrett và Reardon (2000) Các nghiên cứu này đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ tăng trưởng kinh tế, cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân Đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế, xoá đói giảm nghèo Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu

tố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ của lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng, các chính sách phát triển…

Sinh kế của một cá nhân, một hộ gia đình, một cộng đồng được xem là bền vững khi cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng đó có thể vượt qua những biến động trong cuộc sống do thiên tai, dịch bệnh hoặc khủng hoảng kinh tế gây ra Phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên

2.2.4 Lý thuyết vòng lẫn quẩn của nghèo đói

Vòng lẫn quẩn của nghèo đói được mô tả như là một hiện tượng mà các gia đình nghèo bị mắc kẹt trong nghèo đói ở các thế hệ, nó được lập đi lập lại khiến những người nghèo khó có cơ hội thay đội cuộc sống của chính bản thân mình và gia đình Người nghèo bị mắc kẹt trong vòng tròn của những tình huống xã hội bất lợi, thu nhập thấp làm cho họ không có hoặc hạn chế khả năng tiếp cận nguồn lực như giáo dục, y

Trang 11

tế, nguồn nước sạch và lương thực vì thế họ lại rơi vào tình trạng nghèo và đói khiến cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống càng trở nên khó khăn hơn dẫn đến bệnh tật, suy dinh dưỡng, chết chóc Kết quả là kiệt quệ sức lao động làm cho kinh tế gia đình càng suy giảm kéo theo thu nhập lại càng thấp hơn

Hinh 2.1: Vòng lẫn quẩn nghèo đói

Nguồn: CRNA Ministries, Dự án Sea to Sea, Ending the Cycle of Poverty trích bởi

Nguyễn Mạnh Cường 2014

Vấn đề là làm thế nào để phá vỡ vòng lẫn quẩn nghèo này ?

Một trong những tác nhân giúp người nghèo tự phá vỡ sự bần cùng của nghèo đói là cung cấp cho họ những khoản vay tín dụng, giúp họ có một số vốn để tự sản xuất, kinh doanh nhằm tăng thu nhập Khi thu nhập tăng thì nguồn lực để tiếp cận lương thực và nước sạch sẽ tốt hơn, đây chính là điều kiện để họ thoát khỏi bệnh tật và suy dinh dưỡng, khi đạt được dinh dưỡng tối thiểu thì sức lao động ngày càng được cải thiện hơn, khi có sức khoẻ để làm việc kinh tế gia đình sẽ tăng lên, kéo theo thu nhập lại tăng Và nhờ nguồn lực của những khoản vay tín dụng thì chính họ sẽ tự mình phá

vỡ vòng lẫn quẩn của nghèo đói

Trang 12

Hìng 2.2: Phá vỡ vòng xoáy nghèo đói bằng các khoản vay tín dụng vi mô

Tăng thu nhập bằng cách cung cấp các khoản vay tín dụng vi mô

Nguồn: CRNA Ministries, Dự án Sea to Sea, Ending the Cycle of Poverty trích bởi

Nguyễn Mạnh Cường 2014

2.3 Phương pháp xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam

Phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo Việt Nam: từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 5 lần nâng mức chuẩn nghèo

Chuẩn nghèo trong giai đoạn nghiên cứu đối với Việt Nam là chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 đã được xây dựng trên 3 yêu cầu: giảm nghèo toàn diện hơn, công bằng hơn và hội nhập theo chuẩn nghèo quốc tế

Theo Chính phủ Việt Nam (2011) quy định chuẩn nghèo của cả nước tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 thì những hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng đồng/người/năm) trở xuống Ở khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống; Hộ cận nghèo ở nông thôn là hô ̣ có mức thu nhâ ̣p bình quân từ 401.000 đồng/người/ tháng đến 520.000 đồng/người/tháng; hộ cận nghèo ở thành thi ̣ là hô ̣ có mức thu nhâ ̣p bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng đến 650.000 đồng/người/tháng

Theo Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh (2011) căn cứ điều kiện thực tế của địa phương và các quy định của Trung ương đã quy định chuẩn hộ nghèo của tỉnh tại

Trang 13

Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND ngày 27 tháng 11 năm 2011 và quyết định số 54/2012/QĐ-UBND ngày 27 tháng 11 năm 2012, thì chuẩn nghèo của tỉnh như sau:

Hộ nghèo ở khu vực nông thôn là hộ có mức thu nhập trung bình từ 521.000 đồng/người/tháng đến 600.000 đồng/người/tháng, hộ nghèo ở khu vực thành thị là hộ

có mức thu nhập bình quân từ 651.000 đồng/người/tháng đến 750.000 đồng/người/tháng

2.4 Vai trò của tín dụng đối với giảm nghèo

Vốn là đầu vào quan trọng cho quá trình sản xuất vì vậy thiếu vốn là một trong những nguyên nhân làm cho thu nhập và chi tiêu của người nghèo bị hạn chế Có nhiều vốn để sản xuất và dễ dàng tiếp cận được các nguồn vốn sẽ tạo cơ hội , nâng mức sống cho người nghèo để thoát nghèo và giảm nghèo Nguồn tín dụng có ý nghĩa quan trọng trong đầu tư sản xuất, tăng thu nhập và là nhân tố quan trọng để hộ gia đình thoát nghèo Trong sản xuất nông nghiệp, nguồn vốn tín dụng có vai trò rất quan trọng,

là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo Nguồn tín dụng giúp cho người dân khai thác có hiệu quả hơn về tiềm năng đất đai, lao động, bảo tồn và phát triển các ngành nghề truyền thống, nghề mới để tiến tới thoát nghèo và làm giàu

Theo Chính phủ (2002) tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2005) đã khẳng định tín dụng và tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng quyết định đến khả năng nâng cao mức sống và thoát khỏi nghèo đói của các hộ nghèo; theo Nguyễn Tro ̣ng Hoài (2007), nguồn vốn cho người nghèo

rất quan tro ̣ng Thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, kéo theo thu nhâ ̣p hô ̣ gia đình thấp, thu nhâ ̣p thấp dẫn đến tiết kiê ̣m thấp Tiết kiê ̣m thấp la ̣i là nguyên nhân của sự thiếu hu ̣t vốn đầu tư và la ̣i dẫn đến thu nhâ ̣p thấp, đó là vòng lẩn quẩn của nghèo

Theo Nguyễn Thị Thùy Phương (2013), các chương trình tín du ̣ng nông thôn đã

tác đô ̣ng tích cực trong viê ̣c cải thiê ̣n đời sống nông dân, ta ̣o điều kiê ̣n cho người dân tiếp câ ̣n với tín du ̣ng, phát huy vai trò của nông hô ̣ trong sự phát triển cô ̣ng đồng người nghèo, khuyến khích lòng tự tin của nông hô ̣ về khả năng sử du ̣ng vốn vay trong sản

Trang 14

xuất nông nghiê ̣p và nâng cao trình đô ̣, kiến thức trong sản xuất nông nghiê ̣p, đă ̣c biê ̣t

là tín du ̣ng nông thôn giúp người dân nâng cao thu nhâ ̣p, cải thiê ̣n được khả năng thoát nghèo

Theo Ngô Thị Huyền (2013) tín dụng đối với người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những người nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tuỳ theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người ngèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng Tín dụng đối với người nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng Thương mại mà nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau:

Mục tiêu: Tín dụng đối với người nghèo nhằm vào việc giúp những người nghèo đói có vốn phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt động vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận

Nguyên tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản xuất kinh doanh Hộ nghèo vay vốn phải là những hộ được xác định theo chuẩn mực nghèo đói do Bộ lao động, thương binh và xã hội hoặc do địa phương công bố trong từng thời kỳ Thực hiện cho vay có hoàn trả (gốc và lãi) theo kỳ hạn đã thoả thuận

Điều kiện: Có một số điều kiện, tuỳ theo từng nguồn vốn, thời kỳ khác nhau, từng địa phương khác nhau có thể quy định các điều kiện cho phù hợp với thực tế Nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của tín dụng đối với người nghèo đó là: Khi được vay vốn không phải thế chấp tài sản

2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo và thoát nghèo

2.5.1 Quy mô hộ gia đình

Quy mô hộ gia đình càng cao (hộ có nhiều nhân khẩu) thì khả năng tạo ra thu nhập cao hơn hộ có ít nhân khẩu, nguyên nhân có thể do số lượng người tạo thu nhập nhiều nên thu nhập của hộ tăng, suy ra thu nhập bình quân người/hộ tăng, do đó, tỷ lệ thoát nghèo của hộ gia đình có nhiều nhân khẩu là khá cao so với hộ có ít nhân khẩu

Trang 15

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2007) quy mô hộ gia đình càng lớn thì có nghĩa là

hộ phải trả nhiều chi phí hơn cho những khoảng chi phí hàng ngày, chi cho việc học hành, khám chữa bệnh và các khoản chi khác có thể gây bất ổn cho kinh tế gia đình

Theo Dartanto và Nurkholis (2013), cho rằng gia tăng số thành viên trong gia đình không những làm giảm xác suất thoát nghèo mà còn làm tăng xác suất rơi vào nghèo hay nghèo kinh niên và nghèo nhất thời Vì khi gia tăng số thành viên trong gia đình, chi tiêu bình quân đầu người sẽ giảm để hỗ trợ cho thành viên mới

Lê Thị Thanh Tâm (2013) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của các hộ dân huyện Tam Nông, tỉnh đồng tháp, cho rằng số thành viên hộ gia đình có tác động đến tình trạng nghèo của hộ gia đình tại vùng nghiên cứu, hộ có số thành viên trong gia đình càng cao thì càng dễ rơi vào hộ nghèo nếu các điều kiện khác không đổi

2.5.2 Tuổi chu ̉ hô ̣

Theo McKernan và Ratcliffe (2002;2005), chủ hô ̣ ở lứa tuổi 55 hoă ̣c già hơn có

sự gia tăng yếu ớt khả năng thoát nghèo Ngoài ra sự chuyển giao làm chủ hô ̣ gia đình, sinh thêm con, con cái lâ ̣p gia đình riêng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng rơi

vào nghèo

Theo Nguyễn Minh Hà và cộng sự (2013) nghiên cứu về khả năng tái nghèo của hộ gia đình, trong đó những hộ mà chủ trẻ tuổi là những hộ mới tách hộ, sau khi lập gia đình Mặt khác những hộ mới vừa thoát nghèo, trong đó có một số hộ tái nghèo

và còn lại những hộ cận nghèo hoặc không nghèo, nên phần lớn những hộ này vẫn còn khó khăn về kinh tế, thu nhập không ổn định Những hộ mới tách hộ, thì phần lớn cũng gặp nhiều khó khăn trong những buổi đầu lập thân, lập nghiệp, khả năng những

hộ này rơi vào diện nghèo hoặc tái nghèo là rất cao Vì vậy tuổi chủ hộ càng trẻ thì khả năng rơi vào dạng tái nghèo càng cao và ngược lại

Theo Giang Thanh Long (2010) lao động trẻ tuổi và trung tuổi (tương ứng nhóm 15-34 tuổi và 35-45 tuổi) góp phần tích cực nhất vào việc tăng giá trị gia tăng của các ngành Cụ thể là khi tỷ lệ lao động trong nhóm 15-34 tuổi và 35-45 tuổi tăng thêm 1 điểm % thì giá trị gia tăng của các ngành tăng thêm tương ứng là 0,56% và 0,51% Ngược lại tỷ lệ lao động trong nhóm tuổi 46 tuổi trở lên tăng thêm 01 điểm % thì sẽ làm giảm giá trị gia tăng của các ngành 0,61% Như vậy nhóm tuổi từ 45 trở lên

Trang 16

có xu hướng giảm sự đóng góp trong tổng thu nhập của hộ so với nhóm 15-34 tuổi và 35-45 tuổi

Theo Lilongwe và Zomba (2001, trích bởi Lê Thanh Sơn, 2008) tình trạng nghèo ở Malawi có ảnh hưởng bởi: Tuổi của người đứng đầu gia đình, tỷ lệ người phụ thuộc, quy mô hộ gia đình Trong đó tuổi người đứng đầu gia đình tỷ lệ thuận với đói nghèo ở nông thôn, không có ý nghĩa với thành thị, tỷ lệ người phụ thuộc đặc biệt là trẻ em có ảnh hưởng rất lớn đến mức sống của hộ gia đình Đối với các hộ ở khu vực thành thị, khi tăng 1 trẻ em dưới 09 tuổi thì mức chi tiêu của hộ gia đình giảm đến 30%, đối với khu vực nông thôn, mức chi tiêu giảm sắp sỉ 20%

2.5.3 Tri ̀nh đô ̣ ho ̣c vấn

Theo các nghiên cứu trước đây trình độ học vấn tỷ lệ nghịch với tỷ lệ đói nghèo Ngườ i nghèo ít có điều kiê ̣n để chi trả cho viê ̣c ho ̣c tâ ̣p nên thường bỏ ho ̣c sớm, thậm chí là không đi ho ̣c Vì không đi ho ̣c nên thường thiếu hiểu biết và thiếu khả năng tiếp thu kiến thức chuyên môn để phục vụ cho sản xuất tạo thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình Cho nên họ thường bị thất bại trong sản xuất nông nghiệp nên thu nhập thấp dẫn đến tình trạng nghèo và tái nghèo Tương tự, trong sản xuất công nghiệp, người công nhân không đi ho ̣c cũng gặp khó khăn trong việc học hỏi những kỹ năng và kỹ thuật mới nên khó thăng tiến lên vị trí cao hơn, thu nhập thấp hơn những người có học vấn cao

Theo Dartano và Nurkholis (2013), gia tăng trình đô ̣ ho ̣c vấn làm tăng khả năng không nghèo vì trình đô ̣ ho ̣c vấn càng cao thì cơ hô ̣i có viê ̣c làm với mức thu nhâ ̣p cao

càng lớn Các bậc cha mẹ có trình độ học vấn thấp thường không nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của giáo dục, từ đó không cố gắng tạo điều kiện cho con em họ đến trường và không khuyến khích các em học hành chăm chỉ và học cao hơn

Theo Nguyễn Thị Yến Mai (2011) thì chủ hộ có trình độ học vấn cao thì khả năng nghèo thấp hơn người có trình độ học vấn thấp hay nghịch biến với tình trạng nghèo và theo Lê Việt Phương (2012) chủ hộ có học vấn cao thì khả năng thoát nghèo cao hơn so với chủ hộ có học vấn thấp hay tỷ lệ thuận với thoát nghèo

2.5.4 Giơ ́ i tính chủ hô ̣

Tại các nước đang phát triển còn có những thành kiến về vai trò của người phụ

nữ thì giới tính của chủ hộ có ảnh hưởng đến khả năng nghèo và thoát nghèo của hộ Những hộ gia đình có chủ hộ là nữ có khả năng thoát nghèo thấp hơn hộ có chủ hộ là

Trang 17

nam, đặc biệt là những vùng nông thôn nghèo, nơi mà phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với những nghề nghiệp với thu nhập cao mà thường làm công việc nội trợ, cuộc sống dựa vào thu nhập từ nam giới

Theo Naifeh (1998), những hô ̣ gia đình chủ hô ̣ là nữ chưa hoă ̣c không kết hôn

có khoảng thời gian sống dưới chuẩn nghèo dài hơn so với những hô ̣ gia đình có đầy đủ vợ chồng

Theo Meyer và Cancian (1998) sử du ̣ng số liê ̣u điều tra của thanh niên trên toàn nước Mỹ để nghiên cứu những người phu ̣ nữ trong gia đình chỉ có me ̣ và con cái khi không còn được nhâ ̣n các khoản viê ̣n trợ, kết quả 78,4% trong số những người này

sống dưới chuẩn nghèo ít nhất là mô ̣t đến năm năm sau khi không còn được nhâ ̣n các khoản viê ̣n trợ xã hô ̣i Trong khi những phu ̣ nữ sống có chồng và con khi không nhâ ̣n được các chương trình viê ̣n trợ, khả năng rơi xuống chuẩn nghèo thấp hơn với những phụ nữ trong các hô ̣ gia đình chỉ có me ̣ và con cái

Theo Saryahadi và Sumarto (2001), tỷ lê ̣ chủ hô ̣ là nữ rơi vào nghèo kinh niên nhiều hơn so với chủ hô ̣ là nam Nam có nhiều ưu thế hơn so với nữ trong nhiều khía

cạnh, ho ̣ kiếm tiền nhiều hơn nhưng tiêu xài cũng hoang phí hơn nữ nhưng cũng dễ thoát nghèo hơn nữ Ngược la ̣i nữ giới bi ̣ ha ̣n chế về khả năng ta ̣o thu nhâ ̣p nhưng chi tiêu tiết kiê ̣m hơn và hợp lý nên khả năng rơi vào nghèo ít hơn nhưng thoát nghèo chậm hơn

2.5.5 Đất đai

Khu vực nông thôn, đất là tư liệu sản xuất chính và mang tính quyết định của

hộ gia đình để tạo ra thu nhập cho hộ Cho nên viê ̣c không có đất sản xuất hoă ̣c đất sản xuất ít thì thu nhập thấp, khó có đủ điều kiê ̣n để đảm bảo đầy đủ nhu cầu của cuô ̣c

sống và không đủ lương thực nuôi sống cả gia đình dẫn đến tình trạng nghèo và tái nghèo Những nông dân có đất sản xuất thường có nhiều lựa chọn hơn để thoát nghèo Đối với nhóm hộ nghèo phải bán đất do tình trạng nợ nần thường chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp hoặc phải di cư lao động, một bộ phận hộ nghèo trụ lại nông thôn sống bằng nghề làm thuê nông nghiệp nhưng đời sống rất khó khăn

Theo Marsh và cô ̣ng sự (2007, trích từ Pha ̣m Viê ̣t Công, 2014), quy mô đất đai

củ a hô ̣ nông dân có ảnh hưởng thuâ ̣n chiều với thu nhâ ̣p bình quân đầu người của hô ̣ nông dân, các hô ̣ nông dân có diê ̣n tích đất lớn thường là các hô ̣ khá, giàu, phần lớn

Trang 18

các hô ̣ nghèo có diê ̣n tích đất ít hơn hoă ̣c không có ruô ̣ng đất và tình tra ̣ng hô ̣ nông dân

có ít hoă ̣c không có đất đang lan rô ̣ng

Theo Woolard và Klasen (2005), những hô ̣ sở hữu nhiều đất sản xuất có xu hướng là hô ̣ không nghèo trong khi đó các hô ̣ không có hoă ̣c có ít đất thường dẫn đến nguy cơ rơi vào nghèo

Theo Nguyễn Thị Yến Mai (2011) thì chủ hộ có diện tích đất lớn hơn thì khả năng nghèo thấp hơn hộ có diện tích đất nhỏ (-)

2.5.6 Mức vốn ti ́n du ̣ng

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2007), nguồn vốn cho người nghèo rất quan tro ̣ng Thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, kéo theo thu nhâ ̣p hô ̣ gia đình thấp, thu nhâ ̣p thấp dẫn đến tiết kiê ̣m thấp Tiết kiê ̣m thấp la ̣i là nguyên nhân của sự thiếu hu ̣t vốn đầu

tư và la ̣i dẫn đến thu nhâ ̣p thấp, đó là vòng lẩn quẩn của nghèo

Theo Waheed, 2006, trích bởi nguyễn Hữu Tịnh (2010), thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, thu nhập thấp và tiết kiệm thấp Tiết kiệm thấp dẫn đến thiếu vốn đầu tư, làm cho thu nhập thấp và dẫn đến tình trạng nghèo của hộ gia đình

Theo Lê Việt Phương (2012) kết luận mức vốn vay có ý nghĩa đối với thoát nghèo, chủ hộ có mức vốn vay tăng lên 1 triệu đồng thì khả năng thoát nghèo tăng lên 35,39%

2.5.7 Tham gia đoàn thể: Theo Nguyễn Thanh Liêm (2014) kết luận hộ gia

đình có tham gia các tổ chức chính trị xã hội thì khả năng tiếp cận tín dụng thấp nghịch biến với mô hình nghiên cứu Ở địa bàn nghiên cứu giả định rằng những hộ gia đình có tham gia các tổ chức đoàn thể thì khả năng tiếp cận nguồn vốn được dễ dàng

và được hỗ trợ trong quá trình sản xuất vươn lên thoát nghèo

2.5.8 Tham gia đào tạo nghề: Theo Lê Việt Phương (2012) kết luận hộ gia

đình vay vốn được tập huấn, đào tạo thì khả năng thoát nghèo sẽ cao hơn so với hộ không được tập huấn hay đồng biến với thoát nghèo

2.5.9 Thu nhâ ̣p

Việt Nam dựa vào thu nhâ ̣p bình quân để xác đi ̣nh hô ̣ nghèo, nguyên do là Viê ̣t Nam và nhiều quốc gia đang phát triển khác thì thu nhâ ̣p từ lao đô ̣ng là nguồn thu nhập chính của hô ̣ gia đình, nghiên cứu này xác đi ̣nh mức sống và những đo lường

tình tra ̣ng thoát nghèo hay không theo đơn vị tiền tệ dựa vào thu nhập bình quân của

Trang 19

hộ gia đình Do đó, trong nghiên cứu này, biến phu ̣ thuô ̣c Y (thoát nghèo) dựa vào thu nhập hô ̣/năm Theo Thủ tướng Chính (2011), chuẩn nghèo giai đoa ̣n 2011-2015 được quy đi ̣nh đối với những hô ̣ gia đình ở nông thôn có mức thu nhâ ̣p bình quân dưới 400.000 đồng/người/tháng tương đương 4.800.000 đồng/người/năm được xem là hô ̣ nghèo Cho nên để xem xét khả năng thoát nghèo của hô ̣ gia đình khi tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo, ta so sánh thu nhâ ̣p bình quân của hô ̣ với mức chuẩn nghèo nêu trên (trong đó số người trong hô ̣ x 4.800.000 đồng/người/năm), nếu các hô ̣ có thu nhập cao hơn mức chuẩn thì thoát nghèo ngược lại vẫn còn nghèo

2.6 Các nghiên cứu trước

Vấn đề nghiên cứu về chương trình tín dụng cho hộ nghèo tác động đến thoát nghèo hiện nay có nhiều đề tài khoa học đã được nghiên cứu trước, cụ thể như sau:

2.6.1 Các nghiên cứu trong nước

Nguyễn Minh Hà và cộng sự (2013) dựa vào số liệu điều tra phỏng vấn 337 hộ

đã thoát nghèo từ năm 2006 đến năm 2011 trên địa bàn 11 xã 1 thị trấn của huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp và số liệu thứ cấp là các nghị quyết, báo cáo của cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Đồng Tháp Kết quả phân tích bằng hồi quy Binary logistic thấy rằng tuổi chủ hộ, tình trạng việc làm chủ hộ, số người phụ thuộc, diện tích đất sản xuất bình quân, tín dụng và hỗ trợ có tác động đến tái nghèo

Lê Thanh Sơn (2008), nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo ở các

hộ gia đình ở vùng biên giới Tây Nam dựa trên bô ̣ số liê ̣u điều tra mức sống hô ̣ gia đình Viê ̣t Nam năm 2006 áp du ̣ng cho vùng biên giới Tây Nam cho thấy tình tra ̣ng nghèo chi ̣u ảnh hưởng nhiều nhất từ các yếu tố: viê ̣c làm, số người phu ̣ thuô ̣c trong hô ̣,

số năm đi ho ̣c, diê ̣n tích đất canh tác

Nguyễn Thị Yến Mai (2011), nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tình tra ̣ng nghèo ở các xã biên giới trên đi ̣a bàn tỉnh Tây Ninh dựa trên số liê ̣u điều tra thực tế

384 hộ ở các xã biên giới Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic với 9 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc Kết quả nghiên cứu cho thấy có 05 biến tác đô ̣ng đến

tình tra ̣ng nghèo là: nghề nghiê ̣p, cửa khẩu, giới tính, diê ̣n tích đất, ho ̣c vấn của chủ

hộ

Lê Việt Phương (2012) nghiên cứu Tác động của tài chính vi mô đến khả năng thoát nghèo của hộ gia đình nghèo tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh,

Trang 20

dựa trên số liệu điều tra thực tế 250 hộ nghèo tham gia chương trình tài chính vi mô của Quỹ hỗ trợ vốn CEP tại huyện Bình Chánh Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic với 7 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc Kết quả nghiên cứu cho thấy

có 5 biến tác động tích cực đến khả năng thoát nghèo của hộ gia đình là: trình độ học vấn, số người có việc làm trong hộ, tổng số tiền vay, số lần tham gia tập huấn từ chương trình tài chính vi mô và mục đích sử dụng vốn của hộ

Nguyễn Thanh Liêm (2014) nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức đối với nông hộ của huyện Tân Trụ tỉnh Long An, dựa vào số liệu điều tra thực tế 250 nông hộ, cho thấy có 159 hộ có tiếp cận và vay được vốn, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic với 11 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc Kết quả cho thấy có 4 biến ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn chính thức của nông hộ là quan hệ xã hội, tổ chức chính trị xã hội, mục đích vay và tổng tài sản

Theo Lê Thị Thanh Tâm (2013) Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của các hộ dân huyện Tam Nông, tỉnh đồng tháp Nghiên cứu dựa vào số liệu điều tra thực tế 195 hộ gia đình và sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic với 10 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc Kết quả cho thấy có 7 biến ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình gồm: quy mô hộ, làm thuê, số lao động, học vấn, tiền vay, hộ nông nghiệp, diện tích đất bình quân đầu người

Theo Nguyễn Mạnh Cường (2015) phân tích tác động của tài chính vi mô đến giảm nghèo ở Việt Nam, nghiên cứu dựa vào số liệu thứ cấp khảo sát mức sống của hộ gia đình năm 2012 của Tổng cục thống kê Tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu với 10 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc (thu nhập bình quân), sử dụng phần mềm strata để phân tích Kết quả có 9 biến có ảnh hưởng tác động đến thu nhập bình quân của hộ gia đình gồm: tuổi chủ hộ, học vấn, việc làm, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, dân tộc, diện tích đất, khu vực sinh sống và tiền vay

2.6.2 Các nghiên cứu nước ngoài

Theo Okurut (2006) nghiên cứu về tiếp cận tín dụng của người nghèo tại Nam Phi, với dữ liệu nghiên cứu từ năm 1995 đến năm 2000 tại các nước Nam Phi Ông cho rằng sự tác động của các yếu tố về độ tuổi của chủ hộ, giới tính, mức chi tiêu bình quân của hộ gia đình, trình độ học vấn và vị trí của tỉnh có tác động tích cực đến việc

giảm nghèo của những người da đen

Trang 21

Lilongwe (2001), nghiên cứu về tình trạng đói nghèo ở Malawi là do: tuổi người đứng đầu gia đình, tỷ lệ người phụ thuộc, quy mô hộ gia đình, tình trạng giáo dục của chủ hộ, việc làm nông nghiệp của chủ hộ, khả năng tiếp cận với các nguồn lực

và điều kiện địa lý mà các hộ sinh sống

Sanne Nichols (2004) nghiên cứu tác động của tài chính vi mô đến cuộc sống của người nghèo ở nông thôn Trung Quốc Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra thực tế tại các huyện nghèo có chương trình tín dụng vi mô đã hoạt động 7 năm Tác giả nhận thấy rằng tài chính vi mô đã dẫn đến tác động tích cực đến cuộc sống của những người nghèo ở nông thôn Trung Quốc, thu nhập của người vay vốn tăng hơn ba lần so với những người không vay vốn từ chương trình tài chính vi mô

Tóm lại các nghiên cứu trước nêu trên thì đa phần các tác giả sử dụng phương

pháp thu thập số liệu điều tra từ hộ gia đình để phân tích dựa trên mô hình hồi quy Binary Logistic, để tìm ra các nhân tố tác động đến tình trạng nghèo, thoát nghèo của

hộ gia đình tại vùng nghiên cứu và khả năng tiếp cận vốn tín dụng từ đó gợi ý chính sách tương ứng nhằm tăng khả năng thoát nghèo của hộ gia đình nghèo

Tóm tắt chương 2:

Qua cơ sở lý thuyết, tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo, những nghiên cứu trước có liên quan và đề xuất mô hình nghiên cứu Căn cứ điều kiê ̣n, tình hình thực tế ta ̣i các xã, thị trấn của huyện Trảng Bàng, đề tài nghiên cứu

“Tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh” có điểm khác biê ̣t so với các nghiên cứu trước như: đi ̣a bàn nghiên cứ u là các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; đối tượng nghiên cứ u là các hô ̣ nghèo có tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo đang sinh

sống ta ̣i huyện nay điều tra lại và một số biến sử dụng trong mô hình như: mức đáp ứng vốn vay, thủ tục vay , chi phí vay và thời gian vay

Trang 22

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này giới thiệu về sơ đồ nghiên cứu, cách thức chọn mẫu, cỡ mẫu, phương pháp thu thập số liệu, nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Ngoài

ra chương này còn đi sâu vào thiết kế mô hình, diễn giải các biến độc lập trong nghiên cứu

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp định tính và thống kê mô tả: mô tả thông tin thu thập từ hộ gia đình và phân tích thông tin về kinh tế, xã hội, đời sống của người dân có vay vốn trên địa bàn để cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất giải pháp nâng cao tỷ lệ thoát nghèo thông qua chương trình tín dụng hộ nghèo

Phương pháp điều tra xã hội học: thực hiện phỏng vấn hộ gia đình nhằm tạo cơ

sở dữ liệu sơ cấp phục vụ việc xây dựng mô hình kinh tế lượng

Phương pháp định lượng: Để phân tích các yếu tố tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo, sử dụng phương pháp hồi quy để lượng hoá các nhân

tố ảnh hưởng, xem xét mức độ tác động của các yếu tố khác nhau tới việc thoát nghèo

Phân tích hồi quy là sự phân tích quan hệ phụ thuộc của một biến số (được gọi

là biến số phụ thuộc) vào các biến số khác (được gọi là biến số độc lập) Trong nghiên cứu về tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thu nhập và thoát nghèo của

hộ dân vùng nghiên cứu, nghiên cứu quan hệ phụ thuộc của thu nhập bình quân/người/năm của hộ gia đình vào các biến đặc điểm hộ gia đình (quy mô hộ, giới tính, trình độ văn hóa, v.v)

3.2 Mô hình nghiên cứu

3.2.1 Mô hình logistic phân tích các yếu tố tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo

Phương pháp này dùng để ước lượng mối quan hệ phụ thuộc giữa biến phụ thuộc là xác suất xảy ra một hiện tượng nào đó (ví dụ: xác suất thoát nghèo từ chương trình tín dụng hộ nghèo) với các biến độc lập khác

Trang 23

Để định lượng ảnh hưởng của một số biến số kinh tế-xã hội đối với việc hộ được đánh giá họ có thoát nghèo hay không, cần thiết lập một mô hình hồi quy logistic

mà biến phụ thuộc có giá trị bằng 1 (nếu thoát nghèo) và bằng 0 (nếu không thoát nghèo)

Theo Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự (2005), Nghiên cứu ứng dụng các mô hình

kinh tế lượng phân tích các nhân tố tác động nghèo đói và đề xuất giải pháp xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh Đông Nam Bộ Để đánh giá tác động của từng biến độc lập lên

biến phụ thuộc, sử dụng mô hình logit tổng quát:

k k

k k

X X

X X

1 1 0

1

Bằng phương pháp tuyến tính hóa, mô hình trên trở thành:

k k i

i

X X

X P

) (

1 0

0 0

ngheo khong

P

ngheo P

P

P

đầu, trong đó P 0 là xác suất nghèo ban đầu

Từ phương trình suy ra:

k

k X X

e P

1 1 01

Giả định rằng các yếu tố khác không thay đổi, khi tăng Xk lên 1 đơn vị, hệ số chênh lệch nghèo mới (O1) sẽ là:

k k

k

k k k k

k

e e

e e

P

P O

X X

X X

X X

1

1 1

1 1 0

1 1 0 1

1 01

Suy ra:

P

P P

1 1

11

Công thức trên có thể được viết lại như sau:

Trang 24

Tuổi chủ hộ

Số người phụ thuộc Học vấn chủ hộ Giới tính của chủ hộ

Đất đai Mức vốn vay Tham gia đòan thể Tham gia đào tạo nghề Thủ tục vay Chi phí vay

Mức đáp ứng vốn vay Thời gian vay Thu nhập

Thoát nghèo của hộ gia đình

k e O P

k k

e O

e O

1

Thế hệ số Odd vào, ta được:

) 1

e P

Công thức trên có ý nghĩa rằng với các yếu tố khác cố định, khi yếu tố X k tăng

lên một đơn vị thì xác suất giảm nghèo sẽ chuyển dịch từ P 0 sang P 1

3.2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Từ cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước, nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu

Trang 25

Phương trình nghiên cứu đề xuất

Y= f(số người phụ thuộc, tuổi chủ hộ, học vấn, giới tính, đất đai, mức vốn vay, tham gia đoàn thể, tham gia khóa đào tạo nghề, thủ tục vay, chi phí vay, mức đáp ứng vốn vay, thời gian vay, thu nhập)

Trong đó:

Y(thoát nghèo): là biến phụ thuộc, có giá trị = 1: thoát nghèo (nếu hộ gia đình

có mức thu nhập bình quân trên 400.000 đồng/người/tháng), có giá trị = 0: còn nghèo (nếu hộ gia đình có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống) thu nhập bình quân được tính bằng thu nhập của hộ gia đình chia cho số người trong

hộ gia đình (quy mô hộ) và số liệu điều tra được tính trong năm 2015

Các biến độc lập, gồm: số người phụ thuộc (songuoiphuthuoc), tuổi chủ hộ

(tuoi_chuho), học vấn (hocvan), giới tính (gioitinh), đất đai (datdai), mức vốn vay (mucvon), tham gia đoàn thể (thamgiadoanthe), tham gia khóa đào tạo nghề (thamgiadaotaonghe), thủ tục vay (thutucvay), chi phí vay (chiphivay), mức đáp ứng vốn vay (mucdapungvonvay), thời gian vay (thoigianvay), thu nhập (thunhap)

3.2.3 Đo lường các biến trong mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.2.3.1 Đo lường các biến trong mô hình

Bảng 3.1 : Mô tả biến và kỳ vọng dấu

Stt Tên

biến Diễn giải biến Cách đo lường

Kỳ vọng dấu

Nghiên cứu trước

Biến phụ thuộc chỉ mức độ tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo

Thoát nghèo: 1 Còn nghèo: 0

2 X1 Số người phụ

thuộc

Số người trên 15 tuổi mà không tạo

ra thu nhập cho gia đình và số người dưới 15 tuổi

-

Đinh Phi Hổ (2011) Nguyễn Mạnh Cường

(2015)

3 X2 Tuổi chủ hộ Năm điều tra trừ - Giang Thanh Long

Trang 26

đi năm sinh (2010); Lilongwe và

Zomba (2001, trích bởi Lê Thanh Sơn,

2008)

4 X3 Trình độ học vấn Là số năm đi học của chủ hộ +

Nguyễn Minh Hà và cộng sự (2013); Nguyễn Thị Yến Mai (2011); Lê Việt

6 X5 Đất đai diện tích đất mà chủ hộ có được

quyền sử dụng

+

Nguyễn Minh Hà và cộng sự (2013); Nguyễn Thị Yến Mai (2011)

7 X6 Mức vốn vay số tiền mà chủ hộ vay được từ

Có học: 1

+

Nguyễn Minh Hà và cộng sự (2013); Lê Việt Phương (2012);

10 X9 Thủ tục vay

các thủ tục hành chính mà chủ hộ phải hoàn thành

để được vay vốn Đơn giản: 0

-

Trang 27

Phức tạp: 1

11 X10 Chi phí vay

chi phí mà chủ hộ phải bỏ ra để được vay vốn Không tốn phí: 0

+ Nguyễn Thanh Liêm

+ Nguyễn Thanh Liêm

(2014)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

3.2.3.2 Các giả thuyết nghiên cứu

Số người phụ thuộc: cho biết số thành viên có trong mỗi hộ không tạo ra thu

nhập cho gia đình như: trẻ em, người già, bệnh tật Đề tài tiếp cận nghiên cứu số người phụ thuộc có ảnh hưởng thế nào đến việc thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo Theo Nguyễn Mạnh Cường (2015) cho rằng số người phụ thuộc của hộ gia đình có tác động đến thoát nghèo của hộ gia đình tại vùng nghiên cứu, hộ có số người phụ thuộc càng cao thì thu nhập bình quân càng giảm

Giả thuyết H1: Số người phụ thuộc có tác động âm đến khả năng thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Tuổi chủ hộ: Tuổi chủ hộ càng cao thì tỷ lệ nghịch (-) với thoát nghèo Theo

Lilongwe và Zomba (2001, trích bởi Lê Thanh Sơn, 2008) tình trạng nghèo ở Malawi

có ảnh hưởng bởi: Tuổi của người đứng đầu gia đình, tỷ lệ người phụ thuộc, quy mô

hộ gia đình Trong đó tuổi người đứng đầu gia đình tỷ lệ thuận với đói nghèo ở nông thôn

Trang 28

Giả thuyết H2: Tuổi chủ hộ có tác động âm đến khả năng thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Trình độ học vấn của chủ hộ: số năm đi học của chủ hộ càng cao thì cơ hội

tiếp cận khoa học công nghệ và ứng dụng vào sản xuất càng lớn, giúp cho hộ có khả năng tăng thu nhập, có cơ hội thoát nghèo Theo Lê Việt Phương (2012) chủ hộ có học vấn cao thì khả năng thoát nghèo cao hơn so với chủ hộ có học vấn thấp hay tỷ lệ thuận với thoát nghèo

Giả thuyết H3: Trình độ học vấn của chủ hộ có tác động dương đến khả năng thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Giới tính: Đề tài nghiên cứu kỳ vọng chủ hộ là nữ có khả năng thoát nghèo

thấp hơn so với chủ hộ là nam khi cùng tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo Theo Nguyễn Thị Yến Mai (2011) thì chủ hộ có giới tính là Nữ thì khả năng nghèo cao hơn so với chủ hộ là nam giới và ngược lại

Giả thuyết H4: Giới tính của chủ hộ là Nam có tác động dương đến khả năng thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Đất đai: Cho biết diện tích đất mà mỗi hộ gia đình có được để sản xuất (ha),

theo Nguyễn Thị Yến Mai (2011) thì chủ hộ có diện tích đất lớn hơn thì khả năng nghèo thấp hơn hộ có diện tích đất nhỏ (-)

Giả thuyết H5: Diện tích đất của chủ hộ có tác động dương đến khả năng thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Mức vốn vay: Nói lên quy mô của vốn vay chính thức của hộ gia đình, theo Lê

Việt Phương (2012) kết luận mức vốn vay có ý nghĩa đối với thoát nghèo, chủ hộ có mức vốn vay tăng lên 1 triệu đồng thì khả năng thoát nghèo tăng lên 35,39%

Giả thuyết H6: Mức vốn vay của chủ hộ có tác động dương đến khả năng thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Tham gia đoàn thể: Đề tài nghiên cứu tiếp cận theo hướng kỳ vọng hộ gia đình

có người tham gia các tổ chức đoàn thể thì khả năng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng

dễ dàng hơn sơ với hộ không có người tham gia các tổ chức đoàn thể Theo Nguyễn Thanh Liêm (2014) kết luận hộ gia đình có tham gia các tổ chức chính trị xã hội thì khả năng tiếp cận tín dụng thấp nghịch biến với mô hình nghiên cứu

Trang 29

Giả thuyết H7: Tham gia đoàn thể của chủ hộ có tác động dương đến khả năng thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Tham gia đào tạo nghề: Theo Lê Việt Phương (2012) kết luận hộ gia đình vay

vốn được tập huấn, đào tạo thì khả năng thoát nghèo sẽ cao hơn so với hộ không được tập huấn hay đồng biến với thoát nghèo (+)

Giả thuyết H8: Tham gia đào tạo nghề của chủ hộ có tác động dương đến khả năng thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Thủ tục vay: Thủ tục vay là các loại giấy tờ mà Ngân hàng chính sách xã hội

quy định, người vay vốn phải thực hiện đầy đủ mới được giải ngân vốn Giả định rằng thủ tục vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội đơn giản, chủ hộ dễ dàng tiếp cận vốn thì tỷ lệ thuận với thoát nghèo (+) Thủ tục vay vốn phức tạp, chủ hộ khó tiếp cận vốn thì tỷ lệ nghịch với thoát nghèo (-)

Giả thuyết H9: Thủ tục vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội có tác động âm đến thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Chi phí vay: Giả định rằng chủ hộ phải tốn chi phí chi cho việc vay vốn, tác

động ảnh hưởng đến mức vốn vay mà chủ hộ nhận về sử dụng thì tỷ lệ nghịch với thoát nghèo (-)

Giả thuyết H10: Chi phí vay vốn của chủ hộ có tác động âm đến khả năng thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Mức đáp ứng vốn vay: Giả định rằng chủ hộ có nhu cầu vay vốn phát triển sản

xuất, ngân hàng đáp ứng đủ nhu cầu chủ hộ tạo điều kiện thuận lợi cho chủ hộ sử dụng vốn vay thì tỷ lệ thuận với thoát nghèo (+)

Giả thuyết H11: Mức đáp ứng vốn vay có tác động dương đến khả năng thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Thời gian vay: Giả định rằng chủ hộ có thời gian vay vốn càng lớn thì có đủ

thời gian để sử dụng và quay vòng vốn nên khả năng thoát nghèo càng cao, tỷ lệ thuận với thoát nghèo (+)

Giả thuyết H12: Thời gian vay có tác động dương đến khả năng thoát nghèo khi

hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

Trang 30

Thu nhập: Hộ gia đình có vay vốn từ chương trình tín dụng để góp phần tạo

việc làm sẽ có thu nhập tăng thì khả năng thoát nghèo tăng, tỷ lệ thuận với thoát nghèo

Giả thuyết H13: Thu nhập của chủ hộ có tác động dương đến khả năng thoát nghèo khi hộ gia đình tham gia chương trình tín dụng hộ nghèo

3.3 Mẫu nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu

3.3.1 Mẫu nghiên cứu

Theo Green (1991, trích từ Nguyễn Đình Tho ̣ (2011), công thức thường dùng để tính kích thước mẫu cho hồi quy tuyến tính đa biến (hồi quy bô ̣i) như sau: n> 50 + 8p, trong đó: n là kích thước mẫu tối thiểu cần thiết và p là số lượng biến đô ̣c lâ ̣p trong

mô hình Nghiên cứu này sử du ̣ng phương pháp hồi quy Binary logistic với 13 biến

đô ̣c lâ ̣p, do đó kích thước mẫu tối thiểu của nghiên cứu: n > 50 + 8 x 13 = 154 Số mẫu nghiên cứ u này là 250 mẫu, lớn hơn 154 nên đa ̣t yêu cầu về kích thước mẫu

Theo báo cáo củ a Phòng giao dịch ngân hàng chính sách xã hội huyện Trảng Bàng năm 2011 số hộ nghèo vay vốn ở 10 xã và 01 thị trấn của huyện Trảng Bàng là:

865 hộ Trên cơ sở số liệu này chọn ngẫu nhiên cách 3 hộ ta chọn 1 hộ vay vốn và chọn đến khi đủ 250 mẫu ngẫu nhiên Sau đó tổng hợp lại theo từng địa phương, ta có được số hộ vay vốn của từng xã, thị trấn để tiến hành điều tra, ta lập bảng phân bổ số mẫu cần điều tra cho từng xã, thị trấn, cu ̣ thể:

Bảng 3.2: Mẫu điều tra cho từng xã, thị trấn

Trang 31

9 Phước Lưu 19 7,60

3.3.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu

Số liê ̣u thứ cấp: Các Nghi ̣ quyết của Ban Chấp hành Đảng bô ̣ tỉnh, huyện; Kết quả điều tra hô ̣ nghèo năm 2014 của huyê ̣n Trảng Bàng; số liệu cho vay hộ nghèo của Phòng giao dịch ngân hàng chính sách xã hội huyện năm 2011

Số liê ̣u sơ cấp: Đề tài sử du ̣ng số liê ̣u sơ cấp thông qua viê ̣c điều tra trực tiếp

250 hộ gia đình bằng bảng câu hỏi chuẩn bi ̣ sẵn, cho ̣n mẫu theo phương pháp hê ̣ thống trên đi ̣a bàn 10 xã, 1 thị trấn

3.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

3.3.3.1 Phân tích thống kê mô tả

Thống kê mô tả cung cấp thông tin tóm tắt về mẫu và thước đo nhằm tạo nền tảng của mọi phân tích định lượng về số liệu, mô tả những đặc tính cơ bản dữ liệu thu thập được của quá trình nghiên cứu

Xây dựng các, bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu, sử dụng các thông số thống kê như: trung bình cộng, tỷ lệ, phương sai, tần số, độ lệch chuẩn,…để tóm tắt những thông tin của chủ hộ Những dữ liệu này có thể sử dụng biểu đồ hoặc bằng mô tả dữ liệu để phân tích, so sánh thông tin của chủ hộ

3.3.3.2 Phân tích hồi quy

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích hồi quy Binary Logistic với 1 biến phụ thuộc và 13 biến độc lập nhằm xác định tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo của hộ gia đình trong phạm vi nghiên cứu

3.3.3.3 Các kiểm định

Kiểm định biến quan sát

Trang 32

Để xem các biến quan sát có phù hợp với mô hình ở mức độ nào ta kiểm định mức ý nghĩa quan sát bằng sig(Observed significance level)

Nếu sig ≤ α = 0,1: Có ý nghĩa thống kê

Nếu sig > α = 0,1: Không có ý nghĩa thống kê, cần loại biến ra khỏi mô hình

Kiểm định sự phù hợp của mô hình

Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008): Hồi quy Binary logistic cũng đòi hỏi ta phải đánh giá mức độ phù hợp của mô hình Đo lường sự phù hợp tổng quát của mô hình dựa trên chỉ tiêu - 2LL (viết tắt của -2log likelihood), thước đo này càng nhỏ càng tốt và càng thể hiện độ phù hợp cao Giá trị nhỏ nhất của -2LL là 0 tức

là không có sai số, khi đó mô hình có một độ phù hợp hoàn hảo

Kiểm định ý nghĩa thống kê của các hệ số

Trong hồi quy tuyến tính chúng ta sử dụng kiểm định t để kiểm định giả thuyết

Ho: ρk = 0 Còn với hồ quy Binary logistic, đại lượng Wald Chi Square được sử dụng

để kiểm định ý nghĩa thống kê của hệ số hồi quy tổng thể Cách thức sử dụng mức ý nghĩa của sig cho kiểm định Wald cũng theo nguyên tắc thông thường Wald Chi Square được tính bằng cách lấy ước lượng của hệ số hồi quy của biến độc lập trong mô hình (hệ số hồi quy mẫu) Binary logistic chia cho sai số chuẩn của hệ số hồi quy này sau đó bình phương theo công thức sau:

Wald Chi- Square

Kiểm định mức phù hợp tổng quát

Hồi quy Binary logistic, tổ hợp liên hệ tuyến tính của toàn bộ các hệ số trong

mô hình ngoại trừ hằng số cũng được kiểm định xem có thực sự có ý nghĩa trong việc giải thích cho biến phụ thuộc hay không Với hồi quy tuyến tính bội ta dùng thống kê

F để kiểm định giả thuyết H0: ρ1 = ρ2 =… = ρk = 0 Còn với hồi quy Binary logistic ta dùng kiểm định Chi- bình phương Căn cứ vào mức ý nghĩa đã đưa ra trong bảng Omnibus Tests of Model Coefficients để quyết định bác bỏ hay chấp nhận H0

Trang 33

Tóm tắt chương 3

Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, cách thức chọn mẫu, phương pháp phân tích dữ liệu, xây dựng mô hình nghiên cứu, kỳ vọng dấu cách thức đo lường các biến trong mô hình và các kiểm định của mô hình Qua phân tích tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu chính thức với 1 biến phụ thuộc Y(thoát nghèo) chỉ mức độ tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo và 13 biến độc lập, gồm: số người phụ thuộc, tuổi chủ hộ, học vấn, giới tính, đất đai, mức vốn vay, tham gia đoàn thể, tham gia khóa đào tạo nghề, thủ tục vay, chi phí vay, mức đáp ứng vốn vay, thời gian vay, thu nhập

Ngày đăng: 04/10/2023, 10:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Các xã, thị trấn thuộc huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh - Tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo tại huyện trảng bàng, tỉnh tây ninh
Bảng 1.1 Các xã, thị trấn thuộc huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (Trang 4)
Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu - Tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo tại huyện trảng bàng, tỉnh tây ninh
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu (Trang 24)
Bảng 3.1 : Mô tả biến và kỳ vọng dấu - Tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo tại huyện trảng bàng, tỉnh tây ninh
Bảng 3.1 Mô tả biến và kỳ vọng dấu (Trang 25)
Hình 4.1: Tỷ lệ hộ thoát nghèo điều tra - Tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo tại huyện trảng bàng, tỉnh tây ninh
Hình 4.1 Tỷ lệ hộ thoát nghèo điều tra (Trang 35)
Bảng  4.15    Hệ số tương quan - Tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo tại huyện trảng bàng, tỉnh tây ninh
ng 4.15 Hệ số tương quan (Trang 45)
Bảng 4.19: Bảng kiểm định Model Summary - Tác động của chương trình tín dụng hộ nghèo đến thoát nghèo tại huyện trảng bàng, tỉnh tây ninh
Bảng 4.19 Bảng kiểm định Model Summary (Trang 49)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w