1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO TRÌNH tôn giáo và tín ngưỡng

161 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 483,04 KB
File đính kèm GIÁO TRÌNH tôn giáo.rar (450 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Tôn giáo và Tín ngưỡng được biên soạn nhằm phục vụ việc đào tạo hệ Cao cấp lý luận chính trị với mục tiêu trang bị cho học viên nhũng kiến thức nền tảng, cập nhật về tôn giáo và tín ngưõng; quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo cũng như công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng; góp phần nâng cao nhận thức, củng cố lập trường tư tưởng chính trị và năng lực chuyên môn của người học. Giáo trình được biên soạn trên cơ sở kế thừa giáo trình Cao cấp lý luận chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã được xuất bản những năm qua; kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài Học viện; cập nhật, bổ sung một số vấn đề lý luận vả thực tiễn về đời sống tôn giáo ừên thế giới và ở Việt Nam hiện nay; đặc biệt là những nội dung về tôn giáo được đề cập trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nghị định của Chính phủ về tôn giáo và công tác tôn giáo những năm qua.

Trang 1

GIÁO TRÌNH CAO CẨP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG

(Tái bản lần thứ nhất)

NHÀ XUẤT BẢN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BAN CHỈ ĐẠO CHỈNH SỬA, HOÀN THIỆN

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO

CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

1 GS, TS Nguyễn Xuân Thắng Trưởng ban

2 PGS, TS Lê Quốc Lý ủy viên

3 PGS, TS Nguyễn Viết Thảo ủy viên

4 PGS, TS Hoàng Anh ủy viên Thường trực

Trang 3

CHỦ BIÊN

PGS, TS Đỗ Lan Hiền

.

TẬP THỂ TÁC GIẢ

Bài 1: PGS, TS Đỗ Lan Hiền PGS, TS

Lê Văn Lợi Bài 2: PGS, TS Hoàng Thị

Lan PGS, TS Nguyễn Phú Lợi PGS, TS

Nguyễn Thanh Xuân Bài 3: PGS, TS

Nguyễn Phú Lợi

PGS, TS Nguyễn Thanh Xuân

TS Lê Tâm Đắc PGS, TS Hoàng Minh

Đô TS Trần Hữu Hợp TS Nguyễn Khắc

Đức Bài 4: PGS, TS Đỗ Lan Hiền PGS,

TS Hoàng Thị Lan PGS, TS Ngô Hữu

Thảo TS Nguyễn Thi Hải Yến Bài 5:

PGS, TS Ngô Hữu Thảo

Trang 4

LỜI GIỚI THIỆU

Học viện Chính fri quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộcBan Chấp hành Trung ương Đảng; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trựctiếp, toàn diện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trungtâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, caocấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của hệ thống chính trị; trung tâmquốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Mác-Lênin, tư tường Hồ ChíMinh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cáckhoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quảu lý

Chương trình Cao cấp lý luận chính trị là chương trình trọngđiểm trong toàn bộ công tác đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Mụctiêu của chương trình này là: Trang bị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý trung cấp, cao cấp của cả hệ thống chính trị có kiến thức nềntảng về ỉý luận chính trị và quan điểm, đường lối của Đảng làm cơ sởcho việc củng cố nền tảng tư tưởng, nâng cao tầm nhìn và năng lực tưduy chiến lược, năng lực chuyên môn, hoàn thiện phương pháp, kỹnăng lãnh đạo, quản lý, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách của người cán

bộ lãnh đạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đất nước trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc té

Đổi mới, bổ sung, cập nhật các chương trình đào tạo, bồi dưỡngcán bộ là việc làm thường xuyên của Học viện Chính trị quốc gia HồChí Minh nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng,Nhà nước trong từng giai đoạn, thời kỳ phát triển, phù họp với bốicảnh của đất nước và thế giới

Chương trình Cao cấp lý luận chính trị lần này được kết cấu gồm

19 môn học và các chuyên đề ngoại khóa, được tổ chức biên soạn côngphu, nghiêm túc, trí tuệ và trách nhiệm của đội ngũ các nhà khoa học

Trang 5

đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cần quan tâm nghiên cứu Phương

châm chung của toàn bộ giáo trình là cơ bản, hệ thống, hiện đại vàthực tiễn

Xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được nhiều ý kiến đónggóp quý báu từ các nhà khoa học, giảng viên, học viên và bạn đọc nóichung

BAN CHỈ ĐẠO CHỈNH SỬA, HOÀN THIỆN

CHƯONG TRÌNH ĐÀO TẠOCAO CẮP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Tôn giáo và Tín ngưỡng được biên soạn nhằm phục vụ việc đào tạo hệ Cao cấp lý luận chính trị

với mục tiêu trang bị cho học viên nhũng kiến thức nền tảng, cập nhật về tôn giáo và tín ngưõng; quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng

và nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo cũng như công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng; góp phần nâng caonhận thức, củng cố lập trường tư tưởng chính trị và năng lực chuyên môn của người học

Giáo trình được biên soạn trên cơ sở kế thừa giáo trình Cao cấp lý luận chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã đượcxuất bản những năm qua; kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài Học viện; cập nhật, bổ sung một số vấn đề lý luận

vả thực tiễn về đời sống tôn giáo ừên thế giới và ở Việt Nam hiện nay; đặc biệt là những nội dung về tôn giáo được đề cập trong Văn kiện

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nghị định của Chính phủ về tôn

giáo và công tác tôn giáo những năm qua

Giáo trình gồm 05 bài:

Bài 1: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, với các nội dung chính: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về bàn

chất, nguồn gổc, tính chất, chức năng của tôn giáo và thái độ ứng xử và giải quyết vấn đề tôn giáo của người cộng sản trong quá trình cáchmạng xã hội chủ nghĩa; cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về tôn giáo, tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tôn giáo, đoàn kết tôn giáo, tôn trọng vàphát huy giá trị tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội và chống lợi dụng tôn giáo

Bài 2: Tinh hình tôn giáo trên thể giới và ở Việt Nam, với các nội dung chính: đặc điểm và một số xu hướng tôn giáo trên thế giới hiện

nay và nguyên nhân của những vấn đề đó, đặc điểm và tinh hình tôn giáo ở Việt Nam

Bài 3: Một số tôn giáo ở Việt Nam, với các nội dung chính: giới thiệu về 06 tôn giáo tiêu biểu có đông số lượng tín đồ và được Nhà

nước công nhận tổ chức sớm nhất (Phật giáo, Công giáo đạo Tin Lành, đạo Cao Đài, ĩslam giáo và Phật giáo Hòa Hảo) Trong đó trình bày

về sự ra đời, quá trình phát triển, giáo lý, giáo luật và các lễ nghi tiêu biểu các tôn giáo nêu trên; hoạt động của các tôn giáo đó ả Việt Nam

hiện nay và những vấn đề đặt ra cho công tác tôn giáo của hệ thống chính trị

Bài 4: Một số loại hình tín ngưỡng ờ Việt Nam với các nội dung chính: những vấn đề lý luận chung về tín ngưỡng như khái niệm, phân

loại các loại hình tín ngưỡng, đặc điểm tín ngưỡng ở Việt Nam; giới thiệu về 04 loại hình tín ngưỡng tiêu biểu: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên,tín ngưỡng thờ anh hùng dần tộc tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ Mầu

Bài 5: Quan điểm, chỉnh sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng, với các nội dung chính: Khái quát quan điểm

của Đảng về tôn giáo, tín ngưỡng qua các thời kỳ; chính sách của Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng; đánh giá quá trình thực hiệnchính sách tôn giáo ờ Việt Nam hiện nay và những vấn đê đặt ra từ việc thực hiện chính sách tôn giáo, tín ngưỡng '

Xin trân trọng giới thiệu Giáo trình đên bạn đọc và người học rất mong nhận được ý kiến góp ý của bạn đọc gần xa để lần xuất bản sau

Trang 7

1 0

giáo trình được hoàn thiện hơn!

TẬP THẾ TÁC GIẢ

Trang 8

CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN,

Tư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỂ TÔN GIÁO

A MỤC TIÊU

về kiến thức: Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản của

chủ nghĩa Mác-Lênin, tu tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

về kỹ năng: Giúp học viên cùng cố và nâng cao quan điểm duy

vật biện chứng, duy vật lịch sử, hình thành phương pháp, kỹ năng vậndụng kiến thức để ứng xử với tôn giáo phù họp quan điểm mácxít

về tư tưởng: Giúp học viên có thái độ đúng mực, khách quan

trong giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng

1 CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ TÔN GIÁO

1.1. Bản chất của tôn giáo

Bản chất của tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lêninđược khái quát trong một số luận điểm sau đây:

Thứ nhất, tôn giáo hay thánh thần không sáng tạo ra con người

mà chinh con người đã sáng tạo ra thánh thần Tôn giáo là sản phẩm củachính con người, sản phẩm của sự tự ý thức, tự cảm giác của con ngườinhưng rồi con người không nhận ra sản phẩm của chính Tnìnb sản phẩm

đó lại như thuộc về một thể giới khác, thé giới của các thanh thân và trởnên xa lạ, quay trở lại thống trị con người Con người trờ nên sợ hãi, lệthuộc trước các thánh thần, họ đã quỳ lạy xuống dưới sản phẩm củachính mình để cầu xin những gì mằ mình bất lực trong thế giới thực tại

này Trong phần Lời nói đầu của tác phẩm Góp phần phê phán triết học

pháp qicyền của Hêghen, C.Mác đã khái quát bản chất của tôn giáo

bằng một luận điểm: ‘Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con

Trang 9

2

người chưa tìm được bản thân minh hoặc đã lại để mất bản thân mìnhmột lần nữa”1

Thứ hai, trong tôn giáo, con người đã biến thế giới kinh nghiệm

của mình thành một cái gi đó chi có trong tư tưởng trong sự tưởngtượng, do đó sự tự ý thức đó là hư ảo, là thế giới quan lộn ngược Chính

vì vậy, Ph.Ăngghen đã định nghĩa tôn giáo như sau: “Tất cả mọi tôngiáo chẳng qua chi là sự phản ánh hư ảo - vào ữong đầu óc của conngười - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngàycủa họ, chi là sự phản ánh trong đó những lực lượng ờ trần thế đã manghình thức những lực lượng siêu trần thé”1 2

Thứ ba, con người càng “hiến minh” cho tôn giáo càng nhiều bao

nhiêu thi cái giữ lại cho mình càng ít bấy nhiêu, con người càng nở nênmất lý trí và phụ thuộc hoàn toàn vào tôn giáo vào thần linh của họ.Hiện thực càng ““mang tính chất Thượng đế” bao nhiêu, tức là càngkhông có tính chất con người bao nhiêu”3 Do đó tôn giáo được xem nhưvòng hào quang thần thánh, bông hoa giả hang điểm trên vòng xiềngxích hói buộc con người trong sự khổ ải mà vẫn tưởng minh được hạnhphúc, là “thứ rượu tinh thẩn, làm cho những người nô lệ của tư bản mấtphâm cách con người và quên mất hết những điều họ đòi hỏi để đượcsống một cuộc đời đôi chút xứng đáng với con người”4

1.2. Nguồn gốc của tôn giáo

1.2.1 Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế-xã hội

Trong buổi bình minh của lịch sử loài người, con người đã từngsống một thời gian dài không tm ngưỡng, tôn giáo Kinh tế hái lượm,săn bắt cùng với cuộc sống mông muội, hoang dã làm cho con ngườitrong xã hội nguyên thủy rất gần gũi, gắn bó với tự nhiên Song thiênnhiên bao quanh họ chứa đựng đầy những huyền bí và thường xuyên đe

1'• 3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính tri quốc gia, H 1995 11 ừ 569

32 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chinh trị quốc gia, H.1995 t.20 tr437

4 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.12 tr.170

Trang 10

V.LLênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.12, ừ 169-170 169-170.

dọa cuộc sống của họ, mà họ không thể nào lý giải và khắc phục được

Và thế là, họ đã khoác lên tự nhiên một sức mạnh thần thánh V.I.Lênin

đã khái quát nguồn gốc tự nhiên của tôn giáo bằng một mệnh đề ngắngọn: “ sự bất lực của người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiênnhiên đẻ ra lòng tin vào thân thánh, ma quỷ, vào những phép màu ”1.Chẳng bao lâu sau đó, bên cạnh những lực lượng thiên nhiên, cáclực lượng xã hội cũng đối lập và thống trị con người mà họ không thểcắt nghĩa nổi nguyên nhân của nó Thế là, trong quá trình lịch sử củaminh, con người dần dàn ít phụ thuộc vào tự nhiên hcm thì họ lại phụthuộc vào các lực lượng xã hội với cái vẻ bên ngoài giống như nhữnglực lượng tự nhiên Và con người đã tưởng tượng ra một đấng tối cao cókhả năng giải phóng họ, đem lại hạnh phúc cho họ và trừng phạt những

kẻ áp bức họ, tôn giáo xuất hiện

V.I.Lênin đã khái quát lại nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội củatôn giáo bàng luận điểm sau: “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột toongcuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộcđời tốt đẹp hom ờ thế giới bên Ma, cũng giống y như sự bất lực củangười dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vàothần thánh, ma quỷ, vào những phép màu”2

1.2.2 Nguồn gấc nhận thức

Tôn giáo ra đời cũng là kết quả của sự “nhầm lẫn” của lý trí conngười trong sự nhận thức về chính bản chất mình và về thế giới tự nhiênbên ngoài xung quanh họ “Cho đến nay, con người luôn luôn tạo chomình những quan niệm sai làm về bản thân Những sản phẩm của bộ

óc của họ đã trở thành kẻ thống trị họ Là những người sáng tạo, họ lạiphải cúi minh trước những cái họ sáng tạo ra”1 .Nguyên nhân hình thành tôn giáo còn do sự giới hạn của nhậnthức, “nhận thức con người không phải là một đường thẳng, mà là mộtđường cong đi gần vô hạn đến một loạt những vòng tròn, đến một vòngxoắn ốc Bất cứ đoạn nào, khúc nào, mành nào của đường cong ấy cũng

Trang 11

4

có thể chuyển hóa (chuyển hóa một cách phiến diện) thành một đườngthẳng độc lập, đầy đủ, đường thẳng này (nếu chi thấy cây mà khôngthấy rừng) sẽ dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thày tu”1 2

1.2.3 Nguồn gốc tâm lý

Sự sợ hãi cũng tạo ra thần linh, sợ hãi trước những bí ẩn của thiênnhiên, sợ hãi trước các lực lượng thống trị xã hội, sợ hãi trước bệnh tật,tâm lý buồn đau, bất hạnh, khổ ải, cô đơn, và sợ hãi trước cái chết đều

là những nguồn gốc tầm lý để nảy sinh ra tôn giáo Nói chung, mọi “sự

sợ hãi đã tạo ra thần linh”3

Tôn giáo được sinh ra cũng là để thỏa mãn khát vọng bất tử củacon người, sợ hãi trước cái chết, con người tường tượng và hy vọng chết

sẽ là chuyển sự sống sang một thế giói khác, thế giới của các thánh thần

và thiên đường

Tôn giáo cũng là sự thay thể thế giới hiện thực bằng một thế

1C.Mác và Ph.Ângghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1995 t.3 tr 19 2V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2006, t.29, tr.385.

3V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.17, tr.515.

Trang 12

C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002 t.l tr.569

giới mong ước Con người đã gắn những ước vọng của mình chothượng đế, vậy nên tôn giáo còn là kết quả của một xúc cảm khát khao,

hy vọng

1.3 Tính chất của tôn giáo

1.3.1 Tính lịch sử

Tinh lịch sử của tôn giáo được hiểu theo các nghĩa sau:

Thứ nhat, tôn giáo không phải là một cái gì bẩm sinh, có sẵn và

mang tính bản năng ở trong mỗi con người, tôn giáo cũng không phải làmột hiện tượng ngẫu nhiên mà có tính lịch sử của nó nó ra đời bởi cácnguyên nhân trong chính đời sống con người Chủ nghía Mác đã chứngminh, tôn giáo không ra đời trước hoặc cùng con người, con người chisáng tạo ra tôn giáo khi khả năng tư duy trừu tượng và trình độ sản xuấtđạt đến một độ nhất định nào đó

Thứ hai, tôn giáo cũng có một quá trình hình thành phát triển và

biên đôi, quá trinh đó chịu sự ảnh hường và tác động của những bien đôilịch sử Với mỗi bước ngoặt lớn của lịch sử, của trật tự xã hội sẽ kéotheo sự chuyển biến lớn trong tôn giáo Tôn giáo là sự phán ánh nhữngđiều kiện, trình độ phát triển lịch sử từng dân tộc ‘Nha nước ây, xã hội

ây sản sinh ra tôn giáo”1

Trong giai đoạn đầu của lịch sử nhân loại (xã hội thị tộc - bộ lạc),mỗi bộ tộc có các vị thần khác nhau, do đó có nhiều hình thức tín

ngưỡng, tôn giáo như Bái vật giáo, Tôtem giáo, Saman giáo - Cùng

với sự phát triển xã hội, tính chất ngây thơ, chất phác của tôn giáo đathân trong thòi kỳ nguyên thủy mất dần, “những thuộc tính tự nhiên vàthuộc tính xã hội của nhiều vị thần được chuyển sang cho một vị thầnvạn năng duy nhất, bản thân vị thần này cũng lại chi là phản ánh của conngười trừu tượng Như vậy, nhất thần giáo xuat hiẹn Sự ra đơi ton giaođộc thân (theo đúng nghĩa đầy đủ củẩ nó)"diễn ra cùng với sự hìnhthành các quốc gia dần tặc

Thứ ba, tôn giáo được sinh ra trong những điều kiện lịch sử nhât

Trang 13

6

định thì nó cũng sẽ mất đi trong những điều kiện lịch sử nhắt định Cácnhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã dự báo về một xã hội tưonglai có thể khắc phục được sụ “tha hóa” của tôn giáo- “Khi nào thông quaviệc nắm toàn bộ các tư liệu sản xuất và sử dụng được những tư liệu ấymột cách có kế hoạch - xã hội tự giải phóng mình và giải phỏng tất cảmọi thành viên trong xã hội khỏi tinh trạng bị nô dịch, trong đó hiện nay

họ đang bị giam cầm bởi những tư liêu sản xuất do chính tay họ đã làm

ra nhưng lại đối lập với họ như một sức mạnh xa lạ không sao khắcphục nổi, do đó khi nào con người không chi mưu sự, mà lại còn làmcho thành sự nữa, - thi chi khi đó cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nayvẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo mói sẽ mất đi, và cùng vói nó bảnthân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, vì khi đó sẽkhông có gì để phản ánh nữa”2 Nói khác đi, sự phản ánh có tính chấttôn giáo sẽ mất đi khi mọi quan hệ trong đời sống thực tiễn hàng ngàycủa con ngưòi được biểu hiện bằng nhũng mối liên hệ rõ ràng, hợp lý.Tuy nhiên, Ph.Ăngghen cũng lưu ý rằng: “Dưới cái hình thứcthuận tiện, cụ thể và có thể thích ứng được với tất cả mọi tỉnh hỉnh đó,tôn giáo vẫn có thể tiếp tục tồn tại vói tư cách là một hình thức trực tiếp,nghĩa là một hình thức cảm xúc trong quan hệ của con

người đối với các lực lượng xa lạ, tự nhiên và xã hội đang thống trị họ”3

1.3.2 Tính chính trị

Những hình thức tín ngưỡng tôn giáo trong thời kỳ nguyên ’ '

C.Mác vả Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia H2002 t20 tr438

I thủy không mang tính chính trị, còn những tôn giáo ra đời trong xã Ịhội có giai cấp đều phản ánh lợi ích của một giai tầng nhất định ! trong

xã hội Trong xã hội nguyên thủy, con người tưởng tượng ra I nhiều vịthần khác nhau đại diện cho sức mạnh tự nhiên và xã hội

1 ‘Khi nhà nước ra đời, hình thành một nhà nước thống nhất, một vị ! hoàng đế thống nhất, thi tôn giáo độc thần xuất hiện Quan niệm về '

Trang 14

? C.Mác và Ph.Ăũgghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1995, t.21, tr.20.

một vị thượng đế, một chúa hời duy nhất sáng tạo và quyết định mọi trật

tự trong tự nhiên và xã hội trở thành cơ sở biện hộ cho sự ; thống nhất quyền lực ừong tay một người duy nhất Kết cấu giữa thần quyền - thế quyền được thiết lập, giai cấp thống trị đã tìm thấy ờ tôn giáo công cụ ngụy trang tư tưởng cho giai cấp mình, , ngược lại tôn giáo nhờ đó mà được củng cố, duy tri, phát triển

1.3.3 Tính quần chúng

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang tính phổ biến, một tôngiáo cụ thể nào đấy ra đời từ một dân tộc, một quốc gia nhưng nó cóthể tồn tại lan truyền và phát triển sang nhiều quốc gia khác và thậmchí trở thành tôn giáo của toàn nhân loại Ph.Ăngghen nhận định: “CơĐốc giáo cũng như mọi phong trào cách mạng lớn, đều do quần chứngtạo nên”1 Đối tượng “quần chúng” mà tôn giáo tuyển chọn ban đầuchủ yếu là những người đau khổ và bất hanh, thuộc những tầng lớpnhân dân thấp nhất

Tính chất quần chứng của tôn giáo còn thể hiện ở điểm, tôn giáo

có khả năng tập hợp xung quanh mình đám đông tín đồ, cùng : mộtđức tin, trung thành với đức tin ấy và phấn khích tinh thần đám Ị đông

ấy sẵn sàng thực hiện một lý tưởng tôn giáo nào đấy Ph.Ăngghennhận xét: “Cơ Đốc giáo, hoàn toàn cũng như chủ nghĩa xã hội hiệnđại, nắm lấy quần chúng qua hình thức những ■giáo phái này khác, và

1.4 Chức năng của tôn giáo

1-4.1 Chức năng thế giới quan (chức năng phản ánh)

Tôn giáo là một trong những hình thái của ý thức xã hội do đó,cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, đều có chức năng phản ánh

Trang 15

8

tồn tại xã hội Song, sự phản ánh của tôn giáo là một sự phản ánhhoang đường, là một thế giới quan lộn ngược vì trong tôn giáo, conngười đã biến cái chủ quan thành cái khách quan, biến cái chi tồn tạitrong tư duy của minh, trong sự tường tượng của mình thành một cáitồn tại ờ bên ngoài tư duy của mình và gán cho nó một sức mạnh siêunhiên

1.4.2 Chức năng đền bù

Tôn giáo ra đời chính là sự bù đắp cho những bất lực của conngười trước tự nhiên và xã hội, những gì mà con người không thể đạtđược trong thế giới thực tại này thi họ sẽ trông chờ và hy vọng đượcthỏa mãn trong thế giới tâm linh của họ Chính vì vậy C.Mác so sánh

tôn giáo là “thuốc phiện của nhân dân”1 2 So sánh tôn giáo như là

“thuốc phiện” của nhân dân với ý nghĩa nó là liều thuốc xoa dịu nỗiđau trần thế của con người, nhung “thuốc phiện” không giúp conngười chữa lành bệnh tật, nỗi đau khổ và bất cồng của xã hội một cách

triệt để, “tình cảm tôn giáo cho rằng “nhà nước và các cơ quan chỉnh

quyền” không có khả năng “cứu chữa khỏi những tai họa lớn” và đi

tim phương thuốc cứu chữa khỏi những tai họa

1C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia H.1995 121 tr20 2C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia H.1995 tl tr570

Trang 16

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, tl2, tr.170.

ấy trong “sự hòa hợp của những tấm lòng Cơ Đốc giảo ”, là một tình cảm rât tự cao và rất tự mãn" 1 , tôn giáo là thứ rượu tinh

thần làm cho người nô lệ của tư bản mất phẩm cách con người, quên hết những điều họ đòi hỏi để được sống một cuộc đời đôichút xứng đáng vói con người2 Thuốc phiện sẽ làm tê liệt ý chí đấu tranh của con người, ru ngủ quần chúng trong vòng xiềngxích trói buộc con người mà vân tự nhận là mình được tự do, cảm thấy hanh phúc dù hạnh phúc chi có trong quan niệm và tưởngtượng Nên suy cho cùng, mọi sự đền bù đó chi là hư ảo, huyễn hoặc

Ngoài việc coi tôn giáo là thứ thuốc phiện, C.Mác cũng coi tôn giáo là thứ tình cảm trong một xã hội vô tình, là tinh thần củatrật tự không có tinh than, đặc biệt, C.Mác nhấn manh, ngoải việc là thuoc phiện ru ngủ và xoa dịu nỗi đau con người, tôn giáocòn là sự thức tinh” trái tim con người, tôn giáo vừa là kết quả của sự khôn cùng của hiện thực, vừa là sự phản kháng chống lại sựkhôn cùng hiện thực ấy, trước hết về mặt tư tường, ví như các cuộc cải cách tôn giáo, khi đó “cách mạng bắt đầu trong óc người

thầy tu, cũng giống như bây giờ cách mạng bắt đầu trong đầu óc nhà triết học”1 .

Tuy nhiên, sự phản kháng ấy là vô vọng và tôn giáo không tìm lôi thoát từ hiện thực mà lại đi tỉm sự giải thoát ở trên trời, ởthé giới bên kia sau khi chet Nên nó được so sánh và ví như một sự giải thoát, sự đền bù hư ảo, thuốc phiện cũng là bởi nghĩa đó

1.43 Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức của con ngưởỉ

Chức năng đieu chỉnh hành vi đạo đửc của tôn giáo được bắt nguôn từ niêm tin vào đấng siêu nhiên là một biểu tượng của sựthánh thiện, có sức mạnh toàn năng và định đoạt số phận của họ, nhô niềm"tin ấy, những tín đồcoi bộ luật luân lý, đạcrđửc trongtôn giáo là bộ luật chân chính mà họ có nghĩa vụ tự nguyện thực hiện, do đó, những điều răn dạy, cấm đoán của tôn giáo có tácdụng điều chinh hành vi của con người hướng đến những điều thánh thiện Đạo Cơ Đổc được thể hiện rõ ràng trong ý thức về tộilỗi của mỗi một con người, đồng thời qua cái chết đày hy sinh của người sáng lập ra nó, đạo Cơ Đốc đã tạo ra một hình thức dễhiểu về sự cứu vớt nội tâm đã ra khỏi hư hỏng, về sự an ủi trong tâm thức mà tất cả mọi người đã khao khát tìm đến

1.4.4 Chức năng liên kết xã hội

Khi nghiên cứu về lịch sử và bản chất của đạo Cơ Đốc sơ kỳ, Ph.Ăngghen đã từng nhấn mạnh đến chức năng liên kết của tôngiáo Đạo Cơ Đốc sơ kỳ được nảy sinh như một phong trào của những người bị áp bức, của những người nô lệ và nghèo khổ vàngười vô quyền của các dân tộc bị La Mã chinh phục mà chính vì nhờ sự bức hại ấy mà đạo Cơ Đốc đã khai phá con đường tiếnlên một cách thắng lợi mà không một lực lượng nào có thể kìm giữ được2

Trong lịch sử tồn tại của mình, tôn giáo thể hiện như là một yéu tố góp phần củng cố sự bền vững của các hệ thống xã hội,đồng thời cũng góp phần làm rạn nứt các mối quan hệ xã hội khi các mối quan hệ đó không còn phù hợp với lợi ích của xã hội

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính tri quốc gia, H.1995, t.l, tr.594 581.

2 Xem C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính tộ quốc gia, H.1995, t.22, tr.663.

Trang 17

2 0

Chẳng hạn, trong xã hội nguyên thủy, tôn giáo giữ vai trò liên kết các thành viên dựa trên tín ngưỡng chung của cộng đồng thôngqua việc thờ cúng, hoặc qua sự thống nhất chung của các thành viên trong việc thực hiện hành vi thờ cúng Trong các xã hội cógiai cấp đối kháng, tôn giáo vẫn giữ chức năng liên kết của mình biểu hiện ở chỗ, kết dính các nhỏm xã hội (có khi là đối khángnhau) để củng cố và ổn định chúng Thời kỳ phong kiến ở châu Âu, nhà thờ đã thể hiện đầy đù nhất chức năng liên kết, nó đóngvai trò là chỗ dựa thần thánh cho cac the lực the tục, giáo hội Roma đã thống nhất toàn Tây Âu phong kiến - bất chấp tất cả nhữngcuộc chiến tranh nội bộ - thành một chinh thể chính trị lớn đối lập với thế giới Hy Lạp thuộc giáo phái ly khai, cũng như đối lập vóithế giới Hồi giáo Đến thời kỳ tư bản chủ nghía, vai trò liên kết của nhà thờ có phần giảm sút, song tôn giáo vẫn có vai trò nhấtđịnh ừong việc hình thành các quốc gia dân tộc, biểu hiện dưới dạng ý thức dân tộc Cuộc cải cách của J Calvin đã trở thanh lá cờcho những người cộng hòa ờ Giơnevơ ờ Hà Lan và ở Scotland đã giải phóng Hà Lan khỏi ách thống trị của Tầy Ban Nha và của

đế chế Đức Ngày nay, tôn giáo vẫn thể hiện chức năng liên kết, đặc biệt ừong các nước mà tôn giáo giữ vai trò là quốc đạo

1.4.5 Chức năng chuyển tải, bảo lưu bản sắc văn hóa

Tôn giáo là một trong những thành tố góp phần tạo nên tính đạc thu va bản săc văn hóa của một quốc gia Cơ Đốc giáonguyên thủy bắt nguồn và phát triển từ nền văn hóa Do Thái nên nó cũng phản ánh tính cách, đặc trưng, bản sắc của cộng đồngngười Do Thái, nhưng sau đó, nó lại tồn tại và phát triển ở Hy Lạp và La Mã do đó, nó lại là một hình thái đặc thù của văn hóa Hy

La - thứ triết học Hy Lạp đã được thông tục hóa, nhất là triết học ìchắr kỷ.

Trong quá trình truyền đạo, tôn giáo thường tiếp xúc với các nền văn hóa và các quốc gia sớm hơn rất nhiều so với nhữngquan hệ ngoại giao chính thức, do vậy, tôn giáo đóng vai trò như một yếu tố góp phần giao lưu giữa các quốc gia, dân tộc và giữacác nền văn hóa

Trang 18

1.5 Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội

Thứ nhất, phái tốn trọng quyền tự do tín ngưởng, tốn giáo và

không tín ngưỡng, tôn giáo của quần chứng

Thủ hai, không xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của người dân, không được phế bỏ tất cả những yếu tố của sự thờ cứng Không được

tuyên bó chiến tranh với tôn giáo và coi đó là nhiệm vụ chính trị củađảng công nhân1 V.I.Lênin coi sai làm lớn nhất và tệ hại nhất củangười mácxít là lầm tưởng rằng, chỉ cần giáo dục chủ nghĩa Mác là

có thể làm cho quần chúng bừng tình khỏi giấc mê tôn giáo

Thứ ba, mọi sự phân biệt quyền lợi giữa những công dân có tín

ngưỡng tôn giáo khác nhau là hoàn toàn không thể dung thứ được.Trong các văn kiện chính thức tuyệt đối phải vứt bỏ thậm chí mọi sự

nhắc nhở tôn giáo nào đó của công dân }.

Thủ tư, một đảng cầm quyền phải kiên trì thực hiện giải phóng

thực sự quần chúng nhân dân khỏi những thiên kiến tôn giáo, khỏi đám mây mù tôn giảo, khỏi tình hạng bị nô dịch tinh thần bởi tôn

giáo, phê phán cái “thế giới” mà lạc thú tinh thần cùa nó là tôn giáo, là

xóa bỏ cái hạnh phúc ảo tưởng mà con người đang ữông chờ ở tôn

ngươi tự giai phong mình khỏi sự trông chờ vào cuộc sống cực lạc ở thếgiới bên kia

Thứ năm, Đảng Cộng sản không được hữu khuynh, cơ hội thỏa

1Xem V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, tl7, tr.511.

2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t!2, tr.170-171 •

Trang 19

V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.200S, t.17, tr.519-520.

2

2

hiệp với tôn giáo với vỏ bọc “tôn giáo là việc cá nhân” từ đó dan tơi thái

độ điêu hòa với tôn giáo và giáo hội, làm phương hại đên cuộc đau tranhgiai cấp của giai cấp vô sản

Đối với một tổ chức đảng thl tôn giáo, bất luận thế nào không thể

coi là một việc tư nhân được 1 , có nghĩa là, một iổ chức đang khong the

thờ ơ trước tinh trạng người dân hay đảng viên của minh thiếu giác ngộ,hoặc bị mê muội bởi tôn giáo Một đảng cầm quyền không thể thỏa hiệptrước việc tuyên truyền thuyết tạo thần mang tính chất chính trị - xã hộinhằm chống lại đảng cộng sàn và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.Một đảng cầm quyền không thể thờ ơ với những biểu hiện tiêu cực củatôn giáo hay sự lợi dụng tôn giáo

Thủ sáu, với nhà nước lại phải coi tôn giáo là việc tư nhân tức là

“Nhà nước không được chi bất cứ một khoản phụ cấp nào cho quốc giáo,cũng như cho các đoàn thể giáo hội và các đoàn thể tôn giáo, nhữngđoàn thể này phải là những hội của những công dân cùng theo một tôngiáo, những hội hoàn toàn tự do và độc lập với chính quyền”2 Phải xâydựng một nhà nước thế tục, không chủ trương thiết lập một tôn giáo

“quốc doanh” Tất cả các đoàn thể tôn giáo đều được nhà nước coi lànhững hội tư nhân, không bị ràng buộc bởi nhà nước, không được trợcấp bằng công quỹ, không có địa vị thống trị trong nhà nước Mọi tôngiáo và các tổ chức giáo hội đểu bình đẳng trước pháp luật

Thủ bảy, việc kết nạp vào Đảng những người có đức tin, theo chủ nghĩa

Mác-Lênin: “Không nên nhất luật, và bất cứ trong trườnghợp nào, cũng tuyên bố rằng các linh mục không thể trở thảnh đảngviên Đảng dân chủ - xã hội, nhưng lại càng không nên‘nhất' luật tuyên

bố ngược lại Nấu có một linh mục nào lại cùng đi với chúng ta để cùnghoạt động chính trị, tận tâm làm tròn nhiệm vụ của mình trong đảng vàkhông chống lại cương lĩnh của đảng, thì chúng ta có thể kết nạp người

ấy vào hàng ngũ Đảng dân chủ - xã hội và giả sử có một linh mục nào

đã vào Đảng dân chủ - xã hội rồi mà lại tien hành việc tuyên truyền tích

Trang 20

’ Xem V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005 t.12 tr 170-171 171

cực cho những quan niệm tôn giáo ờ trong nội bộ đảng ấy, coi đó làcông tác chủ yếu và gần như là công tác duy nhất của minh, thì đảngnhất thiết phải khai trừ linh mục ấy ra khỏi hàng ngũ của đàng”1

2 TƯ TƯỞNG HỔ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho các thế hệ sau di sản tư tưởngquý báu về nhiều lĩnh vực, ừong đó có lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo Tưtưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo và phát triển lýluận của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trong điều kiện thực tiễn củaViệt Nam, nhằm mục tiêu cao cả là giải phóng dân tộc, đem lại cuộcsống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam, góp phần xâydựng một thé giới hòa bình thịnh vượng, mọi người đều được phát triểntoàn diện

Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh không trinh bày hệ thống lý luận vềbản chất, nguồn gốc, tính chất tôn giáo nhưng tư tưởng của Người vềtôn giáo lại có sự độc đáo, thể hiện tính sáng tạo và đặc biệt là thấmđẫm giá trị nhân văn và phát triển Từ những bài viet, bài nói, những lòi

di huân về tôn giáo cho đén những cử chi hành động, sự ứng xử củaNgười đối với chức sắc, nhà tu hành tín đồ các tôn giáo đều luồn thểhiện sự tinh tế trong tiếp cận tôn giáo sự am tường sâu sắc về văn hóa,tôn giáo Việt Nam, tinh thẩn

Trang 21

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chinh trị quốc gia, H.2011 t.3 ừ 458

2 4

khoan dung, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo, hòahợp dân tộc Chính vì vậy, chính sách “tự do tín ngưỡng, đoàn kết lươnggiáo” do Người khởi xướng và lãnh đạo tổ chức thực htẹn đã có sức lantỏa lớn lao, cảm hóa được đổng đảo đội ngũ chức săc, nha tu hanh và tín

đồ các tôn giáo, giúp họ xóa bỏ mặc cảm, đồng lòng, đồng sức tích cựctham gia sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa

xã hội

2.1 Tiếp cận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủnghía Mác-Lênin về tôn giáo, không chỉ thấy tôn giáo là một hiện tượng

xã hội mang tính đặc thù, mà còn xem tôn giáo là một thành tố, bộ phậncủa văn hóa Từ trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch, trong mục

Đọc sách của tập Nhật kỷ trong tù, Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng

như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh rangôn ngữ, chữ viểt, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hăng ngày về mặc, ăn, ở và cácphương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức làvăn hóa Văn hóa là sự tổng họp của mọi phương thức sinh hoạt cùngvới biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhữngnhu cầu đời sông và đòi hỏi của sự sinh tôn”1 Vì tôn giáo ỉà một bộ phậncủa văn hóa nên nó mang chứa bản chất nhân văn, nhân đạo của văn hóa.Chính từ cách tiếp cận tôn giáo không chỉ với tư cách là một “phạm trùchính trị” mà còn với tư cách “phạm trù vãn hóa”, Chủ tịch Hô Chí Minh

đã phát hiện ra nhiều giá trị quý báu ẩn chứa trong tôn giáo

Các nhà kính điển của chủ nghĩa Mác đã làm sáng rõ bản chất tôn giáo

với tính cách một hình thái ý thức xã hội, một tiểu hệthống kiến trúc thượng tầng (cả ý thức tôn giáo và thiết chế tôn giáo).Chủ tịch HồChí Minh đã Tcế thừầ vả phảt triển quan điểm của chủ

nghĩa Mác-Lênin khi nhìn nhận tôn giáo là một thực thể xã hội, bao

gồm cả ý thức, thiết chế và cả với tính cách là một lực lượng đông đảo

Trang 22

quần chúng nhân dân có tín ngưỡng Và chính trong sự nhìn nhận đó,giá trị nhân văn và phát triển trong tư tường của Người về tộn giáocàng tỏa sáng Người không chỉ thông cảm với sự cùng khổ của quầnchúng nhân dân, cả người có tín ngưỡng và không tín ngưỡng tôn giáokhi bị áp bức, bóc lột, phải sống cảnh lâm than với thần phận của ngườidân mất nước, mà còn nhận thấy và trân trọng những phẩm chất tốtđẹp, tin tưởng và khích lệ tinh thân yêu nước của đồng bào có đạo vìmục tiêu chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng và bảo đảm quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩaMác-Lênin trong giải quyết vấn đề tôn giáo C.Mác từng khẳng định,

“Đặc quyền tín ngưỡng là một quyền phổ biến của con người” 1 Trung

thành và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôngiáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những đã cụ thể hóa nội dung quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn bo sung, nâng tầm ý nghĩa của tự dotín ngưỡng, tôn giáo khi đặt nó trong mối quan hệ gắn bó với độc lậpdân tộc Theo Người tự do tín ngưỡng, tôn giáo có quan hệ hữu cơ vớivận mệnh dân tộc vì “nước có độc lập thì tôn giáo mới được tự do” Sựnghiệp giải phóng dân tộc nhằm mục tiêu tối cao là đem lại tự do, hạnhphúc cho đồng bào, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo Neu khôngđạt mục đích ây thỉ độc lập cũng chẳng có nghĩa gì Tự do tín

ngưỡng, tôn giáo là quyền lợi của người dân trong một nước tự do, độclập, đồng thời là nhân tố để thực hiện đoàn kết dân tộc Từ đó Chừ tịch

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải nhất quán và triệt để thực hiện quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo cùa đồng bào

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn xuất phát

từ lòng khoan đung, tôn trọng đức tin của mỗi người Chủ tịch Hồ ChíMinh nhấn mạnh: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Giatô tin ở đứcChúa Tròi; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng Đó là những vị chí tôn

Trang 23

C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1995 U tr549

2

6

nên chúng ta tin tưởng”1 Người chi ra rằng: ‘Tôn giáo là duy tâm, cộngsản là duy vật”2, chủ nghĩa duy linh và chủ nghía duy vật khác nhau, rõràng là thế, nhưng không vì vậy mà bài xích, nghi kỵ nhau; ngược lại,phải tôn trọng đức tin cùa mỗi người

Một xuất phát điểm khác nữa để Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao việctôn trọng và bảo đảm quyển tự do tín ngưỡng, tôn giáo là: Quyền tự dotín ngưỡng, tôn giáo là một giá trị phổ quát và tiến bộ của nhân loại Làngười bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm-đường cưu nươc, Chù tịch HoChí Minh đã tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại, chọn lọc vả tiếpnhận, phát huy những giá trị phổ quát nhât, tiên bộ nhât trong xã hộihiện đại để phục vụ cho sự nghiệp đâu tranh gianh độc lập dân tộc, tự do

và hạnh phúc của nhân dân

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cấucủa nhân dân, là quyền con người không ai được xâm phạm đông thời làmột trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam Bởi vậy, trong suốtquá trình lãnh đạo cách mạng, Người luôn nhất quán cả trong ta tưởng

và hành động việc thực hiện quyền tự do tía ngưỡng, tôn giáo của nhândân Năm 1945, chi một ngày sau khi nước nhà độc lập, trong phiên họpđầu tiên của Chính phủ lâm thời

‘ HỒ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, ừ 169.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.8, ừ.200.

Trang 24

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định việc thực hiện chính sách tôntrọng tự do tôn giáo, đoàn kết lương giáo là một trong sảu vẩn đề cấpbách nhất cần giải quyết Người nói: “Thực dân và phong kiến thi hànhchính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị.Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG Tự DO và lươnggiáo đoàn kết”1.

Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ừên thực tế, Chủtịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo soạn thảo và ký ban hành Sắclệnh số 234/SL ngày 14-6-1955 về vấn đề tôn giáo, sắc lệnh gồm 5chương, 16 điều, quy định chi tiết, cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo của nhân dân Nội dung cùa sắc lệnh phù hợp với tinh thần củaCông pháp quốc tế hiện hành và được đồng bào có đạo nhiệt tình ủng

hộ, đón nhận

Không chi dừng lại ở việc bảo đảm pháp lý cho quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề ra cách thức, giảipháp để hiện thực hóa quyền này trong đời sống xã hội Theo Người, cả

hệ thống chính trị phải quan tâm giải quyết vấn đề tôn giáo, trong đóĐảng, Nhà nước là nhân tố quan trọng nhất Người chỉ đạo: “Các cấp

ủy phải thật sự quan tâm đến phần đời và phần đạo của đồng bào Cônggiáo”1 2 Người thường xuyên nhắc nhờ cán bộ, đảng viên phải thật tôntrọng quyền tự do tín ngưỡng; khi tiếp xúc với đồng bào có đạo phải tếnhị, tránh xúc phạm đến niềm tin tôn giáo cũng như phong tục tập quáncủa đồng bào

Trước hiện tượng một so cán bộ, đảng viên cỏ thành kiến với tôngiáo, ứng xử chưa thật tế nhị khi tuyên truyền vận động đồng bào Cônggiáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê phán Đồng thòi, khiphát hiện sai lầm cùa cán bộ, đảng viên trong thực

hiện chíni sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã kiên quyết chỉ đạo khắc phục và yêu cầu cán bộ, đảng viên “Phải

1 Hồ Chi Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr.8.

2Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t!4, tr.102.

Trang 25

“tốt đời, đẹp đạo”.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng tôn giáomang tính nhất quán và hết sức đứng đắn, phù hợp vói Công phápquôc tê và với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam; vưa đảm bao được lọiích của dân tộc vừa đảm bảo quyền tự do, dân chủ của nhân dân Đặcbiệt, tư tưởng đó không chi dừng lại ờ lời nói mà

Tu rô ở “ động cụ thể của Người früug xây dựng chinh

sách luật pháp và trong lãnh đạo tổ chức thực hiện để đảm bảo mọingười dân Việt Nam được hưởng và thực hiện đứng quyên tự do tínn^öng tôn giáo trong thực tế Điều đó có tác dụng to lớn trong việc giúpđồng bào các tôn giáo xóa bỏ mặc cảm, định kiến- tin tưởng và đoàn kétmột lòng theo Đảng, theo cách mạng

2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kểt tôn giáo

Đoàn kết tôn giáo là một nội dung nổi bật và xuyên suốt trong tưtường Hồ Chí Minh về tôn giáo Người khẳng định rõ mục tiêu củađoàn kết tôn giáo là nhằm mục tiêu hòa bmh thống nhat To quôc vàxây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ

Trang 26

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.13 tr.454

bảo vệ Tổ quốc: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kếtmuôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại lúc nào dân takhông đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”1

Cùng với kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc, Chủ tịch HồChí Minh còn kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lýtrong tư tưởng đoàn kết lương giáo của các sĩ phu yêu nước tiêu biểunhư Cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu và của các văn thân tiến bộkhác đầu thế kỷ XX

Thứ hai, kế thừa tinh hoa văn hóa Đông - Tây về hòa hợp tôn giáo

và truyền thống tồn tại đan xen, hòa đồng của các tôn giáo ở Việt Nam.Bản thân trong nhiều triết thuyết và giáo lý tôn giáo có đề cập đến vấn

đề sống hòa hợp, cố kết cộng đồng fren tinh thần bình đẳng, nhân ái.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu những giá trị hợp lý trong các triếtthuyết, tôn giáo cũng như tư tường đoàn kết xã hội, đoàn kết dân tộccủa các nhà cách mạng đương thời như Tôn Trung Sơn, J.Nêru, Bêncạnh đó, chính đặc điểm tồn tại đan xen, hòa đồng giữa các tôn giáo,tín ngưỡng ờ nước ta cũng là cơ sở để Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳngđịnh tính quy luật của đoàn kết'tôn giáo

Thứ ba, ké thừa quan điểm của chù nghĩa Mác-Lênin về vai trò

của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng Ke thừa và vận dụng sángtạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về đoàn két tập hợp các lựclượng cách mạng trong điều kiện cụ thể ờ Việt Nam

Trang 27

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr.19.

3 0

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng đinh: “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩđại hon hết Không ai chiến thắng được lực lượng đó”1 Nhận thức rõđoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo là mang tính tất yếu néu muốn sựnghiệp cách mạng giành được thắng lợi, Người đã đưa ra kêt luận chầnlý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoản kết Thành công, thành công, đại thànhcông”

Thứ tư, chống âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, chống

phá cách mạng của kẻ thừ Các thế lực thực Hân đế quốc luôn âm mưuchia rẽ, phá vỡ khối đoàn kết dân tộc để dễ bề thôn tính, nô dịch dân tộcViệt Nam Trên thực tế, những âm mưu lợi dụng tôn giáo của thực dân,

đế quốc và bè lũ tay sai đã gây ra không ít tổn thất cho cách mạng Vìvậy, đoàn kết hromg giáo là nhằm chống lại âm mưu thâm độc, lợi dụngtôn giáo chống phá cách mạng của kẻ thù

* Nội dung đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào tôn giáo là bộ phận khôngthê tách rời của dân tộc Việt Nam; đoàn kết tôn giáo nằm trong chiếnlược đại đoàn kết toàn dân tộc và không ngoài mục đích là để giành độclập cho dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, mọi người dân dù có haykhông có tôn giáo, dù theo các tôn giáo khác nhau, đều có cuộc sống ấm

no, tự do, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện Nội dung cơbản của đoàn kết tôn giáo theo tư tường Hổ Chí Minh bao gồm: Đoànkết giữa đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo với đồng bào không có tínngưỡng tôn giáo; đoàn kết giữa đồng bào có các tín ngưỡng tôn giáokhác nhau; đoàn kết giữa đồng bào trong mỗi một tôn giáo trong khốiđại đoàn kết dân tộc

Đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bàokhông tín ngưỡng tôn giáo là nội dung trọng tâm hàng đầu được

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm Người nhận thức rõ do sự chiphối của ý thức tôn giáo, nên đồng bào các tôn giáo có những nét khácbiệt nhất định về thế giới quan, nhân sinh quan, niềm tin và giá trị,

Trang 28

chuẩn mực văn hóa, so với đồng bào không theo tín ngưỡng tôn giáo.

Do sự khác biệt đó, nếu không có sự nhìn nhận đúng đắn và lòng khoandung, rất dễ dẫn tới sự mặc cảm, kỳ thị lẫn nhau Bời vậy, muốn thựchiện đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kểt dân tộc, trước hét phảithực hiện đoàn kết giữa đồng bào có đạo và đồng bào không theo đạo.Điều đó theo Người hoàn toàn có thể thực hiện được, vi đồng bào dùlương hay giáo đều có lòng yêu nước và mong muốn có cuộc sống ấm

no, tự do hanh phúc Người nhấn mạnh: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa

đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời

sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc”1

Thực hiện đoàn kết giữa đồng bào có đạo và không theo đạo vấn

đề quan trọng là không được phân biệt đối xử vi lý do có tín ngưỡng,tôn giáo hay không Mọi người phải được bình đẳng trước pháp luật vềquyền và nghĩa vụ Trong cuộc tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên, Chùtịch Hồ Chí Minh khẳng định: ‘Tất cả công dân trai gái mười tám tuổiđều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo,dòng giống, v.v ”1 2

Một vấn đề được nhiều đồng bào có đạo quan tâm là liệu nhữngngười cộng sản, là những người có lập trường vô thần, có thật sự đoànkét với quần chúng tín đồ các tôn giáo hay không? Đây cũng là vấn đểthường bị chủ nghĩa thực dân, để quốc tuyền truyền xuyên tạc nhằmlàm cho đồng bào có đạo mất niềm tin vào chế độ mới Thấu hiểu vàthông cảm với những băn khoăn vướng

mắc trong nhận thức, tình cảm của đồng bào có đạo, Chủ tịch Hồ ChiMinh đã nhiều lần nhấn mạnh: Mục đích Đảng, Chính phủ theo đuổi làchiến đấu vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dan, trong

đó có đông bào các tôn giáo Song, để đạt được mục đích đó cho mọingười, cần xây dụng chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh con giải thích chođong bào hỉeu rõ lý tưởng tôn giáo có sự tương đông với mục tiêu, lý

1Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011,1.13 tr.454

2Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4 tr.7.

Trang 29

2

tường cộng sản, vi vậy, việc đồng bào các tôn giao đoàn ket, thi đuayêu nước, thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Chinh phủ làhoàn toàn phù hợp với ý nguyện của Đức Chúa, Đức Phật

Trong việc đoàn ket giữa những người cộng sản và những người

có tín ngưỡng, tôn giáo, vấn đề nhạy cảm mà cán bộ đảng viên cũngnhu đồng bào có đạo thường có mặc cảm, thảnh kiến đó là vân đề kếtnạp đảng viên là người có đạo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyếtvấn đề này một cách thỏa đáng, vừa có lý vừa có tình Người khẳngđịnh rõ sự khác biệt về thế giới quan giữa người cộng sản và người cóđạo, giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng không vì thế

mà ngăn cản chức sắc, tín đồ tôn giáo muốn vào Đàng để được phấnđấu và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng

Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, vì vậy, để xâydựng được khối đoàn kết dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rang, cungVƠI đoàn kêt giữa đọng bào không có tín ngưỡng tôn giáo và đồng báo

có tín ngưỡng tôn giáo, còn phải đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng,tôn giáo khác nhau Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong hoàn cảnhmất nước, đồng bào các tôn giáo cùng chung cảnh bị áp bức, bóc lộtnặng nề, sống trong cảnh lầm than Nước có độc lập thì các tôn giáo mớiđược tự do, vì vậy, đồng bào các tôn giáo cân đoàn kết với nhau ừongkhối đoàn kết dân tộc vi mục tiêu giải phóng dân tộc

Thực íế cho thấy, các tôn giáo thường bao gồm rất nhiều tín đồ cóthành phần xã hội khác nhau, bản thân vị trí của các nhà tu hành, chứcsắc và tín đồ trong tôn giáo cũng khác nhau, nên tư tường, thái độ, tìnhcảm và thậm chí cả đức tin có những điểm khác nhau là điều bìnhthường Nhưng vì vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, càng phải chútrọng tới đoàn kết trong nội bộ các tôn giáo vì mục tiêu chung của dântộc Do đó, Người nhiều lần kêu gọi đồng bào các tôn giáo và nhắnnhủ các vị chức sắc, nhà tu hành tôn giáo cần đoàn kết thật tốt trongnội bộ tùng tôn giáo trên cơ sờ cùng phấn đấu vì độc lập dần tộc và

Trang 30

cuộc sống “phần xác ấm no, phần hồn thong dong” của đồng bào.Theo Người, để đoàn kết trong nội bộ tôn giáo theo tinh thần đó, cácchức sắc, nhà tu hành và tín đồ mỗi tôn giáo cần thực hiện lối sống “tốtđời, đẹp đạo”: với đồng bào Công giáo đó là “kính Chúa yêu nước”,với đồng bào Phật giáo đó là “Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha”, V.V

Với chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, Người yêu cầu không chỉ bản thânthực hiện tốt phương châm đó mà còn phải tuyên truyền, khuyến khíchtín đồ trong mọi công việc ích nước, lợi dân Đặc biệt, Người rất coitrọng việc nêu gương người tốt, việc tốt trong đồng bào tôn giáo, coi

đó là hạt nhân để đoàn kết nội bộ tôn giáo và đoàn kết dân tộc

* Phương châm, biện pháp đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc theo tư tường Hồ Chí Minh cóthể được khái quát trong phương châm: Rộng rãi - Toàn diện - Nhấtquán - Chặt chẽ - Lâu dài Đối tượng đoàn kết tôn giáo, theo Chủ tịch

Hồ Chí Minh là rất rộng lớn, đoàn kết không chi giữa đồng bào lương

và đồng bào giáo, giữa đồng bào các tôn giáo với cán bộ, đảng viên màcòn giữa đồng bào các tôn giáo với nhau và giữa đồng bào trong từngtôn giáo nhằm tạo thành sức manh tổng

của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đoàn kết tôn giáo phải mang tínhtoàn diện, đoàn kết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xãhội, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, Ỵ.V Đoàn kết tôn giáo phảimang tính nhất quán, từ chủ trương, chính sách, pháp luật đến tổ chứcthực hiện; từ tư tưởng, tinh cảm đến hành vi ứng xử đều phải thể hiệntinh thần đoàn kết; ữong mọi hoàn cảnh, điều kiện đều phải có tinh thầnđoàn kết Không những vậy, đoàn kết tôn giáo phải chặt chẽ, thật lòng.Đồng thời, theo Người, đoàn kết lương giáo không phải là một thủ đoạnchính trị mà là một chinh sách lâu dài; là bộ phận quan trọng trong chiếnlược đại đoàn kết toàn dân tộc với phương châm: “Đoàn kết, đoàn kết đạiđoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”

Trang 31

4

Chù tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần đoàn kết tôn giáo,đoàn kết dân tộc Người không chỉ đề ra chính sách đoàn kết tôn giáo,đoàn kết dân tộc một cách đúng đắn, phù hợp vói thực tiễn Việt Nam vànguyện vọng của nhân dân, mà còn là tấm gương mẫu mục trong đoànkết với đồng bào các tôn giáo Phương pháp đoàn kết tôn giáo trong tưtưởng của Người vừa mang tính khoa học, sát hợp với thực tiễn, vừamang tính nhân vãn sâu sắc:

Một là, “Cầu đồng, tồn dị”, tìm kiếm, phát huy những điểm tương

đồng, đồng thời tôn trọng sự khác biệt, để đi tói sự thống nhất

Hai là, lấy lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền lợi căn bản của

nhân dân làm mẫu số chung để đoàn kết tôn giáo

Ba là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của

nhân dân

Bốn là, tôn trọng, đề cao nhân cách các vị sáng lập tôn giáo và vai

trò của chức sắc, nhà tu hành tôn giáo

Năm là, quan tâm đến đời sống của đồng bào các tôn giáo.

2.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy giá trị của tôn giáo

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo lý các tôn giáo dù khác nhaunhưng đều có điểm chung là đề cao tính nhân đạo, hướng thiện của conngười Người viết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái Phật Thích Cadạy: Đạo đức là từ bi Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”1 Tưtưởng bác ái của Chúa Giêsu, tư tưởng từ bi, hỉ xả, vô ngã vị tha củaĐức Phật và tư tường nhân nghĩa của Khổng Tử có sự tương đồng với

lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Người trân trọng và đềcao nhân cách, sự đóng góp của các vị sáng lập tôn giáo đối với tiến bộcủa nhân loại và đề nghị mọi người học tập, noi gương

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định, tín đồ các tôn giáo ờViệt Nam căn bản đều yêu nước Người nhấn manh: “Tôi tin vào lòngnồng nàn yêu nước của đồng bào Tôi mong rằng mỗi người đều cốgắng làm hòn nhiệm vụ, để đến ngày Tổ quốc thống nhất và độc lậpthật sự, mỗi người đều có thể tự hào rằng: ‘Tôi đã góp một phần vào

Trang 32

thắng lợi chung””1 2 Người giải thích cho đồng bào các tôn giáo hiểurõ: sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chùnghĩa mà cả dân tộc Việt Nam đang thực hiện phù hợp với lý tường củacác tôn giáo chân chính; đồng bào các tôn giáo tích cực tham gia côngcuộc kháng chiến kiến quốc là phù hợp với lý tưởng của các vị sáng lậptôn giáo Người kêu gọi đồng bào các tôn giáo phát huy chủ nghĩa yêunước và những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp trong giáo lý tôn giáo đểxây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”.

Đối với chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minhluôn tôn trọng và đánh giá cao vị trí, vai trò của họ trong tổ chức

tôn gỉáo; khuyên khích, động viên họ tham gia vào sự nghiệp giải phóngdân tộc và xây dựng xã hội mới Người cũng luôn trân trọng những đónggóp dù nhỏ của các vị chức sắc, nhà tu hành và khích lệ họ tiếp tục cốnghiến cho đất nước, cho dân tộc

Như vạy, Chủ tịch Ho Chí Minh khổng những trân trọng nhưng gia

tn văn hóa, đạo đức tốt đẹp trong tôn giáo mà còn khuyên khích chứcsăc, nha tu hành và đồng bào các tôn giáo phát huy những giá trị đó trongcuộc sống của bản thân, gia đình và xã hội, góp phần vào thực hiện mụctiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

2.5 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chổng lọi dụng tôn giáo và bài trừ mê tín

dị đoan

ơ Viẹt Nam, tôn giáo là lỉhh vực luôn bị chủ nghĩa thực dân đe quoccau kết vói bọn phản động lợi dụng nhằm chia rẽ khối đại đoàn két dântộc, chống phá cách mạng Bởi vậy, từ rất sớm trên hành trinh tìm đườngcứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý phân tích chỉ rõ đặc điểm nàycủa vấn đề tôn giáo ở nước ta

Trong tác phẩm nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp Người dành

hẳn một chương với tiêu đề “chủ nghĩa giáo hội” để phan tích, lam rõ sự

1Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.7 tr.95.

2Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.6, tr.270-271.

Trang 33

6

cau ket giữa chủ nghĩa thực dân với những kẻ phản động, đột lốt tôn giáo

để thống trị, chiếm đoạt của cải đất đai và bóc lột sức lao động của nhândân Sau khi nước nhà giành được đọc lập, Chủ tịch Ho Chi Minh chothực hiện ngay chính sách “tự do tin ngưỡng, lương giáo đoàn ket” vàđược đông đảo chức sắc nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo đồng tình, ủng

hộ và tin tưởng đi theo cách mạng Tuy nhiên, các thế lực thực dân, đếquốc và bọn phản động trong các tôn giáo vẫn luôn tìm cách lợi dụng tôngiáo vao mục đích chính trị phản động Chúng tuyên truyền bịa đặt “cộngsản ngăn cám, tim cách tiêu diệt tôn giáo”; thậm chí khi

miền Bắc được giải phóng, chúng còn tung tin “Chúa đã vào Nam” vàdùng các thủ đoạn mua chuộc, ỉừa dổi, ép buộc đồng bào Công giáo di

cư vào Nam Để vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân,vừa đấu tranh có hiệu quả chống việc lợi dụng tôn giáo vì mục đíchxấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chi rõ ranh giới rạch ròi giữa một bên làđồng bào tôn giáo chân chính yêu nước vói bền kia là những kẻ “giáogian” vì cam tâm làm tay sai cho giặc, hại nước, phản Chúa Trên cơ sởphân biệt rõ giữa tín đồ chân chính và những kẻ “giáo gian” như vậy,Người chủ trượng: “bảo vệ tụ do tín ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trịnhững kẻ đội lốt tôn giáo đã phàn Chúa, phản nước”1

Tuy nhiên, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong việc đấu tranhchống lợi dụng tôn giáo không được cứng nhắc, vì rất dễ mắc sai làm,trúng ý đồ chia rẽ của kẻ thù Người nhấn mạnh: do các thế lực phảnđộng luôn tìm cách lợi dụng tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc,nên một bộ phận người Việt Nam đã sa ngã, bám theo chân giặc giàyxéo quê hương, còn tuyệt đại quần chúng nhân dân đều có lòng yêunước Hơn nữa, theo Người, ngay cả trong số những người lầm đườnglạc lối, không ít người cũng do hoàn cảnh xô đẩy hoặc bị lừa mị, nếuđược đánh thức lòng yêu nước sẽ trở về với Tổ quốc, với đồng bào.Thấu hiểu và cảm thông sâu sắc với những đồng bào vì nhẹ dạ, cả tin

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.8, tr.313.

Trang 34

đã bị các thê lực phản động dụ dỗ, mua chuộc, ép buộc chống lại cáchmạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: vận động, đánh thức lòngyêu nước, lương tâm con người Việt Nam để họ tỉnh ngộ và quay vềvới con đường chính nghĩa Đổi vói những người đã biét hối cải, quay

về với Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định luôn mờ rộng vòngtay chào đón và họ “sẽ được hoan nghênh rộng rãi như

những người con đi lạc mới về”1 Đồng thời, Người yêu cầu cán bộ,đảng viên, đoàn viên, hội viên các đoàn thể “Không được báo thù báooán Đối vói những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùngchỉnh sách khoan hồng Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ”1 2 Tinhthần khoan dung tôn giáo của Người đã lan toả trong đồng bào các tôngiáo, giúp họ nhận thức rõ chính - tà, nâng cao cảnh giác trước âm mưulợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động; đồng thời, lay động vàkhích lệ lòng yêu nước của các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, giúpnhiều người trong số họ vượt qua mặc cảm, dấn thân phục vụ Tổ quốc,phục vụ nhân dân

Bên cạnh việc kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo vàomục đích chính trị phản động, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quan tâm đếnviệc bài trừ mê tín dị đoan Người nhận thức rất rõ, chế độ thực dânphong kiến đã thực hiện chính sách ngu dân, trói buộc nhân dân ta bằng

cả rượu, thuốc phiện và các hủ tục lạc hậu hòng duy trì sự thống trị lâudài của chúng Mê tín dị đoan là những hủ tục lạc hậu do chế độ cũ đểlại và những tàn dư của chúng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhaunhư đồng cốt, bói toán, cầu đảo, rước xách linh đinh, cúng bái rườm ràtốn kém, Mê tín dị đoan tồn tại được toong xã hội mới là do trình độphát triển kinh tế - xã hội, trinh độ văn hóa và trình độ dân trí quá thấp,người dân không lý giải được các hiện tượng tự nhiên, tin vào nhữnglời nhảm nhí, bịa đặt, lừa bịp của một số kẻ lọi dụng tín ngưỡng của

1Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.5, tr.249.

2Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chinh trị quốc gia, H.2011, t.4, tr.471.

Trang 35

8

người dân để trục lợi cá nhân Theo Người, toong quá trình xây dựng

xã hội mới, cần bài trừ tệ mê tín dị đoan, xóa bộ các hủ tục lạc hậu đểnhân dân có cuộc sống ngày càng văn minh

Để bài trừ tệ mê tín dị đoan, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng,điều quan trọng đầu tiên là phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nếpsống văn hóa mới, trong đó vừa bảo tồn, phát huy những giá trị thuầnphong mỹ tục, vừa tích cực phổ biến các tri thức khoa học Người nhắcnhở: “Có noi còn một số gia đình tổ chức đám ma, đám cưới, ăn uống

xa xi rồi mang nợ cả đời, như thể ỉà không tốt Bây giờ ta phải giữvững thuần phong mỹ tục, thực hiện đời sống mới”1 Xây dựng đờisống mới, theo Người, phải nâng caó trinh độ học vấn, phổ bién

“thường thức khoa học để bớt mê tín nhảm”

Theo Người, mê tín dị đoan tồn tại rất dai dẳng, nên để khắc phụccần kiên trì, nhẫn nại và đặc biệt là phải hét sức khéo léo tế nhị vì nóliên quan đến đời sống tâm linh của quần chứng nhân dân Trong tác

phẩm Đời sổng mới, Người đã phê phán những cán bộ khi tuyên truyền

giảm bớt giỗ, Tét đã nóng vội, có hành động thô bạo, xúc phạm đến tínngưỡng của người dân, và Người cho rằng “Như thế là ngốc” Ngườinhắc nhờ, “tuyên truyền thì phải dần dần nói cho người ta hiểu, đểngưcd ta vui lòng làm, chứ không có quyền ép người ta”2 Người viết

bài 6 điều không nên và 6 điều nên làm, ừong đó nhắc nhở cán bộ, đảng

viên: “Không nên xúc phạm đến tín ngưỡng phong tục của dân (nhưnằm trước bàn thờ giơ chân lên bếp, đánh đàn trong nhà, v.v )” và phải

“Nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi, trước là để gây cảm tình

và sau dần dần giải thích cho dân bớt mê tín”3

Tóm lại, tư tường của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo có nội

dung rất phong phú và chứa đựng giá trị khoa học, giá trị nhân văn sâusắc Tư tường của Người được cụ thể hóa trong chính sách “tín ngưỡng

tự do, lương giáo đoàn kết” và được hiện thực

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011,1.11 tr.234

2,3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011,15, tr.127 501-502.

Trang 36

hóa trong thực tiễn cách mạng đã có tác dụng to lớn trong việc tập hợp,đoàn kết đồng bào các tôn giáo xung quanh Đàng, góp phần xây dựng

và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu chung là độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo vẫn cònnguyên giá trị ừong công cuộc đổi mới hiện nay Mặc dù bối cảnh đấtnước đã thay đổi, vấn đề tôn giáo cũng có những nội dung mới, song tưtưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về tôn giáo nóiriêng vẫn là những chi dẫn hết sức chuẩn mực cần tiếp tục đào sâunghiên cứu để vận dụng sáng tạo vào thực tiễn giải quyét vấn đề tôngiáo vì mục tiêu phát triển một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng, văn minh

c CHỦ ĐÈ THẢO LUẬN

1 Cách tiếp cận nghiên cứu tôn giáo của chủ nghĩa Mác- Lênin?

2 Cách tiếp cận nghiên cứu tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh?

3 Những điểm mới ừong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

về tôn giáo?

D CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Bản chất, tính chất, chức năng và vai trò xã hội của tôn giáo trong xã hội đương đại?

2 Phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo theo quan điểm của

3 Sự vận dụng và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin

về tôn giáo trong tư tường Hồ Chí Minh?

4 Ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo trong công tác tôn giáo hiện nay?

Trang 37

E TÀI LIỆU HỌC TẬP

* Tàỉ liệu bắt buộc

1 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giảo trình Cao

cấp lý luận chính trị: Tôn giáo và Tín ngưỡng, Nxb.Lý luận chính trị,

H.2018

2 Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,

Trung tâm Khoa học về tín ngưỡng và tôn giáo: Trích tác phẩm của

C.Mác-Ph.Ẵngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh về vẩn đề tôn giáo,

H.1998, tr.5-137

* Tài liệu đọc thêm

1 Đỗ Quang Hung: vấn đề tôn giảo trong cách mạng Việt Nam

- Lý luận và thực tiễn, Nxb.Lý luận chinh trị, H.2008.

2 GS, TS Lê Hữu Nghĩa, PGS, TS Nguyễn Đức Lũ (Đồng Chủ

biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giảo

Nxb.Tôn giáo, H.2003

3 Viện Khoa học xã hội Việt Nam: về tôn giáo và tôn giáo ờ

Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2004.

Trang 38

Bài 2

TÌNH HÌNH TÔN GIÁO TRÊN THỂ GIỚI

VÀ ở VIỆT NAM

Ve hen thức: Cung cap cho học viên những kiến thúc cơ bản về tình hình tôn giáo fren thế giói và ở Việt Nam.

về kỹ năng: Giúp học viên vận dụng kiển thức thực tiễn để ưng xử với van đê tôn giáo phù hợp quan điểm mácxít.

về tư tường: Giúp học viên có thái độ đúng mực, khách quan trong việc nhìn nhận, đánh giá tinh hình tôn giáo.

B NỘI DUNG

1 ĐẶC ĐIỂM, XU HƯỚNG TÔN GIÁO TRÊN THẾ GIỚI

1.1. Đặc điem tỉnh hình tôn giáo thế giói

1.1.1 Sự phục hồi, phát triển tôn giáo trên thế giới

Sự trở lại niềm tin tôn giáo và gia tăng tín đồ tôn giáo Vào nửa sau thê kỷ XX, tôn giáo có sự biến đổi dường như trái ngược

nhau Từ giữa thập niên 40 đến thập niên 60 của thế kỷ XX xu hướng tôn giáo giảm, tình trạng khô đạo, nhạt đạo diễn ra gắn với sự

phát triển của khoa học kỹ thuật, sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin, của trào lưu thế tục hóa, Sự suy giảm tôn giáo thể hiện ở

sự suy giảm đức tin, thực hành niềm tin tôn giáo (cầu nguyện, đi lễ nhà thờ, giữ các giới răn); sự sa sút phẩm hạnh của

chức sắc vả sự suy giảm số lượng tín đồ, giáo sĩ, nhà tu hành diễn ra ở nhiều noi, nhất là ở các nước trung tâm Cơ Đốc giáo chầu

Âu như Pháp, Italia, Đức Có người đã dự báo tôn giáo sẽ cáo chung vào cuối thế kỷ XX, và cho rằng kỷ nguyên hậu tôn giáođang đén gần; người ta còn nói về cái chét lần thứ ba của Chúa; có người đã tuyên bố mạnh mẽ rằng: “Sự lụi tàn của tôn giáo chicòn là vấn đề của thời gian”1 Nhà xã hội học tôn giáo người Pháp, Peter Berger khẳng định: “Vào thể kỳ XXI, các tín đồ tôn giáo

có thể chi còn tìm thấy trong các giáo phái nhỏ, họ túm tụm sống với nhau để kháng cự lại một nền văn hóa thế tục có tính toàncầu”1

Thế nhưng vào thập niên 70, 80 của thé kỷ XX, đời sống tôn giáo lại biến đổi theo chiều ngược lại, tôn giáo phục hồi, phát

1’’ x 3 Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôn giáo trong thài hiện đại: thế tục hóa hạy phi thế tục

Trang 39

4 4

triển ờ nhiều nơi trên thế giới cùng vói quá trinh toàn cầu hóa sự mở đầu của cuộc cách khoa học công nghệ lần thứ in- sự khủngkhoảng của các chủ nghĩa hiện đại, đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chù nghĩa ở Đông Âu Chính Peter Berger

đã phải thừa nhận rằng: “ý tưởng cho rằng chúng ta đang sống trong một thê giói tục hóa là sai làm Thế giới ngày nay với một vàingoại lệ, vẫn mang tính tôn giáo dữ dội như trong quá khứ”1 Tác giả cuốn Các xu thể lớn năm 2000, dự báo: “Vào buổi bình minh

của thiên niên kỷ thứ ba không thể nhầm lẫn về sự hồi sinh của nhiều giáo phái trên thế giới”2 Tác giả cuốn Sự đảo lộn của thế giới:

địa - chính trị thế kỷ XXI, viết: “Cuối thế kỷ này được đánh dấu bằng việc khẳng định một sự phục hồi tôn giáo, phong trào này

bát đầu từ nhũng năm 70”3 Sự phục hồi tôn giáo ngày nay

ông phải là sự tri, vè vói tôn giáo truyền thống, mà là sự đồi mói ** *“* to**“* •* b“e «fc giáo phái mài măng tính <hé Học gii André Mạlraux dự báo: "né ký XXIlà tâm liah hoặc sẽ chăng là gi cá, Cốt yếu cửa cuối thế kỳ PCX) sẽ là vấn đĩ tôn gtíọ, nhưng duói

một hinh thức khác vói hình thức mà chứng ta

Iifdl «“* tý XXI phải là tái du nhập thẳnhnh

* Mén ga thác nhau về thực trạng tôn giáo

°8Ỳ,°7'.CÓ nguài Cho rk6 “■* 8“° đaB8 thủng hoảng, suy tìm có ý Mến thừa nhận tôn giáo ó Tây Âu suy tàn, còn ỏ các Hiu vực

khác tín giáo đang phát trién Nhiều nguiú thừa nhận, tôn giáo đang phục hồi ở nhiều noi trên thế giới với hình thức biểu hiện rất iMcnhau, số người có tôn giáo tăng nhanh Trong 15 năm (20002015), sô người có tôn giáo đã tăng 7,66% trong dân số thế giới Năm

2000, dân số thế giới 6 tỷ người, ừong đó có 4,8 tỷ người cỏ tôn giáo, chiếm 81%2 Năm 2015, trong số 7,324 tỷ ngưcn, có 6 493 tỷngười có tôn giáo, chiếm 88,66% dân số thế giới3

s ỵ phục hồi các tôn giáo truyền thông Hầu hết các tôn giáo ỉớn trên thê giới như Islam giáo, Công giáo, Tin Lành, Ắn Độ giáo Phật

giáo Chính Thống giáo đều gia tăng và mở rộng phạm vì

ảnh hưởng với những mức độ khác nhau

Công giáo đang giảm mạnh ở Tây Âu, một phần ở Mỹ Lạtinh nhưng lại tăng nhanh ở châu Á, đặc biệt là châu Phi Tín đô Công giáo

từ 1,045 tỷ người, chiếm 17,05% dân số thế giới

ÌÍSSSĨỈSỈĨ ^^ d ^^^m^CônggiáovàDăntộc,

^ earcỉ ^ te °í Glob ý Christianìty, 2015, in

me Contexto/1900-2050, ww.mte rnat J o na fcui]etìaorg/i S sue S /20I5Ìl-029- t abJ e htalJ

năm 20001 tăng lên 1,284 tỷ người, chiếm 17,45% dân số thể giới năm 2015 Tín đồ Công giáo phân bố như sau: 48,70% ở châu Mỹ;

1hóal, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2-2003, tr.22,22,22.

2J.Nasbit và P.Aburdence: Các xu thể lớn năm 2000, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh

3M.Tuarenơ: Sự đảo lộn của thể giới: địa - chinh trị thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quéc gia, H.1996, tr.133.

Trang 40

22,21% ờ châu Âu; 17,30% ở châu Phi; 10,98% ờ châu Á và 0,79% ở châu Đại Dương1 2.

Islam giáo không chỉ phát triển ở các địa bàn truyền thống như Trung Đông, Bắc Phi, Trung, Nam và Đông Nam Ả mà còn pháttriển ở khắp nơi trên thế giới Tín đồ Islam giáo tăng từ 1,188 tỷ người, chiếm 19,47% dân số thể giới năm 2000, lên 1,8 tỷ người,chiếm 23,84%) dân số thế giới vào năm 2016 Theo dự báo Islam giáo sẽ tăng 35% trong 20 năm tới và đạt 2,2 tỷ người vào năm203o3

Tín đồ Tin Lành từ 593 triệu, chiếm 9,71% dân số thế giới năm 2000, đã tăng lên 840 triệu người, chiếm 11,32% dân số thế giớinăm 2015 Đạo Tin Lành đang giảm ờ các địa bàn truyền thống như Bắc Mỹ, Bắc Âu, nhưng lại phát triển mạnh ờ Mỹ Latinh, Tây

Âu, châu Á, đặc biệt là châu Phi Đạo Tin Lành phân bố như sau: 29.03% ờ Bắc Mỹ (năm 2012 chiếm 48% dân số Hoa Kỳ); 26,99%

ở châu Phi; 16,20% ờ châu Âu; 11,28% ờ Mỹ Latinh; 10,52% ờ châu Á và 2,27% ở châu Đại Dương4

Ắn Độ giáo là tôn giáo đứng thứ ba trên thé giới, với 1,1 tỷ người, chiếm 14,46% dân số thế giới (2015)5 Trên 80% tín đồ Ắn

Độ giáo ở Ấn Độ, nhưng hiện nay đang phát triển nhanh sang các nước Ầu, Mỹ

Phật giáo với trên dưới 520 triệu tín đồ vào năm 20156 trong đó 80% phân bố ở các nước châu Á và hiện đang phát triển sang cácnước phương Tây,

Nlun chung, hệ thong tôn giáo thế giói đang có sự thay đổi nhanh và mang tính toàn cầu Các tôn giáo không còn bó hẹp trongphạm vi không gian lãnh thổ như trước đây mà đã hiện diện ở khắp mọi nơi trên thế giới cùng với quá trinh di dân vi nhiều lý do trongbối cảnh toàn cầu hóa

1.1.2 Sựxuat hiện các hiện tượng tôn giáo mới

Nét nổi bật ừong đời sống tôn giáo của thế giới hiện đại là sự xuât hiện mang tính bùng phát các hiện tượng tôn giáo mói Cáchiện tượng này xuat hiện như “nấm mọc sau mưa” ở Mỹ vào thập niên 1960, sau đó phát triển ồ ạt sang hàng loạt các nước phát triển,như Pháp, Anh, Đức, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, kể cả các nước đang phát triển Năm 2000, trên thế giói có trên 20.000 tổ chức tôngiao, VƠI hơn 130 triệu người tin theo2 Biểu hiện của hiện tượng tôn giáo mới rật đa dạng, muôn màu muôn vẻ

Có những giáo phái được hình thành với số lượng hàng triệu chục triệu tín đồ, không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia

No co thê được tách ra từ một tôn giáo với những nội dung đã thay đôi, với mục đích chính trị rõ ràng Giáo lý có thể là sự tổng hợp từgiáo lý của các tôn giáo khác nhau, có thể khoác áo khoa học đạo đức, Ví dụ như Phong trào New Age (Thời đại mod) lan rộngtrong các nước theo Cơ Đốc giáo; hay giáo phái Soka Gakkai ở Nhật Bản dựa vào Phật giáo vói fren 10 triệu tín đồ, có tài sản hàng

1 Hội đồng Giám mục Việt Nam: Giáo hội Câng giáo Việt Nam niên giám 2016, Nxb.Tôn giáo, H.2016, tr.167.

2Radio Vatican: Thống kê sé liệu Cồng giáo thể giới năm 2015, theo Agenzia Fides ngây 20-10-2017.

3 Pew Research Center: The Future of the Global Muslim Population, January 27 th 2011.

4 Protestantism by country from the Wikipedia and International Bulletin of Missionary Research: Christianity 2015: Religious Diversity and Personal

Contact (PDF) Vol 39, No 1 January 2015, pp.28-29.

5 Hội đồng Giám mục Việt Nam: Giáo hội Công giáo Việt Nam niên giám 2016, Nxb.Tôn giáo, H.2016, tr.167.

6 International Bulletin of Missionary Research: Christianity 2015: Religious Diversity and Personal Contact (PDF) Retrieved 2015-05-29

http://www.internationalbulletin.org/issues/2015-01

Trác Tân Bình: Toàn cầu hóa với tôn giáo đương đại, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, so 9-2010, tr.l 1.

Ngày đăng: 06/10/2021, 10:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w