Đến với thành nhà Hồ, du khách được chiêm ngưỡng, được tìm hiểu, khám phá công trình quân sự có kiến trúc độc đáo về kĩ thuật, đồ sộ về quy mô, là kết tinh của sức lao động sáng tạo và s
Trang 1Câu 1: Người xưa có câu: “Vua xứ Thanh, thần xứ Nghệ” Vùng Ái Câu (tức Thanh Hoá ngày nay) được xem là cái nôi sản sinh ra vua chúa Việt Bằng những kiến thức lịch
sử đã học, em hay trình bày hiểu biết của mình về một trong các vị vua, chúa xứ Thanh mà em yêu thích nhất Thanh Hoá là một trong những nơi có nhiều vua, chúa được sinh ra nhất ở các triều đại như Tiền Lê, Lê Sơ, chúa Trịnh… Trong đó, em yêu thích nhất là vua Lê Lợi.
Lê Lợi sinh ngày 6 tháng Tám năm Ất Sửu - 10/9/1385, là con trai thứ 3 của ông Lê Khoáng và bà Trịnh Thị Thương, người ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hoá Ngay từ khi còn trẻ, Lê Lợi đã tỏ ra là người thông minh, dũng lược, đức độ hơn người, dáng người hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai phải có nốt ruồi đỏ lớn, tiếng nói như chuông, bậc thức giả biết ngay là người phi thường
Lớn lên, ông làm chức Phụ đạo ở Khả Lam, ông chăm chỉ dùi mài đọc sách và binh pháp, nghiền ngẫm thao lược, tìm mời những người mưu trí, chiêu tập dân lưu tán, hăng hái dấy nghĩa binh, mong trừ loạn lớn
Năm Lê Lợi tròn 22 tuổi cũng là năm quân Minh tràn sang xâm lược nước ta Cuộc kháng chiến chống quân Minh do nhà Hồ lãnh đạo đã nhanh chóng bị thất bại Bởi đại họa này, những năm đau thương của đất nước bắt đầu Dưới ách thống trị tàn bạo của quân Minh, trăm
họ bị đọa đày và đói khổ.Mùa xuân năm Mậu Tuất - 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt đồng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú v.v phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi nhân dân đồng lòng đứng lên đánh giặc cứu nước
Suốt 10 năm nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử, Lê Lợi đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi
Sau hội thề Đông Quan, ngày 29/12/1427, bại binh của giặc bắt đầu được phép rút quân về nước an toàn, đến ngày 3/1/1428, bóng dáng quân Minh cuối cùng đã bị quét sạch khỏi bờ cõi
Ngày 15 tháng Tư năm Mậu Thân - 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi Vua tại điện Kính
Thiên xưng là "Thuận Thiên thừa vận, Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương" đặt tên nước là Đại Việt, đóng đô ở Đông Đô (Hà Nội) đại xá thiên hạ, ban bố "Bình Ngô đại cáo" – được xem là bản tuyên ngôn thứ hai của dân tộc
Vua xây dựng lại bộ máy chính quyền mới, thiết lập mối quan hệ hoà hoãn với nhà Minh , quan tâm đến phát triển nông nghiệp, mở các khoa thi để tuyển chọn người tài, thiết lập mối quan hệ với nước láng giềng
Khi lên ngôi, ông tổ chứ lại đất nước, chăm lo cho nhân dân, ổn định đời sống đát nước, Lý Thái Tổ mất ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), hưởng thọ 49 tuổi
Trang 2Ngày này rất nhiều trường học, phố phường lấy tên của ông.
Câu 2:Học giả người Pháp L.Bơdatxie nhận xét : “ Công trình này là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam” (Phan Đại Doãn: Những bàn tay tài hoa của cha ông – NXB Giáo dục 1988) Ngày
27-6-2011, Tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận công trình này là Di sản văn hoá thế giới Đó là công trình nào? Em hãy đóng vai một hướng dẫn viên du lịch để giúp cộng đồng hiểu biết về công trình này.
Rất vịnh dự hôm nay tôi được là người hướng dẫn viên du lịch để giới thiệu cho mọi
người biết về một công trình kiến trúc đặc biệt mà học giả người Pháp L.Bơdatxie từng nhận xét rằng đây là một trong những tác phẩm đẹp nhất của nền kiến trúc Việt Nam, đồng thời
đây cũng là một di sản văn hoá thế giới trên mảnh đất xứ Thanh Đó chính là thành Nhà Hồ
Thành Nhà Hồ thuộc địa phận các xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, Vĩnh Thành và thị trấn Vĩnh Lộc (huyện Vĩnh Lộc), tỉnh Thanh Hóa Đây là kinh thành của nước Việt Nam từ năm 1398 đến 1407
Thành Nhà Hồ do Hồ Quý Ly – lúc bấy giờ là tể tướng dưới triều đại nhà Trần – cho xây dựng vào năm 1397 Thành xây xong, Hồ Quý Ly ép Vua Trần Thuận Tông rời đô từ kinh thành Thăng Long (Hà Nội) về Thanh Hóa Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua thay nhà Trần và đặt tên nước là Đại Ngu (1400-1407), thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô Thành Nhà Hồ trong lịch sử còn có các tên gọi khác là thành An Tôn, Tây
Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai
Trong hồ sơ di sản thế giới, thành Nhà Hồ được mô tả là một công trình kỳ vĩ bởi kỹ thuật và nghệ thuật xây dựng đá lớn và sự kết hợp các truyền thống xây dựng độc đáo có một không hai ở Việt Nam, khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong thời kỳ cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV Nhờ kỹ thuật xây dựng độc đáo, sử dụng các vật liệu bền vững, đặc biệt là các khối đá lớn, thành Nhà Hồ được bảo tồn rất tốt trong cảnh quan thiên nhiên hầu như còn nguyên vẹn Đây là một trong số ít các di tích kinh thành chưa chịu nhiều tác động của quá trình đô thị hóa, cảnh quan và quy mô kiến trúc còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn cả trên mặt đất và trong lòng đất ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á
Thành nhà hồ với kiến trúc độc đáo trên đất Thanh
Trang 3Theo các tài liệu và thư tịch cổ, cùng với việc khảo cổ, nghiên cứu hiện trạng thì phức hợp
di sản thành Nhà Hồ ngoài Thành nội, Hào thành, La thành còn có Đàn tế Nam Giao
Thành nội được xây dựng gần như hình vuông; có chu vi 3.508m; diện tích 142,2ha; tường thành chiều Nam – Bắc dài 870,5m; chiều Đông – Tây dài 883,5m Thành nội có 4 cổng, được mở ở chính giữa của bốn bức tường thành Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá xanh, đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau Các phiến đá có chiều dài trung bình 1,5m, dày 1m, nặng khoảng từ 15 – 20 tấn Trục chính của thành không theo đúng hướng Bắc Nam, nhưng các cổng vẫn được gọi tên theo bốn hướng chính: cổng Nam, cổng Bắc, cổng Đông, cổng Tây (hay còn gọi là: Tiền, Hậu,
Tả, Hữu) Các cổng này được xây dựng theo kiến trúc hình vòm Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít lên nhau Cổng Nam là cổng chính, có ba cửa: cửa giữa rộng 5,82m, cao 5,75m; hai cửa bên rộng 5,45m, cao 5,35m Ba cổng còn lại chỉ có một cửa, trong đó cổng Bắc rộng 5,8m; cổng Đông rộng 5,9m, cao 5,4m; cổng Tây rộng 5,8m, cao 5,4m Tường thành cao trung bình từ 5 – 6m, chỗ cao nhất là cổng Nam cao 10m Các nhà khoa học đã ước tính toàn bộ phần tường đá chiếm khoảng 25.000m3
Theo các tài liệu, Thành nội có các công trình kiến trúc như: điện Hoàng Nguyên, cung Nhân Thọ, cung Phù Cực, Đông cung, Đông Thái miếu, Tây Thái miếu… Tuy nhiên, hiện nay Thành nội chỉ còn lại một số di tích và di vật như: phần tường thành, bốn cổng thành, dấu tích các hồ nước, đôi rồng bậc thềm làm bằng đá với những nét điêu khắc rất tinh xảo, nền móng kiến trúc Thành nội, đường lát đá Hoa Nhai, bi đá, đạn đá, đồ gốm sứ, khuôn viên cổng Nam
và các hiện vật có giá trị đặc trưng cho văn hóa Trần – Hồ
Hệ thống Hào thành nằm bao quanh Thành nội và được nối thông với sông Bưởi qua một con kênh ở góc đông nam của thành Hào thành có bốn cầu đá bắc vào 4 cửa của Thành nội Ngày nay, nhiều phần của Hào thành đã bị lấp cạn Tuy nhiên, dấu tích của Hào thành vẫn có thể nhận thấy rất rõ ở phía Bắc, phía Đông và một nửa phía Nam của thành
La thành là vòng thành ngoài cùng của thành Nhà Hồ, được xây dựng để che chắn cho Thành nội (Hoàng thành) và nơi sinh sống của cư dân trong thành La thành dài khoảng 10km, được xây dựng dựa theo địa hình tự nhiên Nhà Hồ đã dựng La thành bằng cách cho đắp đất, trồng tre gai để nối liền các ngọn núi Đốn Sơn (xã Vĩnh Thành), Hắc Khuyển (xã Vĩnh Long), Xuân Đài, Trác Phong, Tiến Sỹ (xã Vĩnh Ninh), Kim Ngọ (xã Vĩnh Tiến), Kim Ngưu, Tượng Sơn (xã Vĩnh Quang) với hai con sông là sông Bưởi và sông Mã Hiện nay, dấu tích của La thành thuộc địa phận làng Bèo (xã Vĩnh Long) với chiều dài 2.051,9m, cao khoảng 5m, mặt cắt dạng hình thang với bề mặt rộng 9,2m, chân thành rộng 37m đã được khoanh vùng bảo vệ Đàn tế Nam Giao, hay còn gọi là đàn Nam Giao là một công trình kiến trúc cung đình quan trọng, được xây dựng năm 1402 ở phía Tây Nam núi Đốn Sơn, nằm thẳng trên đường thần đạo từ cổng Nam nhìn ra, cách thành Nhà Hồ khoảng 2,5km về phía Đông Nam Đàn Nam Giao có diện tích 43.000m² Mặt bằng hiện tại còn lộ rõ 5 nền đất với 5 bậc cấp Từ nền đàn cao nhất xuống nền đàn thấp nhất chênh lệch nhau là 7,80m Đàn Nam Giao là nơi tế trời, cầu mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an, vương triều trường tồn, thịnh trị Ngoài ra, đàn còn là nơi tế linh vị của các hoàng đế, các vì sao và nhiều vị thần khác Tế Nam Giao còn là lễ tạ ơn trời đất về sự hiện diện của vương triều, được coi là nghi lễ mang tính cung đình Lễ tế Nam Giao đầu tiên của triều Hồ được tổ chức cùng năm xây dựng
Tại thành Nhà Hồ, ngoài việc đắp đàn Nam Giao và cử hành lễ tế năm Nhâm Ngọ (1402), vương triều Nhà Hồ đã để lại nhiều dấu ấn lịch sử như: lập đàn Xã Tắc năm Đinh Sửu (1397),
tổ chức hai kỳ thi thái học sinh vào năm Canh Thìn (1400) và Ất Dậu (1405) Ngoài ra, thời
kỳ này còn gắn liền với những cách tân đáng ghi nhận như cải cách thi cử, mở mang trường học, đề cao chữ Nôm, phát hành tiền giấy
Ngày nay Thành Nhà Hồ đã và đang được từng bước trùng tu, tôn tạo nhằm trước hết là khôi phục và gìn giữ một công trình kiến trúc độc đáo đã có trên 600 năm và là điểm đến hấp dẫn
Trang 4cho du khách trong và ngoài nước mỗi lần đến Thanh Hóa.
Thành Nhà Hồ được coi là tòa thành đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong rất ít còn lại trên thế giới Ngày 27/6/2011, tại Paris (Pháp), trong kỳ họp lần thứ 35 của Ủy ban Di sản thế giới, UNESCO đã công nhận thành Nhà Hồ là di sản văn hóa thế giới
Đến với thành nhà Hồ, du khách được chiêm ngưỡng, được tìm hiểu, khám phá công trình quân sự có kiến trúc độc đáo về kĩ thuật, đồ sộ về quy mô, là kết tinh của sức lao động sáng tạo và sự hi sinh của nhân dân thời HỒ Quý Ly, loà hiện thân của một vương triều tuy tôn tại ngắn ngủi nhưng đã để lại nhiều cách tân có giá trị trong tiến trình lịch sử dân tộc
Câu 3: Triệu Thị Trinh có một câu nói nổi tiếng: “ Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu gom lưng làm tì thiếp cho người ta” Bằng kiến thức lịch sử đã học, em hãy làm rõ truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm của con người xứ Thanh.
Truyền thống anh hùng bất khuất của con người xứ Thanh đã được thể hiện rõ nét trong lịch
sử chống giặc ngoại xâm
Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, Thanh Hoá đã góp phần to lớn, tô đậm truyền thống yêu nước Thế kỷ I có nữ tướng Lê Hoa trong khởi nghĩa hai Bà Trưng; Thế kỷ III (248) có anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh; năm 931, 938 có người anh hùng Dương Đình Nghệ chống quân Nam Hán Năm 981 có Lê Hoàn khởi nghĩa chống Tống bình Chiêm Thế
kỷ XV có anh hùng Lê Lợi với khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh Cuối thế kỷ XIX có Tống Duy Tân, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước trong phong trào Cần Vương Đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc nhân dân Thanh Hoá
đã đóng góp to lớn về sức người, sức của góp phần tạo nên thắng lợi của hai cuộc kháng chiến Với những truyền thống quý báu, nhân dân Thanh Hoá qua nhiều thời kỳ lịch sử đã góp phần tô đậm thêm truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
Những đóng góp của con người xứ Thanh qua các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu và qua các thời kì:
• Đóng góp của nhân dân Thanh Hoá trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
- Thanh Hoá là nơi xuất phát, căn cứ vững chắc của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Đất Lam Sơn với rừng núi hiểm trở thuận lợi cho việc “công thủ” nhân dân đoàn kết một lòng đảm bảo vững chắc cho nghĩa quân tồn tại và phát triển cùng với núi rừng Lam Sơn đã đùm bọc, che chở, bảo vệ nuôi dưỡng cho nghĩa quân
- Ngay từ những ngày đầu khởi nghĩa các huyện trong tỉnh đều có người về tụ nghĩa:
Lê Tông Kiều quê huyện Quảng Xương, Trịnh Khả quê huyện Vĩnh Ninh (nay là huyện Vĩnh Lộc), Trịnh Đồ, Đỗ Bí, Hà Mộng, Lê Khương, Hà Độ quê huyện Nông Cống, Nguyễn Chích quê huyện Đông Sơn
Trang 5- Trong hội thề Lũng Nhai (không kể Lê Lợi, đã có 11/18 người là người xứ Thanh như: Lê Lai, Lê Lý, Lê Hiển, Lê Bôi, Lê Thận, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Đinh Liệt, Trịnh Khả, Trương Lôi, Vũ Uy) phần lớn trong số đó là các tướng lĩnh tài ba của nghĩa quân Lam Sơn sau này
- Trong việc khai hoang, sản xuất, đảm bảo cung cấp lương thực cho nghĩa quân đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi phía Tây Thanh Hoá đã ủng hộ nhiệt tình về mọi mặt cho nghĩa quân: Xây dựng căn cứ, đào hào đắp luỹ, xây dựng kho tàng, nhà cửa Truyền thuyết dân gian còn lưu truyền biết bao câu chuyện cảm động về mối tình quân dân đoàn kết nhất trí, hết lòng quyên góp lương thực
- Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, phụ nữ Thanh Hoá đã góp phần tích cực trong việc xây dựng căn cứ, cung cấp lương thực, tiếp tế, cứu thương, bảo vệ tướng lĩnh Không những thế, phụ nữ Thanh Hoá còn tham gia chiến đấu anh dũng chống giặc Minh Tiêu biểu là Phạm Thị Ngọc Trần (vợ Lê Lợi) ngoài việc tham gia lo việc lương thực nuôi quân bà còn là tấm gương dũng cảm quên mình vì việc lớn Bên cạnh đó còn nhiều nữ tướng xông pha trận mạc như: Hồng Nương Công Chúa (con gái Lê Lợi), Nguyễn Thị Bành (vợ tướng quân Nguyễn Chích)
• Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược cả nhân dân Thanh hoá từ cuối thế kỷ XVIII đến hết chiến tang thế giới lần thứ nhất
* Thanh Hoá hưởng ứng phong trào Cần vương
- Ngày 13 tháng 7 năm 1885 Hàm Nghi ra Chiếu Cần vương, kêu gọi nhân dân ra sức phò vua cứu nước Hưởng ứng Chiếu Cần Vương nhân dân các dân tộc trong tỉnh Thanh Hoá từ miền ngược đến miền xuôi đều đứng lên giúp Vua cứu nước
- Phong trào Cần vương ở Thanh Hoá đã được qui tụ và có chỉ đạo chung, Trần Xuân Soạn được vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết cử phụ trách tỉnh Thanh Hoá Phạm Bành phụ trách vùng đồng bằng, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước làm chủ vùng núi, xây dựng căn cứ liên hệ với nghĩa quân Lang Văn Thiết, Lang Văn Hạnh ở Nghệ An
** Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào Cần vương ở Thanh Hoá
- Khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887)
Ba Đình thuộc huyện Nga Sơn Trung tâm căn cứ của cuộc khởi nghĩa là ba làng: Mậu Thịnh, Thượng Thọ và Mỹ Khê Chỉ huy cứ điểm là Phạm Bành và Đinh Công Tráng, bên cạnh còn có Nguyễn Khế, Nguyễn Toại
Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại, nhưng đã nêu một tấm gương chiến đấu anh dũng sáng ngời, gây cho Pháp nhiều tổn thất, cổ vũ mạnh mẽ cho nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Thanh Hoá nói riêng tiếp tục đứng lên chống Pháp giải phóng dân tộc Tên của ba làng đã đi vào lịch sử chống Pháp như một mốc son
- Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886 - 1892) - Hùng Lĩnh thuộc huyện Vĩnh Lộc Trung tâm của căn cứ là các ngọn núi Cù Mông, Đa Bút của dãy Hùng Lĩnh nay là xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá
Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa là Tống Duy Tân quê ở Đông Biện, nay là Bồng Trung, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc Ông vốn là người họ Nguyễn ở Tống Sơn (nay là Hà Trung) nhưng sau đổi thành họ Tống Cuộc khởi nghĩa kết thúc để lại tấm gương hy sinh của nghĩa quân và đặc biệt là thủ lĩnh Tống Duy Tân Để lại bài học quí về chiến lược chiến thuật trong chiến tranh
du kích
Trang 6- Phong trào chống Pháp của đồng bào miền núi do Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước lãnh đạo
+ Khởi nghĩa của Hà Văn Mao - Hà Văn Mao là người dân tộc Mường ở Điền Lư, Châu Quan Hoá (nay là Điền Lư huyện Bá Thước) Trung tâm của cuộc khởi nghĩa là Mường Khê sau này mở rộng địa bàn hoạt động tới Thọ Xuân, Cẩm Thuỷ Nghĩa quân đã chặn đánh nhiều cuộc hành quân của Pháp giành thắng lợi -Tháng 11 năm 1887 quân Pháp do thiếu tá Hen- Bơ- Boa và đại uý Pátxcan mở cuộc tấn công vào nghĩa quân Do lực lượng quá chênh lệch ông đã cho nghĩa quân giải tán, còn mình để giữ trọn khí tiết ông đã vào rừng tuần tiết
+ Khởi nghĩa của Cầm Bá Thước - Cầm Bá Thước ông là người dân tộc Thái quê ở Mường Chiềng Bán thuộc tổng Trịnh Vạn (nay thuộc xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá) Căn cứ của cuộc khởi nghĩa ở Trịnh Vạn nơi có vùng núi hiểm trở Ông đã cho xây dựng ở đây một hệ thống đồn trại kiên cố, bố trí giàn đá, lao gỗ, bãi chông dọc theo núi cao, sông sâu Sau này mở rộng địa bàn hoạt động sang Ngọc Lặc, Như Xuân, Quan Hoá, Quỳ Châu (Nghệ An) Tháng 2 năm 1894 Pháp đưa quân lên đóng rải rác ở đồn Cửa Đạt, Thổ Sơn, Nhiên Trạm để đè bẹp nghĩa quân Để giành thế chủ động sáng ngày 6 tháng 2 năm 1844 Cầm
Bá Thước cho quân tấn công quân Pháp gây cho Pháp những tổn thất lớn Ngày 10 tháng 5 năm 1895 do có tay sai dẫn đường, quân Pháp tổ chức tấn công với qui mô lớn vào Hón Bòng Ngày 13 tháng 5 năm 1895 Cầm Bá Thước cùng vợ cả, con trai và 12 nghĩa quân bị sa vào tay giặc cuộc khởi nghĩa kết thúc Sự hi sinh của Cầm Bá Thước đã để lại trong lòng người dân miền núi tỉnh Thanh và nhân dân Thanh Hoá cùng nhân dân cả nước niềm tin bất diệt để tiếp tục cuộc chiến đấu chống Pháp giành thắng lợi
Vị trí, ý nghĩa lịch sử của phong trào Cần Vương ở Thanh Hoá: Thanh Hoá là một trong những trung tâm phát triển manh mẽ của phong trào Cần Vương Thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Thanh Hoá Phong trào đã gây cho Pháp những tổn thất nặng nề, góp phần với phong trào của cả nước làm chậm quá trình “bình định’’của Pháp Tuy thất bại nhưng phong trào đã nêu một tấm gương sáng ngời về tinh thần đoàn kết của nhân dân, sự hết lòng của nhân dân Thanh Hoá tham gia ủng hộ kháng chiến Nêu những tấm gương sáng ngời về tinh thần yêu nước, phong trào; để lại nhiều bài học quý báu và xây dựng và tổ chức lực lượng, phát triển phong trào cách mạng, tiến tới giải phóng dân tộc sau này
• Thanh hoá từ năm từ năm 1919 đến năm 1945
- Thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa tại Thanh Hóa, chúng không từ một thủ đoạn nào nhằm vơ vét tiền của, bòn rút sức lao động của nhân dân Trong thời gian này, cùng với cả nước phong trào đấu tranh của nhân dân Thanh Hoá diễn ra sôi nổi Sự ra đời của Đảng bộ Đảng cộng sản Thanh Hoá mở ra thời kỳ phát triển của phong trào cách mạng trong tỉnh Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, phong trào cách mạng Thanh Hoá trở thành một bộ phận hữu cơ của cách mạng Việt Nam
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hoá, Phong trào cách mạng đã tạo ra một lực lượng cách mạng đông đảo trong tỉnh, đưa phong trào đấu tranh lên giai đoạn mới
- Khi thời cơ cách mạng đến, dưới sự lãnh đạo của đảng bộ Thanh Hoá nhân dân Thanh Hoá nhanh chóng vùng dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền đưa nhân dân các dân tộc Thanh Hoá từ địa vị nô lệ, thoát khỏi ách thống trị của bọn thực dân phong kiến và trở thành người chủ thực sự của quê hương
- Cuộc khởi nghĩa tháng tám ở Thanh Hoá đã góp phần cùng với nhân dân cả nước làm nên thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng tám, đưa tới sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Thắng lợi to lớn này là kết quả của truyền thống đấu tranh yêu nước của nhân dân được Đảng lãnh đạo
• Thanh hoá từ sau cách mạng tháng Tám đến năm 1954
Trang 7- Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, quân đội các nước trong phe đồng minh, với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, đã kéo vào nước ta Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hoá nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã bắt tay vào xây dựng Thanh Hoá thành hậu phương vững mạnh trên các lĩnh vực về chính trị, kinh tế- văn hoá, an ninh quốc phòng, kịp thời cung cấp đầy đủ sức người, sức của cho chiến trường, đồng thời tổ chức chiến đấu tốt để bảo vệ hậu phương trong mọi tình huống
- Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh Đảng bộ Thanh Hoá quân và dân Thanh Hoá đã kiên quyết giáng trả đánh bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù
- Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược quân và dân Thanh Hoá luôn chắc tay súng bảo vệ vững chắc quê hương, khôi phục sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, giữ vững mạch máu giáo thông và chi viện sức người sức của cho hai cuộc kháng chiến
• Thanh Hoá trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954- 1975)
- Thực hiện đường lối chung của toàn Đảng, Đảng bộ Thanh Hoá đã tổ chức, lãnh đạo toàn dân trong tỉnh khắc phục hậu quả chiến tranh và thiên tai, khôi phục phát triển kinh tế- văn hoá, tiếp tục cải cách ruộng đất, cải tạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, góp phần đấu tranh thống nhất đất nước
- Đánh tan các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, giữ vững mạch máu giao thông Bắc- Nam, chi viện sức người sức của cho cách mạng miền Nam giành thắng lợi
- Những đóng góp tiêu biểu:
+ Thanh Hoá khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh
Thực hiện đường lối chung của toàn Đảng, Đảng bộ Thanh Hoá đã tổ chức, lãnh đạo toàn dân trong tỉnh khắc phục hậu quả chiến tranh và thiên tai, khôi phục phát triển kinh tế- văn hoá đạt được những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá Phong trào xây dựng nếp sống mới và văn hoá - văn nghệ phát triển mạnh phục vụ đời sóng tinh thần cho nhân dân
+ Giữ vững mạch máu giao thông Bắc- Nam
Phát huy thắng lợi Lạch Trường, trong 2 ngày 3 và 4-4-1965, được sự phối hợp của
bộ đội phòng không và không quân, quân và dân Thanh Hoá đã dũng cảm chiến đấu bắn rơi 47 máy bay phản lực của Mỹ, bảo vệ vững chắc cầu Hàm Rồng, cầu Lèn Kết thúc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968), quân dân Thanh Hoá đã bắn rơi 276 máy bay, bắn cháy 26 tàu chiến, bắn chìm 5 tàu biệt kích, góp phần cùng quân dân miền bắc buộc Mỹ phải ngừng leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc
+ Chi viện sức người sức của cho cách mạng miền Nam
Nằm trong vùng trọng điểm ném bom - 21 năm kháng chiến, Thanh Hoá đã có 227
082 người gia nhập quân đội, bằng 10,15% dân số toàn tỉnh Những người con ưu tú của nhân dân Thanh Hoá với truyền thống “Lam Sơn”, “Hàm Rồng” đã hiến cả tuổi thanh xuân và máu xương của mình cho sự nghiệp giải phóng miền Nam Dọc theo Trường Sơn, trên khắp các chiến trường miền Nam đều có mặt những người con quê Thanh
Để động viên sức người, sức của cho tiền phương, Thanh Hoá đã dấy lên nhiều phong trào thi đua kháng chiến Các cụ phụ lão với tinh thần “tuổi cao chí càng cao” luôn luôn mẫu mực trong chiến đấu, trong sản xuất và đóng góp ủng hộ kháng chiến Phụ
nữ với phong trào “ba đảm đang”, tay cuốc, tay cày, tay súng vừa sản xuất, bảo vệ quê hương vừa động viên chồng con tòng quân cứu quốc
Thanh niên với phong trào “ba sẵn sàng” luôn xung phong đi đầu trong lao động sản xuất và chiến đấu Tuổi nhỏ với phong trào “Trần Quốc Toản” đã hăng hái “mang mũ rơm đi học đường dài” lại tích cực tham gia gieo cấy, chăm bón, gặt hái, giúp đỡ các
Trang 8gia đình thương binh liệt sĩ - Với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai”, “thóc không thiếu một cân”, “tất cả vì miền Nam ruột thịt” nhân dân Thanh Hoá đã chắt chiu để góp sức mình cho kháng chiến Góp gió thành bão, chính công sức của đồng bào Thanh Hoá đã góp phần làm nên cơn bão táp cách mạng cuồn cuộn triều dâng thác
đổ cuốn phăng đồn bốt Mỹ- Nguỵ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Chiến sĩ Thanh Hoá trong chiến tranh
Như vậy, qua các thời kì, lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc luôn có sự góp sức của con người Thanh Hoá Những đóng góp to lớn đó thể hiện truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm của con người xứ Thanh
Câu 4: Đảng bộ tỉnh Thanh Hoả được thành lập như thế nào? Hãy nêu những hiểu biết của em về một người cộng sản mà em ấn tượng nhất?
• Sự thành lập cuả Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá
Ngày 29/7/1930, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập tại Làng Yên Trường, xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân Sự ra đời của Đảng bộ tỉnh là một bước ngoặt lịch sử quan trọng, là nhân tố quyết định thắng lợi của phong trào đấu tranh cách mạng đánh đổ chế độ thực dân và phong kiến, giành chính quyền ở Thanh Hóa năm 1945, đồng thời giành nhiều thành tựu to lớn trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc cũng như trong công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập hiện nay
Năm 1858, Thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, chính thức xâm lược Việt Nam Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Thanh Hóa, liên tục vùng lên khởi nghĩa đánh đuổi giặc Pháp xâm lược Các cuộc đấu tranh yêu nước do các sỹ phu phong kiến lãnh đạo, tiêu biểu là phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục diễn ra rộng khắp, thế nhưng đều lần lượt bị địch khủng bố đẫm máu và thất bại, do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn của một chính Đảng Trong bối cảnh đó, ngày 03 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long (Hương Cảng), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản, thành lập một Đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, tạo ra bước ngoặt quan trọng đối với phong trào cách mạng trong cả nước và các địa phương Cũng từ đây phong trào đấu tranh cách mạng ở Thanh Hóa phát triển mạnh mẽ rộng khắp Các chi bộ Cộng Sản: Hàm Hạ - Đông Sơn ; Phúc Lộc - Thiệu Hóa, Yên Trường, Thọ Xuân lần lượt ra đời Trước tình hình phong trào đấu tranh cách mạng ở Thanh Hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ và đang rất cần sự lãnh đạo của Đảng, xuất phát từ yêu cầu cấp bách, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, ngày 29/7/1930, Hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã được tổ chức tại Làng Yên Trường, Xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân trên cơ sở hợp nhất 3 chi bộ Cộng sản gồm Chi bộ Hàm Hạ, Chi bộ Thiệu Hóa và Chi bộ Thọ Xuân Đ/c Lê
Trang 9Thế Long được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy và là Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên của Đảng bộ Thanh Hóa
Ngôi nhà lịch sử chính là của gia đình đ/c Lê Văn Sỹ - Bí thư Chi bộ Yên Trường, huyện Thọ Xuân lúc bấy giờ, được chọn làm địa điểm để tổ chức hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh vào ngày 29 tháng 7 năm 1930 Điều đặc biệt là cũng tại ngôi nhà này trước đó một tuần đã diễn
ra sự kiện thành lập chi bộ cộng sản Yên Trường, tiền thân của Đảng bộ huyện Thọ Xuân Có thể nói sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa là bước ngoặt quan trọng đối với Đảng bộ, nhân dân trong phong trào đấu tranh cách mạng giành chính quyền ở tỉnh ta Chấm dứt giai đoạn khủng hoảng kéo dài của phong trào cách mạng do thiếu sự lãnh đạo của một chính Đảng
Ngay sau khi thành lập, Đảng bộ tỉnh đã đề ra một số nhiệm vụ quan trọng trước mắt đó là: Xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức Nông hội đỏ, Công hội đỏ, cơ quan ấn loát, phát hành tờ báo “ Tiến lên”
Trong quá trình hoạt động, mặc dù bị thực dân Pháp khủng bố dã man, có những thời điểm các Chi bộ Cộng sản và Đảng bộ tỉnh gần như bị cô lập thậm chí là tan rã, nhưng trước yêu cầu bức thiết của lịch sử, bất chấp sự gian khổ, tù đày và hy sinh, các Chi bộ Đảng và Đảng
bộ tỉnh nhanh chóng được khôi phục trở lại và tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng và đánh đuổi thực Pháp, lật đổ chế độ phong kiến Từ cuối năm 1935 trở đi, phong trào cách mạng đã phát triển rộng khắp ở nhiều phủ, huyện trong tỉnh, nhằm chuẩn bị cùng với cả nước tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền Mở đầu là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ngày 24/7/1945 ở huyện Hoằng Hóa
Đêm ngày 18, rạng sáng ngày 19/8/1945, sau khi Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh phát lệnh tổng khởi nghĩa, nhân dân và tự vệ các huyện nhất tề vùng lên giành chính quyền Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Hóa giành thắng lợi nhanh chóng Ngày 23/8/1945, từ đình làng Ngô Xá Hạ ở căn cứ Thiệu Hóa, lực lượng cứu quốc gồm có hàng nghìn tự vệ của các huyện: Thiệu Hóa, Đông Sơn, Yên Định, Thọ Xuân đã tiến về thị xã Thanh Hóa ra mắt quốc dân đồng bào Đ/c Lê Tất Đắc, Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Cách mạng lâm thời tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng và kêu gọi toàn dân đoàn kết xây dựng bảo bệ chế độ mới./
• Hiểu biết của em về người cộng sản mà em ấn tượng nhất:
Lê Hữu Lập lả người đã góp phần viết nên những trang sử mở đầu rực rỡ trong lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa.ông là người cộng sản mà em
ấn tượng nhất
Lê Hữu Lập lúc nhỏ tên là Độ (ngoài ra còn một số tên gọi khác như: “Cậu Ấm”, Hoàng tức Thoại, tức Hoàng Lùn), sinh năm 1897 ở thôn Hữu Nghĩa, tổng Xuân Trường, huyện Hậu Lộc (nay là xã Xuân Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa), là con một gia đình nho học có khí tiết
Lúc còn nhỏ tuổi, Lê Hữu Lập được cha, chú mang theo trọ học ở nhiều nơi trong tỉnh Anh
có điều kiện tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân từ thành thị đến nông thôn Tầm hiểu biết ở một thiếu niên ham hiểu biết ngày được mở rộng
Năm 1918, sau khi tốt nghiệp trường Pháp Việt, được thêm một số kiến thức cả về nho học và tân học, anh càng say sưa suy nghĩ về con đường hoạt động tìm chí hướng Thông thường ở
Trang 10thời kỳ đó, với cái bằng tiểu học, anh có thể được bổ dụng đi làm trợ giáo hoặc thư ký cho các công sở Pháp hoặc Nam triều để kiếm một cuộc sống sung túc Nhưng anh coi cái bả vinh hoa phú quý do bọn Tây, bọn vua quan đem lại là một sự đê hèn, nhục nhã Anh vẫn cùng bà con dân làng tham gia lao động, hòa mình với quần chúng trong các công việc đồng áng, phu phen tạp dịch ở vùng nông thôn đồng chua nước mặn Cuộc sống lầm than khổ cực của nông dân, cảnh tô cao, tức nặng của giai cấp địa chủ phong kiến, cảnh bị đánh đập, cùm kẹp… càng khắc sâu hận mất nước của người thanh niên yêu nước Lê Hữu Lập
Một ngày hè năm 1922, Lê Hữu Lập đã trực tiếp gặp đồng chí Đinh Chương Dương, một thanh niên lớn tuổi đương thời đã từng nhiều phen bị thực dân Pháp kết tội vì có lòng yêu nước Đồng chí Đinh Chương Dương đã đem những hiểu biết của mình truyền lại cho Lê Hữu Lập, kể cho anh nghe về các tổ chức cách mạng trong nước, ngoài nước; về các nhà ái quốc Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, về chính sách áp bức bóc lột của bọn thực dân Pháp đối với nhân dân ta Những ngày tiếp xúc với Đinh Chương Dương tình cảm và lý trí của Lê Hữu lập càng lớn lên Anh nhận ra một hướng đi mới và luôn suy nghĩ đến điều căn dặn của Đinh Chương Dương: “Muốn làm cách mạng phải đi học cách mạng và muốn đi học cách mạng phải thoát ly gia đình Tuổi trẻ lúc này phải vươn cánh tay đập mạnh vào đầu giặc, đền nợ nước, trả thù nhà”
Đầu năm 1923, Lê Hữu Lập tạm biệt mẹ già, người vợ hiền và đứa con thơ mới ba tháng tuổi, bước vào con đường thoát ly hoạt động
Giữa năm 1924, Lê Hữu Lập được Đinh Chương Dương đưa sang Quảng Châu tham gia vào
“Tâm Tâm xã” Tổ chức này ra đời từ năm 1923 do các đồng chí Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu
và một số thanh niên có tư tưởng tiến bộ thành lập tại Quảng Châu, một thành phố ở miền nam Trung Quốc
Đầu năm 1925, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội”, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tháng 6 năm 1925, đồng chí Lê Hữu Lập được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội
Cuối năm 1925, đồng chí Lê Hữu Lập cùng một số anh em khác trực tiếp được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ rời Quảng Châu về nước tuyên truyền giác ngộ cách mạng và lựa chọn những thanh niên yêu nước ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An
và Quảng Trị đưa sang Quảng Châu huấn luyện
Lê Hữu Lập về tỉnh nhà vào giữa lúc phong trào yêu nước của nhân dân ta trở nên sôi động, tạo thuận lợi cho đồng chí có điều kiện hoạt động Anh khẩn trương đi vào nhiệm vụ tuyên truyền con đường cách mạng mới của đồng chí Nguyễn Ái Quốc
Tháng 5 năm 1926, tại số nhà 26 phố Hàng Than, Thị xã Thanh Hóa, đồng chí Lê Hữu Lập đã
tổ chức Hội đọc sách báo cách mạng Đồng chí Lê Hữu Lập đã tìm đến những thanh niên yêu nước Các anh Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Chí Hiền, Mai Xuân Diễn, Lê Văn Thanh, Hoàng Khắc Trung… được anh tổ chức tham gia và trở thành hạt nhân của Hội đọc sách báo cách mạng bí mật