1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ CƯƠNG MÔN TÂM LÝ HỌC TRONG CÔNG TÁC DÂN VẬN

21 608 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 61,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề 1: Nhu cầu trong công tác dân vận Vấn đề 2: DƯ LUẬN XÃ HỘI Vấn đề 3: Tâm lý dân tộc, tâm lý vùng miền tác động đến công tác dân vận như thế nào ( Khái niệm, đặc điểm, liên hệ thực tiễn)

Trang 1

Vấn đề 1: Nhu cầu trong công tác dân vận

CTDV là toàn bộ những hoạt động của cả hệ thống chính trị nhằm tuyên truyền, vậnđộng, thu hút, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức các phong trào nhân dân thực hiện đườnglối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và để chăm lo, bảo vệ lợi ích củanhân dân

Để hoạt động vận động quần chúng đạt kết quả tốt, người làm công tác dân vận cần nắm bắtnhững nhu cầu chính đáng trong quần chúng mà mình cần tác động Từ những nhu cầu, nguyệnvọng chính đáng đó, giúp cho cán bộ dân vận có cách thức tác động phù hợp vừa tuyên truyềnđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân vừa thammưu, đề xuất chủ trương, chính sách phù hợp để Đảng, Nhà nước chăm lo, bảo vệ và đáp ứngnhu cầu, nguyện vọng chính đáng từ phía người dân

Khái niệm:Nhu cầu là sự đòi hỏi của cá nhân và các nhóm xã hội khác nhau, muốn có

những điều kiện nhất định để sống và phát triển

Con người được thỏa mãn nhu cầu thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức Cónhu cầu của cá nhân, có nhu cầu của tập thể, có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu,giả tạo Nhu cầu thể hiện xu hướng có sự lựa chọn của con người Nhu cầu là động lực thúc đẩyhành động của con người Nhu cầu này được thỏa mãn, kích thích bị dập tắt, đồng thời xuấthiện nhu cầu mới với những kích thích mới Nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu là yếu tố kíchthích bên trong, là nguồn gốc của tính tích cực và óc sáng tạo, là động cơ thúc đẩy con ngườihành động

Nhu cầu thường có những đặt trưng sau đây:Không ổn định, biến đổi; Năng động;

Biến đổi theo quy luật; Không bao giờ thỏa mãn cùng một lúc mọi nhu cầu; Ham muốn không

có giới hạn

Phân loại nhu cầu:

Nhu cầu cá nhân và nhu cầu xã hội.Nhu cầu cá nhân là một hiện tượng tâm lý cá nhân, nó xuất

hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có những điều kiện nhất định nào đó để đảm bảo sự tồn tại

và phát triển cho bản thân mình.Nhu cầu cá nhân có thể khác biệt và đối lập với nhu cầu củanhóm và xã hội nhưng nhu cầu cá nhân đều có tính xã hội

Nhu cầu xã hội là hiện tượng tâm lý xã hội, tồn tại ở nhiều con người cụ thể khác nhau nhưng

có tính phổ biến và đồng nhất Đó là nhu cầu chung của nhóm có nhiều cá nhân là thành viên,trở thành của cả nhóm về những điều kiện nhất định, đảm bảo sự tồn tại, phát triển của nhóm.Nhu cầu xã hội không đơn thuần là tập hợp các nhu cầu cá nhân Nhu cầu xã hội bao gồm cảnhu cầu cá nhân và trên cơ sở nhu cầu cá nhân, song không phải nhu cầu cá nhân nào củng trởthành nhu cầu xã hội, chỉ những nhu cầu cá nhân chính đáng, phản ánh nhu cầu của nhóm, đồngnhất với nhu cầu nhóm, làm động lực thúc đẩy sự phát triển của nhóm khi đó nhu cầu cá nhântrở thành nhu cầu nhóm

Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Nhu cầu vật chất là những đòi hỏi về điều kiện vật

chất tự nhiên chính đáng, tất yếu như các điều kiện ngoại cảnh, địa lý, các cơ sở và yếu tố vậtchất đảm bảo cho con người và xã hội có thể tồn tại và phát triển được.Nhu cầu tinh thần làsựđòi hỏi các giá trị tinh thần làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội.Quan hệ giữa nhu cẩu tự nhiên, vật chất và nhu cầu tinh thần của con người là quan hệ sinh tồn,hữu cơ, không được xem nhẹ mặt nào Trong công tác dân vận việc phát hiện và làm thỏa mãnnhu cầu cả về đời sống vật chất và tinh thần của con người, định hướng và giáo dục nhu cầu(vật chất và tinh thần) là nhiệm vụ quan trọng Nó không những tạo động lực cho sự phát triển

Trang 2

mà còn là sự thể hiện tính nhất quán của mục tiêu về con người, do con người và được conngười.

Về nhu cầu có các thang bậc khác nhau:

Theo Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con ngườivào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của conngười cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích

cả về thể chất lẫn tinh thần

Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con ngườibằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhaucủa con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy

về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao Cụ thể:

Thứ nhất, nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như

nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục

Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếunhững nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụthuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này.Ông quan niệmrằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thìnhững nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa

Thứ hai, nhu cầu về an toàn hoặc an ninh:An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường

không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người

An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn laođộng, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm

lý, an toàn nhân sự,…

Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tấtyếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảothì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ khôngthực hiện được Do đó chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quytắc bị mọi người căm ghét vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác

Thứ 3, những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận) Do con

người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận Nhucầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bịbuồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau.Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như:Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòanhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòngthương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và đượcthừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trìnhphát triển của nhân loại

Thứ tư, nhu cầu được tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng

và được người khác tôn trọng Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin,

có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tựhoàn thiện Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừanhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,…Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡngmộ.Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do

đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

Trang 3

Thứ năm, nhu cầu phát huy bản ngã (tự khẳng định): Maslow xem đây là nhu cầu cao

nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềmnăng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó Nội dung nhucầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cáiđẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân

Một số nhu cầu cơ bản của người lao động hiện nay: Có công ăn việc làm phù hợp; Được sống

và làm việc trong môi trường an toàn, sức khỏe được đảm bảo, được tự do hoạt động trongphạm vi trách nhiệm; Có thu nhập xứng đáng với công sức bỏ ra, được đối xử công bằng vềquyền lợi và nghĩa vụ; Có nhu cầu được tôn trọng, đời sống tinh thần được đảm bảo; Có cơ hộithăng tiến, được học tập nâng cao trình độ, có điều kiện thể hiện tài năng

Vận dụng thuyết " nhu cầu" trong công tác dân vận:

Sự hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow giúp người làm công tác dân vận xác định đượcnhững nhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu còn chưa được thỏa mãn tại thời điểm hiệntại, đặc biệt là các nhu cầu tâm lý của người dân, nhận ra khi nào thì những nhu cầu cụ thể củangười dân chưa được thỏa mãn và cần đáp ứng

Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow, người làm công tác dân vận đã hiểu được con người

có nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Ai cũng cầnđược yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm giác an toàn, được phát huy bản ngã,…

Do đó trong việc trợ giúp cho cộng đồng, người dân, người làm công tác dân vận không chỉ trợgiúp họ thỏa mãn nhu cầu sinh lý cơ bản mà cao hơn nũa phải tập trung trợ giúp cho họ nhằmgiúp thân chủ thỏa mãn các nhau cầu tinh thần để sống lành mạnh hơn

Trong một số trường hợp, người dân không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, việc kếtnối họ với các nguồn lực là hoàn toàn hợp lý Bên cạnh đó, người làm công tác dân vậncần tăngcường năng lực cho người dân bằng cách lắng nghe họ, chú ý đến các nhu cầu tinh thần của họ

và giúp họ hiểu được các tiềm năng của mình, sử dụng các tiềm năng đó để vượt lên nấc thangnhu cầu cao hơn

Vấn đề giáo dục nhu cầu cho quần chúng nhân dân, trong công tác dân vận cần quan tâmtìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của quần chúng nhân dân trên cơ sở đó đề ra những chính sáchhợp với lòng dân, đáp ứng những nhu cầu cơ bản, cấp thiết của người dân Để vận động quầnchúng thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thì phải tác động, giải quyếttốt các nhu cầu, đặc biệt là nhu cầu tất yếu và nhu cầu hợp lý Người cán bộ dân vận trong côngtác dân vận biết giáo dục nhu cầu cho quần chúng, để họ hiểu được những nhu cầu nào là chínhđáng cần được thỏa mãn, những nhu cầu nào chưa hợp lý, chưa thể thỏa mãn được,… Ngườicán bộ dân vận phải quan tâm thường xuyên đến việc phát hiện và đáp ứng nhu cầu của cá nhân

và của nhóm một cách kịp thời, đúng mực, hợp lý để nhu cầu và lợi ích thực sự là động lựcthúc đẩy các hoạt động của con người và các nhóm xã hội

Liên hệ thực tế (Nêu một hay nhiều chính sách ở địa phương để làm rõ: Xem chính sách

đó có xuất phát từ nhu cầu bức thiết, chính đáng từ phía người dân hay chính sách đó chỉ xuấtphát từ chủ quan (hay lợi ích nhóm) của chính quyền - chính sách đó có đáp ứng được nhu cầungười dân hay không?)

Trang 4

Vấn đề 2: DƯ LUẬN XÃ HỘI

Khái niệm dư luận xã hội

Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến thái độ có tính chất phán xét, đánh giá của các nhóm

xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang tính thời sự có liên quan đến lợi íchchung, thu hút được sự quan tâm của nhiều người và được thể hiện trong các nhận định và hànhđộng thực tiễn của họ

Đối tượng của dư luận xã hội

Đối tượng của dư luận xã hội không phải là mọi thực tế xã hội nói chung mà chỉ là nhữngvấn đề được cộng đồng xã hội quan tâm tới vì nó có liên quan tới các nhu cầu lợi ích về vật chấthay về tinh thần của họ Không phải bất cứ một sự kiện, hiện tượng nào cũng trở thành dư luận

xã hội mà chỉ có các sự kiện hiện tượng xã hội có tính thời sự, cập nhật trình độ hiểu biết củacông chúng, được công chúng quan tâm mới có khả năng trở thành đối tượng của dư luận xãhội Dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi có những vấn đề có ý nghĩa xã hội đụng chạm đến lợi íchchung của cộng đồng xã hội, có tầm quan trọng và có tính cấp bách, đòi hỏi phải có ý kiến phánxét, đánh giá và đưa ra những phương hướng cụ thể Đó có thể là vấn đề chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội, hay đạo đức

Chủ thể của dư luận xã hội

Chủ thể của dư luận xã hội là cộng đồng người hay nhóm người mang dư luận xã hội Dưluận xã hội bao gồm mọi luồng ý kiến của đa số cũng như ý kiến của thiểu số Chủ thể của dưluận xã hội có thể là tập hợp những người thuộc các giai cấp, tầng lớp khác nhau, thậm chí đốilập nhau về lợi ích mà nền tảng gắn kết họ lại với nhau lại là những đặc điểm tâm lí, nhận thứcchung giữa họ

Phân biệt dư luận xã hội với tin đồn

Tin đồn cũng là một hiện tượng tâm lý xã hội Nhưng tin đồn khác với dư luận xã hội, tinđồn “chỉ là tin tức về sự việc, sự kiện, hay hiện tượng có thể có thật, có thể không có thật hoặcchỉ có một phần sự thật được lan truyền từ người này sang người khác” Tin đồn là dạng thôngtin không chính thức, chưa được kiểm chứng về sự trung thực và do đó chủ thể của tin đồnkhông được rõ ràng Ngược lại, dư luận xã hội là sản phẩm của tư duy phán xét của cá nhânmang nó Tin đồn có thể chuyển hóa thành dư luận xã hội khi trên cơ sở của tin đồn người tađưa ra những phán xét bày tỏ thái độ của mình; khi thông tin được kiểm chứng và các nhóm xãhội có thể được tiếp cận với nguồn thông tin, trao đổi, bày tỏ ý kiến của mình thông qua conđường công khai

ĐẶC ĐIỂM CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI

Thông thường, khi nghiên cứu về dư luận xã hội, chúng ta thấy nổi lên các đặc điểm sau:

1 Tính khuynh hướng: Dư luận xã hội là tập hợp những ý kiến, quan điểm, thái độ mang tính chất phán xét, đánh giá của nhiều người trước thực tế xã hội nhất định.

Hình thức thể hiện chính của dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá, thẩm bình, kiếnnghị Khuynh hướng chung trong các ý kiến đánh giá và thái độ của công chúng đối với mỗi sự

Trang 5

kiện, hiện tượng, quá trình xã hội bao gồm tán thành, phản đối hay lưỡng lự Cũng có thể phânchia dư luận xã hội theo các khuynh hướng như tích cực, tiêu cực; tiến bộ hoặc lạc hậu… Ở mỗikhuynh hướng, thái độ tán thành hoặc phản đối lại có thể phân chia theo các mức độ cụ thể nhưrất tán thành, tán thành, lưỡng lự, phản đối, rất phản đối Tính khuynh hướng cũng biểu thị sựthống nhất hay xung đột của dư luận xã hội

2 Tính lợi ích: Sự phán xét, đánh giá chỉ nảy sinh khi trong xã hội có những vấn đề mang tính thời sự, có liên quan đến lợi ích chung của nhóm xã hội, cộng đồng xã hội.

Để trở thành đối tượng của dư luận xã hội, các sự kiện, hiện tương xã hội đang diễn raphải được xem xét từ góc độ chúng có mối quan hệ mật thiết với lợi ích của các nhóm xã hộikhác nhau trong xã hội Tính lợi ích của dư luận xã hội được nhìn nhận trên hai phương diện làlợi ích vật chất và lợi ích tinh thần Lợi ích vật chất được nhận thức rõ nét khi các hiện tượngdiễn ra trong xã hội có liên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh tế và sự ổn định cuộc sống củađông đảo người dân

Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề, các sự kiện đang diễn ra đụng chạm đến hệthống các giá trị, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán, khuôn mẫu hành vi ứng xử văn hóa củacộng đồng xã hội hoặc của cả dân tộc Lợi ích là điều kiện cần để thúc đẩy việc tạo ra dư luận

xã hội nhưng quan trọng chính là sự nhận thức của các nhóm xã hội về lợi ích của mình và mốiquan hệ giữa chúng với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội đang diễn ra Bản thân nhậnthức về lợi ích là một tiến trình biến đổi và phát triển giữa tính cá nhân và tính xã hội, giữa tínhvật chất và tính tinh thần, giữa tính trước mắt và tính lâu dài Đồng thời, quá trình trao đổi, thảoluận ý kiến để dẫn đến dư luận xã hội là một quá trình giải quyết mâu thuẫn lợi ích Khi cácluồng thông tin ảnh hưởng đến các hành động quan tâm của công chúng, dư luận xã hội sẽ hìnhthành mạnh mẽ và lan truyền nhanh chóng Chẳng hạn hiện nay, chương trình phát triển vũ khíhạt nhân của một số cường quốc trên thế giới như Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đanggặp phải làn sóng phản đối mạnh mẽ của dư luận thế giới vì nhân loại nhận thức được mối nguyhiểm tiềm tàng, nguy cơ chiến tranh tiêu diệt loài người

3 Tính lan truyền: Vấn đề dư luận xã hội thường thu hút được sự quan tâm, chú ý

và lan truyền của nhiều người, của đa số các thành viên trong xã hội.

Dư luận xã hội được coi như biểu hiện của hành vi tập thể do đó cơ sở của nó là hiệu ứngphản xạ quay vòng, mà khởi điểm từ cá nhân hay nhóm xã hội nhỏ sẽ gây nên các chuỗi kíchthích của các cá nhân khác, nhóm xã hội khác Để duy trì chuỗi kích thích này luôn cần cácnhân tố tác động lên cơ chế hoạt động tâm lý của các cá nhân hay nhóm xã hội Đối với dư luận

xã hội, các nhân tố tác động đó có thể được coi là các thông tin bằng hình ảnh, âm thanh sốngđộng, trực tiếp và có tính thời sự Dưới tác động của các luồng thông tin này, các nhóm côngchúng khác nhau sẽ cùng được lôi cuốn vào quá trình bày tỏ quan tâm của mình thông qua hoạtđộng trao đổi bàn bạc, tìm kiếm thông tin, cùng chia sẻ trạng hái tâm lý của mình với ngườixung quanh

4 Tính bền vững tương đối và tính dễ biến đổi: Dư luận xã hội phản ánh một cách tổng hợp ý thức xã hội nhưng dễ thay đổi Nó luôn gắn liền với quyền lợi cá nhân và các nhóm xã hội.

Trang 6

Dư luận có tính bền vững tương đối lại vừa có tính dễ biến đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu

tố Đối với những sự kiện, hiện tượng hay quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường rất bềnvững Tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diện sau:

Thứ nhất, biến đổi theo không gian và môi trường văn hóa Hệ thống các giá trị, chuẩn

mực xã hội đang tồn tại trong nền văn hóa của cộng đồng người quyết định sự phán xét, đánhgiá của dư luận xã hội về các sự kiện, hiện tượng hay quá trình xã hội Với cùng một sự việc, sựkiện xảy ra, dư luận xã hội ở các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự phán xét đánh giákhác nhau Ví dụ ở Việt Nam, bò được xem là một con vật nuôi, cung cấp sức kéo, lấy sữa, thịt

bò là một món ăn được nhiều người ưa thích Nhưng đối với người Ấn Độ theo đạo Hin đu thì

bò là một loài vật thiêng, những tín đồ ăn thịt bò sẽ bị dư luận lên án một cách gay gắt

Thứ hai, biến đổi theo thời gian: Cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều giá trị văn hóa,

chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán có thể bị biến đổi ngay trong cùng một nền văn hóa-xãhội dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá của dư luận xã hội Chẳng hạn như thờiphong kiến, chế độ đa thê-người đàn ông cùng lúc có thể có nhiều vợ được dư luận xã hội dễdàng chấp nhận, nhưng thời đại ngày nay thì không Hôn nhân hiện đại là chế độ một vợ mộtchồng, người đàn ông nào cùng lúc có nhiều vợ là vi phạm pháp luật và bị xã hội lên án

5 Tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội

Sự phản ánh của dư luận xã hội có thể đúng hoặc sai do đó không nên tuyệt đối hóa khảnăng nhận thức từ dư luận xã hội Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chấtphổ biến của nó Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn của thiểu số Cái mới lúcđầu thường chỉ có một số người nhận thấy, do đó dễ bị đa số phản đối Đối với những vấn đềtrừu tượng, phức tạp, dư luận của giới trí thức, của những người có trình độ học vấn cao thườngchín chắn hơn so với những người có trình độ học vấn thấp

Liên hệ thực tiễn

Hiểu rõ bản chất, đặt điểm cũng như nắm bắt được dư luận xã hội sẽ giúp:

- Tham mưu cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý trong việc soạn thảo, ban hành, tổ chức thực hiện quyết định; thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội

Nhờ phản ánh khách quan, trung thực và khả năng dự báo chính xác tình hình tâm trạng,

tư tưởng, thái độ, nguyện vọng của các tầng lớp xã hội trước các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xãhội, nhất là các vấn đề có liên quan đến sự lãnh đạo, quản lý đất nước, các báo cáo tổng hợp,phân tích tình hình dư luận xã hội là căn cứ thông tin quan trọng phục vụ quá trình soạn thảo,ban hành, tổ chức thực hiện chủ trương, quyết sách của các cơ quan lãnh đạo, quản lý đất nước.Các cơ quan lãnh đạo, quản lý đất nước khó có thể ban hành được các chủ trương, quyết sáchsát thực, có sức sống, có tính khả thi nếu không nắm chắc được tâm trạng, tư tưởng của đốitượng có liên quan đến các chủ trương, quyết sách đó Công tác nghiên cứu dư luận xã hội giúpcác cơ quan lãnh đạo, quản lý giải đáp các câu hỏi như: các vấn đề bức xúc mà thực tiễn đấtnước (hoặc ở địa phương, ngành) đòi hỏi phải giải quyết là gì? Các chủ trương, quyết sách dựđịnh được ban hành (của cơ quan lãnh đạo, quản lý) có được người dân ủng hộ không? Nếukhông thì tại sao? Có cần dừng việc thông qua không? Nếu không dừng thì cần có các biệnpháp thông tin, tuyên truyền cụ thể gì để tạo sự ủng hộ của nhân dân?

Trang 7

Trên cơ sở lý luận về cơ chế hình thành dư luận xã hội và các thông tin cụ thể về các băn khoăn,thắc mắc của nhân dân, công tác nghiên cứu dư luận xã hội có khả năng đề xuất các giải phápthông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội có hiệu quả.

- Góp phần củng cố và mở rộng nền dân chủ trong Đảng, trong xã hội.

Tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên và nhân dân đóng góp ý kiến, tham gia vào các côngviệc của Đảng, Nhà nước: việc tiếp xúc của các cộng tác viên nghiên cứu dư luận xã hội vớingười dân để nắm bắt ý kiến của họ, nhất là các cuộc điều tra, thăm dò dư luận xã hội là cơ hội

để người dân bày tỏ chính kiến, tham gia ý kiến đối với các công việc điều hành, quản lý đấtnước của các cấp ủy đảng và chính quyền, nâng cao ý thức làm chủ đất nước, làm chủ xã hộicủa họ

Phát huy vai trò phản biện xã hội, vai trò kiểm tra, giám sát của cán bộ, đảng viên vànhân dân: khi người dân cảm thấy ý kiến của mình được lắng nghe, được coi trọng thì tráchnhiệm phản biện, kiểm tra, giám sát xã hội của họ cũng được nâng cao Nhân dân có “trăm tai,nghìn mắt” nên có thể nhìn rõ mọi vấn đề, sự vật dưới nhiều góc độ Sự phản biện, kiểm tra,giám sát xã hội của nhân dân giúp các cơ quan lãnh đạo, quản lý kịp thời phát hiện những sơ hở,hạn chế, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý của mình, trên cơ sở đó, kịp thời đề ra cácgiải pháp khắc phục

- Góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng công tác nắm bắt tâm trạng, tư tưởng cán

bộ, đảng viên và nhân dân của các cấp ủy đảng

Cách nắm bắt tâm trạng, tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân mang tính truyền thốnglâu nay của các cấp ủy đảng thường là: tổng hợp phản ánh của cấp dưới, các tổ chức chính trị -

xã hội; trao đổi, tọa đàm, đối thoại trực tiếp với các đối tượng; hội thảo ) Cách thức này có ưuđiểm là dễ làm, ít tốn kém về thời gian, nhân lực và tài chính, nhưng cũng có những hạn chếnhư: các thông tin thu được thường không rõ về mặt định lượng, dễ mang tính chủ quan, nhất làtrong bối cảnh bệnh thành tích phát triển như hiện nay (các báo cáo dễ bị “vo tròn”, biểu hiệntâm trạng, tư tưởng tích cực dễ bị “thổi phồng”, những vấn đề gai góc, phức tạp trong tâm trạng,

tư tưởng xã hội dễ bị bỏ qua)

* Liên hệ thực tiễn ( cách thức nắm bắt dư luận xã hội, tác động định hướng DLXH phục vụ cho công tác dân vận)

- Cách thức nắm bắt dư luận xã hội

Làm tốt công tác nắm bắt dư luận, đặt biệt là DLXH ở cơ sở có vai trò vô cùng quan

trọng, một mặt, có thể phát huy quyền làm chủ và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; mặt khác, giúp cho cấp uỷ Đảng, chính quyền nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để

có hoàn thiện các chủ trương, đường lối, chính sách một cách thích hợp Đó cũng chính là điềukiện tiên quyết để có thể sử dụng sức mạnh dư luận quần chúng vào việc quản lý xã hội

Để nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội, người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau

Có thể sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:

+ Phương pháp phân tích nội dung: thường được sử dụng để thu thập dư luận xã hội từbáo chí, đơn, thư khiếu tố,…(gọi chung là tài liệu) Những nét cơ bản của phương pháp này có

Trang 8

thể được trình bày như sau: trên cơ sở các vấn đề mà tài liệu đề cập đến, hình thành nhữngphạm trù nhất định mà chúng ta quan tâm Sau đó tiến hành một công việc giống như kiểmphiếu Mỗi đơn vị tài liệu (bức thư, số báo,…) được xem như một phiếu Tiếp theo, đếm xemmỗi phạm trù được bao nhiêu "phiếu" đề cập đến Trên cơ sở tần suất được đề cập, chúng ta rút

ra kết luận phạm trù nào được đề cập nhiều nhất, phạm trù nào được đề cập ít nhất

+ Phương pháp thăm dò dư luận xã hội theo phiếu: Đây là phương pháp chủ yếu mà cáctrung tâm, viện nghiên cứu dư luận xã hội thường sử dụng Các công việc chính của một cuộcthăm dò dư luận xã hội theo phiếu là:

- Xác định chủ đề, mục đích nghiên cứu;

- Xây dựng phiếu câu hỏi;

- Chọn mẫu thăm dò;

- Triển khai cuộc điều tra;

- Xử lý các cứ liệu thu được;

- Viết báo cáo

+ Phương pháp nắm bắt dư luận xã hội thông qua phản ánh của hệ thống mạng lưới cộngtác viên: thành lập mạng lưới cộng tác viên đảm bảo tính đại diện về độ tuổi, nghề nghiệp, trình

độ, giới tính,… và đảm bảo các tiêu chuẩn như có ý thức chính trị, trung thực; có giao tiếp rộngrãi và có uy tín với quần chúng; có khả năng tổng hợp ý kiến của quần chúng Sản phẩm củaphương pháp nắm bắt dư luận xã hội qua mạng lưới cộng tác viên là báo cáo nhanh về dư luận

xã hội Trong báo cáo nhanh (thường là hằng tuần), điều quan trọng là phải phản ánh đầy đủ cácluồng ý kiến khác nhau, dư luận của đa số cũng như thiểu số

- Tác động định hướng DLXH phục vụ cho công tác dân vận

Công tác nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội là một nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọngtrong công tác tư tưởng của Đảng, góp phần rất quan trọng phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạocủa Đảng nói chung và nhiệm vụ công tác Dân vận nói riêng, nhất là trong giai đoạn hiện nay

Để giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầnglớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trongĐảng và sự đồng thuận trong xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, chúng taphải thật sự gần dân, thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, phải chủđộng nắm bắt thông tin trước khi để xảy ra những “điểm nóng” chính trị xã hội Các ngành, cáccấp nói chung, cơ quan dân vận nói riêng phải thường xuyên tổ chức nghiên cứu, điều tra dưluận xã hội để nắm bắt, phân tích tổng hợp những diễn biến tư tưởng và dư luận trong cán bộ,đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và những vấn

đề chính trị, xã hội mang tính thời sự, bức xúc trên địa bàn, từ đó đề xuất các giải pháp, biệnpháp nhằm định hướng dư luận xã hội một cách đúng đắn, kịp thời Đây cũng là một trongnhững biện pháp phát huy tối đa hiệu quả của công tác dân vận, xây dựng, củng cố niềm tin củanhân dân với Đảng, Nhà nước, về sự phát triển của đất nước

Trong công tác dân vận hiện nay, việc nâng cao hiệu quả công tác thông tin, định hướng dư luận xã hội là rất quan trọng và cần thiết Để làm được điều đó,công tác định hướng dư luận cần phải chú trọng đến những vấn đề sau:

Thứ nhất: Lãnh đạo các tổ chức, đơn vị trước hết phải nắm bắt kịp thời các sự kiện, hiện

tượng mang tính thời sự liên quan đến tổ chức, đơn vị mình, các sự kiện, hiện tương liên quanđến lợi ích của giai cấp, quốc gia dân tộc cũng như nắm bắt và làm chủ được dư luận xã hội về

sự kiện, hiện tượng đó để làm cơ sở cho việc định hướng dư luận xã hội

Trang 9

Thứ hai: Đánh giá khách quan hệ quả và sự tác động của báo chí, các phương tiện truyền

thông đại chúng đối với các nhóm công chúng và dự báo được những phát sinh từ hệ quả tácđộng của báo chí Những tình huống có thể phát sinh bao gồm cả những phản ánh tích cực hayphản ánh tiêu cực, đồng thuận hay không đồng thuận, ủng hộ hay phản đối … về một nôi dungthông tin nào đó được cung cấp đến công chúng

Thứ 3: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội, trong đó việc nghiên cứu

cần phải làm rõ tính quy luật và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh các luồng ýkiến khác nhau cũng như cơ sở khoa học để đánh giá, phán xét một luồng ý kiến nào đó, nângcao vai trò chức năng dự báo, chức năng phản biện xã hội trong các nghiên cứu dư luận xã hội.Việc nắm bắt dư luận xã hội cần tuân thủ chặt chẽ các khâu, các công đoạn, các yêu cầu kỹthuật và phương pháp nghiên cứu đảm bảo tính khách quan và khoa học trong quá trình thu thậpthông tin

Thứ 4: Định hướng dư luận xã hội cũng là việc minh bạch hoá các nguồn thông tin, hạn

chế nhận thức sai lệch và loại bỏ tin đồn thất thiệt trong xã hội Điều này cũng đòi hỏi đội ngũcông tác viên, thông tin viên, tuyên truyền viên, báo cáo viên và những người có uy tín trongcộng đồng phải có năng lực nhất định trong việc phân tích đánh giá, phán xét các sự kiện xãhội, phân biệt rõ giữa DLXH và tin đồn cũng như những tác động tiêu cực của tin đồn trong đờisống xã hội Nâng cao khả năng dự báo, tham mưu trong quá trình nghiên cứu nắm bắt dư luận

Tâm lý học dân tộc:

Tâm lý học dân tộc phát triển trong lịch sử loài người nhiều nhà khoa học sáng lập ra lànhư: M.Laxarus (1824 - 1903) và nhà ngôn ngữ học G.Steinthal (1823 - 1893) Tư tưởng đượcphát triển chủ yếu vào năm 1900 trong tập đầu tiên của bộ sách mười tập Tâm lý học các dântộc…

- Ở nước ta Tâm lý học dân tộc là một lĩnh vực còn mới mẻ trong mấy năm gần đây Chẳnghạn, ‘‘Những yếu tố tâm lý dân tộc ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên hiệnnay’’ (dự án điều tra cơ bản từ tháng 6/2002 đến 6/2004 do GS.TS Vũ Dũng làm chủ nhiệm),

‘‘Tìm hiểu tâm trạng và nguyện vọng của các dân tộc ở Tây Nam Bộ’’ (đề tài NCKH cấp Bộ từ

2004 đến 2005 do GS TS Đỗ Long làm chủ nhiệm), ‘‘Những đặc điểm tâm lý cơ bản của cộngđồng người ở Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển kinh tế xãhội ở các khu vực này’’ …Chúng ta tự hỏi tại sao tâm lý con người ở mỗi vùng miền địaphương, mỗi quốc gia, mỗi thời đại lại có nhiều đặc điểm khác nhau Tâm lý con người là mộtlãnh vực vô cùng tinh tế, đa dạng và phức tạp

Quy luật này cho chúng ta rút ra một kết luận tổng quát cho tất cả:

Mỗi cá nhân nên quan tâm đến cộng đồng, vì dù chúng ta bưng tai bịt mắt không cần biết, không quan tâm, không quan hệ, thì cái cộng đồng mà chúng ta đang sống “trong vòng tay bảo

Trang 10

bọc” của nó chắc chắn cũng sẽ liên hệ, dính líu đến chúng ta cách này hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp Định mệnh của chúng ta là không bao giờ có thể trốn thoát, không bao giờ cắt đứt được mối quan hệ với cộng đồng, ngay cả khi ta lìa bỏ xác thân vật chất Vì vậy, chúng ta

hãy tìm hiểu cái tiểu xã hội nho nhỏ của chúng ta (là cái gia đình nhiều thế hệ của mình vànhững người mà mình quan hệ trong môi trường sống và làm việc, như bạn bè, hàng xóm, đồngnghiệp…)

Mỗi con người mà chúng ta tiếp xúc có hai phần tâm lý : Tâm lý cá nhân họ và tâm lý xãhội Nó điều khiển, chi phối toàn bộ mọi hoạt động và ứng xử của người ta trong cuộc sống rắcrối, phiền hà, phức tạp, khó hiểu… Người ta hay nói “chín người, mười ý”, Phật giáo nói rằng

“Tâm viên, ý mã’ (tâm như con khỉ, ý như con ngựa) tâm và ý chuyển động lăng xăng liên tục

Ở đây, chúng ta đề cập đến Tâm Lý Căn Bản trong cuộc sống hiện tại của con người mỗi cánhân là một đơn vị đặc thù, không ai giống ai, bởi vì bản thân của mỗi người cũng chuyển biếnliên tục trong giòng sống Nhưng điều này con người thường chỉ có thể tìm thấy ở tình mẫu tử

và một số trường hợp rất hiếm hoi ngoài xã hội

- Hệ quả của ý thức này là Tính ích Kỷ, Ganh Tị, ghen ghét, hơn thua…Chúng ta cảmthấy sự hữu lý của quan điểm trên nếu ta quan sát các trẻ em mới sinh hay ở những lứa tuổichưa có nhu cầu tự mình bon chen vào cuộc sống Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào việc quan sát một

số hiện tượng nhìn thấy mà quy kết đó là bản chất thì e rằng không chính xác

Tác động đến công tác dân vận:

Việc năm bắt tốt tâm lý dân tộc, tâm lý vùng miền cùng với thực tiễn sinh động trong đờisống xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc, việc nghiên cứu, vận dụng vào hoạt động của công tácdân vận đã đảm bảo thực hiện có hiệu quả các chương trình, mục tiêu, chỉ thị Nghị quyết đã đề

ra về phát triển đất nước Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó người Kinh là đa số, chiếm khoảng86% dân số; 53 tộc người thiểu số chiếm khoảng 14% dân số cả nước Trong số 63 tỉnh, thànhphố hiện nay có tới 54 tỉnh thuộc địa bàn vùng miền núi và dân tộc thiểu số: 12 tỉnh vùng cao; 9tỉnh miền núi; 23 tỉnh có huyện, xã miền núi và 10 tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long lànơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống

Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương (Khoá IX) đã ra Nghị quyết “Về công tác dân tộc” Quan điểm của Nghị quyết được thể hiện nhất quán và có những bước phát triển trong văn kiện Đại hội X, XI của Đảng Về công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp đổi mới đất nước Cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi phải quán triệt

và thực hiện thật tốt phong cách công tác dân vận “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”

1 Nội dung vận động đồng bào các dân tộc thiểu số:

- Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng: Đảng viên là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, là lực lượng nòng cốt trong tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng ở cơ sở, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, xóa đói giảm nghèo của địa phương Các tổ chức Đảng phải lấy việc vận động và chăm lo lợi ích của nhân dân đưa được đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với mọi người dân

- Nắm vững tâm tư nguyện vọng của đồng bào: Cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở phải đi sâu, đi sát, tìm hiểu, nắm bắt được tâm tư nguyện vọng, những vấn đề bức xúc của các dân tộc thiểu số

- Phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân: Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với các cơ quan của Nhà nước sát cơ sở, đứng chân trên địa bàn, vận động nhân dân phát triển kinh tế Phát huy nhân rộng mô hình, sáng kiến tích cực,

Ngày đăng: 04/01/2017, 19:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w