1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng luật hiến pháp đh DUY tân p2

84 294 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 612 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là những quan hệ cơ bản nhất, quan trọng nhất, gắn liền với việc xác định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chế độ an ninh - quốc phòng, chính sách ngoại giao, quyền và nghĩa vụ cơ bản c

Trang 1

KHOA XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC -i

BÀI 1 LUẬT HIẾN PHÁP - NGÀNH LUẬT CHỦ ĐẠO TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM -1

1 Đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp -1

2 Phương pháp điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp -1

3 Quy phạm pháp luật luật Hiến pháp -2

4 Quan hệ pháp luật luật Hiến pháp -4

4.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật luật Hiến pháp -4

4.2 Khách thể của quan hệ pháp luật luật Hiến pháp -6

5 Nguồn của luật Hiến pháp -7

6 Hệ thống luật Hiến pháp Việt Nam -7

BÀI 2 KHOA HỌC LUẬT HIẾN PHÁP VÀ MÔN HỌC LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM -9

1 Đối tượng nghiên cứu của khoa học luật Hiến pháp -9

2 Phương pháp nghiên cứu của khoa học luật Hiến pháp -9

2.1 Phương pháp duy vật biện chứng -10

2.2 Phương pháp so sánh -10

2.3 Phương pháp phân tích theo hệ thống - chức năng -10

2.4 Phương pháp lịch sử -11

2.5 Phương pháp thống kê -11

3 Mối quan hệ giữa khoa học luật Hiến pháp với các ngành khoa học pháp lý khác -11

4 Những cơ sở lý luận của khoa học luật Hiến pháp -12

5 Môn học luật Hiến pháp -13

BÀI 3 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIẾN PHÁP -14

1 Nguồn gốc và bản chất của Hiến pháp -14

1.1 Nguồn gốc và khái niệm của Hiến pháp -14

1.2 Bản chất của Hiến pháp -15

2 Sự phát triển của Hiến pháp -15

2.1 Sự ra đời và phát triển của Hiến pháp tư sản -15

2.2 Sự ra đời và phát triển của Hiến pháp xã hội chủ nghĩa -17

3 Phân loại Hiến pháp -18

3.1 Hiến pháp thành văn và hiến pháp không thành văn -19

3.2 Hiến pháp cổ điển và hiến pháp hiện đại -19

3.3 Hiến pháp nhu tính và hiến pháp cương tính -20

3.4 Hiến pháp tư sản và hiến pháp xã hội chủ nghĩa -20

4 Đặc trưng cơ bản của Hiến pháp -21

Trang 3

4.3 Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nhà nước -22

BÀI 4 LỊCH SỬ LẬP HIẾN VIỆT NAM -23

1.Tư tưởng lập hiến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 -23

2 Các Hiến pháp Việt Nam -23

2.1 Hiến pháp 1946 -23

-23

2.2 Hiến pháp năm 1959 -24

2.3 Hiến pháp năm 1980 -24

2.4 Hiến pháp năm 1992 -25

3 Tư tưởng xuyên suốt lịch sử lập hiến Việt Nam -30

BÀI 5 CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ -32

1 Khái niệm chế độ chính trị -32

2 Bản chất và nguồn gốc quyền lực của nhà nước Việt nam -33

3 Hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam -34

BÀI 6 CHẾ ĐỘ KINH TẾ -40

1 Khái niệm chế độ kinh tế -40

2 Chính sách kinh tế của nhà nước ta -41

3 Chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế -42

4 Chính sách lao động sản xuất, phân phối và tiêu dùng -45

5 Chế độ quản lý nhà nước về kinh tế -46

BÀI 7 CHÍNH SÁCH VĂN HÓA - XÃ HỘI, GIÁO DỤC, KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ -48

1 Cơ sở xã hội của Nhà nước và chính sách văn hóa xã hội -48

2 Nội dung chính sách văn hóa - xã hội, giáo dục, khoa học và công nghệ của nước ta -49

BÀI 8 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI, QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH QUỐC GIA -52

1 Chính sách đối ngoại của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- - -52

2 Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa (chính sách quốc phòng, an ninh) -53

BÀI 9 QUỐC TỊCH VIỆT NAM -55

1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của quốc tịch -55

1.1 Cơ sở cho sự ra đời và tồn tại của quốc tịch -55

1.2 Khái niệm về quốc tịch -55

1.3 Đặc điểm về quốc tịch -56

1.4 Ý nghĩa về quốc tịch -56

2 Pháp luật quốc tế về vấn đề quốc tịch -56

Trang 4

BÀI 10 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN -64

1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân -64

2 Các nguyên tắc cơ bản của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân 64 2.1 Nguyên tắc tôn trọng quyền con người -65

2.2 Nguyên tắc nhân đạo -65

2.3 Nguyên tắc quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân -66

2.4 Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật -66

2.5 Nguyên tắc về tính hiện thực của các quyền và nghĩa vụ của công dân 67

3 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp 1992 -68

3.1 Các quyền và nghĩa vụ cơ bản về kinh tế - xã hội -68

3.2 Các quyền và nghĩa vụ cơ bản về chính trị -70

3.3 Các quyền và nghĩa vụ cơ bản về văn hóa giáo dục -71

3.4 Các quyền và nghĩa vụ cơ bản trên lĩnh vực tự do dân chủ và tự do cá nhân -71

BÀI 11 TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH - LÃNH THỔ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM -74

1 Khái niệm cấu trúc hành chính - nhà nước -74

2 Hình thức cấu trúc nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 76 3 Phân chia hành chính - lãnh thổ -76

3.1 Nguyên tắc phân chia hành chính - lãnh thổ -76

3.2 Quá trình phát triển phân chia hành chính - lãnh thổ nước ta -77

3.3 Thẩm quyền của các đơn vị hành chính - lãnh thổ -78

3.4 Thủ tục phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính -79 TÀI LIỆU THAM KHẢO -A

Trang 5

Là những quan hệ cơ bản nhất, quan trọng nhất, gắn liền với việc xác định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chế độ an ninh - quốc phòng, chính sách ngoại giao, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.

Khác với các ngành luật khác, đối tượng điều chỉnh của luật Hiến pháp không chỉ

bó hẹp trong phạm vi một loại quan hệ xã hội nhất định mà ngược lại, nó điều chỉnh nhiềuloại quan hệ xã hội khác nhau trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nói như vậy không có nghĩa là luật Hiến pháp điều chỉnh tất

cả các quan hệ xã hội mà luật Hiến pháp chủ yếu chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hộiquan trọng, những quan hệ này là cơ sở để xác định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, vănhóa, giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chẳng hạn, trong lĩnh vực chính trị, luật Hiến pháp điều chỉnh những quan hệ cơbản như: Quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, quan hệ giữa Nhà nước với Đảng cộngsản Việt Nam, quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức xã hội những quan hệ này là cơ

sở xác định chế độ chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngoài đối tượng điều chỉnh là các mối quan hệ xã hội, có liên quan đến việc tổchức quyền lực nhà nước, cho phép xác định luật Hiến pháp là một ngành luật độc lập.Việc xác định này, còn phải dựa trên các phương pháp mà các quy phạm luật Hiến pháp

sử dụng để tác động đến các mối quan hệ xã hội cần điều chỉnh

Mỗi một ngành luật có một phương pháp điều chỉnh đặc thù, trước hết phụ thuộcvào các mối quan hệ xã hội mà ngành luật cần phải điều chỉnh, và sau đó là chủ thể thamgia vào các mối quan hệ xã hội này

Trang 6

Bằng phương pháp định nghĩa bắt buộc, quyền uy - luật Hiến pháp xác định

những nguyên tắc chung mang tính định hướng cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ

pháp luật Hiến pháp

Ví dụ: Điều 4 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 (Hiến pháp 1992) quy

định “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, rõ ràng quyđịnh này mang tính nguyên tắc, buộc các chủ thể tham gia vào bất cứ quan hệ pháp luậtHiến pháp nào đều cũng phải tuân theo và phục vụ cho mục tiêu chính trị của Đảng,

không thóat ly đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Đây là một phương pháp

điều chỉnh đặc thù của luật Hiến pháp, bắt nguồn từ đối tượng điều chỉnh của nó.

Khác với các chủ thể tham gia vào các mối quan hệ xã hội được các ngành luậtkhác điều chỉnh, chủ thể của các quan hệ xã hội có liên quan đến tổ chức quyền lực Nhànước là hết sức đa dạng và phong phú, không cân bằng nhau về quyền lợi và trách nhiệm,

có thể là nhân dân, Nhà nước, dân tộc hay cũng có thể là một tập thể người khó xác định,một đơn vị hành chính lãnh thổ, thậm chí là một cá nhân không hoặc có quốc tịch của bất

kỳ nhà nước nào Vì vậy bằng cách xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể

tham gia vào mỗi quan hệ luật Hiến pháp nhất định là một phương pháp điều chỉnh chủ yếu của ngành luật này

Ví dụ : Điều 98 Hiến pháp 1992 quy định “Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn

Chánh án Toà án nhân dân tối cao”, trong quy định này đại biểu Quốc hội có quyền yêucầu Chánh án Toà án nhân dân tối cao phải trả lời, giải thích những vấn đề mà đại biểuQuốc hội quan tâm Như vậy mỗi chủ thể đều có những quyền và nghĩa vụ cụ thể

Giống như các loại quy phạm pháp luật khác, quy phạm pháp luật luật Hiến phápđược hình thành bằng hai cách: do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận những quy phạm xãhội đã có dưới một hình thức văn bản pháp luật nhất định Do vậy, quy phạm pháp luậtluật Hiến pháp cũng như các quy phạm pháp luật khác luôn thể hiện ý chí Nhà nước Quyphạm pháp luật luật Hiến pháp không chỉ có trong Hiến pháp mà còn nằm trong các vănbản pháp luật khác như các luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định

Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác nhau nên quy phạmpháp luật luật Hiến pháp cũng có những đặc điểm riêng để phù hợp với đối tượng điềuchỉnh của mình, đó là:

* Phần lớn các quy phạm của luật Hiến pháp được ghi nhận trong đạo luật cơ bản.Mặc dù Hiến pháp là nguồn của tất cả các ngành luật hoặc văn bản dưới luật nhưng hầunhư các quy phạm của các ngành luật khác lại nằm trong các luật hoặc văn bản dưới luậtchứ không thuộc trong Hiến pháp

Ví dụ: Các quy phạm của ngành luật dân sự chủ yếu nằm trong “Bộ luật dân sự”

hay các quy phạm của ngành luật hình sự chủ yếu nằm trong “Bộ luật hình sự”

Trang 7

* Thông thường một quy phạm pháp luật có cơ cấu ba thành phần (giả định, quyđịnh và chế tài) nhưng đối với các quy phạm pháp luật luật Hiến pháp chủ yếu chỉ có phầnquy định hoặc giả định và quy định, rất ít các quy phạm pháp luật luật Hiến pháp có thêmphần chế tài Bởi vì với vị trí, vai trò là nguồn chủ yếu của các ngành luật khác nên quyphạm pháp luật luật Hiến pháp thường chỉ nêu lên những nguyên tắc chung cho mọitrường hợp, nó được khái quát lên từ các trường hợp cụ thể đã được pháp luật của cácngành luật khác quy định Khi đã là nguyên tắc thì quy phạm pháp luật luật Hiến phápthường mất đi hoàn cảnh cụ thể, điều kiện cụ thể nên không có đầy đủ ba bộ phận như cácquy phạm pháp luật khác.

Ví dụ: Điều 2 Hiến pháp 1992 “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là

Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ” quy phạm này chỉ có phần quyđịnh xác định bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Ví dụ: Điều 18 Luật tổ chức Quốc hội 2001 quy định “Ủy ban thường vụ Quốc hội

ít nhất mỗi tháng họp một lần”, quy phạm này cũng chỉ có giả định và quy định, không cóchế tài

Tuy nhiên cũng có một số quy phạm pháp luật luật Hiến pháp có đủ cơ cấu bathành phần

Ví dụ: Điều 7 Hiến pháp 1992 “Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi

nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đạibiểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”

Ví dụ: khoản 6 Điều 7 Luật tổ chức Quốc hội 2001 quy định về việc giải tán Hộiđồng nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêmtrọng đến lợi ích của nhân dân

Các quy phạm luật Hiến pháp có rất nhiều trong các văn bản pháp luật khác nhau,

để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng ta có thể chia chúng thành từng nhóm dựa vàonhững cơ sở sau đây:

Dựa vào nội dung điều chỉnh :

+ Những quy phạm quy định những vấn đề cơ bản của xã hội trong lĩnh vực: chế

độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hóa - giáo dục, khoa học và công nghệ

+ Những quy phạm quy định mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và công dân nhưNhà nước bảo đảm các quyền của công dân và ngược lại công dân phải làm tròn nghĩa vụcủa mình đối với Nhà nước và xã hội

+ Những quy phạm quy định tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Dựa vào các cơ quan ban hành :

+ Những quy phạm pháp luật luật Hiến pháp do Quốc hội ban hành như Hiến pháp,các luật tổ chức bộ máy nhà nước, các nghị quyết của Quốc hội

Trang 8

+ Những quy phạm pháp luật luật Hiến pháp do Chính phủ quy định trong các nghịđịnh, nghị quyết hay trong các quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, quyết định,chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng

+ Những quy phạm pháp luật luật Hiến pháp do Hội đồng nhân dân các cấp quyđịnh trong các nghị quyết

Dựa vào mức độ xác định hành vi cho các chủ thể :

+ Những quy phạm quy định các nguyên tắc chung cho các chủ thể tham gia vàoquan hệ luật Hiến pháp

+ Những quy phạm quy định hành vi cụ thể cho mỗi chủ thể trong các quan hệ luậtHiến pháp

Quan hệ pháp luật luật Hiến pháp là những quan hệ xã hội được các quy phạm củangành luật Hiến pháp điều chỉnh Cũng giống như tất cả các quan hệ pháp luật khác, cácquan hệ pháp luật luật Hiến pháp đều có những đặc điểm chung như: Cần có những điềukiện để phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ và các bảo đảm để thực hiện; tính xác định củacác chủ thể, khách thể: nội dung của các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp bao giờ cũngphản ảnh ý chí của các chủ thể Tuy nhiên các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp cũng cónhững đặc điểm riêng so với các quan hệ pháp luật khác

Chủ thể của quan hệ pháp luật luật Hiến pháp

Các chủ thể trong các quan hệ luật Hiến pháp có rất nhiều loại, có vị trí và tính chấtrất khác nhau, bao gồm:

- Nhân dân

Nhân dân theo nghĩa rộng bao gồm cả dân tộc, các giai cấp, các tầng lớp trong xãhội, là một loại chủ thể đặc biệt chỉ có trong các quan hệ luật Hiến pháp mà không cótrong các quan hệ của các ngành luật khác

Ví dụ: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh

giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2 Hiến pháp 1992 sửađổi)

Trong một số trường hợp, khái niệm nhân dân được hiểu theo nghĩa hẹp hơn như

cử tri, hội nghị cử tri, các dân tộc

Ví dụ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất

của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.” (Điều 5 Hiến pháp 1992 sửađổi)

- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 9

Là một tổ chức chính trị đặc biệt của xã hội, Nhà nước tham gia vào rất nhiều quan

hệ luật Hiến pháp với tư cách là chủ thể trong các quan hệ đó

Ví dụ: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân“

(Điều 3 Hiến pháp 1992 sửa đổi)

- Các cơ quan Nhà nước

Trong phần lớn các quan hệ luật Hiến pháp, các cơ quan nhà nước như: Quốc hội,

Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân Hộiđồng nhân dân, Ủy ban nhân dân đều là những chủ thể

Ví dụ: Một trong những nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội là “Quy định tổ chức

và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sátnhân dân và chính quyền địa phương” (Khoản 6 Điều 84 Hiến pháp 1992 sửa đổi)

Ngoài các cơ quan nhà nước hoạt động thường xuyên, các cơ quan lâm thời củaNhà nước như: Ủy ban dự thảo (sửa đổi) Hiến pháp, Ủy ban kiểm tra tư cách đại biểuQuốc hội, Hội đồng bầu cử cũng đều là những chủ thể trong nhiều quan hệ luật Hiếnpháp

- Các tổ chức xã hội

Cùng với sự phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, các tổ chức xã hội ngàycàng phát triển và tham gia ngày càng nhiều vào các quan hệ xã hội mà trước hết là quan

hệ luật Hiến pháp

Ví dụ : “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có

quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội” (Điều 87 Hiến pháp 1992 sửa đổi)

- Các đại biểu dân cử

Với tư cách là người đại diện cho nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân, cácđại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia vào nhiều quan hệ pháp luậtluật Hiến pháp như: Đại biểu Quốc hội phải thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cửtri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri hay đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch

và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởngViện kiểm sát nhân dân về những vấn đề mà mình quan tâm

- Công dân Việt Nam

Trong quan hệ với Nhà nước, công dân Việt Nam với tư cách là người chủ của Nhànước, có địa vị pháp lý khác với những người không phải là công dân Việt Nam Côngdân Việt Nam là chủ thể của rất nhiều quan hệ pháp luật luật Hiến pháp

Ví dụ: ”Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng

toàn dân” (Điều 77 Hiến pháp sửa đổi)

- Những người có chức trách trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội

Trang 10

Trong nhiều quan hệ pháp luật Hiến pháp, những người có chức trách trong các cơquan Nhà nước và các tổ chức xã hội như Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướngChính phủ, Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đều là những chủ thể.

Ví dụ: ”Chủ tịch Quốc hội chủ toạ các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thực luật,

nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo công tác của Ủy ban thường vụ Quốc hội; tổ chức quan

hệ đối ngoại của Quốc hội, giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội” (Điều 91 Hiến pháp

1992 sửa đổi)

- Người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam

Trong một số trường hợp, người nước ngoài (người không có quốc tịch Việt Nam)

là chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp

Ví dụ : Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt

Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện về năng lực hành vidân sự, thời gian cư trú, trình độ tiếng Việt, khả năng tài chính thì có thể được xét chonhập quốc tịch Việt Nam (Điều 20 Luật Quốc tịch 1998)

Như vậy, các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp có một phạm vi chủ thể đặc biệt hơn các quan hệ pháp luật khác.

Khách thể của quan hệ pháp luật luật Hiến pháp

Đó là những vấn đề hoặc những hiện tượng thực tế mà các quy phạm luật Hiếnpháp tác động đến, trên cơ sở đó gắn quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào cácquan hệ pháp luật luật Hiến pháp

Khách thể tổng quát của quan hệ pháp luật Hiến pháp là hiện tượng tổ chức quyền lực nhà nước Căn cứ vào tính chất, các khách thể trong quan hệ pháp luật luật Hiến pháp

có thể chia thành các nhóm sau đây:

- Lãnh thổ quốc gia và địa giới giữa các địa phương

Ví dụ : Quốc hội có quyền “thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặcbiệt ” (Khoản 8 Điều 84 Hiến pháp 1992 )

- Những giá trị vật chất như: Đất đai, rừng núi, sông, hồ, nước, tài nguyên thiênnhiên trong lòng đất, thềm lục địa

- Những lợi ích tinh thần của cá nhân như danh dự, nhân phẩm, sự tín ngưỡng

- Hành vi của con người hoặc các tổ chức như lao động, học tập, trình dự án luật,báo cáo công tác, quyết định kế hoạch và ngân sách, quyền chất vấn của đại biểu Quốchội

Ngoài những đặc điểm chung so với các quan hệ xã hội khác, quan hệ pháp luậtluật Hiến pháp còn có những đặc điểm riêng để phân biệt với các quan hệ pháp luật khác

Đó là:

Trang 11

+ Luật Hiến pháp điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhấtmang tính định hướng và nguyên tắc, những nội dung này làm cơ sở pháp lý cho việc xâydựng mới, sửa đổi hay hủy bỏ các quy phạm của các ngành luật khác.

+ Các quan hệ pháp luật luật Hiến pháp có một phạm vi chủ thể đặc biệt như: Nhândân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Hội đồng bầu cử

5 Nguồn của luật Hiến pháp

Ngành luật này được hình thành không những từ đối tượng và phương pháp điềuchỉnh riêng mà còn được hình thành từ tập hợp các văn bản riêng, gọi là nguồn của luậtHiến pháp

Ngành luật Hiến pháp nước ta có nguồn chủ yếu là Hiến pháp, bên cạnh đó còn cóTuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 Hai loại văn bản này gắn liền, bảo trợ vàkhẳng định lẫn cho nhau Bên cạnh đó còn có các đạo luật nói về việc tổ chức các cơ quannhà nước, các nghị quyết của Quốc hội, các pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội,các nghị định của Chính phủ về việc tổ chức nhà nước đều tạo nên nguồn của ngành luậtHiến pháp

6 Hệ thống luật Hiến pháp Việt Nam

Các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến việc tổchức nhà nước, được chứa đựng trong các văn bản khác nhau tạo nên nguồn của ngànhluật Hiến pháp có thể được nghiên cứu theo một nguyên tắc thống nhất và được sắp xếpthành cấu trúc thống nhất gọi là hệ thống ngành luật Hiến pháp

Hệ thống ngành luật Hiến pháp gồm nhiều chế định khác nhau, mỗi chế định điềuchỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau,tạo thành một thể thống nhất Đó là các chế định:

- Về chế độ chính trị

- Về chế độ kinh tế

- Về chế độ văn hóa, giáo dục, xã hội

- Về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

- Về bầu cử

- Về Quốc hội

- Về nguyên thủ quốc gia

- Về Chính phủ

- Về Toà án nhân dân

- Về Viện kiểm sát nhân dân

Trang 12

- Về Ủy ban nhân dân

- Về biểu tượng nhà nước : ngày quốc khánh, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca

Các quy phạm luật Hiến pháp hợp thành những chế định quan trọng của pháp luậtViệt Nam Những chế định này là cơ sở điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điềuchỉnh của các ngành khác Tất cả các ngành luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hộiđều phải bắt nguồn từ các nguyên tắc mà quy phạm pháp luật luật Hiến pháp đã quy định

Các quy phạm luật Hiến pháp quy định các hình thức sở hữu của Nhà nước ta trongthời kỳ quá độ cùng với các khách thể của các hình thức sở hữu đó là cơ sở pháp lý để cácngành luật như Luật Dân sự, Luật kinh tế cụ thể và chi tiết hóa

Các quy phạm luật Hiến pháp quy định quyền và nghĩa vụ lao động của công dân,quyền được nghỉ ngơi, được giúp đỡ vật chất khi đau ốm, mất sức lao động Những quyền

và nghĩa vụ này là cơ sở pháp lý để Luật Lao động cụ thể hóa trong việc điều chỉnh nhữngquan hệ lao động cụ thể của cán bộ, công nhân viên chức nhà nước

Các quy phạm luật Hiến pháp quy định tài sản xã hội chủ nghĩa là thiêng liêng, bấtkhả xâm phạm, cũng như bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân, phảnbội Tổ quốc là tội nặng nhất Là cơ sở pháp lý của luật hình sự khi quy định các tội trộmcắp, tham ô, hủy hoại tài sản xã hội chủ nghĩa cũng như tội gián điệp, âm mưu lật đổchính quyền

Tóm lại, luật Hiến pháp có một vị trí đặc biệt trong hệ thống pháp luật Việt Nam Các chế định, quy phạm của luật Hiến pháp là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng mới, sửa đổi hoặc hủy bỏ các chế định, quy phạm của các ngành luật khác Chính vì vậy, luật Hiến pháp là ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Trang 13

Khoa học này trước hết nghiên cứu các quy phạm, sự phát triển của quy phạm luậtHiến pháp, các quan điểm, học thuyết của các học giả, qua đó tìm ra được quy luật pháttriển khách quan của ngành luật, nhằm mục đích loại trừ những quy phạm đã lỗi thời,vạch ra khuynh hướng phát triển của tổ chức quyền lực nhà nước ứng với mỗi giai đoạnphát triển cụ thể

1 Đối tượng nghiên cứu của khoa học luật Hiến pháp

Là những mối quan hệ có liên quan đến việc tổ chức nhà nước tức là đối tượngđiều chỉnh của luật Hiến pháp, để từ việc nghiên cứu này khoa học luật Hiến pháp phải cónhiệm vụ tìm ra những mô hình, những quy luật khách quan của tổ chức quyền lực nhà

nước Nói rõ hơn, khoa học luật Hiến pháp nghiên cứu các quy phạm, chế định, quan hệ

của chỉ ngành luật Hiến pháp, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp tốt nhất cho việc hoàn

thiện các quy phạm, chế định, các quan hệ luật Hiến pháp hiện hành

Ngoài ra, khoa học luật Hiến pháp còn nghiên cứu cả quá trình hình thành và pháttriển của các quy phạm, chế định, quan hệ luật Hiến pháp để nhận biết đặc điểm, tính kếthừa, quy luật phát triển cũng như những mặt còn hạn chế để góp phần hoàn thiện chúng.Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu phải có sự so sánh, đối chiếu với những vấn đềtương ứng trong luật Hiến pháp của các nước khác để thấy rõ bản chất giai cấp, đặc điểmcủa luật Hiến pháp Việt Nam; đồng thời học tập kinh nghiệm của các nước khác, phêphán những quan điểm sai lầm trong luật Hiến pháp

Trong tất cả các khoa học pháp lý chuyên ngành, khoa học luật Hiến pháp là khoahọc duy nhất nghiên cứu một cách toàn diện tổ chức của xã hội Việt Nam được phản ánhtrong hình thức pháp luật

2 Phương pháp nghiên cứu của khoa học luật Hiến pháp

Để tìm hiểu các quy phạm, chế định, quan hệ của một ngành luật trong quá trìnhhình thành và phát triển cũng như các quy luật phát triển, các quan điểm liên quan đến

Trang 14

thức, biện pháp để đạt được mục đích nhận thức thức ấy chính là những phương phápnghiên cứu của khoa học ngành luật đó Khi tìm hiểu về khoa học luật Hiến pháp, chúng

ta nhận thấy khoa học luật Hiến pháp đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

2.1 Phương pháp duy vật biện chứng

Khi nghiên cứu các quy phạm, chế định, quan hệ, chúng ta phải xem xét các quyphạm, chế định, quan hệ đó như những bộ phận cấu thành của luật Vì vậy, giữa chúngphải có những mối quan hệ nhất định và phải xem xét những mối quan hệ đó trong sựthống nhất của luật Hiến pháp, giữa các quy phạm, chế định, quan hệ phải hỗ trợ lẫn nhau,không được mâu thuẫn, đối lập nhau

Cũng như bất cứ một hiện tượng xã hội nào khác, pháp luật nói chung và luật Hiếnpháp nói riêng luôn luôn biến đổi để đạt đến sự hoàn thiện Do vậy, phải nghiên cứu luậtHiến pháp Việt Nam ở những giai đoạn lịch sử khác nhau để từ đó rút ra những kết luận,những quy luật phát triển nhất định, để thấy được sự kế thừa và phát triển của các quyphạm, chế định, quan hệ luật Hiến pháp

2.2 Phương pháp so sánh

Khi nghiên cứu, chúng ta phải so sánh các quy phạm, chế định, quan hệ luật Hiếnpháp hiện hành với các quy phạm, chế định, quan hệ tương ứng của luật Hiến pháp trướcđây để thấy được sự giống và khác nhau, tính kế thừa và phát triển của các quy phạm, chếđịnh, quan hệ đó

Đồng thời không chỉ nghiên cứu bó hẹp trong phạm vi luật Hiến pháp mà cần phảiđối chiếu các ngành luật khác của nước ta để tìm ra mối quan hệ giữa luật Hiến pháp vớicác ngành luật khác, vai trò của luật Hiến pháp trong hệ thống pháp luật, chúng ta cònphải so sánh các quy phạm, chế định, quan hệ luật Hiến pháp Việt Nam với những vấn đềtương ứng của luật Hiến pháp các nước khác để thấy được đặc điểm của luật Hiến phápViệt Nam, học hỏi kinh nghiệm các nước khác cũng như phê phán những quan điểm sailầm về những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật Hiến pháp

2.3 Phương pháp phân tích theo hệ thống - chức năng

Nội dung của phương pháp này là hiện tượng được nghiên cứu xem như một hệthống nhất định Hệ thống này lại là một bộ phận cấu thành của một bộ phận khác lớnhơn Hệ thống nhỏ thực hiện những chức năng nhất định trong hệ thống lớn và gắn bó với

hệ thống lớn bởi những nhiều quan hệ khác nhau Phương pháp phân tích theo hệ thống chức năng cho phép chúng ta làm sáng tỏ mối quan hệ nguyên nhân - hậu quả của đốitượng được nghiên cứu bằng cách xem xét một cách toàn diện cả về vị trí, vai trò cũngnhư những quan hệ nhất định trong hệ thống

-Ví dụ : Khi nghiên cứu các cơ quan toà án nhân dân, chúng ta phải xem như đó là

một hệ thống có cơ cấu tổ chức nhất định, có cùng một chức năng và gắn bó với nhau bởi

Trang 15

các nguyên tắc tổ chức và hoạt động Vì là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nướcnên trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan toà án nhân dân không thể vượt ra nhữngnguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung Chúng phải chịu sựkiểm tra, giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước và phối hợp với các cơ quan quản

lý, các cơ quan kiểm sát trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

2.4 Phương pháp lịch sử

Phương pháp này đòi hỏi khi nghiên cứu chúng ta phải tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử

mà các quy phạm, chế định luật Hiến pháp ra đời và tồn tại Vì pháp luật nói chung,không vượt ra ngoài điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, nên mỗi quy phạm, chế định, quan

hệ luật Hiến pháp in dấu ấn của mỗi thời kỳ nhất định Do đó chỉ có thể được nội dung,những mặt tích cực, hạn chế của vấn đề khi được nghiên cứu trong một hoàn cảnh lịch sửnhất định

Phương pháp lịch sử còn cho thấy được sự phát triển của luật Hiến pháp gắn liềnvới sự phát triển của cách mạng Việt Nam, vì bao giờ trong những điều kiện lịch sử nhấtđịnh, giai cấp thống trị đều đặt ra những mục tiêu nhất định phù hợp với chế độ chính trịcủa giai cấp mình

2.5 Phương pháp thống kê

Khi nghiên cứu một vấn đề trong bộ máy nhà nước, bằng các số liệu trong từngthời điểm khác nhau cho phép chúng ta thấy được sự phát triển hay sự suy thóai của vấn

đề được nghiên cứu

Ví dụ : Khi tìm hiểu tổ chức của Quốc hội qua các Hiến pháp, ta nhận thấy:

- Hiến pháp 1946, Quốc hội có một cơ quan thường trực

- Hiến pháp 1959, Quốc hội có ba cơ quan thường trực

- Hiến pháp 1980, Quốc hội có mười cơ quan thường trực

- Hiến pháp 1992, Quốc hội có chín cơ quan thường trực

Những con số trên cho phép chúng ta rút ra kết luận: tổ chức Quốc hội nước tangày càng phức tạp hơn, các cơ quan thường trực có xu hướng tăng

3 Mối quan hệ giữa khoa học luật Hiến pháp với các ngành khoa học pháp lý khác

Luật Hiến pháp là một trong những ngành khoa học pháp lý, cho nên khoa học luậtHiến pháp có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành khoa học pháp lý khác Trước hết phải

kể đến ngành khoa học pháp lý chung Đó là lý luận chung về nhà nước và pháp luật vàlịch sử nhà nước vá pháp luật Dựa trên những kết quả nghiên cứu của các quy phạm phápluật luật Hiến pháp, cùng với việc nghiên cứu quy phạm của các ngành luật khác, các nhà

Trang 16

pháp phải dựa trên những kết quả nghiên cứu tổng kết của khoa học lý luận chung về nhànước và pháp luật mà tìm ra những loại hình tổ chức quyền lực nhà nước cho tương lai.

Tương tự như vậy, luật Hiến pháp liên hệ chặt chẽ với nhiều ngành khoa học pháp

lý khác như lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, luật hành chính, luật dân sự, luật hìnhsự Ngoài ra, khoa học luật Hiến pháp còn có quan hệ mật thiết với các môn khoa học xãhội khác như: khoa học kinh tế - chính trị, chủ nghĩa cộng sản khoa học, triết học, khoahọc chính trị Giữa các ngành khoa học này có sự liên quan, hỗ trợ lẫn nhau để làm sáng

tỏ các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của mỗi khoa học

4 Những cơ sở lý luận của khoa học luật Hiến pháp

Sự hình thành của một ngành khoa học pháp lýï không chỉ giản đơn bằng việckhoa học đó có đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, mà nó phải tồn tại vàphát triển dựa trên một số cơ sở lý luận nhất định

Ngành luật Hiến pháp Việt Nam, khoa học luật Hiến pháp dựa trên những cơ sở lýluận sau:

- Những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật nói chungcũng như nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng Thông qua các tác phẩm nổitiếng của mình, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin đã đưa ra những luận điểm cơ bản về nhànước và pháp luật như: bản chất giai cấp, vai trò của nhà nước và pháp luật, sự cần thiếtphải đập tan bộ máy nhà nước tư sản cũ và xây dựng nhà nước dân chủ kiểu mới

- Những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về việc xây dựng chính quyềnnhà nước, làm trong sạch bộ máy nhà nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mang tính dân tộc, hiện đại, nhân văn Những quan điểm này được phản ánh trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đặc biệttrong các nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX Những tưtưởng về việc lấy dân làm gốc, đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới cơ chế quản lý trongcác nghị quyết của Đảng là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu các mối quan hệ giữa nhànước với nhân dân, với Đảng cộng sản và các tổ chức xã hội cũng như giữa các cơ quannhà nước với nhau

- Những quan điểm của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta như Hồ Chí Minh,Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, cũng là những cơ sở lý luận giúp chúng ta nghiên cứuluật Hiến pháp Những quan điểm đó được phản ảnh trong các tác phẩm “Hồ Chí Minhtuyển tập”, “Cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân” của Trường Chinh, “Báo cáo dựthảo Hiến pháp 1959” của Hồ chủ tịch là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu tổ chức bộmáy nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và giai đoạn hiệnnay

- Quan điểm của các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế trong việc quản lý nhànước, quản lý xã hội, về dân chủ xã hội chủ nghĩa Những quan điểm này được phản ảnh

Trang 17

trong các điều lệ và nghị quyết của các tổ chức đó Đây cũng là cơ sở lý luận cho việcnghiên cứu vai trò của các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế trong hệ thống chính trị,trong hoạt động quản lý của nhà nước.

5 Môn học luật Hiến pháp

Luật Hiến pháp là môn học chính thức được đưa vào chương trình đào tạo cử nhânluật, cũng như ở các trường Cao đẳng kiểm sát, trường hành chính Sau khi học xongmôn lý luận chung về nhà nước và pháp luật, sinh viên được học môn luật Hiến pháptrước khi học các môn học luật chuyên ngành như luật hành chính, luật hình sự, luậtthương mại, luật dân sự Môn học luật Hiến pháp nhằm trang bị cho sinh viên nhữngkiến thức cơ bản về Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chẳng hạn chế độchính trị - kinh tế - văn hóa - giáo dục cũng như cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộmáy nhà nước, những quan hệ cơ bản giữa nhà nước với công dân Đó chính là cơ sở đểtìm hiểu những quan hệ xã hội cụ thể mà các ngành luật khác điều chỉnh một cách thuậnlợi hơn

Vì vậy yêu cầu sinh viên phải nắm được bản chất, nội dung cũng như cách thức tácđộng của luật Hiến pháp nói chung và từng quy phạm, chế định, quan hệ của luật Hiếnpháp nói riêng, đồng thời cũng cần phải có sự am hiểu thực tế nhất định Có như thế mớigiúp cho việc nghiên cứu về các ngành luật học được hoàn thiện hơn

Mặt khác việc học môn học luật Hiến pháp không chỉ giúp cho sinh viên hiểu biết

về một ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam mà còn hiểu biết thêm vềlĩnh vực chính trị để định hướng nghề nghiệp, tích lũy kiến thức chuyên môn cho côngviệc mình đảm trách sau này

Trang 18

BÀI 3

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIẾN PHÁP

1 Nguồn gốc và bản chất của Hiến pháp

1.1 Nguồn gốc và khái niệm của Hiến pháp

Thuật ngữ Hiến pháp được bắt nguồn từ chữ Latinh “Constitutio” có nghĩa là thiếtlập, xác định Thuật ngữ này được dùng với nghĩa là văn bản do người đứng đầu nhà nướcban hành cùng với các loại văn bản khác Dưới thời La Mã cổ đại, một số hoàng đế đã banhành các quy định của mình dưới tên gọi là Hiến pháp, ở phương đông cổ đại (TrungQuốc) thuật ngữ Hiến pháp được dùng theo nghĩa là khuôn thước, khuôn mẫu, pháp lệnh(kỷ cương, phép nước)

Đến thời kỳ cách mạng tư sản, giai cấp tư sản đã lật đổ chế độ chuyên chế, giànhđược quyền lực chính trị và dùng Hiến pháp để ghi nhận cách thức tổ chức chế độ mới,quy định cơ chế giám sát đối với việc thực thi quyền lực, thiết lập một hệ thống cơ quanđại diện quyền lực nhân dân để hạn chế quyền lực của Vua Bởi vì dưới chế độ phongkiến, Vua là “ thiên tử” có quyền quyết định tất cả, trong chế độ này vẫn tồn tại một hệthống pháp luật nhưng nó chỉ quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của các thần dân, màkhông hề có quy định trách nhiệm của nhà vua Phải nói rằng giai cấp thống trị trước chủnghĩa tư bản không bị ràng buộc bởi bất cứ một quy định nào của pháp luật, cho nên giaicấp thống trị không quan tâm đến việc cải cách hệ thống pháp luật để đi đến chỗ hạn chếquyền lực của chính bản thân nó Do vậy tư tưởng có một đạo luật đứng trên các đạo luậtkhác lại hạn chế quyền lực của mình là không phù hợp với hệ thống chuyên chế của giaicấp thống trị phong kiến

Văn bản có tính chất Hiến pháp đầu tiên ra đời trong cách mạng tư sản Anh (1640 1654) với tên “Hình thức cai quản nhà nước Anh, Xcốtlen, Ai-len và những địa phậnthuộc chúng”, tiếp đến là các Hiến pháp Hoa Kỳ (1787), Hiến pháp Ba Lan (1791), Hiếnpháp của Pháp (1791) và một số nước tư bản khác Các nước xã hội chủ nghĩa sau nàycũng ban hành Hiến pháp để quy định nền tảng của chế độ xã hội chủ nghĩa và bộ máynhà nước xã hội chủ nghĩa Với tính long trọng đặc biệt như thế, Hiến pháp được hầu hếtcác quốc gia dân chủ sử dụng trở thành một hiện tượng phổ biến dẫn đến sự ra đời củachủ nghĩa lập hiến Do Hiến pháp quy định những vấn đề có tính cơ sở nền tảng và việcsuy tôn hiệu lực pháp lý cao nhất của nó nên Hiến pháp ngày càng được coi là một đạoluật cơ bản của mỗi nhà nước

Trang 19

-1.2 Bản chất của Hiến pháp

Nói đến bản chất của Hiến pháp là nói đến tính giai cấp của nó Các học giả tư sản

chỉ nhìn nhận Hiến pháp như một văn bản pháp luật quy định ra một hệ thống các cơ quanquyền lực, quy định một số quyền và nghĩa vụ của công dân nên khó tìm thấy những chỗphân tích bản chất giai cấp của Hiến pháp mà phần nhiều là những định nghĩa mô tả về

Hiến pháp Nếu như pháp luật tư sản nói chung chỉ “là ý chí của giai cấp tư sản được

nâng lên thành luật “, thì Hiến pháp cũng như những bản tuyên ngôn về chủ quyền nhân

dân, về chế độ đại nghị, về các quyền và tự do của công dân dưới chế độ tư bản là mộthình thức thể hiện lợi ích của giai cấp tư sản dưới danh nghĩa lợi ích chung của nhân dân,

là sự ghi nhận lợi ích của giai cấp thống trị

Còn học thuyết Mác - Lênin đã chỉ ra một cách rõ ràng bản chất giai cấp của Hiếnpháp Theo Mác “Hiến pháp là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp, được lập ra vì lợi íchcủa giai cấp chiến thắng giành được quyền lực chính trị, thể hiện sự tương quan lực lượnggiai cấp trong xã hội”; theo Lênin “ Các bản Hiến pháp thành văn hay không thành văn đều là bản ghi chép thành quả đấu tranh thu được sau hàng loạt thắng lợi giành giật đượcmột cách khó khăn của chế độ mới chống lại chế độ cũ Bản chất của Hiến pháp thể hiện

ở chỗ là các đạo luật đề cập quyền bầu cử vào các cơ quan đại diện, quy định thẩm quyềncủa chúng đều thể hiện mối tương quan lực lượng thực tế trong cuộc đấu tranh giai cấp.”

Như vậy, Hiến pháp là một văn bản pháp luật đặc thù, trong một số trường hợp, sự

ra đời của Hiến pháp là hiện thân của một sự thỏa hiệp giai cấp giữa các bộ phận trongmột giai cấp hoặc giữa các giai cấp khác nhau trong một xã hội Việc xem xét Hiến phápcũng như mọi hiện tượng nhà nước, pháp luật khác từ lập trường giai cấp có ý nghĩa cáchmạng và khoa học sâu sắc, chỉ có trên quan điểm đó chúng ta mới có thể hiểu rõ mối quan

hệ chặt chẽ giữa Hiến pháp với đời sống chính trị của mỗi nước

2 Sự phát triển của Hiến pháp

2.1 Sự ra đời và phát triển của Hiến pháp tư sản

Giai cấp tư sản vốn là một bộ phận dân cư trong các giai cấp bị áp bức, nên cũngphải gánh chịu ách thống trị của phong kiến chuyên chế Đồng thời trong lòng xã hộiphong kiến, giai cấp tư sản lại là người đại diện cho một phương thức sản xuất mới ra đời

và đang lên, rồi dần dần trở thành một giai cấp có địa vị độc lập về kinh tế và nhờ thế,sớm trưởng thành ý thức phản kháng, chống đối chế độ phong kiến đã rệu rã Giai cấp tưsản đã đứng lên phất ngọn cờ tự do, dân chủ, bình đẳng để tập hợp quần chúng lao động

bị áp bức, bóc lột nhằm lật đổ chế độ phong kiến và nền thống trị phản dân chủ Khẩuhiệu lập hiến đã ra đời trong cuộc vận động đấu tranh này của giai cấp tư sản Và đây làmột yêu cầu tiến bộ phù hợp với đa số các tầng lớp nhân dân đang bị giai cấp phong kiếnthống trị

Trang 20

Nội dung của khẩu hiệu lập hiến tư sản thể hiện ở chỗ: yêu cầu xây dựng một bảnHiến pháp là cơ sở pháp lý cơ bản hạn chế quyền hành vô hạn của Vua bằng cách lập ramột cơ quan đại diện quyền lực (Nghị viện) gồm các đại diện do cử tri trực tiếp bầu ra,cùng Vua thực thi quyền lực nhà nước và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân,xoá bỏ chế độ quân chủ, lập ra nền cộng hòa tư sản Cùng với khẩu hiệu lập hiến, thuyếtphân chia quyền lực mà điển hình là thuyết “phân quyền tam lập” của Môngtexkiơ đượcphổ biến rộng rãi, theo thuyết này quyền lực nhà nước phân chia thành ba quyền: lậppháp, hành pháp, tư pháp giao cho ba cơ quan khác nhau nắm giữ Ba cơ quan này vừađộc lập trong việc thực hiện các quyền của mình, vừa chế ước đối trọng lẫn nhau, qua đótạo nên sự cân bằng quyền lực, tránh sự lạm quyền và nhờ đó các quyền của người dânmới được đảm bảo

Khi đã giành được chính quyền trở thành giai cấp thống trị, giai cấp tư sản sử dụngHiến pháp để thể chế hóa quyền thống trị của giai cấp mình dưới hình thức các quy địnhcủa Hiến pháp về tự do, dân chủ, bình đẳng và cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước theo lốiphân quyền Chính nhờ cách tổ chức quyền lực này mà lợi ích của giai cấp tư sản đượcbảo đảm Bởi vì, dưới các quy định ghi nhận các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng đượcnêu cao trong các cuộc cách mạng tư sản đã che đậy được bản chất bóc lột vốn chứa sẵntrong nền thống trị tư sản, hơn nữa việc ghi nhận các quyền tự do, dân chủ mà trước hết làquyền tự do về kinh tế là phù hợp với quan hệ sản xuất tư sản chủ nghĩa Đồng thời với cơchế tổ chức nhà nước theo nguyên tắc phân quyền đã tránh được sự lạm quyền, sự canthiệp dễ dãi của các cơ quan chính quyền vào hoạt động kinh doanh vốn được xem là

“lĩnh vực tư” - nơi các cá nhân tư sản tự do định đoạt và hạn chế được nguy cơ độc quyềnkéo dài của một tập đoàn, một nhóm lực lượng giai cấp mà lợi ích các cá nhân tư sảnkhông thể chấp nhận được

Như vậy, sự xuất hiện và tồn tại của Hiến pháp tư sản có nguồn gốc sâu xa trongcác mối quan hệ tư bản chủ nghĩa nhất là quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế Hiến pháp tưsản là công cụ sắc bén của nền chuyên chính tư sản, phục vụ trước hết cho lợi ích của giaicấp tư sản Với sự ra đời của Hiến pháp tư sản, một chế độ chuyên chính tư sản được xáclập Nói theo Lênin thì “Mọi cuộc cách mạng tư sản cuối cùng, không có gì hơn là quátrình xây dựng một chế độ lập hiến” Bởi vì, Hiến pháp chính là loại văn bản rất thích hợp

mà giai cấp tư sản có thể sử dụng nhằm thể chế hóa quyền thống trị của giai cấp mìnhdưới hình thức các quy định Hiến pháp về tự do, dân chủ, bình đẳng một cách chungchung và thuần tuý

Trong quá trình phát triển, Hiến pháp tư sản đã trải qua các giai đoạn sau:

+ Giai đoạn đầu: khi giai cấp tư sản mới giành chiến thắng, Hiến pháp ghi nhận

thắng lợi của dân chủ, tuyên bố các quyền công dân, hạn chế quyền của Vua, xoá bỏ vàchống lại sự lạm quyền, can thiệp của quyền lực công vào hoạt động kinh doanh

+ Giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Mười Nga (1917), khi các giai cấp lao

động, trước hết là giai cấp công nhân đã trở thành một lực lượng độc lập về tư tưởng, tổ

Trang 21

chức, đã tiến hành đấu tranh chống nền thống trị tư bản thì Hiến pháp tư sản phản ánh sựtương quan lực lượng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản còn nội dung thường dừnglại ở các quy định chung, ngắn, thiếu cụ thể, phạm vi chỉ bó hẹp trong việc ấn định cơcấu tổ chức quyền lực nhà nước và một số quyền tự do cá nhân.

+ Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, trước ảnh hưởng ngày càng

lớn mạnh của phong trào nhân dân trong nước và của nền lập hiến xã hội chủ nghĩa đã cónhững sửa đổi căn bản, Hiến pháp tư sản đã quy định tương đối đầy đủ các quyền chínhtrị, kinh tế, xã hội của công dân, xây dựng nhà nước pháp quyền Nhìn chung là cónhiều điểm tiến bộ hơn Tóm lại, mỗi bản Hiến pháp tư sản ra đời trong một hoàn cảnhlịch sử cụ thể, mang theo những dấu ấn đặc thù của hoàn cảnh đó nhưng về cơ bản, cácHiến pháp tư sản đều thể hiện và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản

2.2 Sự ra đời và phát triển của Hiến pháp xã hội chủ nghĩa

Chủ nghĩa xã hội và Hiến pháp có mối quan hệ khăng khít với nhau, do bắt nguồn

từ bản chất của chế độ xã hội từ những điều kiện chính trị, kinh tế, ý thức hệ của chủnghĩa xã hội và cũng chính từ những giá trị xã hội của Hiến pháp với tính cách là mộtnguồn pháp luật đặc thù, vốn mang trong mình những đặc trưng ít thấy ở những nguồnpháp luật khác

Việc xây dựng một chế độ xã hội mới với một nền kinh tế có sự điều tiết của nhànước; một chính quyền nhà nước và một cơ cấu sinh hoạt cộng đồng được tổ chức trênnền tảng dân chủ, đảm bảo lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tất yếu đề

ra yêu cầu thể chế hóa mọi mặt đời sống xã hội thành những chế định, những thể chế cơbản xác lập và bảo đảm một trật tự kỷ cương cần thiết cho sự phát triển

Mác, Ăngghen, Lênin trên cơ sở phê phán toàn diện nền lập hiến tư sản đã chỉ rõ

sự thắng lợi của cách mạng vô sản có nghĩa là sự thủ tiêu nhà nước và pháp luật tư sản và

sự xác lập một cơ sở lập hiến cho toàn bộ đời sống xã hội

Ngày 10/7/1918, tức là tám tháng sau khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mườithắng lợi và nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ra đời, Hiến pháp của nước Cộng hòa xãhội nhà nước liên bang Nga, bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên được ban hành, mởđầu một giai đoạn phát triển mới của nền lập hiến thế giới Trước Hiến pháp 1918, chínhquyền Xô Viết đã ban hành một loạt các sắc lệnh như Sắc lệnh về ruộng đất, Sắc lệnhthành lập Chính phủ Những văn bản này đã thực sự dọn đường cho sự ra đời một kiểuHiến pháp mới Hiến pháp gồm 17 chương, 6 phần và 90 điều, được mở đầu bằng Tuyênngôn về các quyền của nhân dân lao động bị áp bức Hiến pháp ghi nhận sự củng cố nềnchuyên chính của giai cấp vô sản được thiết lập do kết quả thắng lợi của Cách mạng thángMười dưới hình thức Cộng hòa Xô Viết, quy định các quyền dân chủ và các nghĩa vụ củacông dân, quy định hình thức liên bang của Cộng hòa Liên bang Nga và quy định hệthống các cơ quan nhà nước Xô Viết

Trang 22

Hiến pháp 1918 đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển Hiến pháp nói chung.Đánh giá ý nghĩa của Hiến pháp 1918, Lênin viết: “ Đó là bản Hiến pháp đầu tiên tuyên

bố chính quyền nhà nước của nhân dân lao động, hủy bỏ quyền của bọn bóc lột, những kẻchống đối xây dựng một cuộc sống mới.” Theo mô hình của Hiến pháp này, các nướcCộng hòa Xô Viết khác cũng lần lượt thông qua Hiến pháp của mình trong những năm

1919 - 1922

Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết (Liên Xô) được thành lập năm 1922,

vì thế cần thiết phải xây dựng một bản Hiến pháp chung cho Liên Xô Hơn một năm sau,vào năm 1924 bản Hiến pháp Liên Xô đầu tiên được thông qua, Hiến pháp ghi nhận vàcủng cố việc hợp nhất trên cơ sở tự nguyện của các nước Cộng hòa Xô Viết thành mộtnhà nước liên bang, phân định các quyền của liên bang và các nước cộng hòa, thiết lập cơcấu hệ thống các cơ quan nhà nước tối cao ở liên bang và ở các nước cộng hòa, vạch racon đường phát triển hơn nữa của các dân tộc ở Liên Xô tiến lên chủ nghĩa xã hội

Bản Hiến pháp thứ ba của Liên Xô được thông qua năm 1936, đây là bản Hiếnpháp ghi nhận thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, ghi nhận quyền lực thuộc vềnhân dân lao động thông qua các Xô viết đại biểu nhân dân lao động

Sau này Liên Xô có Hiến pháp thứ tư - Hiến pháp 1977 ghi nhận sự thắng lợi triệt

để của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, tuyên bố bước vào xây dựng nhà nước toàn dân Tuynhiên, công cuộc cải tổ thiếu phương pháp đã dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Xô viết đầunhững năm 1990 Từ những năm này, cũng như ở Liên Xô chế độ xã hội chủ nghĩa ở cácnước Đông Âu sụp đổ, Hiến pháp xã hội chủ nghĩa bị bãi bỏ và thay bằng các Hiến phápmới

Nhìn lại, trong những năm 1944 - 1945, nhờ sự thắng lợi có ý nghĩa lịch sử củaLiên Xô chống lại chủ nghĩa phát xít và của cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân cácnước bị nô dịch, nhiều nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu, Châu Á ra đời và đứngvào hàng ngũ các nước xã hội chủ nghĩa Giai đoạn hai của nền lập hiến xã hội chủ nghĩabắt đầu bằng việc ban hành các Hiến pháp Bungary (1947), Hungary (1949), Rumani(1948), Ba Lan (1952) Ơí các nước Châu Á, Hiến pháp của các nước dân chủ nhân dânlần lượt ra đời như Hiến pháp Việt Nam (1946), Triều Tiên (1948), Trung Quốc (1954).Đến những năm 1960-1970 các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu chuyển sang một giaiđoạn phát triển mới Ơí đó đã ban hành các Hiến pháp mới thay thế Bungary có Hiếnpháp 1971, Rumani có Hiến pháp 1965,

3 Phân loại Hiến pháp

Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 100 nước có Hiến pháp Theo tiêu chí khácnhau, Hiến pháp có thể được phân thành nhiều loại:

Trang 23

3.1 Hiến pháp thành văn và hiến pháp khơng thành văn

Hiến pháp thành văn tức là các quy định Hiến pháp được viết thành văn bản nhất

định, thống nhất với các tên Hiến pháp, hiến ước, tuyên ngơn hoặc khơng thống nhất màbao gồm nhiều văn bản Dù là một hay nhiều văn bản, các Hiến pháp thành văn cĩ thủ tụcthơng qua một cách chính thức và được tuyên bố là đạo luật cơ bản của nhà nước Hiệnnay, tuyệt đại đa số các Hiến pháp đều là Hiến pháp thành văn

Hiến pháp khơng thành văn là Hiến pháp thể hiện trong các quy phạm pháp luật,

tập tục truyền thống, thơng lệ, án lệ Liên quan đến việc tổ chức quyền lực nhà nước.Chúng thường khơng được quy định thành văn bản riêng và khơng được tuyên bố hoặcghi nhận là luật cơ bản của nhà nước Hiện nay, cịn một số ít các nước cĩ loại Hiến phápnày là Anh, New Zealand

Về ý nghĩa, Hiến pháp thành văn cĩ tính long trọng hơn, cịn Hiến pháp khơngthành văn lại thuận tiện hơn ở thủ tục thơng qua và sửa đổi

3.2 Hiến pháp cổ điển và hiến pháp hiện đại

Hiến pháp cổ điển là Hiến pháp được ban hành từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ

XIX và những Hiến pháp tuy mới được ban hành gần đây song theo trường phái cổ điển.Trong những điều kiện lúc bấy giờ, các Hiến pháp nĩi chung là ngắn gọn, cĩ nội dung chủyếu là các quy định về phân chia quyền lực, ít các quy định về quyền tự do Một số Hiếnpháp cổ để vẫn tiếp tục tồn tại phải bổ sung, chỉnh lý cho phù hợp với tình hình hiện tại

Ví dụ: Hiến pháp Mỹ là Hiến pháp đặc trưng cho Hiến pháp cổ điển, chỉ cĩ 7 điều,

tập trung vào việc quy định trình tự thành lập và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước ởtrung ương như Quốc hội, Tổng thống và Tồ án tối cao, mối quan hệ giữa liên bang vàcác tiểu bang, trình tự sửa đổi Hiến pháp nhưng Hiến pháp Mỹ khơng hề cĩ điều nào nĩi

về các đảng phái chính trị, mặc dù các đảng phái chính trị chiếm một vị trí vơ cùng quantrọng trong đời sống chính trị của Mỹ

Ngồi ra Hiến pháp của Vương quốc Na uy năm 1814, Vương quốc Bỉ 1831, Liênbang Thuỵ sĩ 1874 cũng là những Hiến pháp cổ điển Riêng cĩ một số Hiến pháp nhưHiến pháp Aïo năm 1920, Ailen 1937, Thuỵ Điển năm 1932 tuy được ban hành gần đâynhưng nội dung khơng cĩ gì tiến bộ (hiện đại) hơn những Hiến pháp cổ điển được thơngqua trước đĩ hàng trăm năm

Hiến pháp hiện đại là những Hiến pháp phần lớn được ban hành từ sau chiến tranh

thế giới thứ hai với nội dung điều chỉnh được mở rộng Trước cuộc đấu tranh địi quyềndân chủ của các tầng lớp nhân dân lao động và cùng với sự ảnh hưởng của các nước xãhội chủ nghĩa mà các Hiến pháp đĩ ngồi những quy định cổ điển như trước đây về tổchức bộ máy nhà nước cịn chứa đựng nhiều điều khoản cĩ nội dung dân chủ, quy địnhthêm các quyền tự do của cơng dân như bầu cử, quyền cĩ việc làm, quyền bình đẳng nam

nữ, quyền tham gia quản lý nhà nước

Trang 24

Ví dụ: Các nước có Hiến pháp hiện đại là Pháp (Hiến pháp 1946, 1958), Nhật Bản

(1948), CHLB Đức (1949)

Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa đều thuộc Hiến pháp hiện đại

Xét dưới bình diện là văn bản ghi nhận mối tương quan lực lượng xã hội tồn tại ởthời điểm thông qua Hiến pháp, thì Hiến pháp cổ điển là Hiến pháp ghi nhận mối tươngquan lực lượng chính trị - xã hội của giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến; còn Hiếnpháp hiện đại là văn bản pháp lý ghi nhận mối tương quan lực lượng xã hội giữa giai cấpthống trị tư sản với một bên là nhân dân lao động

3.3 Hiến pháp nhu tính và hiến pháp cương tính

Hiến pháp nhu tính là Hiến pháp có thủ tục thông qua bình thường như mọi đạo

luật và có thể được sửa đổi bởi chính cơ quan lập pháp, theo thủ tục thông qua các đạoluật bình thường

Ví dụ: Hiến pháp của Vương quốc Anh.

Hiến pháp cương tính là Hiến pháp được thông qua bởi một cơ quan đặc biệt là

Quốc hội lập hiến chứ không phải là cơ quan lập pháp hoặc toàn dân biểu quyết Thủ tụcthông qua hoặc sửa đổi Hiến pháp cũng được quy định chặt chẽ hơn Chẳng hạn việcthông qua bình thường chỉ cần quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội tán thành thì đối vớiHiến pháp phải có 2/3 hoặc 3/4 tổng số đại biểu, hoặc hơn thế nữa sau khi đã được Quốchội thông qua thì dự án phải được nhân dân bỏ phiếu phúc quyết

3.4 Hiến pháp tư sản và hiến pháp xã hội chủ nghĩa

Xét theo bản chất giai cấp, Hiến pháp có thể phân chia thành Hiến pháp tư sản vàHiến pháp xã hội chủ nghĩa Hiện nay thế giới cũng chỉ tồn tại hai loại Hiến pháp nàytương ứng với hai chế độ dân chủ

Hiến pháp xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm chung sau:

 Hiến pháp xã hội chủ nghĩa thiết lập một chính thể mới - chính thể xã hội chủnghĩa

 Hiến pháp xã hội chủ nghĩa xác nhận rõ tính giai cấp của nhà nước xã hội chủnghĩa

 Hiến pháp xã hội chủ nghĩa thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng mác-xít

 Hiến pháp xã hội chủ nghĩa ghi nhận, củng cố các cơ sở kinh tế xã hội của xã hội

Trang 25

 Hiến pháp xã hội chủ nghĩa là đạo luật cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Hiến pháp tư sản chủ nghĩa có những đặc điểm sau:

 Tất cả các Hiến pháp tư sản đều tìm mọi cách để che giấu bản chất giai cấp tư sản,

nó luôn thể hiện quyền thống trị của mình dưới khái niệm “chủ quyền nhân dân”

 Tất cả Hiến pháp tư sản đều ghi nhận, củng cố quyền chiếm hữu tư nhân tư bảnchủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất và hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa dưới nhữnghình thức khác nhau

 Hai hình thức chính thể phổ biến thường được các Hiến pháp tư sản ấn định làquân chủ lập hiến (như Anh, Nhật, Thái Lan ) và cộng hòa (như Pháp, Mỹ ).Nhưng dưới hình thức chính thể nào thì cũng là sự thể hiện quyền thống trị của giaicấp tư sản

 Hiến pháp tư sản thường có một số quy định nhắm bảo đảm cho Hiến pháp đượcthực hiện Trung tâm của những bảo đảm này là hoạt động của Toà án Hiến pháphay Hội đồng Hiến pháp

 Hiến pháp tư sản thường thể hiện với những biến dạng khác nhau nguyên tắc “phânchia quyền lực “ và quy định một cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước bảo đảm quyềnthống trị của giai cấp tư sản, tìm mọi cách loại trừ, hạn chế sự tham gia của nhândân vào việc thực hiện quyền lực nhà nước

 Hiến pháp tư sản đều có ghi nhận các quyền và tự do của công dân trong xã hội tưsản, trước hết là quyền và tự do cá nhân nhưng không phải các quyền và tự do nàyđương nhiên có được mà đó là thành quả đấu tranh kiên trì, quyết liệt của nhân dânlao động giành quyền sống và quyền tự do

4 Đặc trưng cơ bản của Hiến pháp

Hiến pháp nói chung có nhiều đặc trưng như: là văn bản chính trị, văn bản tổ chức

- pháp lý, văn bản tư tưởng Dưới góc độ tổ chức quyền lực nhà nước, Hiến pháp thểhiện ba đặc trưng cơ bản sau:

4.1 Hiến pháp là văn bản tuyên bố long trọng quyền dân chủ của công dân

Dân chủ nghĩa là quyền lực nhân dân, là một loại hình nhà nước

Dưới chế độ quân chủ, mọi quyền lực nhà nước tập trung vào tay vua Người dân

bị đặt vào vị trí thần dân, họ không có các quyền dân chủ

Hiến pháp ra đời ghi nhận thành quả thắng lợi của cách mạng dân chủ tư sản và saunày là Cách mạng xã hội chủ nghĩa - bước phát triển cao của chế độ dân chủ - cũng chính

là sự ghi nhận quyền dân chủ của nhân dân, đưa người dân từ địa vị thần dân lên địa vịcông dân Chẳng hạn như, việc Hiến pháp ghi nhận quyền bầu cử và quyền ứng cử chính

là sự tuyên bố long trọng quyền lực nhân dân

Trang 26

4.2 Hiến pháp - văn bản tổ chức quyền lực nhà nước

- Hiến pháp quy định chính thể nhà nước Tùy theo cách tổ chức các cơ quan nhànước ở trung ương mà xác định chính thể nhà nước đó là quân chủ lập hiến hay cộng hòa.Việc lựa chọn hình thức chính thể có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức quyền lực nhànước của mỗi quốc gia

- Hiến pháp xác định hình thức cấu trúc của nhà nước, là liên bang hay đơn nhất,phân định thẩm quyền, phân cấp quyền hạn giữa các chủ thể, các bộ phận trong cơ cấu đó

- Hiến pháp tuyên bố quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nguyên tắc tổ chứcquyền lực nhà nước, xác lập hệ thống chính trị để thực hiện dân chủ, tùy thuộc vào từngchế độ

- Hiến pháp quy định một hệ thống chế độ xã hội của nhà nước làm cơ sở xã hộicho việc tổ chức quyền lực nhà nước Với những quy định về chế độ xã hội khác nhau sẽquyết định đến bản chất nhà nước và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước khác nhau

- Hiến pháp thiết lập một hệ thống tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước Đó làviệc thiết lập một hệ thống các cơ quan nhà nước, quy định nguyên tắc hoạt động, thẩmquyền và các mối quan hệ qua lại giữa chúng

4.3 Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nhà nước

Hiến pháp về bản chất là đạo luật, song đây là đạo luật đặc biệt có vị trí cơ bảnđứng trên các đạo luật khác Tính luật cơ bản của Hiến pháp thể hiện ở chỗ các quy phạmcủa nó mang tính cơ sở, nền tảng cho mọi chế độ nhà nước

- Hiến pháp thể hiện tư tưởng của Đảng cầm quyền, đề ra phương hướng phát triểncủa mỗi nhà nước

- Hiến pháp quy định cơ sở nền tảng của nhà nước Đó là quy định về chế độ chínhtrị, kinh tế, xã hội, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, các nguyên tắc cơ bản tổ chức

bộ máy nhà nước

- Hiến pháp là cơ sở của hệ thống pháp luật các quy phạm Hiến pháp là cơ sở,nguyên tắc cho các ngành luật của mỗi nước Mặt khác, Hiến pháp còn đóng vai trò là sựbảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật Mọi văn bản pháp luật khác được banhành đều phải tuân theo Hiến pháp

- Hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất, có thủ tục thông qua và sửa đổi chặt chẽ

Để bảo đảm nguyên tắc này, hiện tại ở nhiều nước đã thiết lập chế độ giám sát Hiến pháp

ở toà án Hiến pháp, toà án tối cao hoặc hội đồng Hiến pháp

Trang 27

BÀI 4

LỊCH SỬ LẬP HIẾN VIỆT NAM

1 Tư tưởng lập hiến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trước Cách mạng Tháng tám năm 1945, nước ta là một nước thuộc địa nửa phongkiến với chính thể quân chủ chuyên chế không có Hiến pháp Tuy nhiên vào những nămđầu thế kỷ XX do ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản Pháp 1789, ảnhhưởng của Cách mạng Trung Hoa năm 1911 và chính sách duy tân của Minh Trị thiênhoàng (Nhật), ở Việt Nam đã xuất hiện tư tưởng lập hiến Có hai khuynh hướng chính trịchủ yếu trong thời gian này là khuynh hướng xây dựng nhà nước quân chủ lập hiến trong

sự thừa nhận quyền bảo hộ của Chính phủ Pháp do nhóm Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh,

Lê Văn Bông chủ xướng Khuynh hướng thứ hai của những chí sĩ yêu nước như PhanChu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng sau này là Nguyễn Ái Quốc với chủtrương giành độc lập, tự do cho dân tộc, tiếp đó sẽ xây dựng Hiến pháp của Nhà nước độclập Không có độc lập, không có tự do thì không thể có Hiến pháp thực sự

2 Các Hiến pháp Việt Nam

2.1 Hiến pháp 1946

Nhận thức rõ tầm quan trọng của bản hiến văn, ngoài việc là nguồn gốc, cơ sở củacác ngành luật khác, còn là một văn bản mang tính hiến chương gần giống như các bảntuyên ngôn độc lập cho Nhà nước, Đảng và Hồ Chủ tịch rất quan tâm đến việc soạn thảo

và thông qua Hiến pháp Chỉ sau ngày tuyên bố độc lập, ngày 3 tháng 9 năm 1945, trongphiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chủ tịch

đã đề ra sáu nhiệm vụ, trong đó có việc ban hành Hiến pháp

(Bên cạnh đó tình hình quốc tế là sự thất bại của phe phát - xít và sự chiến thắng của phe đồng minh tạo nhiều điệu kiện thuận lợi cho nhà nước ta)

Dự thảo Hiến pháp được thông qua tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I ngày 9tháng 11 năm 1946 Hiến pháp được thông qua thể hiện đúng tư tưởng chỉ đạo của Dảng

và của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, trai gái, giaicấp, tôn giáo; Tất cả cho cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, bảo đảm các quyền tự

do dân chủ cho nhân dân và xây dựng một chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân

Hiến pháp gồm 7 chương: Chương I nói về chính thể, Nhà nước ta là Nhà nướcdân chủ cộng hòa, một loại hình phổ biến của nhiều nước vừa thóat khỏi ách thống trị củathực dân phong kiến Chương này hiến văn khẳng định bản chất Nhà nước Việt Nam - Tất

Trang 28

cả quyền lực thuộc về nhân dân Việt Nam; Chương II Hiến pháp đề cập đến nghĩa vụ vàquyền lợi cơ bản của công dân; Chương III đến Chương VI Hiến pháp quy định cơ cấu tổchức bộ máy Nhà nước - Nghị viện nhân dân, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy banhành chính và Toà án.

Do tình hình chiến tranh, cho nên Hiến pháp 1946 chưa được Chủ tịch nước công

bố cho toàn dân thực hiện, nhưng dựa trên sự chỉ đạo của Hồ Chủ tịch, tùy tình hình thựctiễn mà tinh thần của các quy định Hiến pháp được thực hiện trên thực tế

2.2 Hiến pháp năm 1959

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, miền Bắc tiến lên xây dựng xã hội chủnghĩa, miền Nam tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ Hiến pháp 1946, theo nhậnđịnh của Đảng, đã hoàn thành sứ mạng của mình Vì vậy với tình hình mới cần phải cómột bản Hiến pháp mới

Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội khóa I kỳ họp thứ 11 ngày 31/12/1959 thôngqua, gồm 10 chương chia làm 112 điều

Chương I: Quy định chính thể của Nhà nước ta vẫn là Nhà nước dân chủ cộng hòa,tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực của mìnhthông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu tráchnhiệm trước nhân dân Bản chất của Nhà nước ta là “Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trênnền tảng của liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”

So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 có thêm chương nói về chế độ kinh tế và

xã hội - chương II Điều 9 của chương này quy định: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòatiến dần từ chủ thể dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạonền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế

xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, và kỹ thuật khoa học tiêntiến”

Chương III, Hiến pháp 1959 quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Chương IV đến chương VIII, Hiến pháp quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy Nhànước

2.3 Hiến pháp năm 1980

Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cảnước tiến lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp 1959 hoàn thành nhiệm vụ của mình, đất nướcchúng ta lại cần một bản Hiến pháp mới - Hiến pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm

vi cả nước Hiến pháp 1980 được Quốc hội khóa VI kỳ họp thứ 7 ngày 18/12/1980 Hiếnpháp này gồm 12 chương có 147 điều

Chương I, Hiến pháp quy định chế độ chính trị của nước ta là: “Nhà nước cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước chuyên chính vô sản Sứ mệnh lịch sử của

Trang 29

Nhà nước, đó là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động, động viên và tổ chứcnhân dân tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng; cách mạng về quan hệ sản xuất; cáchmạng khoa học kỹ thuật: cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học

kỹ thuật làm then chốt, tiến hành xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội tiến tới chủ nghĩacộng sản”

Chương II, Hiến pháp quy định chế độ kinh tế

Chương III, Hiến pháp quy định chính sách văn hóa, giáo dục, khoa học, côngnghệ

Từ chương IV cho đến chương X, Hiến pháp quy định tổ chức bộ máy Nhà nước.Cũng như Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 chứa đựng nhiều quy định của cơ chếtập trung, quan liêu, bao cấp và những nhận thức cũ của chúng ta về chủ nghĩa xã hội

2.4 Hiến pháp năm 1992

Sau một thời gian phát huy hiệu lực, nhiều quy định của Hiến pháp 1980 đã tỏ rakhông còn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội đất nước Tình hình thực tiễncủa đất nước đòi hỏi phải có một bản Hiến pháp mới, phù hợp hơn để thúc đẩy sự tiến bộ

xã hội, nâng cao đời sống của người dân

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã mở ra một thời kỳ đổi mới ở nước

ta Đảng chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện những sai lầm của Đảng, của Nhànước, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của các tầnglớp nhân dân lao động, trên cơ sở đó để có những nhận thức mới đúng đắn về chủ nghĩa

xã hội và vạch ra những chủ trương, chính sách mới nhằm xây dựng một xã hội dân giàu,nước mạnh, công bằng và văn minh

Hiến pháp 1992 gồm lời nói đầu và 147 điều chia làm 12 chương

Chương I: Chương về chế độ chính trị, xác định những nguyên tắc cơ bản của tổchức quyền lực chính trị Nhà nước của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là quyền lực Nhànước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nôngdân và tầng lớp trí thức Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước

và xã hội Việt Nam, nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, nguyên tắc tậptrung dân chủ, nguyên tắc bầu cử

Khác với Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 không dùng thuật ngữ “Nhà nướcchuyên chính vô sản” mà dùng thuật ngữ “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân” Việc thay đổi thuật ngữ này không làm thay đổi bản chất Nhà nước mà chỉ đểlàm rõ bản chất Nhà nước “của dân, do dân và vì dân” của Nhà nước ta, phù hợp vớichính sách đoàn kết các dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và phù hợp với xu thế của quốc

tế và thời đại

Ngoài ra Hiến pháp 1992 còn quy định một đường lối đối ngoại rộng mở, thực hiệnchính sách hòa bình hữu nghị, tăng cường giao lưu hợp tác với tất cả các nước trên thế

Trang 30

giới, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập,chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,bình đẳng và các bên cùng có lợi, tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chungcủa nhân dân thế giới, vì độc lập, hòa bình dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Chính sáchđối ngoại đúng đắn và phù hợp với thời đại của Hiến pháp 1992 đã tạo tiền đề cho nhữngthắng lợi lớn của nước ta trong lĩnh vực hợp tác kinh tế với ngoài.

Chương II: Chương về chế độ kinh tế, đây là chương được thay đổi một cách cơbản nhất, thể hiện rõ quan điểm đổi mới của đảng và Nhà nước ta Hiến pháp xác địnhđường lối phát triển kinh tế của nước là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Mục đích chính sách kinh tế là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càngtốt nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sảnxuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tậpthể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức,thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật vàgiao lưu với thị trường thế giới

Như vậy, với Hiến pháp 1992, chúng ta đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóatập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sangnền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế: Nhà nước, tập thể, cá thể, tư bản tưnhân, tư bản nhà nước Hiến pháp đã xác định sự bình đẳng của các thành phần kinh tếtrước pháp luật, hơn nữa nhà nước còn khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu

tư vốn, công nghệ vào Việt Nam Nhà nước đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn,tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài

Ví dụ: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như tài sản hợp pháp của các

cá nhân, tổ chức khác không bị quốc hữu hóa (Điều 23, Điều 25)

Chương III: Chương về văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ

Chương IV: Chương bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Về cơ bản,chương này quy định giống như Hiến pháp 1980 là xác định đường lối quốc phòng toàndân Tuy nhiên Hiến pháp 1992 còn quy định bổ sung thêm về nhiệm vụ xây dựng công

an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa vào nhân dân vàlàm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội(Điều 47)

Chương V: Chương về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân So với Hiến pháp

1980, chương này có nhiều điều hơn (có 34 điều, Hiến pháp 1980 có 28 điều ), nhiềuquyền và nghĩa vụ được sửa đổi và bổ sung Hiến pháp 1992 lần đầu tiên quy định “cácquyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng” (Điều50), với quy định này, người không có quốc tịch cũng được Nhà nước ta tôn trọng và bảo

vệ cá quyền và lợi ích hợp pháp của họ Đặc biệt quyền tự do kinh doanh của công dân

Trang 31

cũng lần đầu được xác lập (Điều 57) Đây là một trong những chìa khóa quan trọng để mởcánh cửa tự do trong lĩnh vực hoạt động kinh tế của công dân, ngoài ra công dân còn cóquyền sở hữu “về tư liệu sản xuất, vốn và tài sản trong doanh nghiệp hoặc trong các tổchức kinh tế khác” (Điều 58) Những quy định này hơn bao giờ hết tạo điều kiện thuận lợicho người dân có được cuộc sống ổn định, trên cơ sở đó làm giàu cho xã hội.

Ngoài việc thiết lập các quyền mới, Hiến pháp còn sửa đổi một số quy định vềquyền của công dân không còn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và

không có tính khả thi

Chương VI: Quốc hội, xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

tổ chức của Quốc hội Về cơ bản nội dung quyền hạn giống như Hiến pháp 1980 quyđịnh, tuy nhiên có một số bổ sung về quyền hạn của Quốc hội như quyết định chươngtrình xây dựng luật, pháp lệnh, quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước, quyết địnhtrưng cầu ý dân (Điều 48) Nhìn chung nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội thể hiện trênbốn lĩnh vực:

+ Lập hiến và lập pháp

+ Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

+ Xây dựng, củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa

+ Thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhànước

Về cơ cấu tổ chức của Quốc hội theo Hiến pháp mới có một số thay đổi nhất định:

bỏ chế định Hội đồng nhà nước vừa là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên củaQuốc hội, vừa là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khôiphục lại chế định Ủy ban thường vụ Quốc hội và chế định Chủ tịch nước như Hiến pháp

1959 Theo Hiến pháp 1992, Chủ tịch và các Phó chủ tịch Quốc hội đồng thời là Chủ tịch

và các Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội Một số thành viên của các Hội đồng, uỷban của Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách (Điều 94, Điều 95) để đề cao hơnnữa vai trò của đại biểu Quốc hội

Chương VII: Chương Chủ tịch nước, giống như Hiến pháp 1959 chế định Chủ tịchnước được qui định thành một chế định riêng rẽ So với chế định Chủ tịch nước trong cácHiến pháp trước đây, chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1992 có nhiều điểm khácbiệt Hiến pháp 1946, Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu nhà nước vừa là người đứngđầu Chính phủ nên quyền hạn rất lớn Hiến pháp 1959 quy định Chủ tịch nước chỉ đứngđầu nhà nước chứ không đứng đầu Chính phủ nhưng quyền hạn của Chủ tịch nước vẫn rấtlớn vì “của xét thấy cần thiết, có quyền tham dự và chủ toạ các phiên họp của Hội đồngChính phủ “ (Điều 66) Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1980 không phải là cá nhân mà là

là Chủ tịch tập thể Nhưng thể chế Chủ tịch tập thể bộc lộ nhiều nhược điểm như khôngnhanh nhạy, không linh hoạt và khó khăn trong việc đối ngoại Vì thế Chủ tịch nước theo

Trang 32

Hiến pháp 1992 có quyền hạn không rộng như Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 màchủ yếu mang tính đại diện, biểu trưng cho dân tộc.

Chương VIII: Chính phủ, cũng như cơ quan “Hội đồng Chính phủ“ theo Hiến pháp

1959, Chính phủ theo Hiến pháp 1992 được qui định là cơ quan chấp hành của Quốc hội,

cơ quan nhà nước hành chính cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Nếu so sánh cả bốn bản Hiến pháp , chúng ta thấy quan niệm về tính chất của Chính phủ

có nhiều thay đổi nhất định Hiến pháp 1946 quy định Chính phủ là cơ quan chấp hànhcủa nghị viện Hiến pháp 1980 xây dựng Chính phủ (Hội đồng Bộ trưởng) theo mô hìnhHiến pháp xã hội chủ nghĩa nhưng với quan điểm quyền lực nhà nước tập trung thốngnhất vào Quốc hội Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất, thống nhất các quyền lậppháp, hành pháp, tư pháp và giám sát Các cơ quan nhà nước khác do Quốc hội lập ra đểthực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội

Hiến pháp 1992 kế thừa Hiến pháp 1959 xây dựng theo quan điểm quyền lực nhànước vẫn tập trung thống nhất nhưng cần phải có sự phân chia chức năng giữa các cơquan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền trên Vì vậy Hiến pháp 1992 quy định

“Chính phủ lá cơ quan chấp hành cho cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quanhành chính cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam“, nhờ vậy Chínhphủ có thể hoạt động một cách độc lập tương đối trong lĩnh vực hành chính nhà nước

Cách thức thành lập Chính phủ theo Hiến pháp 1992 hoàn toàn khác với Hiến pháp

1980 Hiến pháp 1992 chí có Thủ tướng Chính phủ là do Quốc hội bầu, miễn nhiệm vàbãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước, còn các phó Thủ tướng, các bộ trưởng và cácthành viên khác của Chính phủ sẽ được Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướngChính phủ Như vậy, Hiến pháp 1992 đề cao vai trò của Thủ tướng Chính phủ trong việcthành lập Chính phủ Có thể nói rằng đây là phương pháp hữu hiệu để xây dựng mộtchính quyền hành pháp mạnh mẽ Việc tăng cường vai trò của người đứng đầu Chính phủcòn thể hiện ở việc tăng thêm nhiều quyền hạn cho Thủ tướng Chính phủ mà trước đâycác Hiến pháp 1959, 1980 không quy định

Chương IX: Chương về Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Theo Hiến pháp

1992, nước ta chia làm ba đơn vị hành chính: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận,huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; xã, phường và thị trấn Ở tất cả các đơn vị hành chínhnói trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Tính chất của Hội đồngnhân dân vẫn như cũ là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địaphương bầu ra nhưng Hiến pháp mới nhấn mạnh tính đại diện của Hội đồng nhân dânhơn, làm cho Hội đồng nhân dân thực sự trở thành cơ quan có nhà nước quan trọng đảmbảo quyền làm chủ của nhân dân lao động

Theo quy định của Hiến pháp 1992, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân đượctăng cường Một số quyền hạn trước đây thuộc tập thể Ủy ban nhân dân, nay chuyển choChủ tịch Ủy ban nhân dân ( xem Điều 124 )

Trang 33

Hiến pháp mới đề cao hơn nữa vai trò của các tổ chức xã hội và đoàn thể quầnchúng trong quản lý nhà nước và xã hội

Theo quy định của Hiến pháp mới, có thể nói nhiệm vụ của toà án và Viện kiểmsát nhân dân không có gì thay đổi so với Hiến pháp 1980 Về tổ chức hệ thống cơ quantoà án được qui định tại Điều 127 - Hiến pháp 1992 và được cụ thể hóa bằng Luật tổ chứctoà án nhân dân năm 1992, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhândân năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức toà án nhân dân năm

1995 Theo quy định của các văn bản pháp luật trên, nước ta có các toà án sau đây:

- Toà án nhân dân tối cao;

- Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã , thành phố thuộc tỉnh;

- Toà án quân sự

- Các toà án khác do luật định

Trước năm 1992 trong hệ thống toà án nhân dân ở nước ta chỉ có toà hình sự và toàdân sự Đến nay trong hệ thống toà án cấp trung ương và cấp tỉnh còn có thêm toà laođộng, toà kinh tế và toà hành chính

Sự khác nhau cơ bản giữa tổ chức toà án nhân dân theo Hiến pháp 1992 và Hiếnpháp 1980 là Hiến pháp 1980 thực hiện chế độ thẩm phán bổ nhiệm Dựa trên tinh thầncủa Hiến pháp, luật tổ chức toà án nhân dân 1992 đã quy định chỉ có Chánh án toà ánnhân dân tối cao là do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịchnước, còn tất cả các thẩm phán của toà án nhân dân các cấp kể cả Phó chánh án Toà ánnhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và huyện, quận, thị xã, thành phố thuộctỉnh đều do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức (Điều 38) Nhiệm kỳ bổnhiệm của các thẩm phán là 5 năm Còn đối với các hội thẩm nhân dân thì kết hợp giữachế độ cử và chế độ bầu

Về nguyên tắc xét xử, Hiến pháp 1992 ghi nhận lại những nguyên tắc đã quy địnhtrong Hiến pháp 1980 Về Viện kiểm sát nhân dân, Hiến pháp 1992 cũng xác định tínhchất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như trước đấy nhưng về tổ chức và trách nhiệmcũng có những thay đổi và bổ sung nhất định Theo quy định của Hiến pháp 1992 và Luật

tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 cụ thể hóa quy định của Hiến pháp thì Việnkiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương thành lập Ủy ban kiểm sát Một số vấn đề trước đây do các Viện trưởng quyết địnhthì nay chuyển sang cho Ủy ban kiểm sát (xem Điều 28, 30 Luật tổ chức Viện kiểm sátnhân dân năm 1992) Ngoài ra còn có quy định mới về việc Viện trưởng Viện kiểm sátnhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thihành luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại diện Hội đồng nhân dân (Điều 140 -Hiến pháp 1992)

Trang 34

Các qui định trên đây về Viện kiểm sát nhân dân cho thấy Hiến pháp 1992 một mặtvẫn đề cao chế độ làm việc theo nguyên tắc thủ trưởng và trực thuộc một chiều để đề caotính độc lập của Viện kiểm sát nhân dân, mặt khác phải kết hợp nguyên tắc này với chế độbàn bạc tập thể khi Viện kiểm sát nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng Đồngthời Hiến pháp 1992 cũng quy định sự giám sát của Quốc hội cũng như Hội đồng nhândân các cấp đối với hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.

Chương XI: Quy định về Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày Quốc khánh.Chương này về cơ bản giữ nguyên các qui định của Hiến pháp 1980, chỉ bổ sung thêm vềviệc quy định ngày Quốc khánh của nước ta là ngày 2/9 - ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọcbản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Chương XII: Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp là chương cuốicùng, nội dung chương này hoàn toàn giống quy định của Hiến pháp 1980

Tóm lại, Hiến pháp 1992 đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của lịch sử lậphiến Việt Nam Đây là bản Hiến pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mớitoàn diện và sâu sắc về kinh tế, từng bước và vững chắc về chính trị Đây là bản Hiếnpháp kế thừa có chọn lọc những tinh hoa của các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, đồng thời

là bản Hiến pháp vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội vào hoàn cảnh cụ thể của đấtnước Hiến pháp 1992 đánh dấu sự phục hưng và phát triển của nền tảng kinh tế của xãhội Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ Được ban hành trong tình hình thế giới đang cónhững biến động nhanh chóng, phức tạp, trước sự đổ vỡ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa,trong điều kiện công cuộc đổi mới mặc dù đã dành được một số thắng lợi, nhưng còn rấtnhiều khó khăn, Hiến pháp 1992 là biểu hiện sự đồng tâm, nhất trí cao độ của Đảng vànhân dân ta trong việc tiếp tục con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội

Ngoài ra, đây còn là bản Hiến pháp thể hiện sự độc lập và tự chủ trên tiến trìnhphát triển của nền triết học pháp quyền Việt Nam, một nền triết học pháp quyền thể hiệnbản sắc dân tộc, đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn với tính quốc tế và hiện đại trên cơ sởphát triển những tinh hoa của nền văn hóa pháp lý Việt Nam và sự tiếp thu những tinh hoavăn hóa pháp lý thế giới

3 Tư tưởng xuyên suốt lịch sử lập hiến Việt Nam

Qua bốn bản Hiến pháp nêu trên đều thể hiện rõ tư tưởng sau đây:

- Xuất phát từ bài học giành độc lập đầy gian khổ và hy sinh, các bản Hiến phápcủa Nhà nước ta đều khẳng định rõ: Nhà nước ta là Nhà nước độc lập có chủ quyền, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời

- Các Hiến pháp của nước ta đều khẳng định bản chất Nhà nước ta là Nhà nước củadân, do dân và vì dân Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về

Trang 35

mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhândân.

- Việc tổ chức quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc tập quyền không phân chiatheo quan điểm “tam quyền phân lập” của các nhà nước tư bản Quyền lực nhà nước tậptrung vào Quốc hội nhưng vẫn có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan tạothành hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước

- Việc tổ chức quyền lực nhà nước luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộngsản - Đảng của liên minh giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, được tổ chức dựa trênnền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

- Càng ngày Hiến pháp Việt Nam càng thể hiện xu thế có tính quy luật, mở rộngquyền dân chủ của nhân dân

Trang 36

đề chính trị, nếu giải quyết vấn đề đó động chạm đến quyền lợi giai cấp, chính quyền nhànước vì vậy chính trị chính là vấn đề thực hiện quyền lực nhà nước, quyền lực thuộc về ai

và phục vụ, bảo vệ quyền lợi cho ai, cho giai cấp nào, tầng lớp nào trong xã hội” ( V.ILênin)

Theo tự điển Bách khoa Việt Nam, thuật ngữ "Chế độ chính trị" được hiểu là nộidung phương thức tổ chức và hoạt động của tổ chức chính trị quốc gia mà trung tâm làNhà nước Chế độ chính trị được cấu thành bởi sự kết hợp các yếu tố : chính trị, kinh tế -

xã hội, tư tưởng văn hóa, pháp luật Chế độ chính trị được biểu hiện rõ nét nhất trong môhình tổ chức nhà nước, trong Hiến pháp của mỗi một nhà nước quy định về nguồn gốc vàtính chất của quyền lực, sự phân bổ và tổ chức các cơ quan quyền lực nhà nước và mốiquan hệ giữa các cơ quan quyền lực, về những quan hệ của nhà nước với công dân, cácđảng phái chính trị, các tổ chức xã hội giữa các dân tộc trong nước và trên thế giới

Nhưng nếu xem xét dưới góc độ là một chế định của luật Hiến pháp Việt Nam thìchế độ chính trị là tổng thể các quy định của chương I, chương đầu tiên của bản hiến văn,quy định những vấn đề có tính chất nguyên tắc chung làm nền tảng cho mọi chương saunày Đó là những quy định nói về bản chất nhà nước, nguồn gốc nhà nước, sự lãnh đạocủa Đảng đối với mọi hoạt động của nhà nước và xã hội, và những nguyên tắc cơ bản, tổchức, hoạt động bộ máy nhà nước

" Chế độ chính trị" dùng trong các Hiến pháp Việt Nam là thuật ngữ được kháiquát hóa cao tất cả các hoạt động chính trị của xã hội Việt Nam Hoạt động chính trị đượcthể hiện rất nhiều, nhưng chủ yếu vẫn là thông qua hoạt động của các bộ phận cấu thànhnhà nước Việt Nam

Luật Hiến pháp là luật quy định hoạt động chính trị, tức là luật quy định chế độchính trị Chế độ chính trị là đối tượng điều chỉnh quan trọng bậc nhất của Hiến pháp.Mỗi một bản Hiến pháp xác định cho xã hội một chế độ chính trị tương ứng Khi thay đổi

Trang 37

chính trị là cũng cần thay đổi Hiến pháp Nếu chế độ chính trị không thay đổi, mà thay đổiHiến pháp, thì sự thay đổi đó chẳng qua là sự chỉnh lý sửa đổi mà thôi.

Với tư cách là một chế định của ngành Luật Hiến pháp, chế độ chính trị bao gồmtổng thể các quy phạm pháp luật được chứa đựng trong chương đầu tiên của Hiến pháp.Các quy phạm này xác định:

+ Bản chất quyền lực Nhà nước, nguồn gốc quyền lực Nhà nước

+ Hình thức tổ chức cấu trúc Nhà nước cũng như các nguyên tắc chính của việc tổchức Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Chính thể và hệ thống chính trị

2 Bản chất và nguồn gốc quyền lực của nhà nước Việt nam

Bản chất và nguồn gốc của quyền lực Nhà nước trong khoa học luật Hiến phápcũng đồng thời là bản chất, nguồn gốc của Nhà nước Đây là một vấn đề cơ bản nhất củaNhà nước cần phải được qui định trong Hiến pháp

Kể từ khi có Nhà nước Việt Nam mới, từ cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhànước Việt Nam luôn luôn thể hiện bản chất giai cấp vì nhân dân lao động của mình Bảnchất của quyền lực Nhà nước của dân, do dân và vì dân, luôn được qui định thành văntrong các Hiến pháp Bản chất này luôn được qui định trang trọng trong những điều đầutiên của mỗi một bản hiến văn, và trở thành một trong những tiêu chí cơ bản để khẳngđịnh chính thể cộng hòa của mình

Khái niệm Nhà nước thuộc về nhân dân trong luật Hiến pháp còn được sử dụngđồng nghĩa với khái niệm quyền lực nhân dân, khái niệm này còn đồng nghĩa với kháiniệm dân chủ Trong các Nhà nước quân chủ chuyên chế không thể có khái niệm quyềnlực nhân dân Ở các Nhà nước đó quyền lực nằm trong tay Hoàng đế, người được coi làthay trời, thay chúa trị vì nhân dân Quyền lực Nhà nước luôn luôn gắn liền với sự thần bí,với tôn giáo Chủ quyền của quốc gia được coi như là một thứ tài sản được nhà Vuachiếm hữu, sử dụng, định đoạt và được để lại cho con cháu nhà vua theo nguyên tắc kếthừa

Khi cách mạng dân chủ tư sản ra đời, giai cấp tư sản đã thay thế chính thể quânchủ bằng chính thể cộng hòa; và để chống lại chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ phongkiến cổ hủ bằng các Hiến pháp của mình, giai cấp tư sản đã ghi nhận quyền lực của nhândân, chủ quyền của nhân dân Việc quy định quyền lực nhân dân của Nhà nước đánh dấumột giai đoạn phát triển mới của tư tưởng dân chủ của nhân loại

Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2/9/1945 cho đến ngàynay quyền lực thuộc về nhân dân bao giờ cũng là nguyên tắc quan trọng nhất trong việcxây dựng chế độ chính trị của Nhà nước ta Quyền lực của nhân dân đó là bản chất củaNhà nước dân chủ nói chung và của Nhà nước ta nói riêng Điều 6, Hiến pháp 1980; Điều

Trang 38

2 và Điều 6 trong Hiến pháp 1992 vẫn giữ nguyên nguyên tắc đó trong đạo luật cơ bảncủa Nhà nước Như vậy chúng ta thấy rằng tuy về hình thức Nhà nước thay đổi về chínhthể cộng hòa dân chủ nhân dân (Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959) sang Cộng hòa xã hộichủ nghĩa (Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi) nhưng bản chấtquyền lực thuộc về nhân dân, nguyên tắc quyền lực nhân dân chỉ hòan thiện thêm chứkhông thay đổi.

Nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân (Điều 2 Hiến pháp 1992 sửa đổi),

có nghĩa là tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Việt Nam Quyền lực Nhà nướckhông thể thuộc về một một đẳng cấp, một tổ chức xã hội hay một nhóm người nào.Quyền lực Nhà nước phải hoàn toàn thuộc về nhân dân lao động bao gồm giai cấp côngnhân và giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và những người lao động khác mà nòng cốt làliên minh công nhân, nông dân, trí thức Nhân dân có quyền tự do thể hiện ý chí của mình

và thông qua các đại biểu của mình biến ý chí đó thành ý chí Nhà nước, thành quy phạmpháp luật buộc mọi thành viên trong xã hội phải thực hiện

Hình thức chủ yếu thực hiện quyền lực nhân dân ở nước ta là hình thức dân chủ đạidiện Đây là hình thức nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua các cơ quan đạidiện của mình , đó là Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp Quốc hội là cơ quan đạibiểu cao nhất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra Quốc hội là cơ quan quyền lựcNhà nước cao nhất thay mặt cho nhân dân cả nước giải quyết những công việc quan trọngnhất của đất nước Như vậy thông qua Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhấtcủa mình, nhân dân thể hiện quyền làm chủ đất nước

Ngoài hình thức dân chủ đại diện nhân dân lao động còn thực hiện quyền lực củamình dưới hình thức dân chủ trực tiếp Đó là việc nhân dân trực tiếp tham gia vào côngviệc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, tham gia thảo luận Hiến pháp và pháp luật, trựctiếp thể hiện ý chí của mình, khi có trưng cầu dân ý Nhân dân trực tiếp bầu ra các đạibiểu của mình vào các cơ quan quyền lực Nhà nước trung ương và địa phương và cóquyền bãi miễn các đại biểu đó khi họ tỏ ra xứng đáng với danh hiệu đại biểu Các đạibiểu Quốc hội và đại biểu Hội động Nhân dân phải báo cáo công việc của mình trước cửtri

Muốn bảo đảm nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân chúng ta phải coi trọng cảhai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Hai hình thức này bổ sung cho nhau,xem nhẹ một hình thức nào cũng sẽ làm hạn chế quyền lực của nhân dân

3 Hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hệ thống chính trị nói chung là "một cơ cấu bao gồm nhà nước, các đảng phái, cácđoàn thể, các tổ chức chính trị tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật hiệnhành, được chế định theo tư tưởng giai cấp cầm quyền, nhằm tác động vào các quá trìnhkinh tế - xã hội với mục đích duy trì và phát triển chế độ đó" Xuất phát từ bản chất của

Trang 39

chế độ chính trị và những điều kiện lịch sử cụ thể, hệ thống chính trị của mỗi nước cũng

có những đặc thù riêng Hệ thống chính trị của nước ta hình thành và phát triển trong quátrình đấu tranh cách mạng, chính thức ra đời từ cách mạng tháng Tám và ngày càng hoànthiện

Theo những qui định trong chương I, Hiến pháp năm 1992, hệ thống chính trị củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhànước, Công đoàn, Hội nông dân , Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ Mặt trận Tổ quốc và các

tổ chức chính trị-xã hội khác hoạt động trên cơ sở lấy giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản để thựchiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân

Vị trí, vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong hệ thống chính trị

Lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển nhà nước ở nước ta cũng như các nước xã hộichủ nghĩa đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Sự sụp đổ của chủ nghĩa

xã hội ở Liên xô và các nước Đông Âu trước đây đã chỉ ra rằng: “Khi Đảng của giai cấpcông nhân bị mất quyền lãnh đạo nước, thì chính quyền cũng không còn nằm trong taynhân dân và chế độ xã hội thay đổi” (Trích văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lầnthứ VII) Vì thế, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định việc giữ vững bảnchất giai cấp của nhà nước

Đảng cộng sản là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị nhưng Đảng là hạtnhân của hệ thống đó Ngày nay, trong công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội,

vị trí hạt nhân và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị lại càng thể hiệnmột cách rõ nét và đầy đủ Đương nhiên để giữ được vị trí và vai trò của mình, Đảng

“phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tựchỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực lãnh đạo” (trích trang 22 - “Đảngcộng sản Việt Nam - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội “ NXB Sự thật - 1991) Trong lịch sử Hiến pháp Việt Nam, vị trí, vai trò lãnh đạo củaĐảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị luôn được thể hiện trong các bản Hiến pháp.Tuy nhiên, cách thể hiện có khác nhau:

Hiến pháp năm 1946 mặc dù thực tế cách mạng vẫn dưới sự lãnh đạo đạo củaĐảng, của giai cấp công nhân nhưng do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ chưa đề cập côngkhai Biểu hiện là chế định Chủ tịch nước thể hiện tập trung quyền lãnh đạo của Đảng (HồChủ Tịch là người sáng lập đồng thời là vị Chủ tịch đầu tiên) Ở đây sự lãnh đạo củaĐảng được đảm bảo bằng người đứng đầu Đảng đồng thời là người đứng đầu bộ máy nhànước; thông qua đó mà đường lối, chính sách và quan điểm của Đảng được thực hiện vàtrở thành hiện thực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Hiến pháp năm 1959 đã thể hiện quyền lãnh đạo của Đảng một cách công khai mặc

dù chỉ trong Lời nói đầu: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủnước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh Nhân dân ta nhất định xây

Trang 40

dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàumạnh ”

Hiến pháp năm 1980 đã thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng một cách cụ thể vàmạnh mẽ hơn (cả trong lời nói đầu và Điều 4 Hiến pháp) Lần đầu tiên, thuật ngữ mới

“Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng “ được sử dụng

Hiến pháp năm 1992 đã có cách thể hiện ngắn gọn hơn, chặt chẽ hơn đồng thờicũng đúng mức hơn vai trò lãnh đạo của Đảng Điều 4 ghi rõ: “Đảng cộng sản Việt Nam,đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giaicấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội Mọi tổ chức Đảng hoạtđộng trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật “

Về thực chất, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là lãnh đạo chínhtrị mang tính định hướng, tạo điều kiện để Nhà nước và các tổ chức thành viên của hệthống chính trị có cơ sở để chủ động sáng tạo trong tổ chức và hoạt động bằng nhữngcông cụ, phương pháp và biện pháp cụ thể cuả mình Phương pháp để thực hiệnnhữngnhữngquyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là những phương pháp dân chủ,giáo dục, thuyết phục và dựa vào uy tín, năng lực của các Đảng viên và tổ chức cơ sởĐảng

So với các Đảng chính trị cầm quyền trong các nhà nước khác, vị trí, vai trò lãnhđạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội có những đặc trưng riêngnhư: Quyền lãnh đạo của Đảng được ghi nhận trong Hiến pháp; cơ sở chính trị xã hội củaĐảng rất rộng rãi; sự lãnh đạo của Đảng được tất cả các tổ chức chính trị xã hội thừanhận; Đảng là đại biểu trung thành cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng và của cả dân tộc Vì vậy, những chủ trương và quan điểm lớn của Đảng thườngđược mọi tầng lớp nhân dân quan tâm, tham gia góp ý kiến từ khi soạn thảo và tích cựcủng hộ, tổ chức thực hiện trên thực tế

Những năm vừa qua, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội

đã có nhiều tiến bộ, tạo tiền đề cho việc kiện toàn và phát huy vai trò và hiệu lực quản lýcủa Nhà nước, xây dựng và đổi mới hệ thống chính trị, phát huy quyền làm chủ của nhândân Tuy nhiên, sự lãnh đạo của Đảng vẫn chưa được tăng cường đúng mức Tình trạngĐảng viên làm thay, can thiệp sâu vào công việc thuộc chức năng của Nhà nước vẫn còntồn tại, chưa phát huy hết khả năng của các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chínhtrị và quyền làm chủ của nhân dân Để khắc phục khuyết điểm này, Đảng ta đã chủ trương

và kiên quyết tự đổi mới và chấn chỉnh, phát huy ở tầm cao hơn bản lĩnh và sức chiến đấucủa Đảng đặc biệt là về năng lực tổ chức, chỉ đạo thực hiện, vươn lên ngang tầm đòi hỏiđối với trách nhiệm lãnh đạo đất nước trong giai đoạn mới

Nhà nước có vị trí trung tâm và vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta

Ngày đăng: 01/01/2017, 20:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w