Phương thức thứ hai của nội dung của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩalà: trong điều kiện hiện tại cơ quan đại diện quyền lực nhà nước của nhân dânQuốc hội do phương thức hoạt động t
Trang 2BÀI 1 KHÁI QUÁT VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM 1
1 Khái niệm và đặc điểm của bộ máy nhà nước 1
2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước 3
3 Hệ thống các cơ quan nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 7
4 Sự phát triển của bộ máy nhà nước Việt Nam qua các Hiến pháp 10
BÀI 2 CHẾ ĐỘ BẦU CỬ 14
1 Khái niệm chế độ bầu cử 14
2 Các nguyên tắc bầu cử 15
3 Quyền bầu cử và ứng cử 17
4 Các qui định về số đại biểu, đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu 19
5 Các tổ chức phụ trách bầu cử 21
6 Trình tự bầu cử và kết quả bầu cử 23
7 Việc bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung 24
8 Việc bãi nhiệm đại biểu 25
BÀI 3 QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 26
1 Khái quát về sự ra đời và phát triển của Quốc hội nước ta 26
2 Vị trí, tính chất và chức năng của Quốc hội 27
3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội 28
4 Tổ chức bộ máy nhà nước 29
5 Giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật 29
6 Cơ cấu tổ chức của Quốc hội 30
7 Kỳ họp Quốc hội 33
8 Đại biểu Quốc hội 35
BÀI 4 CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 38
1 Vị trí của Chủ tịch nước Việt Nam qua các bản Hiến pháp 38
2 Thẩm quyền của Chủ tịch nước 40
3 Việc bầu cử chủ tịch nước và phó chủ tịch nước 44
BÀI 5 CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 46
Trang 33 Cơ cấu, tổ chức của Chính phủ 53
4 Các hình thức hoạt động của Chính phủ 54
BÀI 6 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN NHÂN DÂN 58
A SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN NHÂN DÂN 58
B HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 60
1 Vị trí, tính chất pháp lý của Hội đồng nhân dân 60
2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân 61
3 Cơ cấu, tổ chức của Hội đồng nhân dân 66
4 Hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân 68
5 Đại biểu Hội đồng nhân dân 70
C ỦY BAN NHÂN DÂN 71
1 Vị trí, tính chất pháp lý của Ủy ban nhân dân 71
2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân 73
3 Cơ cấu, tổ chức của Ủy ban nhân dân 76
4 Các hình thức hoạt động của Ủy ban nhân dân 78
BÀI 7 TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 81
A TÒA ÁN NHÂN DÂN 81
1 Vị trí pháp lý, vai trò của Toà án nhân dân 81
2 Những nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân 82
3 Cơ cấu tổ chức của hệ thống Toà án nhân dân 87
4 Các Toà án quân sự 90
B.VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 92
1 Vị trí pháp lý, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân 92
2 Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO A
Trang 5BÀI 1 KHÁI QUÁT VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1 Khái niệm và đặc điểm của bộ máy nhà nước
Khái niệm bộ máy nhà nước được hiểu khác nhau qua các thời kỳ lịch sử.Thời kỳ đầu với cách tổ chức còn đơn giản, bộ máy nhà nước là bộ máy cai trị vớicác cơ quan hành chính, cảnh sát, quân đội Đến thời kỳ hiện đại, bộ máy nhà nước(nhất là ở các nước xã hội chủ nghĩa) được bổ sung nhiều cơ cấu, thành phần và dovậy cũng có khá nhiều các quan niệm khác nhau về bộ máy nhà nước Tuy nhiên,quan niệm phù hợp hơn cả là quan niệm coi bộ máy nhà nước là một tổng thể các cơquan nhà nước, cấu thành một hệ thống liên hệ chặt chẽ theo thứ bậc, cùng thựchiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Trước hết, bộ máy nhà nước được cấu thành từ các cơ quan nhà nước Vậy
cơ quan nhà nước là gì ?
Cơ quan nhà nước là một phần của bộ máy nhà nước Nó có những dấu hiệuđặc thù:
Cơ quan nhà nước được mang quyền lực nhà nước, tức là được qui
định các thẩm quyền thực hiện quyền lực nhà nước, thay mặt (nhân danh) Nhà nước
ra các quyết định bắt buộc chung và bảo đảm thực hiện
Quyền hạn có tính quyền lực nhà nước của Cơ quan nhà nước được đặctrưng bởi:
- Trình tự thành lập và hoạt động của cơ quan nhà nước, cơ cấu và thẩmquyền của chúng được pháp luật quy định;
- Có quyền ban hành văn bản pháp luật đề ra các qui định có tính bắt buộc và
Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo
những nguyên tắc nhất định
Mỗi một cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng tương ứng của
mình phù hợp với vị trí, vai trò của nó trong bộ máy nhà nước thông qua các cơ
Trang 6quan nhà nước, hoạt động của Nhà nước Từ đó cho thấy, chức năng của Nhà nước
về cơ bản được thực hiện thông qua chức năng của từng cơ quan nhà nước Các cơquan nhà nước, bằng việc thực hiện chức năng của mình đã đồng thời tham gia vàoviệc thực hiện các chức năng khác nhau của Nhà nước
Cơ quan nhà nước - để thực hiện chức năng của mình - được trang bị những phương tiện vật chất cần thiết.
Cơ quan nhà nước bao giờ cũng biểu hiện ra về mặt vật chất là những con người cấu thành - là một cá nhân hoặc một nhóm, một tập thể người Đó
là những người giữ các chức vụ nhà nước và gọi chung là công chức
Từ những phân tích dấu hiệu của cơ quan nhà nước trên đây có thể hìnhthành định nghĩa về cơ quan nhà nước:
Cơ quan nhà nước là một phần của bộ máy nhà nước, được thành lập và
hoạt động theo những nguyên tắc nhất định, được cấu thành từ các công chức, mang quyền hạn Nhà nước và có các phương tiện vật chất cần thiết để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Ở phương diện thứ hai, bộ máy nhà nước còn phải là một cơ chế, một trật tựsắp xếp hay nói cách khác là một hệ thống các Cơ quan nhà nước Tính hệ thốngnày biểu hiện dưới các dấu hiệu sau:
- Hệ thống đó được chi phối bởi một tổng thể các nguyên tắc tổ chức và hoạtđộng thống nhất, xuyên suốt Chẳng hạn, bộ máy nhà nước phong kiến gắn liền vớinguyên tắc tập quyền chuyên chế (quyền lực tập trung vào tay một người), bộ máynhà nước tư sản lại ngự trị nguyên tắc phân quyền, còn bộ máy nhà nước xã hội chủnghĩa thì tuân theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, tập trung dân chủ
- Hệ thống là một cơ cấu phức tạp, trong đó các loại cơ quan khác nhau có vịtrí khác hau tùy thuộc vào từng chế độ nhà nước
- Sự hiện diện của các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước luôn gắnliền với các chức năng của nhà nước Chức năng nhà nước luôn được thể hiện thôngqua bộ máy nhà nước Việc tổ chức ra cơ quan này hay cơ quan kia luôn gắn liềnvới nhu cầu thực hiện một chức năng nhất định
Ví dụ: Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta là một thiết chế ít thấy ở các nước
tư bản, đây là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp
- Ngoài những cơ quan nhà nước, bộ máy nhà nước còn bao gồm một loạtcác cơ quan, tổ chức, xí nghiệp, công ty thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cơ bảncủa cơ quan nhà nước Những phương tiện này không phải là những cơ quan nhànước song không một nhà nước nào lại có thể thiếu chúng
Vậy, bộ máy nhà nước là một tổng thể (hệ thống) các cơ quan nhà nước có
tính chất, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất vì được tổ chức và hoạt động theo
Trang 7những nguyên tắc thống nhất, qua đó thực hiện các chức năng cơ bản của Nhà nước.
2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là những tư tưởng nền tảng, những nguyên tắc chủ đạo làm cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Các nguyên tắc này được hình thành trên cơ sở các học thuyết khoa
học, từ sự đúc kết kinh nghiệm của việc tổ chức nhà nước
Mỗi một chế độ nhà nước đều có các nguyên tắc tổ chức và hoạt động khácnhau về bộ máy nhà nước Và ngay trong bản thân một nhà nước, các nguyên tắc đócũng được vận dụng theo từng mức độ khác nhau ở mỗi giai đoạn nhất định và luônluôn được bổ sung và hoàn thiện
Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa Bộ máy nhà nước ta đương nhiênđược tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung của chế độ xã hội chủnghĩa và đồng thời tổ chức bộ máy nhà nước với sự vận dụng phù hợp theo từnggiai đoạn lịch sử và theo từng phần hệ thống trong bộ máy đó Các nguyên tắc đóluôn luôn được bổ sung bởi các nhận thức mới và vận dụng thích hợp với từng điềukiện cụ thể
2.1 Nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa
Tập quyền là sự tập trung quyền lực nhà nước vào ai đó (cá nhân, cơ quan).
Trong chế độ phong kiến, bộ máy nhà nước về cơ bản là tổ chức theo nguyên tắctập quyền chuyên chế - quyền lực nhà nước tập trung tuyệt đối vào tay vua, hoàng
đế Chính đây là cội nguồn của sự độc đoán chuyên quyền (chuyên chế) của chế độphong kiến
Dần dần, với sự lớn mạnh của giai cấp tư sản, quyền lực của Vua đã bị san sẻcho một thiết chế mới được lập ra - Nghị viện
Ví dụ : Viện nguyên lão ở Anh thế kỷ XIII
Khi cách mạng tư sản thắng lợi (Thế kỷ XVII-XVIII) thì cùng với sự xác lậpquyền lực nhân dân (dân chủ) là sự thiết lập cơ chế đại nghị - một cơ chế nhà nước
tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, phủ định lại nguyên tắc tập quyền chuyên chếphong kiến Theo đó quyền lực nhà nước của nhân dân được phân ra các quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp, và trao cho ba cơ quan đảm nhiệm tương ứng là Nghịviện, Chính phủ và Tòa án Ba nhánh quyền lực này độc lập và đối trọng lẫn nhau.Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chủ trương xoá bỏ chế độ đại nghị
và thay vào đó (qua kinh nghiệm Công xã Pari) là cơ chế “tập thể hành động”, saunày được khái quát thành nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa
Nội dung của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa thể hiện ở chỗ: mọi quyền lực nhà nước của nhân dân (ngoài những quyền được thực hiện bằng con đường trực tiếp) được trao (uỷ quyền) cho cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà
Trang 8nước của nhân dân Đó là các Xô viết (ở Liên Xô cũ), Quốc hội (ở Trung Quốc,
Việt Nam) Các quan này nắm giữ các quyền của quyền lực nhà nước thống nhất, cónghĩa là chúng nắm tất cả các quyền lập pháp, tư pháp và giám sát Các cơ quan đạidiện này (ở trung ương và địa phương) là những cơ quan đại diện quyền lực nhànước duy nhất, là hình thức chủ yếu thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân
Trên tinh thần đó, Hiến pháp Việt Nam quy định “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà
nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” 1
Phương thức thứ hai của nội dung của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩalà: trong điều kiện hiện tại cơ quan đại diện quyền lực nhà nước của nhân dân(Quốc hội) do phương thức hoạt động theo kỳ họp và các đại biểu phần đông làkiêm nhiệm nên chưa thể thực hiện tất cả các quyền thuộc nội dung quyền lực nhànước, Quốc hội vừa tự mình vừa lập ra các cơ quan nhà nước khác và phân giao chochúng thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhất định Điểm mấu chốt là các cơ quan
đó (Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân) phải chịu sự giám sát(báo cáo công tác) và phải chịu trách nhiệm (bị bãi nhiệm, miễn nhiệm) trước cơquan quyền lực nhà nước
Hiến pháp 1946, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa mới áp dụng bước đầuthể hiện ở việc coi Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất, lập ra Chínhphủ, Nội các chịu trách nhiệm trước Nghị viện nhưng các cơ quan khác chưa chưahoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nghị viện Sang Hiến pháp 1959, nguyên tắc này
đã được áp dụng mạnh mẽ, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Hộiđồng chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốchội Đến Hiến pháp 1980, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đã được vậndụng triệt để Bộ máy nhà nước nước ta đã được xây dựng theo mô hình Nhà nước
Xã hội chủ nghĩa đang hiện hành (Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhândân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan chấphành và hành chính cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất v.v )
Hiện nay, theo tinh thần đổi mới, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đượcnhận thức lại và vận dụng hợp lý hơn Đó là: về nguyên tắc quyền lực nhà nước làthống nhất song có sự phân công, phối hợp giữa các Cơ quan nhà nước trong việcthực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Quan điểm mới này đã được thểhiển trong xây dựng bộ máy nhà nước tại Hiến pháp 1992 Ở đó Quốc hội vẫn là cơquan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện các quyền lập hiến, lập pháp, quyếtđịnh các vấn đề cơ bản của đất nước, giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động củaNhà nước và xã hội; các cơ quan nhà nước khác do Quốc hội thành lập, giám sáthoạt động và chịu trách nhiệm trước Quốc hội Quốc hội chỉ tập trung vào hoạtđộng lập pháp và giám sát, còn các cơ quan khác như Chính phủ, Tòa án nhân dân
Trang 9tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, kể cả Chủ tịch nước nếu cá nhân được phânđịnh chức năng nhiệm vụ rạch ròi hơn, có tính độc lập hơn, cùng nhau phối hợpthực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Nói tóm lại, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bảnxuyên suốt trong tổ chức bộ máy nhà nước nước ta
2.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ
Hiến pháp nước ta quy định “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan
khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”
(Điều 6 Hiến pháp 1992 (2001))
Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là sự kết hợp biện chứng giữa hai mặt: tập trung và dân chủ Tập trung thống nhất là bản chất chung của mọi Nhà nước Quyền lực nhà nước phải
được triển khai thống nhất, xuyên suốt trách sự chia cắt vô chính phủ Mặt khác quyền lực đó trong chế độ xã hội chủ nghĩa là bắt nguồn từ nhân dân, phục vụ nhân dân, phải chịu sự giám sát của nhân dân hay của các cơ quan đại diện Trên tinh
thần đó tập trung không xa rời dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện trong cơ chế trực thuộc hai chiều Tính
trực thuộc hai chiều thể hiện rõ nhất trong tổ chức và hoạt động của các cơ quanhành chính nhà nước Các cơ quan này chịu sự lãnh đạo, chịu trách nhiệm trước cấptrên, đồng thời chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhànước ở địa phương Về việc thành lập các cơ quan này có sự kết hợp giữa Hội đồngnhân dân và cơ quan hành chính cấp trên
Trong quá trình phát triển từ trước đến nay, trong từng thời kỳ có sự vận dụngkhác nhau tương quan giữa tập trung và dân chủ Ở thời kỳ đầu (giai đoạn 1945-1960) mặt tập trung được đề cao hơn Sau này (giai đoạn những năm 1980) mặt dânchủ được tăng cường Hiện nay, tính tập trung được chú trọng trở lại (thể hiện ởquyền của Thủ tướng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên được quyền phê chuẩnviệc bầu cử, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấpdưới)
Trong các cơ quan quyền lực nhà nước, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sátnhân dân, nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện theo từng mức độ nhất định
2.3 Nguyên tắc bình đẳng dân tộc
Trong một Nhà nước có nhiều dân tộc, việc bảo đảm bình đẳng dân tộc là hết
sức cần thiết Hiến pháp nước ta quy định: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam” (Điều 5 Hiến pháp 1992 (2001)).
Bảo đảm để trong các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân) các thành phần dân tộc thiểu số có số đại biểu thích đáng (Điều 10
Trang 10Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (2001)); các đại diện dân tộc được chú ýlựa chọn bầu giữ chức vụ trong chính quyền địa phương.
Có các hình thức tổ chức trong các cơ quan quyền lực nhà nước để thực hiệnlợi ích dân tộc và tham gia quyết định các chính sách dân tộc như Hội đồng dân tộctrong Quốc hội và các Ban dân tộc trong Hội đồng nhân dân Các cơ quan này, đặcbiệt là Hội đồng dân tộc không chỉ được quyền thẩm tra, giám sát, kiến nghị về cácvấn đề dân tộc mà còn được quyền tham dự các phiên họp của Ủy ban thường vụQuốc hội, các phiên họp của Chính phủ bàn về chính sách dân tộc, được Chính phủtham khảo ý kiến khi quyết định các chính sách dân tộc (Điều 94 Hiến pháp 1992(2001))
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc, đoàn kết tương trợ giữa cácdân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; thực hiện chính sách pháttriển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bàodân tộc thiểu số
2.4 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế là yêu cầu đặt ra đối với mọi nhà nước hiện đại Hiến pháp nước ta
quy định “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa” (Điều 12 - Hiến pháp 1992 (2001)) Nội dung chủ yếu của pháp chế là hoạt động của Nhà nước và xã hội dựa trên cơ sở pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nguyên tắc pháp chế xã hộichủ nghĩa thể hiện như sau:
- Tất cả cơ quan nhà nước phải được xác định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn, trách nhiệm, được thành lập theo đúng quy định của pháp luật Các chứcdanh được bầu, bổ nhiệm, tuyển dụng theo đúng quy định
- Các cơ quan nhà nước, người có chức vụ và nhân viên nhà nước phải tuânthủ nghiêm chỉnh pháp luật trong thi hành nhiệm vụ của chính mình giải quyết cáccông việc hành chính, xét xử, xử phạt, tránh sự lạm quyền và lộng quyền Những viphạm đều bị xử lý theo pháp luật và xử lý bình đẳng đối với mọi sự vi phạm không
Trang 11Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định của sự tồn tạicủa chế độ Nhà nước ta Cho nên, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng là một nguyên tắc.
Hiến pháp xác định “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công
nhân Việt Nam, đại biểu trung thành với quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (Điều 4 Hiến pháp 1992 (2001)).
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước thể hiện trên các mặt sau:
- Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đều dựa trên cơ sở đường lốichính sách của Đảng, đó là các quan điểm về xây dựng Nhà nước của dân, do dân
và vì dân, về cải cách bộ máy nhà nước, nêu cao vai trò của Quốc hội, Hội đồngnhân dân, cải cách nền hành chính Nhà nước, cải cách tư pháp
- Đảng giới thiệu các đảng viên ưu tú để bầu vào các cơ quan nhà nước, bồidưỡng, đào tạo để bổ nhiệm các chức vụ quan trọng trong cơ quan nhà nước
- Pháp luật ghi nhận các tổ chức thích hợp của Đảng trong các cơ quan nhànước để thực sự lãnh đạo như các Chi bộ, Đảng bộ, Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn
- Bảo đảm sự thể chế hóa đường lối của Đảng trong các văn bản pháp luật,như việc xin ý kiến các cơ quan Đảng về các dự luật, pháp lệnh
- Bảo đảm sự kiểm tra của Đảng đối với hoạt động của các Cơ quan nhà nước.Hiện nay đang vẫn còn một số thế lực thù địch luôn tìm cách phá hoại côngcuộc xây dựng của đất nước ta, chúng che giấu dưới chiêu bài nhân quyền để canthiệp một cách thô bạo, trắng trợn vào công việc nội bộ của nước ta chẳng hạn nhưngày 3/5/2000 vừa qua Hạ viện Mỹ thông qua nghị quyết “đòi Việt Nam thả các tùnhân tôn giáo và tù nhân chính trị, hủy bỏ Điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam” Điều4- Hiến pháp 1992 (2001) là điều mà nhân dân Việt Nam đã thảo luận một cách dânchủ, tranh luận công khai và thống nhất để thể hiện ý chí, nguyện vọng của mìnhkhi lựa chọn Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo sự nghiệp cáchmạng Việt Nam trong thời chiến cũng như trong thời bình Bởi vì thế chắc chắn làkhông có sự thay đổi về vai trò, vị trí của Đảng trong sự nghiệp lãnh đạo đất nước
3 Hệ thống các cơ quan nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Như đã nói ở trên, bộ máy nhà nước nước ta là một hệ thống thống nhất các
cơ quan nhà nước Tất cả các cơ quan nhà nước được thành lập, hoạt động và có
mối quan hệ qua lại mật thiết và trực thuộc lẫn nhau Chúng có tính thống nhất vềmặt tổ chức: có cơ quan được bầu ra hay được thành lập ra bởi cơ quan này; có cơquan được lãnh đạo cơ quan kia và có cơ quan chịu trách nhiệm báo cáo, chịu tráchnhiệm trước cơ quan khác Tất cả các cơ quan nhà nước đều hoạt động trên cơ sởpháp luật
Trang 12Thông thường, trong tổ chức bộ máy nhà nước có một loại cơ quan nào đóđóng vai trò nền tảng Ở chế độ phong kiến đó là bộ máy cai trị hành chính do Vuađứng đầu Ở chế độ tư sản mặc dù đã thiết lập cơ chế đại nghị (đề cao Nghị viện)song hệ thống hành pháp do Chính phủ đứng đầu vẫn giữ vị trí nền tảng Còn ở cácnước xã hội chủ nghĩa, cơ sở (nền tảng) của bộ máy nhà nước là cơ quan quyền lựcnhà nước Đây là mô hình tổ chức tập quyền nhà nước do nhân dân trực tiếp lập ra,còn các cơ quan khác trực tiếp hay gián tiếp đều phái sinh từ cơ quan quyền lực nhànước, chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước.
Hệ thống các cơ quan nhà nước nước ta hiện nay theo quy định của Hiến pháp
1992 (2001) bao gồm những cơ quan có tính chất, vị trí, chức năng, nhiệm vụ khácnhau Có thể xem xét theo hai cách:
Thứ nhất, theo nhiệm vụ, chức năng thì bộ máy nhà nước có thể chia thành
các cơ quan theo hệ thống:
- Cơ quan quyền lực nhà nước
- Cơ quan hành chính nhà nước
- Cơ quan xét xử
- Cơ quan kiểm sát
nhân dân (HĐND) các cấp Đây là những cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra vàchịu trách nhiệm trước nhân dân Quốc hội vừa là cơ quan đại biểu cao nhất củanhân dân vừa là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, còn Hội đồng nhân dân là cơquan đại biểu của nhân dân địa phương và là cơ quan quyền lực nhà nước ở địaphương
Quốc hội và Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước duy nhất nghĩa
là chỉ có chúng là cơ quan được nhân dân uỷ quyền (trao quyền lực) Các cơ quankhác do Quốc hội và Hội đồng nhân dân lập ra không được gọi là cơ quan quyền lực
mà là cơ quan thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được cơ quan quyền lực phângiao (đương nhiên phải phân giao một cách rõ ràng, ghi nhận trong Hiến pháp ) Các cơ quan quyền lực nhà nước (nhất là Quốc hội) thể hiện ý chí nhà nướccủa nhân dân, nâng ý chí này lên thành pháp luật có giá trị bắt buộc chung; Quốchội có thẩm quyền quyết định các vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước đồng thờicòn giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước
dân) thành lập, thực hiện hoạt động quản lý điều hành mang tính dưới luật, chịu sựgiám sát và chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp Trướcđây, theo Hiến pháp 1980, Hội đồng bộ trưởng được coi là cơ quan chấp hành và cơquan hành chính của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (có thể hiểu như là một
cơ quan của cơ quan quyền lực nhà nước) Hiện nay, Hiến pháp 1992 xác định
Trang 13Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quanhành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cónghĩa là coi Chính phủ có vị trí cao nhất và độc lập tương đối trong lĩnh vực hànhchính Tương tự như vậy là vai trò của Ủy ban nhân dân các cấp.
Các cơ quan xét xử gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân địa
phương và Tòa án quân sự Các cơ quan này về nguyên tắc cũng được cơ quanquyền lực lập ra (trước đây Quốc hội lập ra Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhândân lập ra Tòa án nhân dân địa phương; nay chỉ có Chánh án Tòa án nhân dân tốicao do Quốc hội bầu ra), Toà án nhân dân tối cao thực hiện chức năng xét xử vàchịu sự giám sát và trách nhiệm trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hộicùng Chủ tịch nước; Toà án nhân dân địa phương chịu sự giám sát của HĐND cùngcấp
Các cơ quan kiểm sát gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự Tương tự như Tòa án, Việnkiểm sát nhân dân do Quốc hội thành lập bằng việc bầu ra Viện trưởng Viện kiểmsát nhân dân tối cao, Viện trưởng bổ nhiệm các Viện trưởng, phó viện trưởng, kiểmsát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới Hiện nay, chức năng của các Việnkiểm sát nhân dân là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, thựchành quyền công tố Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu sự giám sát của Quốc hội,Chủ tịch nước và chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội;Chủ tịch nước.Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của HĐNDcùng cấp
Chủ tịch nước , theo cách phân loại này, không thuộc hệ thống nào mà
là cơ quan phối hợp các cơ quan nhà nước khác nhau trong bộ máy nhà nước
Thứ hai theo cơ cấu, vị trí các cơ quan nhà nước có thể sắp xếp các cơ quan
trong bộ máy đó bao gồm: (Cách sắp xếp này được sử dụng trong Hiến pháp 1992)
- Quốc hội
- Chủ tịch nước
- Chính phủ
- Tòa án nhân dân
- Viện kiểm sát nhân dân
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội có vịtrí toàn quyền trong bộ máy nhà nước
Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước thay mặt nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại Trước đây, trong các Hiến pháp
1946 và Hiến pháp 1959 đã có chế định Chủ tịch nước Đến Hiến pháp 1980 theo
mô hình Nhà nước xã hội chủ nghĩa thịnh hành lúc bấy giờ chức năng đứng đầu
Trang 14Nhà nước gắn liền trong Quốc hội Vì vậy đã thành lập ra Hội đồng Nhà nước là sựkết hợp giữa Chủ tịch nước và cơ quan thường trực của Quốc hội Hiến pháp hiệnhành đã thiết lập lại chế định Chủ tịch nước để thực hiện phân công rành mạch chứcnăng, nhiệm vụ của Chủ tịch nước và Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong đa số đại biểu Quốc hội chịu tráchnhiệm về báo cáo công tác trước Quốc hội Chủ tịch nước thực hiện các chức năng
có tính đại diện long trọng của Nhà nước Theo nguyên tắc thống nhất quyền lựcnhà nước xã hội chủ nghĩa thì Chủ tịch nước gắn liền với Quốc hội, cùng với Quốchội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện các chức năng đứng đầu Nhà nước
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính
cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chức năng của Chính phủ
là thống nhất quản lý các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, anninh và đối ngoại của đất nước, bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ Trungương đến các cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật;phát huy quyền làm chủ của nhân dân Chính phủ do Quốc hội thành lập chịu tráchnhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốchội, Chủ tịch nước
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước ta bao gồm Tòa án nhân
dân tối cao, Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan được lập ra để thực hiện chức năng
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp, thực hành quyền công tố
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Việnkiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự
Chính quyền địa phương là cơ quan được lập ra để thực hiện quyền
lực nhà nước của nhân dân địa phương và tổ chức quản lý địa phương Chính quyền
địa phương bao gồm: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân từ cấp tỉnh đến
cấp xã.
4 Sự phát triển của bộ máy nhà nước Việt Nam qua các Hiến pháp
4.1 Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1946
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, lật đổ chế độ thực dân giành độclập dân tộc, thủ tiêu chế độ quân chủ lập hiến để lập nên nền cộng hòa
Ngay sau thắng lợi, Chính phủ lâm thời đã được thành lập, trước đó là Ủy bandân tộc giải phóng do Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào bầu ra Ở địa phương thiếtlập các chính quyền nhân dân là các Ủy ban nhân dân cách mạng và Ủy ban côngnhân cách mạng Thời gian sau đó các cơ quan chính quyền địa phương được tổchức lại dưới hình thức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính
Hiến pháp 1946 được Quốc hội lập hiến thông qua tại kỳ họp thứ hai Hiến
Trang 15Ở Trung ương bộ máy nhà nước bao gồm các cơ quan Nghị viện nhân dân,
Chính phủ, Tòa án tối cao Nghị viện nhân dân do nhân dân trực tiếp bầu ra, có
quyền giải quyết những vấn đề chung, quan trọng của đất nước, ban hành pháp luật,
biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài Nghị
viện nhân dân lập ra Chính phủ, thông qua Ban thường vụ để kiểm soát và phê bình
Chính phủ
Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc do Chủ tịch nước
đứng đầu Thành phần Chính phủ bao gồm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước và
nội các Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng, có thể có Phó thủ tướng Chính phủ lúc này chưa hoàn toàn là cơ quan chấp hành của nghị viện,
ngược lại còn có thể phủ quyết các luật của nghị viện (Điều 31) Tuy nhiên nếu nộicác mất tín nhiệm thì phải Chính phủ phải từ chức ( Điều 54)
Tòa án tối cao đứng đầu hệ thống cơ quan tư pháp, bao gồm Tòa án tối cao,
các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp Các viên thẩm phán do
Chính phủ mà đứng đầu là Chủ tịch nước bổ nhiệm Lúc này chưa có Viện kiểm sát
nhân dân mà trong thành phần của các tòa án, ngoài các thẩm phán xét xử còn có các thẩm phán buộc tội
Cơ quan chính quyền địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban
hành chính Riêng ở cấp Bộ và Huyện chỉ có Ủy ban hành chính Hội đồng nhân
dân do nhân dân bầu ra Ủy ban hành chính do Hội đồng nhân dân bầu ra Cấp nàokhông có Hội đồng nhân dân thì do các Hội đồng nhân dân cấp dưới bầu ra Hộiđồng nhân dân quyết nghị các vấn đề thuộc địa phương mình Ủy ban hành chính cótrách nhiệm thi hành các mệnh lệnh của cấp trên mà các nghị quyết của Hội đồngnhân dân, quản lý công việc hành chính trong địa phương
4.2 Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1959
Thời kỳ ở miền Bắc đã chuyển sang chế độ xã hội chủ nghĩa Bộ máy nhànước được xây dựng lại theo hướng bộ máy nhà nước kiểu xã hội chủ nghĩa mà đặctrưng là vận dụng nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa
Ở trung ương có Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng Chính phủ, Tòa án
nhân dân tối cao,Viện kiểm sát nhân dân tối cao Quốc hội được xác định là cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất Chủ tịch nước không còn đồng thời là ngườiđứng đầu Nhà nước, tuy nhiên vẫn còn nghiêng nhiều về phía Chính phủ Hội đồngChính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất của
nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa Tòa án tối cao là cơ quan xét xử cao nhất Đặc
biệt có một cơ quan mới là Viện kiểm sát nhân dân tối cao được Quốc hội lập ra để thực hiện quyền giám sát đối với các cơ quan nhà nước từ Bộ trở xuống, bảo đảm việc tuân thủ pháp luật để pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất thực hành quyền công tố Các cơ quan đều được Quốc hội thành lập và chịu sự giám
sát, chịu trách nhiệm trước Quốc hội
Trang 16Ở địa phương, cơ quan chính quyền địa phương ở tất cả các cấp hành
chính đều thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính
Hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân đến đây được tổ
chức theo lãnh thổ Tòa án nhân dân gồm có Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân
dân địa phương do Quốc hội và Hội đồng nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước
cơ quan đó
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự Hệ thống này tổ
chức các hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, lãnh đạo trong ngành,không chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cấp ấy mà chỉ có Viện trưởngViện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội
Chủ tịch nước được chọn bầu trong nhân dân, có vai trò phối hợp với các Cơquan nhà nước Hội đồng Chính phủ tuy đã xác định là cơ quan chấp hành của Quốchội song vẫn là cơ quan hành chính cao nhất của nước ta chứ không phải là củaQuốc hội như Hiến pháp 1980 sau này
4.3 Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1980
Đến Hiến pháp 1980, bộ máy nhà nước ta đã được thiết kế theo đúng mô hình
bộ máy nhà nước kiểu xã hội chủ nghĩa thịnh hành lúc bấy giờ ở các nước xã hội
chủ nghĩa như ở Liên Xô, các nước Đông Âu, Trung Quốc Nguyên tắc tập quyền
xã hội chủ nghĩa đã được vận dụng một cách triệt để.
Ở Trung ương, Quốc hội được xác định một cách đầy đủ hơn về mặt tính chất
cũng như thẩm quyền theo hướng là cơ quan có toàn quyền (Điều 82) Theo mô
hình cơ chế tập quyền xã hội chủ nghĩa, chế định Chủ tịch nước cá nhân được thiết
kế lại sao cho gắn bó với Quốc hội Hội đồng nhà nước được thiết lập là cơ quan
cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hội đồng Chính phủ được đổi thành Hội đồng Bộ trưởng với tính chất là cơ
quan chấp hành và hành chính cao nhất còn cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,
do Quốc hội thành lập bằng cách bầu ra tất cả từ Chủ tịch đến thành viên, chịu tráchnhiệm trước Quốc hội Đến lúc này thì Hội đồng Bộ trưởng - cơ quan trước đâyvốn có nhiều độc lập đã lệ thuộc hoàn toàn vào cơ quan quyền lực (về mặt lýthuyết)
Chính quyền địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (Ủy ban hành chính trước đây đổi tên thành Ủy ban nhân dân) được thành lập
ở tất cả các cấp, kể cả thành phố, thị xã Thay đổi quan trọng nhất là có sự tăngcường vai trò của Hội đồng nhân dân ở mỗi cấp Hội đồng nhân dân quyết định cácvấn đề xây dựng địa phương, bầu ra Ủy ban nhân dân
Trang 17Hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân về cơ bản được tổ chức giữ nguyên như trước, Quốc hội thành lập Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện thành lập Tòa án nhân dântương ứng Riêng Viện kiểm sát nhân dân các cấp vẫn tổ chức theo nguyên tắcthống nhất từ trên xuống
4.4 Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 xây dựng lại bộ máy nhà nước trên tinh thần đổi mới Nguyên
tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa được nhận thức lại và vận dụng hợp lý hơn Đó là: một mặt vẫn tiếp tục khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất chứ không phân chia các quyền, mặt khác cần thiết phải có sự phân công, phối hợp giữa các Cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Trên cơ sở đó, bộ máy nhà nước được xây dựng lại theo hướng vừa bảo đảmthống nhất quyền lực vừa phân công, phân nhiệm rành mạch
Quốc hội vừa là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thống nhất các quyền.Các cơ quan khác được lập ra nhất định phải chịu sự giám sát, chịu trách nhiệmtrước Quốc hội Đây là các mặt bảo đảm thống nhất quyền lực
Sự phân công, phối hợp thể hiện ở chỗ quy định phạm vi, chức năng nhiệm vụ
của từng cơ quan một cách rõ ràng Chẳng hạn như, Quốc hội vẫn có quyền quyết
định các vấn đề cụ thể song chỉ là những vấn đề quan trọng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực song là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, tức
là có sự độc lập tương đối trong lĩnh vực hành chính Chế định Chủ tịch nước được lập lại để phân định rõ chức trách giữa Chủ tịch nước và Ủy ban thường vụ Quốc hội Chính quyền địa phương quy định rõ hơn mối liên hệ giữa Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân với các Cơ quan nhà nước cấp trên
Ngoài ra, trong tổ chức Chính phủ và Ủy ban nhân dân còn có sự phân định rõtính tập thể và trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, cũng như đã xác định rõquyền giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sátnhân dân cùng cấp
* Theo Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, bộ máy nhà nước cơ bảnvẫn không có gì thay đổi về mặt tổ chức, chỉ có việc giới hạn phạm vi kiểm sát củaViện kiểm sát nhân dân trong phạm vi kiểm sát các hoạt động tư pháp để tập trunghơn nữa công tác kiểm sát tuân theo pháp luật của cơ quan này và thực hiện tốt chứcnăng công tố
Trang 18BÀI 2 CHẾ ĐỘ BẦU CỬ
1 Khái niệm chế độ bầu cử
Ở nước ta tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Song không phải mọi ngườidân đều có thể thực hiện tất cả quyền lực của mình mà họ cần phải bầu ra các cơquan đại diện để thay mình thực hiện như Quốc hội, Hội đồng nhân dân Vì thế, vấn
đề bầu cử trở nên rất quan trọng trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân, chứng
tỏ nhân dân là người chủ của đất nước
Có hai hình thức mà nhân dân sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước của mình: trực tiếp và gián tiếp, tạo nên hai hình thức dân chủ: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Nhân dân trực tiếp bỏ phiếu quyết định những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước là hình thức dân chủ trực tiếp, còn hình thức dân chủ
thứ hai được thể hiện bằng việc nhân dân bỏ phiếu bầu ra người đại diện, thay mặt
nhân dân giải quyết các công việc của nhà nước, được gọi là dân chủ đại diện Cả
hai hình thức này đều sử dụng biện pháp bỏ phiếu để thực hiện quyền lực nhà nước
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa chế độ bầu cử được phát triển, hệ thống các cơquan quyền lực nhà nước được nhân dân bầu ra có nhiệm kỳ Đa số các hiến pháp tưbản đều tuyên bố luật phổ thông đầu phiếu Đây là một thắng lợi to lớn về mặt lịch
sử của nhân dân lao động, vì nó tạo ra khả năng để mọi tầng lớp trong xã hội đều cóthể tham gia vào đời sống chính trị của xã hội và cũng là một tiến bộ lớn trong việcthực hiện quyền của công dân
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, chế độ bầu cử mang đậm tính chất dân chủ,bầu cử được mở rộng đối với mọi tầng lớp, mọi người có quyền ngang nhau, tự dobiểu hiện ý chí của mình, đó là một trong những yếu tố khẳng định bản chất nhànước của nhân dân.Vì thế, bầu cử mang tính giai cấp sâu sắc, trong xã hội có giaicấp thì chế độ bầu cử là một công cụ hữu hiệu để giai cấp thống trị nắm được bộmáy nhà nước để điều hành đất nước
Chế độ bầu cử là chế độ của sự hình thành bằng tổng thể các mối quan hệ xãhội được diễn ra thông qua các cuộc bầu cử kể từ lúc lập danh sách cử tri, xác địnhnhững người được quyền đi bỏ phiếu, giới thiệu ứng cử viên, xác định những người
có thể được bầu làm đại diện trong các cơ quan nhà nước cho đến giai đoạn cuốicùng là xác định, và tuyên bố kết quả của cuộc bầu cử
Với tư cách là một biện pháp dân chủ thành lập ra bộ máy nhà nước, cho nên các cơ quan nhà nước của nước ta đều trực tiếp hoặc gián tiếp do nhân dân bầu ra Chẳng hạn, Quốc hội là cơ quan duy nhất do nhân dân cả nước trực tiếp bầu
ra, cho nên đây là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao, Quốc hội thay mặt nhân dân,giải quyết các công việc quan trọng của đất nước, từ việc ban hành Hiến pháp vàpháp luật, cho đến việc thành lập ra các cơ quan nhà nước khác
Trang 19Với tầm quan trọng như vậy, cho nên ngay từ khi mới thành lập Nhà nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh tiến hành cáccuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Về phương diện pháp luật, chế độ bầu cử còn được hiểu là một chế định quan trọng nằm trong hệ thống ngành luật hiến pháp, bao gồm các quy phạm phâp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến bầu cử, quyền ứng cử
vă các qui trình để tiến hành bầu cử từ lúc lập danh sách cử tri cho đến khi xác định kết quả bầu cử.
2 Các nguyên tắc bầu cử
Với tính chất quan trọng của vấn đề bầu cử như vậy, pháp luật bầu cử củachúng ta được xây dựng trên một số nguyên tắc nhất định Việc bầu cử đại biểu ở
nước ta được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ
phiếu kín Các nguyên tắc đó thống nhất với nhau, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách
quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn
2.1 Nguyên tắc phổ thông
Nhà nước ta được xác định là Nhà nước của dân, người dân làm chủ trongviệc bầu ra những người đại diện cho mình Vì vậy, Nhà nước phải tạo điều kiệnthuận lợi cho mọi người dân đều có thể tham gia bầu cử Đây là nguyên tắc quantrọng nhất trong chế độ bầu cử của mỗi nhà nước nói chung, và của Nhà nước ta nóiriêng Mức độ dân chủ của mỗi xã hội được thể hiện chủ yếu và cơ bản thông quanguyên tắc này
Nguyên tắc phổ thông thể hiện tính công khai, dân chủ rộng rãi, đòi hỏi sự bảo đảm để công dân thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của mình.
Nguyên tắc này được thể hiện ở tính toàn dân và toàn diện của bầu cử Bầu
cử là công việc của mọi người, là sự kiện chính trị của xã hội, cuộc bầu cử được tiến hành trong phạm vi cả nước là bầu cử Quốc hội, trong phạm vi địa phương là bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Nguyên tắc bầu cử phổ thông hay còn gọi là phổ thông đầu phiếu là mộtnguyên tắc hiến định được Điều 54 Hiến pháp 1992 (2001) ghi nhận và cụ thể hoátại Điều 2 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội 1997 (2001, 2010) và Luật bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân 2003 (2010)
“Công dân, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo qui định của pháp luật, trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các quyền đó” Khác với các nhà
nước tư bản, ở Nhà nước ta quân nhân trong quân đội vẫn có quyền bầu cử và ứngcử
Trang 20Danh sách cử tri phải được niêm yết ở nơi ở, nơi công tác để các cử tri kiểmtra, xem xét quyền bầu cử của mình Trong trường hợp không có tên, hoặc sai họtên cử tri có quyền khiếu nại để bảo đảm quyền bầu cử của mình.
2.2 Nguyên tắc bình đẳng
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng xuyên suốt quá trình bầu cử,
từ khi lập danh sách cử tri cho đến lúc xác định kết quả bầu cử Hình thức biểu hiện
của nguyên tắc này rất đa dạng Nhưng trước hết, mỗi cử tri đều có số lần bỏ phiếu như nhau Trong một cuộc bầu cử, mỗi cử tri chỉ có một lá phiếu, đủ tiêu chuẩn
theo qui định của luật bầu cử thì được lập danh sách cử tri.
Nguyên tắc bình đẳng bảo đảm để mọi công dân có khả năng như nhau trongviệc tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào.Nguyên tắc bình đẳng nhằm bảo đảm sự khách quan, trung thực trong bầu cử
Nguyên tắc này thể hiện ở việc qui định số lượng dân như nhau thì được bầu số đại
biểu bằng nhau; mỗi cử tri được ghi tên vào danh sách ở một nơi cư trú, mỗi người chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử, mỗi cử tri chỉ được bỏ phiếu một lần.
Để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, nhà nước có các biện pháp bảo đảm để
đồng bào dân tộc cũng như phụ nữ có số đại biểu thích đáng trong Quốc hội và thích đáng trong Hội đồng nhân dân các cấp.
2.3 Nguyên tắc bầu cử trực tiếp
Nguyên tắc này bảo đảm để cử tri trực tiếp lựa chọn người đủ tín nhiệm vào
cơ quan quyền lực nhà nước bằng lá phiếu của mình không qua khâu trung gian.
Cùng với các nguyên tắc khác, nguyên tắc này là điều kiện cần thiết bảo đảm tínhkhách quan của bầu cử
Trên cơ sở nguyên tắc bầu cử trực tiếp, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội vàLuật bầu cử Hội đồng nhân dân ở nước ta có một loạt qui định nhằm bảo đảm để cửtri trực tiếp thể hiện nguyện vọng của mình từ khâu đề cử, ứng cử đến khâu bỏ
phiếu Đó là cử tri tự mình đi bầu, tự tay mình bỏ phiếu vào thùng phiếu; không
được nhờ người khác đi bầu thay mình, không được bầu bằng cách gửi thư.
2.4 Nguyên tắc bỏ phiếu kín
Nguyên tắc này bảo đảm cho cử tri tự do lựa chọn, để sự lựa chọn đó không
bị ảnh hưởng bởi những điều kiện và yếu tố bên ngoài Pháp luật qui định rõ việc bố
trí nơi viết phiếu phải kín, không có ai được đến xem trong lúc cử tri viết phiếu, (trừ
một số trường hợp do luật định cần phải có người viết thay hoặc giúp bỏ phiếu xem Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (2001, 2010) và Luật bầu cử Hộiđồng nhân dân năm 2003 (2010))
-Bầu cử là hoạt động có tính chất dân chủ Hoạt động này luôn luôn gắn liềnvới nguyên tắc công khai Tất cả mọi công đoạn của bầu cử phải diễn ra công khai,nhưng chỉ riêng công đoạn bỏ phiếu thì phải diễn ra trong phòng kín, không có sự
Trang 21tham gia của bất kỳ người nào, kể cả nhân viên phụ trách công việc bỏ phiếu tạiphòng bỏ phiếu đặc biệt là khi cử tri đang tiến hành gạch phiếu.
Quyền bầu cử không chỉ là quyền bỏ phiếu mà còn cả quyền đề cử, tức là khả
năng chủ động trong lựa chọn những người có khả năng thay mặt mình trong các cơ
quan nhà nước Quyền bầu cử còn được hiểu là quyền được bầu vào các cơ quan
nhà nước
Vì tính chất quan trọng của quyền bầu cử nên quyền bầu cử chỉ được quyđịnh cho những người phát triển bình thường về mặt thần kinh, đạt đến độ chín chắncủa sự phát triển tâm, sinh lý nhằm bảo đảm cho họ có sự lựa chọn chính xác và độclập Nhưng để tránh sự tuỳ tiện trong việc hạn chế quyền bầu cử của công dân đốivới các trường hợp người bị mất trí, người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tướcquyền bầu cử được qui định rõ ràng, cụ thể trong các văn bản pháp luật
Những người mất trí là những người bị bệnh tâm thần, không tự chủ về suynghĩ, hành động, không phân biệt được điều đúng, sai, có những rối loạn về nhậnthức, tư duy, tình cảm và hành vi Những bệnh nhân tâm thần phân liệt và động kinhđang chữa trị ngoại trú, nhưng được chuyên khoa tâm thần xác định là đã ổn định,sinh hoạt và làm việc bình thường, hoạt động tư duy, tình cảm và hành vi đúng đắn,vẫn được quyền bầu cử
Những trường hợp công dân không được quyền bầu cử là:
- Người đang trong thời kỳ bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định đã
có hiệu lực của Toà án nhân dân
- Người đang chấp hành hình phạt tù
- Người đang bị bắt, đang bị tạm giữ, tạm giam theo qui định của pháp luật
- Người bị mất năng lực hành vi dân sự
Ở nước ta, quyền bầu cử được coi là quyền chính trị quan trọng, là vinh dự
và nhiệm vụ của công dân Công dân thực hiện quyền này một cách tự nguyện Vìvậy, các cuộc bầu cử có số cử tri tham gia rất đông (thường khoảng trên 80%) Cómột số nước, bỏ phiếu không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ bắt buộc (Mê-hi-cô,I-ta-li-a)
Trang 22Quyền ứng cử của công dân thể hiện ở sự chấp thuận để người khác đề cử
mình hoặc tự mình ra ứng cử.
Ngay từ khi Nhà nước ta ra đời đến nay, pháp luật đã có những qui định về
quyền ứng cử của công dân Điều 12 của Sắc lệnh số 51 ghi rõ “Người ứng cử được
tự do ứng cử nơi mình chọn lấy nhưng chỉ một nơi ấy mà thôi” Hiến pháp 1946 và
Hiến pháp 1959 đều qui định quyền ứng cử của công dân Nhưng cùng với việc xâydựng quyền làm chủ tập thể, Hiến pháp 1980 đã coi quyền ứng cử như một quyềnthụ động và chỉ là khả năng “có thể được bầu” của công dân Thực hiện chủ trươngtích cực hoá vai trò của công dân tham gia vào bầu cử, Hiến pháp 1992 và Luật bầu
cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đã qui định quyềnbầu cử và quyền tự ứng cử của công dân
So với quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân có những yêu cầu cao hơn.Trước hết là độ tuổi, phải là người đủ 21 tuổi trở lên mới có quyền ứng cử Ngay từHiến pháp 1946 đã qui định “Người ứng cử là người có quyền bầu cử, phải ít ra là
21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” (Điều 18) Vì ở độ tuổi này, conngười đã có thể có sự chín chắn trong suy nghĩ, trong nhận thức, có thời gian tíchluỹ kiến thức nhiều hơn so với độ tuổi 18 như trong quyền bầu cử hay nói cách khác
ở độ tuổi này, trí lực và thể lực của con người phát triển tốt hơn
Tuy không qui định những điều kiện khác đối với quyền ứng cử của côngdân, nhưng để thực hiện quyền ứng cử công dân cần phải có một số tiêu chuẩn nhấtđịnh, những điều kiện do yêu cầu cuộc sống đặt ra để cử tri theo đó mà có thể lựachọn
Ví dụ: Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội 1997 (2001, 2010): “Đại biểu phải là người trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ”
Dựa vào tiêu chuẩn này, các công dân tự ứng cử và cách tổ chức xã hội
thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, đề cử ứng cử viên Nhưng không phải
đáp ứng được các điều kiện nêu trên là có khả năng ứng cử, một người không thể thực hiện quyền ứng cử khi người đó:
- Đang bị tước quyền bầu cử, theo quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp
Trang 23- Đang bị khởi tố về hình sự.
- Đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của toà án
- Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của toà án nhưng chưađược xoá án
- Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính về giáo dục tại xã, phường, thịtrấn, tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành chính
Trong việc thực hiện quyền ứng cử của công dân, pháp luật hiện hành qui
định công dân có quyền bầu cử, ứng cử Nhưng để được ghi tên vào danh sách ứng
cử công dân Việt Nam phải được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương giới thiệu.
Pháp luật nhiều nước trên thế giới có các qui định về các điều kiện ứng cử.Các điều kiện đó tập trung chủ yếu vào qui định không được kiêm nhiệm một sốchức vụ nhà nước nhất định, quy định thời hạn cư trú, qui định về giá trị tài sản vàviệc đặt cọc tiền Để thực hiện quyền ứng cử, công dân các nước đó phải được mộtđảng giới thiệu và thu thập một số lượng chữ ký những người ủng hộ mình
4 Các qui định về số đại biểu, đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu
4.1 Tổng số đại biểu Quốc hội
Để Quốc hội làm tròn chức năng của mình, Quốc hội cần có một số lượngđại biểu thích hợp
Tổng số đại biểu được qui định trên cơ sở:
- Yêu cầu nhiệm vụ Quốc hội
- Tỷ lệ dân mà đại biểu đại diện
- Khả năng tài chính mà nhà nước có thể bảo đảm để đại biểu hoạt động Nước ta có tổng số đại biểu được qui định đủ bảo đảm cơ cấu, thành phầnđại diện trong toàn dân nhằm phản ánh khối đại đoàn kết dân tộc, đảm bảo hiệu lực
và hiệu quả hoạt động của Quốc hội
Có hai cách ấn định tổng số đại biểu Quốc hội: ấn định tổng số theo tỷ lệ dân
và ấn định con số cụ thể trong luật bầu cử Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1992
đã qui định “Tổng số đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namkhông quá 400 người” (Điều 7), nhưng Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 quiđịnh ”Tổng số đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khôngquá 450 người” (Điều 8) và hiện nay, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội 1997 sửa đổi,
bổ sung năm 2001 và 2010 qui định “Tổng số đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam không quá 500 người” ( Điều 8)
Trong tổng số đại biểu Quốc hội, các dân tộc thiểu số và phu nữ được qui
định ti lệ đại biểu thích đáng Thủ đô Hà Nội cũng được dành số đại biểu đủ đại
Trang 24diện cho các tầng lớp nhân dân Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cảnước
4.2 Số đại biểu Hội đồng nhân dân
- Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn được bầu tối đa là 35, tối thiểu là 15đại biểu
- Hội đồng nhân dân cấp huyện được bầu tối đa là 40, tối thiểu là 30 đại biểu
- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được bầu tối đa là 85, tối thiểu là 50 đại biểu.Riêng Hà Nội và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trên ba triệu ngườiđược bầu không quá 95 đại biểu
4.3 Đơn vị bầu cử
Là phạm vi lãnh thổ có số dân nhất định được bầu số lượng đại biểu nhấtđịnh Phổ biến trên thế giới xu hướng chung là qui định mỗi đơn vị bầu cử bầu mộtđại biểu, còn qui định truyền thống của nước ta là mỗi đơn vị bầu cử bầu nhiều đạibiểu Chẳng hạn, Sắc lệnh số 51 qui định: “đơn vị tuyển cử là tỉnh, số đại biểu củamỗi tỉnh thì căn cứ vào số dân mà ấn định”
Hiện nay, luật bầu cử nước ta qui định các đại biểu được bầu theo đơn vị bầu
cử, mỗi đơn vị bầu cử có chung một danh sách ứng cử viên và được bầu không quá
3 đại biểu đối với bầu cử đại biểu Quốc hội và không quá 5 đại biểu đối với bầu cửđại biểu Hội đồng nhân dân Mỗi ứng cử viên chỉ được lập danh sách ở một đơn vịbầu cử Đơn vị bầu cử Quốc hội thường được chia theo quận, huyện Mỗi đơn vịbầu cử có thể là một quận, huyện hoặc từ hai đến ba quận, huyện tùy thuộc vào sốlượng dân cư
4.4 Khu vực bỏ phiếu
Là phạm vi dân cư nhỏ gồm số lượng cử tri nhất định nằm trong đơn vị bầu
cử, đây là nơi trực tiếp tiến hành bỏ phiếu bầu đại biểu
Mỗi đơn vị bầu cử được chia thành một hoặc nhiều khu vực bỏ phiếu, mỗi khu vực bỏ phiếu gồm từ 300 đến 4000 cử tri Riêng ở những nơi như miền núi, hải đảo hay những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có tới 300 cử tri cũng được thành lập một khu vực bỏ phiếu riêng, đơn vị vũ trang nhân dân cũng thành lập khu vực bỏ phiếu riêng cho mình trừ trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu
Bệnh viện, nhà hộ sinh, nhà an dưỡng, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ
sở chăm sóc người cao tuổi có từ năm mươi cử tri trở lên có thể thành lập khu vực
bỏ phiếu riêng
Cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh đối với những người đang chấp hành quyếtđịnh xử lý hành chính có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng
Trang 25Việc chia khu vực bỏ phiếu do Uy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ấn định
và phải được Uy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn
* Nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng bầu cử đối với bầu cử đại biểu Quốc hội được quy định cụ thể tại điều 14 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (2001, 2010).
* Nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng bầu cử đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định cụ thể tại điều 15a Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 ( 2010).
5.2 Uỷ ban bầu cử
Chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi thống nhất với Thường trực Hộiđồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết địnhthành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dâncấp tỉnh Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
có từ hai mươi mốt đến ba mươi mốt người gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư
ký và các uỷ viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân,
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu quan
Trang 26Danh sách Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhândân cấp tỉnh phải được báo cáo lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội đồng bầu cử.
* Nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban bầu cử đối với bầu cử đại biểu Quốc hội được quy định cụ thể tại điều 15 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (2001, 2010).
* Nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban bầu cử đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định cụ thể tại điều 16 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 ( 2010).
5.2 Ban bầu cử
Đối với bầu cử đại biểu Quốc hội
Chậm nhất là sáu mươi ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồngnhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết địnhthành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử từ chín đến mười lăm người gồmTrưởng ban, các Phó Trưởng ban, Thư ký và các uỷ viên là đại diện Thường trựcHội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số
cơ quan, tổ chức hữu quan
* Nhiệm vụ quyền hạn của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội được quy định cụ
thể tại điều 16 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (2001, 2010).
Đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Chậm nhất là bốn mươi lăm ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhândân, Uỷ ban nhân dân sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân vàBan thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗiđơn vị bầu cử một Ban bầu cử gồm đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức xã hội Ở cấp xã, thành phần Ban bầu cử có thêm đại diện tập thể cửtri ở địa phương
Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có từ mười một đến mười
ba người Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện có từ chín đến mườimột người
Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có từ bảy đến chín người.Ban bầu cử gồm Trưởng ban, Phó Trưởng ban, Thư ký và các ủy viên
* Nhiệm vụ quyền hạn của Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được quy
định cụ thể tại điều 17 Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 (2010).
Trang 275.4 Tổ bầu cử
Chậm nhất là 35 ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thịtrấn sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một
Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồngnhân dân các cấp Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt người gồm Tổtrưởng, Tổ phó, Thư ký và các uỷ viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chínhtrị - xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương
Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì Uỷban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sau khi thống nhất vớiThường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùngcấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử từ mười một đếnhai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các uỷ viên là đại diện cơquan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địaphương
Đơn vị vũ trang nhân dân thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu của mình một Tổbầu cử từ năm đến chín người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các uỷ viên là đạidiện Chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân
Trong trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khuvực bỏ phiếu thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thống nhất vớiThường trực Hội đồng nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùngcấp và Chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân quyết định thành lập Tổ bầu cử từ mườimột đến hai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các uỷ viên là đạidiện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địaphương, đại diện Chỉ huy đơn vị, đại diện quân nhân
* Nhiệm vụ quyền hạn của Tổ bầu cử được quy định cụ thể tại điều 17 Luật Bầu
cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (2001, 2010).
Các tổ chức bầu cử phụ trách bầu cử làm việc theo chế độ tập thể Các cuộchọp được tiến hành khi có 2/3 tổng số thành viên tham dự Các quyết định đượcthông qua khi có đa số thành viên biểu quyết tán thành
6 Trình tự bầu cử và kết quả bầu cử
6.1 Trình tự bầu cử
Việc bầu cử được tiến hành thống nhất một ngày trong phạm vi toàn lãnhthổ Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, do Ủy ban thường vụ Quốc hội ấn định vàcông bố chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử
Cuộc bỏ phiếu bắt đầu từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối cùng ngày và phải đượctiến hành liên tục Nếu có trường hợp làm gián đoạn bất ngờ việc bỏ phiếu thì Tổ
Trang 28bầu cử phải niêm phong hòm phiếu và các giấy tờ, tài liệu khác, đồng thời phải cóbiện pháp cần thiết để cuộc bỏ phiếu được tiếp tục.
Cử tri phải tự mình đi bầu, phải tuân theo nội qui của phòng bỏ phiếu và phải
tự tay mình bỏ phiếu vào hòm phiếu
6.2 Kết quả bầu cử
Sau khi cuộc bầu cử kết thúc, phải tiến hành kiểm phiếu ngay tại phòng bỏphiếu Việc kiểm phiếu phải có sự chứng kiến của hai cử tri biết đọc, biết viết;người ứng cử; đại diện các cơ quan, đơn vị giới thiệu người ứng cử, hoặc ngườiđược uỷ nhiệm; các phóng viên đều được chứng kiến việc kiểm phiếu
Theo số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu, những người ứng cử được quánửa số phiếu hợp lệ và đồng thời được nhiều phiếu hơn là người trúng cử
Đối với trường hợp nhiều người có số phiếu ngang bằng nhau, theo qui địnhtại Điều 70 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội 1997 (2001, 2010) thì “Trong trường hợpnhiều người được số phiếu bằng nhau thì dựa vào thứ tự tuổi mà sắp xếp, ngườinhiều tuổi hơn được trúng cử” Và, điều 61 Luật Bầu cử Đại biểu HĐND 2003(2010): “Trong trường hợp có nhiều người được số phiếu bằng nhau th người cónhiều tuổi hơn là người trúng cử”
7 Việc bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung
7.1 Bầu cử thêm
Nếu trong cuộc bầu cử đầu tiên, số người trúng cử chưa đủ số đại biểu quiđịnh cho đơn vị bầu cử thì phải tổ chức bầu thêm số đại biểu còn thiếu Việc bầuthêm đại biểu do Hội đồng bầu cử quyết định Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhândân chỉ cho phép tiến hành bầu thêm khi số lượng đại biểu lần đầu không đủ 2/3 sốđại biểu được ấn định cho đơn vị bầu cử
Trong cuộc bầu thêm, cử tri chọn bầu trong danh sách những người ứng cửnhưng không trúng cử kỳ đầu
7.2 Bầu cử lại
Luật qui định có hai trường hợp phải bầu lại Trường hợp thứ nhất, ở đơn vịbầu cử nào nếu số cử tri đi bầu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách, thìban bầu cử ghi rõ điểm đó vào biên bản và báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử Hộiđồng bầu cử phải quyết định ngày bầu lại chậm nhất là 15 ngày sau ngày bầu cửđầu tiên Trường hợp thứ hai là trường hợp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng làmsai lệch kết quả bầu cử thì phải huỷ bỏ kết quả bầu cử và tổ chức bầu lại
7.3 Bầu cử bổ sung
Trong nhiệm kỳ, nếu đơn vị bầu cử nào có khuyết đại biểu thì có thể tiếnhành bầu cử bổ sung Nhưng không phải tất cả trường hợp khuyết đại biểu đều phải
Trang 29bầu bổ sung Cơ quan có thẩm quyền quyết định việc bầu cử quyết định việc bầu cử
bổ sung đại biểu trên cơ sở xem xét các mặt:
- Thời gian còn lại của nhiệm kỳ
- Số đại biểu khuyết có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cơ quan đóhay không?
Ngày bầu cử bổ sung phải được công bố chậm nhất là 30 ngày trước ngàytiến hành bầu cử
Nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức phụ trách bầu cử bổ sung và thể thức
bỏ phiếu bầu cử bổ sung cũng theo những qui định của luật bầu cử
8 Việc bãi nhiệm đại biểu
Bãi nhiệm là khái niệm pháp lý mang nét đặc trưng dân chủ xã hội chủ nghĩa.Bãi nhiệm thể hiện tính ưu việt của xã hội ta khi đại biểu được nhân dân bầu ra luônchịu sự giám sát của nhân dân, cho nên khi không còn được nhân dân tín nhiệm nữathì sẽ bị nhân dân bãi nhiệm Khái niệm bãi nhiệm thể hiện bản chất của Nhà nước
ta Nhà nước, trong đó “các cơ quan dân cử có thể được coi là thật sự dân chủ, thật
sự đại diện cho ý chí của cử tri khi nó công nhận và thực hiện quyền bãi nhiệm của
cử tri đối với đại biểu của mình”.
Quyền bãi nhiệm đại biểu được ghi nhận từ Hiến pháp 1946, Hiến pháp đầutiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Công dân có quyền bãi miễn các đạibiểu của mình đã bầu ra” (Điều 20) Hiến pháp 1959 cũng khẳng định điều đó Theoqui định tại Điều 7 của Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 thì “Cử tri có quyền bãimiễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, nếu đại biểu đó không cònxứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”
Theo qui định của pháp luật hiện hành có hai hình thức bãi nhiệm đại biểu.Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân
bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đángvới sự tín nhiệm của nhân dân
Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể bị Hội đồng nhân dân bãi nhiệm hoặc đưa
ra để cử tri ở đơn vị bầu ra đại biểu ấy bãi nhiệm theo đề nghị của thường trực Hộiđồng nhân dân hoặc của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp
Đại biểu Quốc hội không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thìtuỳ theo mức độ sai phạm mà bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm
Uy ban thường vụ Quốc hội quyết định việc đưa ra Quốc hội bãi nhiệm hoặc
cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổquốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc tỉnh hoặc của cử tri Trong trường hợp Quốc hộibãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm được tiến hành theo thể thức do Uyban thường vụ Quốc hội qui định
Trang 30BÀI 3 QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1 Khái quát về sự ra đời và phát triển của Quốc hội nước ta
Quốc dân đại hội được triệu tập vào ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945 tại TânTrào gồm có 60 đại biểu của các tổ chức, đoàn thể cách mạng đã quyết định nhiềuvấn đề quan trọng, lập ra Ủy ban dân tộc giải phóng trung ương (tức Chính phủ lâmthời).Vì vậy, Quốc dân đại hội được coi là tiền thân của Quốc hội nước ta Thôngqua cuộc tổng tuyển cử tự do ngày 06 tháng 01 năm 1946, nhân dân cả nước đã bầu
ra Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hòa - Quốc hội đầu tiên, Quốc hội khoá Icủa nước ta
Tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiêncủa nước ta trong phiên họp ngày 9 tháng 11 năm 1946 Sau khi Hiến pháp đượcthông qua, lẽ ra Quốc hội phải giải tán và bầu ra Nghị viện nhân dân, bởi vì theo
Sắc lệnh số 14 ngày 8 tháng 9 năm 1945 của Hồ Chủ Tịch chỉ là “Tổng tuyển cử
bầu Quốc hội lập hiến” nhưng do tình hình khẩn cấp lúc bấy giờ nên Quốc hội chưa
thể giải tán mà vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến năm 1960
Để phù hợp với tình hình thay đổi của cách mạng, tại kỳ họp thứ 11 của Quốchội ngày 31 tháng 12 năm 1959 bản Hiến pháp sửa đổi đã được thông qua - Hiếnpháp năm 1959 Theo Hiến pháp năm 1959, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhấtkhông gọi là Nghị viện nhân dân như trong Hiến pháp 1946, mà gọi là Quốc hộinước Việt nam dân chủ cộng hòa
Từ năm 1960 đến năm 1976 là nhiệm kỳ của Quốc hội các khoá tiếp theo(Quốc hội khóa II: 1960 – 1964; Quốc hội khóa III: 1964 – 1971; Quốc hội khóaIV: 1971 – 1975; Quốc hội khóa V: 1975 – 1976) Sau đại thắng mùa xuân năm
1975, Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được độc lập thống nhất Ngày 25tháng 4 năm 1976 nhân dân cả nước đã tiến hành bầu ra Quốc hội của nước ViệtNam thống nhất, đó là Quốc hội khoá VI của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ bảy đã nhất trí thông qua Hiến pháp 1980 trongphiên họp ngày 18 tháng 12 năm 1980 Quốc hội khóa VII kéo dài từ năm 1981 đếnnăm 1987, hoạt động trên cơ sở Hiến pháp 1980, Quốc hội đã phát huy vai trò cơquan quyền lực Nhà nước cao nhất của nhân dân trong việc củng cố và hoàn thiệnchế độ làm chủ tập thể Quốc hội khoá VIII (1987 - 1992 ) là Quốc hội của thời kỳđổi mới Tại kỳ họp lần thứ 11 của Quốc hội khoá VIII, bản Hiến pháp thứ tư củanước ta được thông qua trong phiên họp ngày 15 tháng tư năm 1992 Sau khi Hiếnpháp 1992 được ban hành, nhân dân ta đã bầu ra Quốc hội khoá IX (1992 - 1997),
từ 1997 - 2002 là nhiệm kỳ của Quốc hội khoá X - đây là Quốc hội sẽ tiếp tục thực
Trang 31hiện công cuộc đổi mới đất nước, Quốc hội khoá XI (2002-2007) là Quốc hội cónhiều đổi mới, hướng đến sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trongbối cảnh có nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thử thách đặt
ra cho đất nước ta
2 Vị trí, tính chất và chức năng của Quốc hội
Theo Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001, ở nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt nam tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (Điều 2), nhưng nhândân không thể trực tiếp, thường xuyên sử dụng quyền lực nhà nước được cho nênphải bầu ra các cơ quan đại diện để thay mặt mình sử dụng quyền lực nhà nước Vìvậy, các cơ quan này được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước
Hiến pháp 1992 đã nêu rõ vị trí và tính chất của Quốc hội là cơ quan đại biểucao nhất của nhân dân và cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt nam (Điều 83) Bởi vì Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nướcbầu ra, bao gồm các đại biểu đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân và mọi vùng lãnhthổ Quốc hội có chức năng và nhiệm vụ phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân,nói lên tiếng nói và thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân Ở nước ta, chỉ cóQuốc hội mới có thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia,các vấn đề trọng đại của đất nước
Với vị trí, tính chất như thế nên chức năng của Quốc hội bao gồm nhữngphương diện lớn như sau:
+ Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
+ Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, những nguyêntắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội vàhoạt động của công dân
+ Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động củaNhà nước, nhằm đảm bảo cho những qui định của Hiến pháp và pháp luật được thihành triệt để và thống nhất, bộ máy nhà nước hoạt động đồng bộ, có hiệu lực vàhiệu quả
Chức năng nói trên của Quốc hội được cụ thể hoá thành các nhiệm vụ vàquyền hạn của Quốc hội
3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội
Quyền lực của nước ta được thực hiện theo chế độ tập quyền, theo nguyên tắctập trung
Quyền lực nhà nước tập trung chủ yếu vào Quốc hội; nhưng có sự phân công,phân nhiệm rõ ràng
Các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội trong Điều 84 của Hiến pháp 1992sửa đổi, bổ sung và cụ thể hóa trong Luật tổ chức Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
Trang 32chủ nghĩa Việt nam 2001 Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được phân thànhcác lĩnh vực sau:
3.1 Lập hiến và lập pháp
Quốc hội có quyền lập hiến và lập pháp nên Quốc hội cũng có quyền sửa đổiHiến pháp và sửa đổi luật, các hoạt động này đều được qui định cụ thể và chặt chẽ Còn sáng kiến lập pháp, tức là quyền trình dự án luật trước Quốc hội đượcgiao cho nhiều Cơ quan nhà nước như: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội,Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổquốc Việt nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; Đại biểu Quốc hội còn cóquyền trình kiến nghị về luật ra trước Quốc hội Cơ quan trình dự án luật phải chuẩn
bị, xây dựng hoàn chỉnh và trình bày trước Quốc hội dự án đó để Quốc hội xem xét.Quốc hội còn có quyền quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh Đây
là điểm mới mà Hiến pháp 1980 chưa quy định, Hiến pháp 1992 đã bổ sung quyềnnày nhằm đảm bảo cho hoạt động lập pháp của Quốc hội có hiệu quả hơn
3.2 Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước
Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất nên Quốc hội có quyền quyết địnhnhững mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội; những vấn đề quốc kế dân sinh; nhữngvấn đề đối nội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh quốc gia
Trong lĩnh vực kinh tế, Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xãhội của đất nước; quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự
toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; quy định, sửa đổi hoặc
bãi bỏ các thứ thuế
Quốc hội quyết định những vấn đề hệ trọng đối với vận mệnh của đất nướcnhư quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; qui định về tình trạng khẩn cấp, cácbiện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; quyết định chínhsách dân tộc và chính sách tôn giáo của Nhà nước; quyết định đại xá; quyết địnhtrưng cầu ý dân
Quốc hội còn có nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng quyết định chính sách cơbản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trựctiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã ký kết hoặc gia nhậptheo đề nghị của Chủ tịch nước
Trang 33hội xem xét lựa chọn, quyết định tại các kỳ họp và được thể hiện trong Hiến pháp
và luật tổ chức các cơ quan này
Ngoài việc qui định chung về tổ chức và hoạt động của các Cơ quan nhà nước,Quốc hội còn bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước, Chủtịch Quốc hội, các Phó chủ tịch Quốc hội và các uỷ viên Ủy ban thường vụ Quốchội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghịcủa Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng an ninh; phêchuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chứcPhó thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bỏ phiếu tín nhiệmđối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ củaChính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương, thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụQuốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sátnhân dân tối cao trái với Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội
Quốc hội còn qui định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàmcấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước trong các lĩnh vực khác; qui định huânchương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước
5 Giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật
Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, giám sát việc thực hiện Hiến pháp vàpháp luật do nhiều Cơ quan nhà nước tiến hành như: Hội đồng nhân dân, Viện kiểmsát nhân dân, Thanh tra nhà nước Nhưng sự giám sát của Quốc hội là sự giám sátcao nhất Nhiệm vụ giám sát của Quốc hội nhằm làm cho những qui định của Hiếnpháp, pháp luật được thi hành triệt để và thống nhất Quốc hội giám sát hoạt độngcủa các Cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo cho các cơ quan này hoàn thành nhiệm
vụ, quyền hạn đã được qui định, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng,
có hiệu lực, không chồng chéo, chống các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, cửaquyền
Các hình thức giám sát tối cao của Quốc hội:
- Xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội,Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Xem xét báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tình hình thi hành Hiếnpháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
- Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụQuốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sátnhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
Trang 34- Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội.
- Thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định và xem xétbáo cáo kết quả điều tra của Ủy ban
Bên cạnh đó, một hoạt động mới của Quốc hội được ghi nhận tại Luật Hoạtđộng giám sát của Quốc hội 2003 là việc bỏ phiếu tín nhiệm các chức vụ do Quốchội bầu hoặc phê chuẩn
Để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn nói trên, Quốc hội sinh hoạt theo chế
độ hội nghị, các vấn đề được thảo luận dân chủ và quyết định theo đa số
6 Cơ cấu tổ chức của Quốc hội
Tổ chức của Quốc hội là cơ cấu bên trong được lập ra để giúp Quốc hội thựchiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình Tổ chức của Quốc hội do Hiếnpháp và Luật tổ chức Quốc hội quy định Cơ cấu tổ chức của Quốc hội là một trongnhững yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động của Quốc hội
Các cơ quan của Quốc hội bao gồm: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồngdân tộc và các Ủy ban của Quốc hội
6.1 Ủy ban thường vụ Quốc hội
Theo Hiến pháp 1959, trong tổ chức của Quốc hội có Ủy ban thường vụ Quốchội là cơ quan thường trực của Quốc hội Nhưng theo qui định của Hiến pháp 1980,
Ủy ban thường vụ Quốc hội được thay thế bằng Hội đồng Nhà nước Hội đồng Nhànước vừa là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội vừa là Chủ tịchtập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam
Để phân định rõ chức năng nguyên thủ quốc gia và chức năng thường trựcQuốc hội, Hiến pháp 1992 đã qui định về Chủ tịch nước và Ủy ban thường vụ Quốchội Chủ tịch nước đảm nhận chức năng nguyên thủ quốc gia, Ủy ban thường vụQuốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm có:
là đại biểu chuyên trách và không thể đồng thời là thành viên của Chính phủ
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội được qui định trongĐiều 91 của Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và cụ thể hoá tại Điều 7 Luật tổ chứcQuốc hội 2001
Trang 35Ủy ban thường vụ Quốc hội công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội;
tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội; giải thích Hiếnpháp, luật, pháp lệnh; ban hành các pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao
Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyếtcủa Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạtđộng của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đìnhchỉ thi hành các văn bản của các cơ quan trên nếu các văn bản này trái với Hiếnpháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội huỷ bỏ đồng thời có quyềnhuỷ bỏ các văn bản này nếu trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụQuốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội có vai trò tích cực trong việc chỉ đạo, điều hòa,phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn
và bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồngnhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và giải tánHội đồng nhân dân cấp tỉnh trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hạinghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân
Trong trường hợp Quốc hội không họp được, Ủy ban thường vụ Quốc hộiquyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược và báo cáoQuốc hội xem xét quyết định tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ,ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương; thực hiện quan
hệ đối ngoại của Quốc hội; tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội
Do Quốc hội không hoạt động thường xuyên nên Hiến pháp còn quy định cho
Ủy ban thường vụ Quốc hội được giải quyết một số vấn đề thuộc thẩm quyền củaQuốc hội trong thời gian Quốc hội không họp và các uỷ viên của Ủy ban thường vụQuốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách
Chủ tịch Quốc hội
Trong tổ chức của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốchội có vị trí rất quan trọng Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các phiên họp của Quốc hội;bảo đảm thi hành qui chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, nội qui kỳ họp Quốchội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo hoạt động của Ủy banthường vụ Quốc hội; tổ chức thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; tổ chứcviệc thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội, lãnh đạo hoạt động của Đoàn đạibiểu Quốc hội trong liên minh Quốc hội thế giới
Chủ tịch Quốc hội chỉ đạo và tổ chức thực hiện ngân sách của Quốc hội Ngânsách của Quốc hội là một khoản độc lập trong ngân sách Nhà nước do Quốc hộithảo luận và quyết định trong kỳ họp cuối năm
Trang 36Các Phó chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch Quốc hội làm nhiệm vụ theo sự phâncông của Chủ tịch Quốc hội.
6.2 Hội đồng dân tộc
Vấn đề dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với nước ta, cho nênHiến pháp năm 1980 đã nâng Ủy ban dân tộc của Quốc hội thành Hội đồng dân tộccho xứng với tầm quan trọng của nó Đến Hiến pháp năm 1992, vị trí, vai trò củaHội đồng dân tộc được đề cao, nhiệm vụ và quyền hạn được tăng cường
Hội đồng dân tộc tham mưu cho Quốc hội về vấn đề dân tộc Nhiệm vụ củaHội đồng dân tộc là nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề về dân tộc;thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc và một số nhiệm vụ khácliên quan đến vấn đề dân tộc Trước khi ban hành các chính sách dân tộc, Chính phủphải tham khảo ý kiến của Hội đồng dân tộc
Hội đồng dân tộc gồm có Chủ tịch, Phó chủ tịch và các uỷ viên do Quốc hộibầu ra trong số các đại biểu Quốc hội Hội đồng dân tộc có một số thành viên hoạtđộng chuyên trách
Ngay trong Quốc hội, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số cũng chiếmmột tỉ lệ thích đáng, và có xu hướng mỗi ngày gia tăng- chính điều này đã thể hiệnphần nào chính sách dân tộc của nhà nước ta
6.3 Các Ủy ban của Quốc hội
Các Ủy ban của Quốc hội được thành lập ra để giúp Quốc hội thực hiện tốt cácnhiệm vụ, quyền hạn của mình Đồng thời các Ủy ban của Quốc hội còn là hìnhthức thu hút các đại biểu vào việc thực hiện công tác chung của Quốc hội
Quốc hội thành lập hai loại uỷ ban: Ủy ban thường trực và Ủy ban lâm thời
Ủy ban thường trực: là những Ủy ban hoạt động thường xuyên.
Nhiệm vụ của các Ủy ban này là nghiên cứu, thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật,
dự án pháp lệnh và dự án khác, những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường
vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chươngtrình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủyban
Theo Điều 22 - Luật tổ chức Quốc hội 2001 (2007), Quốc hội thành lập các
Uỷ ban sau đây:
1 Uỷ ban pháp luật;
2 Uỷ ban tư pháp;
3 Uỷ ban kinh tế;
4 Uỷ ban tài chính, ngân sách;
5 Uỷ ban quốc phòng và an ninh;
6 Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng;
Trang 377 Uỷ ban về các vấn đề xã hội;
8 Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường;
9 Uỷ ban đối ngoại
Mỗi Ủy ban đều phải có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách
Ủy ban lâm thời là những Ủy ban được Quốc hội thành lập khi xét
thấy cần thiết để nghiên cứu thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhấtđịnh như Ủy ban kiểm tra tư cách đại biểu Quốc hội hay Ủy ban sửa đổi Hiến pháp
Để đảm bảo tính khách quan trong việc giám sát hoạt động của cơ quan chấphành của Quốc hội, các thành viên của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốchội phải là đại biểu Quốc hội và không thể đồng thời là thành viên Chính phủ
7 Kỳ họp Quốc hội
Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của Quốc hội, do
Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập, thường lệ mỗi năm họp hai kỳ Trong trườnghợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hộiyêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập Quốchội họp bất thường
Thành phần tham dự kỳ họp của Quốc hội bao gồm: các đại biểu Quốc hội; đạidiện cho các Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế - chính trị - xã hội, lực lượng vũtrang và người nước ngoài, các đại diện này tham gia với tư cách là người chứngkiến - có quyền phát biểu nhưng không có quyền biểu quyết Với thành phần tham
dự kỳ họp như thế đã thể hiện tính dân chủ, công khai của hoạt động Quốc hội.Trước khi triệu tập kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội phải dự kiếnchương trình làm việc của kỳ họp, dự kiến này phải được gửi đến các đại biểu Quốchội chậm nhất là một tháng trước khi Quốc hội họp để các đại biểu nghiên cứu vàgóp ý kiến
7.1 Kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội
Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là 60 ngày,
kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc
và chủ tọa cho đến khi Quốc hội bầu ra Chủ tịch Quốc hội khoá mới
Tại kỳ họp này, Quốc hội tiến hành bầu cử các chức danh lãnh đạo cao cấpnhất của Nhà nước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh ántoà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo côngtác từ kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khoá trước đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hộikhoá mới
Ngoài ra, Quốc hội còn bầu Đoàn thư ký kỳ họp của mỗi khoá Quốc hội Tại kỳ họp cuối cùng của mỗi khoá Quốc hội, Quốc hội xem xét, thảo luận báocáo công tác cả nhiệm kỳ của Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc
Trang 38hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh ánToà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Báo cáo côngtác cả nhiệm kỳ của Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội chuẩn bị.
Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ướcquốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tếkhác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước
7.2 Trình tự xem xét và thông qua các dự án tại kỳ họp Quốc hội
Tại kỳ họp, Quốc hội xem xét và thông qua các dự án kế hoạch Nhà nước, dựtoán ngân sách Nhà nước, các báo cáo, dự án luật và các dự án khác theo trình tựsau đây:
a Trình bày các dự án trước Quốc hội
b Thuyết trình việc thẩm tra các dự án
c Thảo luận các dự án
d Biểu quyết để thông qua dự án
Vấn đề cần biểu quyết và cách biểu quyết do Quốc hội qui định Các luật, nghịquyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội tán thành, trừ cáctrường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳcủa Quốc hội và sửa đổi Hiến pháp thì phải được ít nhất là 2/3 tổng số đại biểuQuốc hội biểu quyết tán thành
7.3 Vấn đề chất vấn và trả lời chất vấn
Chất vấn là một hoạt động thực hiện quyền giám sát của Quốc hội trongchương trình kỳ họp, Quốc hội dành thời gian thích đáng cho việc chất vấn và trảlời chất vấn
Chất vấn là quyền của đại biểu Quốc hội nêu những vấn đề thuộc trách nhiệmcủa Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và cácthành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởngViện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu những người này trả lời
Thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn được qui định tại điều 11 Luật hoạt độnggiám sát của Quốc hội 2003
7.4 Hình thức họp Quốc hội
Quốc hội họp công khai, khi Quốc hội họp công khai công chúng có thể đượcđến dự theo giấy mời của văn phòng Quốc hội Các cơ quan thông tấn, báo chí đượctham dự các phiên họp công khai của Quốc hội để phản ảnh kịp thời, chính xác cáchoạt động của Quốc hội Trong trường hợp cần thiết, Quốc hội sẽ quyết định họpkín, việc công bố nội dung các phiên họp kín do Chủ tịch nước cùng với Chủ tịchQuốc hội quyết định
7.5 Các luật, nghị quyết của Quốc hội
Trang 39Các luật, nghị quyết của Quốc hội phải được Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực
và Chủ tịch nước công bố, chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày thông qua
8 Đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội là những công dân ưu tú trong các lĩnh vực hoạt động của
xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra bằng tổng tuyển cử tự do Đại biểuQuốc hội là người đại diện của nhân dân đồng thời là đại biểu cấu thành cơ quanquyền lực nhà nước cao nhất Đại biểu Quốc hội vừa chịu trách nhiệm trước cử trivừa chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình.Đại biểu Quốc hội có địa vị pháp lý đặc biệt, bao gồm chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và hình thức hoạt động được qui định trong Hiến pháp, Luật tổ chứcQuốc hội, qui chế hoạt động của đại biểu Quốc hội Nhiệm kỳ của đại biểu mỗikhoá Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khoá Quốc hội đó đến kỳ họp thứnhất của khoá Quốc hội sau
Chức năng của đại biểu Quốc hội là hướng hoạt động chủ yếu nhằm thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Đại biểu Quốc hội có các chức năng cơ bản sau:
- Thu thập và phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân
- Nâng ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành ý chí Nhà nước, thành các quiđịnh của pháp luật
- Đưa các qui định của pháp luật vào thực tế cuộc sống
8.1 Nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các kỳ họp Quốc hội, tham gia thảoluận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, tích cựcgóp phần làm cho các kỳ họp đạt kết quả tốt
Đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành và tuyên truyền, phổbiến Hiến pháp và pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật và tham giaquản lý Nhà nước
Tiếp dân là nhiệm vụ thường xuyên của đại biểu để nghe nhân dân góp ý xâydựng Nhà nước đồng thời giúp dân giải quyết những thắc mắc, kiến nghị, khiếu nại
và tố cáo
Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ giữ mối quan hệ và thông báo tình hình hoạtđộng của mình với Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc địa phương vàtham gia các hoạt động của đoàn đại biểu Quốc hội
8.2 Quyền hạn của đại biểu Quốc hội
Quyền hạn quan trọng nhất của đại biểu Quốc hội là tham gia thảo luận vàquyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của
Trang 40Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm về ý kiến phátbiểu của mình và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những lời phát biểu củamình trước Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốchội, dự án pháp lệnh ra trước Ủy ban thường vụ Quốc hội
Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủtướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dântối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao
Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu chấm dứt những việc làm trái pháp luậtcủa các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang hoặc cá nhân mà gây thiệthại tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của công dân
Đại biểu Quốc hội có quyền gặp gỡ và yêu cầu các Cơ quan nhà nước, các tổchức và cá nhân cung cấp tình hình và tài liệu cần thiết liên quan đến hoạt độngcủa đại biểu
Đại biểu Quốc hội có quyền tham gia bầu cử và có thể được bầu vào các Cơquan nhà nước, các cơ quan lãnh đạo, các tổ chức của Quốc hội; các đại biểu Quốchội đều bình đẳng trong bầu cử
Đại biểu Quốc hội có quyền biểu quyết về các dự án luật, các nghị quyết, các
dự án, các báo cáo Đại biểu Quốc hội có quyền biểu quyết tán thành, không tánthành hoặc bỏ quyền biểu quyết
Đại biểu Quốc hội có quyền tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấpnơi mình được bầu, có quyền phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểu quyết
8.3 Những đảm bảo cho hoạt động của Đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội có quyền bất khả xâm phạm của đại biểu Nếu không có sựđồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ýcủa Ủy ban thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội
và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội Chỉ có Việntrưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới có quyền đề nghị bắt giam hoặc truy tố,khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội Nếu vì phạm tội quả tang màđại biểu Quốc hội bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hộihoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét và quyết định
Đại biểu Quốc hội không thể bị cách chức, buộc thôi việc nếu không được Ủyban thường vụ Quốc hội đồng ý Cơ quan, tổ chức nơi đại biểu Quốc hội làm việcphải tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội hoàn thành nhiệm vụ
Đại biểu Quốc hội được cung cấp đầy đủ tài liệu và thông tin cần thiết để hoạtđộng, được đài thọ lương và phụ cấp trong thời gian tạm thời không làm công tácthường xuyên của mình mà để làm nhiệm vụ đại biểu, được ưu tiên khám, chữa