1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài liên môn của học sinh đạt giải nhì cấp tỉnh

21 640 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 2,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tên tình huống Vận dụng kiến thức liên môn để trồng cây ớt chỉ thiên cho năng xuất cao, góp phần cải thiện đời sống cho bà con nông dân 2. Mục tiêu giải quyết tình huống Ớt là một loại quả của các cây thuộc chi Capsicum của họ Cà (Solanaceae). Cây ớt có nguồn gốc từ Nam Mỹ, từ một loài ớt cay hoang dại, được thuần hóa và trồng ở châu Âu, ấn Độ cách đây hơn 500 năm. ớt được dùng như 1 loại gia vị ăn tươi, ngâm giấm, muối, làm bột và làm tương. ớt cũng được dùng làm thuốc, ớt dùng để chống khó tiêu, lên men ruột, ỉa chảy, kiết lỵ, nôn mửa không cầm được, trĩ ngoại, thấp khớp, thống phong, thủy thũng, viêm thanh quản, ho gà và một số chứng liệt. Lá ớt còn được dùng để đắp trị mụn nhọt không vỡ mủ, vết rắn rết cắn. Có 2 nhóm phổ biến là ớt cay và ớt ngọt. Ớt ngọt (salat pepper) được trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ và một vài nước châu á, ớt ngọt được sử dụng như một loại rau xanh hoặc dùng để chế biến. ớt ngọt mới được đưa vào trồng ở nước ta từ cuối những năm 60 với diện tích nhỏ nhưng đến nay diện tích ớt ngọt đã tăng lên đáng kể Ớt cay: (được trồng phổ biến ở ấn Độ, châu Phi và các nước nhiệt đới khác. ớt cay được dùng làm gia vị. ớt cay là cây có giá trị kinh tế và trồng phổ biến hơn ớt ngọt. Ớt là cây trồng 1 năm nhưng dạng hoang dại (quả rất nhỏ) có thể sống và cho quả liên tục trong nhiều năm. Chính vì những giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế rất lớn mà cây ớt mang lại nên cây ớt đã được đưa và trồng đại trà ở nước ta từ những thập niên trước đây. Một vài năm gần đây vai trò của cây ớt càng trở nên quan trọng, do nhu cầu của nhiều loại thực phẩm cần đến cây ớt nên giá trị kinh tế cây ớt mang lại cao hơn nhiều. Việc đưa vào trồng cây ớt đã mang lại hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập của hộ nông dân lên gấp nhiều lần. Theo dự báo, đánh giá tình hình thị trường của các cơ quan quản lí nhà nước về nông nghiệp thì nhu cầu của thị trường đối với cây ớt vẫn cao, nên việc mở rộng diện tích trồng ớt là cần thiết để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho bà con nông dân. Hơn nữa cây ớt có giá trị kinh tế cao hơn hẵn các cây lương thực như lúa, ngô dù cho không thể có sự ổn định lâu dài như các cây lương thực nhưng lại rất phù hợp để trồng ở Việt Nam, nhất là đối với các tỉnh phía Bắc. Xuất phát từ việc tìm hiểu được những lợi ích, giá trị kinh tế mà cây ớt mang lại cùng với thực tiễn ở địa phương chúng tôi đã vận dụng kiến thức liên môn áp dụng vào việc trồng cây ớt chỉ thiên với mục đích làm tăng năng xuất, góp phần cải thiện đời sống của người nông dân, đồng thời thông qua hiệu quả thực tiễn mang lại để khuyến khích người dẫn tiếp tục mạnh dạn mở rộng diện tích trồng ớt. 3. Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống • Về lịch sử Cây ớt có tên khoa học Capsium frutescens L; Capsium annuum L. thuộc họ Cà Solanaceae. Cây ớt là cây gia vị, thân thảo, thân dưới hóa gỗ, có thể sống vài năm, có nhiều cành, nhẵn; lá mọc so le, hình thuôn dài, đầu nhọn; hoa mọc đơn độc ở kẽ lá. Quả ớt có nhiều tên gọi khác nhau như Lạt tiêu, Lạt tử, Ngưu giác tiêu, Hải tiêu... Quả ớt mọc rủ xuống đất, chỉ riêng ở cây ớt chỉ thiên thì quả lại quay lên trời. Các bộ phận của cây ớt như quả, rễ và lá còn được dùng làm thuốc chữa nhiều bệnh. • Về địa lý Ở Việt Nam, cây ớt là một loại rau gia vị có giá trị kinh tế cao, được trồng chủ yếu tại các tỉnh miền Trung và Nam Bộ. Những năm gần đây, một số tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng cũng đã bắt đầu trồng ớt với diện tích lớn, nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các công ty sản xuất các mặt hàng thực phẩm để tiêu thụ và xuất khẩu, đem lại lợi nhuận cao. Một số giống ớt tiêu biểu được trồng rộng rãi tại Việt Nam: Ớt sừng bò: được trồng rộng rãi ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ như Hà Nội, Thái Bình, Hưng Yên…Thời gian sinh trưởng của ớt sừng bò từ 110 đến 115 ngày, tùy theo vụ. Quả dài 1012 cm, đường kính quả 11,5cm. Khi chín màu đỏ tươi, trồng 3540 ngày đã có quả.Nếu trồng riêng rẽ từng cây trong vườn thì ớt sừng bò có thể sống 23 năm. Ớt chìa vôi: được trồng phổ biến ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, các tỉnh ven biển miền Trung. Thời gian sinh trưởng từ 115120 ngày, cây cao 4045 cm có 45 cành, mỗi cây cho 4045 quả. Ớt chỉ thiên: Đây là giống ớt khá là cay, nhưng ớt chỉ thiên được những người nghiền ớt ưa chuộng. Trong tất cả các loại ớt cay thì ớt chỉ thiên dễ trồng, bởi đặc tính của loài cây trồng là không kén đất có thể trồng trên đất bãi, đất đồi hay đất ruộng. Nhưng tốt nhất nên trồng ớt trên đất bãi hàng năm, có ngập phù sa hay đất trồng trong đồng với độ màu mỡ tốt hoặc khá, có hệ thống thoát nước, có khả năng giãi nắng. Ớt chỉ thiên Ớt chỉ thiên phát triển tốt nhất ở vụ thu đông thưởng được gieo vào tháng 6 7, vào tháng 8 9 dương lịch, vụ đông xuân thường được gieo vào tháng 11 12, trồng vào tháng 1 2. Vào thời điểm tháng 10 thường là mùa mưa bão ở miền Trung, và cả miền Nam nên đây là giai đoạn khan hiếm ớt,vì vậy để bán giá cao, đồng thời dễ tiêu thụ và đạt năng suất hiệu quả kinh tế cao nhất, nên chọn gieo cây con vào tháng 6 trồng ra ruộng vào tháng 7.Ớt chỉ thiên phát triển tốt nhất ở vụ thu đông thưởng được gieo vào tháng 6 7, vào tháng 8 9 dương lịch, vụ đông xuân thường được gieo vào tháng 11 12, trồng vào tháng 1 2. Ở Thanh Hóa vài năm trở lại đây, cây ớt xuất khẩu đã trở thành một trong những cây trồng hàng hóa có hiệu quả kinh tế thuộc loại cao nhất trên các xứ đồng trong tỉnh. Nhiều địa phương đã liên hệ với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để ký hợp đồng trồng ớt cho các doanh nghiệp. Nông dân cũng có lãi cao và đem lại thành công trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng.

Trang 1

1 Tên tình huống

Vận dụng kiến thức liên môn để trồng cây ớt chỉ thiên cho năng xuất cao, góp phần cải thiện đời sống cho bà con nông dân

2 Mục tiêu giải quyết tình huống

Ớt là một loại quả của các cây thuộc chi Capsicum của họ Cà (Solanaceae).

Cây ớt có nguồn gốc từ Nam Mỹ, từ một loài ớt cay hoang dại, được thuần hóa

và trồng ở châu Âu, ấn Độ cách đây hơn 500 năm ớt được dùng như 1 loại gia

vị ăn tươi, ngâm giấm, muối, làm bột và làm tương ớt cũng được dùng làmthuốc, ớt dùng để chống khó tiêu, lên men ruột, ỉa chảy, kiết lỵ, nôn mửa khôngcầm được, trĩ ngoại, thấp khớp, thống phong, thủy thũng, viêm thanh quản, ho

gà và một số chứng liệt Lá ớt còn được dùng để đắp trị mụn nhọt không vỡ mủ,vết rắn rết cắn

Có 2 nhóm phổ biến là ớt cay và ớt ngọt

Ớt ngọt (salat pepper) được trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ và một vài

nước châu á, ớt ngọt được sử dụng như một loại rau xanh hoặc dùng để chếbiến ớt ngọt mới được đưa vào trồng ở nước ta từ cuối những năm 60 với diệntích nhỏ nhưng đến nay diện tích ớt ngọt đã tăng lên đáng kể

Ớt cay: (được trồng phổ biến ở ấn Độ, châu Phi và các nước nhiệt đới khác.

ớt cay được dùng làm gia vị ớt cay là cây có giá trị kinh tế và trồng phổ biếnhơn ớt ngọt Ớt là cây trồng 1 năm nhưng dạng hoang dại (quả rất nhỏ) có thểsống và cho quả liên tục trong nhiều năm

Chính vì những giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế rất lớn mà cây ớtmang lại nên cây ớt đã được đưa và trồng đại trà ở nước ta từ những thập niêntrước đây Một vài năm gần đây vai trò của cây ớt càng trở nên quan trọng, donhu cầu của nhiều loại thực phẩm cần đến cây ớt nên giá trị kinh tế cây ớt manglại cao hơn nhiều Việc đưa vào trồng cây ớt đã mang lại hiệu quả kinh tế, tăngthu nhập của hộ nông dân lên gấp nhiều lần Theo dự báo, đánh giá tình hình thịtrường của các cơ quan quản lí nhà nước về nông nghiệp thì nhu cầu của thịtrường đối với cây ớt vẫn cao, nên việc mở rộng diện tích trồng ớt là cần thiết đểnâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho bà con nông dân Hơn nữa cây ớt cógiá trị kinh tế cao hơn hẵn các cây lương thực như lúa, ngô dù cho không thể có

sự ổn định lâu dài như các cây lương thực nhưng lại rất phù hợp để trồng ở Việt

Trang 2

Nam, nhất là đối với các tỉnh phía Bắc Xuất phát từ việc tìm hiểu được nhữnglợi ích, giá trị kinh tế mà cây ớt mang lại cùng với thực tiễn ở địa phương chúngtôi đã vận dụng kiến thức liên môn áp dụng vào việc trồng cây ớt chỉ thiên vớimục đích làm tăng năng xuất, góp phần cải thiện đời sống của người nông dân,đồng thời thông qua hiệu quả thực tiễn mang lại để khuyến khích người dẫn tiếptục mạnh dạn mở rộng diện tích trồng ớt.

3 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình huống

Về lịch sử

Cây ớt có tên khoa học Capsium frutescens L; Capsium annuum L thuộc họ

Cà Solanaceae Cây ớt là cây gia vị, thân thảo, thân dưới hóa gỗ, có thể sống vàinăm, có nhiều cành, nhẵn; lá mọc so le, hình thuôn dài, đầu nhọn; hoa mọc đơnđộc ở kẽ lá Quả ớt có nhiều tên gọi khác nhau như Lạt tiêu, Lạt tử, Ngưu giáctiêu, Hải tiêu Quả ớt mọc rủ xuống đất, chỉ riêng ở cây ớt chỉ thiên thì quả lạiquay lên trời Các bộ phận của cây ớt như quả, rễ và lá còn được dùng làm thuốcchữa nhiều bệnh

Về địa lý

Ở Việt Nam, cây ớt là một loại rau gia vị có giá trị kinh tế cao, được trồngchủ yếu tại các tỉnh miền Trung và Nam Bộ Những năm gần đây, một số tỉnhvùng Đồng bằng Sông Hồng cũng đã bắt đầu trồng ớt với diện tích lớn, nhằmcung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các công ty sản xuất các mặt hàng thựcphẩm để tiêu thụ và xuất khẩu, đem lại lợi nhuận cao Một số giống ớt tiêu biểuđược trồng rộng rãi tại Việt Nam:

- Ớt sừng bò: được trồng rộng rãi ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ như Hà

Nội, Thái Bình, Hưng Yên…Thời gian sinh trưởng của ớt sừng bò từ 110 đến

115 ngày, tùy theo vụ Quả dài 10-12 cm, đường kính quả 1-1,5cm Khi chínmàu đỏ tươi, trồng 35-40 ngày đã có quả.Nếu trồng riêng rẽ từng cây trong vườnthì ớt sừng bò có thể sống 2-3 năm

- Ớt chìa vôi: được trồng phổ biến ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên

Huế, các tỉnh ven biển miền Trung Thời gian sinh trưởng từ 115-120 ngày, câycao 40-45 cm có 4-5 cành, mỗi cây cho 40-45 quả

- Ớt chỉ thiên: Đây là giống ớt khá là cay, nhưng ớt chỉ thiên được những người

nghiền ớt ưa chuộng

Trong tất cả các loại ớt cay thì ớt chỉ thiên dễ trồng, bởi đặc tính của loài câytrồng là không kén đất có thể trồng trên đất bãi, đất đồi hay đất ruộng Nhưng

Trang 3

đồng với độ màu mỡ tốt hoặc khá, có hệ thống thoát nước, có khả năng giãinắng.

Ớt chỉ thiên

Ớt chỉ thiên phát triển tốt nhất ở vụ thu đông thưởng được gieo vào tháng 6

7, vào tháng 8 9 dương lịch, vụ đông xuân thường được gieo vào tháng 11

-12, trồng vào tháng 1 - 2 Vào thời điểm tháng 10 thường là mùa mưa bão ởmiền Trung, và cả miền Nam nên đây là giai đoạn khan hiếm ớt,vì vậy để bángiá cao, đồng thời dễ tiêu thụ và đạt năng suất hiệu quả kinh tế cao nhất, nênchọn gieo cây con vào tháng 6 trồng ra ruộng vào tháng 7.Ớt chỉ thiên phát triểntốt nhất ở vụ thu đông thưởng được gieo vào tháng 6 - 7, vào tháng 8 - 9 dươnglịch, vụ đông xuân thường được gieo vào tháng 11 - 12, trồng vào tháng 1 - 2

Ở Thanh Hóa vài năm trở lại đây, cây ớt xuất khẩu đã trở thành một trongnhững cây trồng hàng hóa có hiệu quả kinh tế thuộc loại cao nhất trên các xứđồng trong tỉnh Nhiều địa phương đã liên hệ với các doanh nghiệp trong vàngoài tỉnh để ký hợp đồng trồng ớt cho các doanh nghiệp Nông dân cũng có lãicao và đem lại thành công trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng

Về toán học

Trang 4

Mật độ khoảng cách trồng tùy thuộc vào giống, đất đai và khí hậu, mật độ caocây sẽ có sự cạnh tranh áng sáng, phân bón, nhiều sâu bệnh ảnh hưởng đến năngsuất.

Khoảng cách trồng – mật độ:

 Vào mùa nắng (mùa khô): hàng đôi cách hàng đôi 1,2 – 1,4m, hàng cáchhàng của hàng đôi 0,6 mét, cây cách cây trên hàng 0,6m Mật độ trung bình từ1.700 – 1.900 cây/1.000m2

 Vào mùa mưa: hàng cách hàng từ 1,2 – 1,4m, cây cách cây trên hàng0,7m Mật độ trung bình từ 1.400 – 1.500 cây/1.000m2 Mật độ trồng ớt phụthuộc vào vùng sinh thái, mùa vụ, thời gian sinh trưởng của giống và điều kiệnthâm canh

đỏ, nóng, chỉ xuất hiện khi quả ớt chín, chiếm tỷ lệ từ 0,01-0,1% Capsaicin cótác dụng kích thích não bộ sản xuất ra chất endorphin, một chất morphin nộisinh, có đặc tính như những thuốc giảm đau, đặc biệt có ích cho những bệnhnhân bị viêm khớp mạn tính và các bệnh ung thư

Ngoài ra, ớt còn giúp ngăn ngừa bệnh tim do chứa một số hoạt chất giúp máu

Trang 5

Ớt còn có tác dụng ngăn ngừa tình trạng huyết áp tăng cao Một số nghiên cứucho thấy, những loại ớt vỏ xanh, trái nhỏ có hàm lượng capsaicin nhiều hơn.Ngoài ra, trong quả ớt còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin C, B1, B2, acidcitric, acid malic, beta caroten…

Về vật lí

Ớt là cây ưa nhiệt Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng phát triển của ớt là

25-280C ban ngày và 18-200C ban đêm ở nhiệt độ 150C hạt nảy mầm sau gieo

10-12 ngày và cây sinh trưởng phát triển chậm ở nhiệt độ trên 320C cây sinhtrưởng kém, hoa bị rụng nhiều nên tỷ lệ đậu quả thấp

Về sinh học

* Đặc tính sinh học :

+ Rễ: Ớt có rễ trụ, nhưng khi cấy rễ phân nhánh mạnh và cây phát triển thành

rễ chùm, phân bố trong vùng đất cày là chính

+ Thân: khi cây già phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân có 4-5cạnh Thân có lông hoặc không lông, cây cao 35-65 cm, có giống cao 125-135

cm Ớt phân tán mạnh, kích thước tán thay đổi tùy theo điều kiện canh tác vàgiống

+ Lá: Mọc đơn, đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứngđến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặckhông lông

+ Hoa: Lưỡng phái, mọc đơn hoặc thành chùm 2-3 hoa Hoa nhỏ, dài, hoa màuxanh có hình chén, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn Tràng hoa có 6-7 cánh màu trắnghoặc tím Số nhị đực bằng số cánh hoa và mọc quanh nhụy cái Phần trong cánhhoa có lỗ tiết mật

Hoa ớt có thể tự thụ phấn hay thụ phấn chéo do côn trùng vì ớt thuộc loại tiềnthư, thụ phấn chéo có ý nghĩa lớn ở ớt cay, tỷ lệ thụ phấn chéo từ 10-40 % tùygiống, do đó cần chú ý trong công tác để giống và giữ giống thuần

+ Trái: Trái có 2-4 thùy, dạng trái rất thay đổi từ hình cầu đến hình nón, bềmặt trái có thể phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẵn; trái khi chín có màu đỏ đenvàng; trái không cay hay rất cay

Chiều dài và dạng trái đóng vai trò quan trọng trong việc chọn giống ớt xuấtkhẩu dưới dạng quả khô Ớt quả khô nguyên trái phải dài hơn 9 cm và khi khôkhông rời cuống Việc chế biến ớt bột không đòi hỏi tiêu chuẩn về kích thước vàdạng trái nhưng yêu cầu về màu sắc, độ cay và tỷ lệ tươi/khô khi phơi; ớt trái to

Trang 6

ở nước ta có tỷ lệ tươi/khô là 6,5:1 trong khi ớt trái nhỏ có tỷ lệ này là 8:1 Tráichưá nhiều hạt tròn dẹp, nhỏ có màu nâu sáng,

Ớt là cây chịu nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng là 18-30oC Nhiệt độcao trên 32oC và thấp dưới 15oC Cây tăng trưởng kém và hoa dễ rụng Ớt là câykhông quang cảm, tuy nhiên trong điều kiện ngày ngắn các giống ớt cay pháttriển tốt và cho năng suất cao Ớt chịu đựng được điều kiện che rợp đến 45%,nhưng che rợp nhiều hơn ớt chậm trổ hoa và rụng nụ

* Các loại sâu bệnh hại:

Sâu hại:

- Rầy lửa, bọ trỉ, bù lạch ( Thrips sp.)

+ Thành trùng và ấu trùng rất nhỏ có màu trắng hơi vàng, sống tập trung trongđọt non hay mặt dưới lá non, chích hút nhựa cây làm cho đọt non bị xoăn lại.Thiệt hại do bọ trĩ, bọ dưa có liên quan đến bệnh siêu trùng

+ Bù lạch có tính kháng thuốc rất cao, nên định kỳ 7-10 ngày/lần phun dầukhoáng DC-Tron plus (Caltex) sẽ giảm đáng kể sự tấn công của bù lạch; khithấy mật số vài ba con trên một đọt non cần phun một trong các loại nhưConfidor 100SL, Admire 50EC, Danitol 10EC, Vertimec 0.5-1%o, cần thayđổi thuốc thường xuyên

+ Sâu xanh đục trái ( Heliothis armigera ) : Thành trùng là bướm đêm, kíchthước to, thân mập nhiều lông, cánh màu vàng sáng, giửa cánh có một chấm đen

to và một chấm trắng nằm cạnh nhau Trứng đẻ thành ổ có phủ lông vàng; mộtbướm cái đẻ 200-2000 trứng Âu trùng là sâu có nhiều lông, màu sắc thay đổi từmàu hồng, xanh, xanh vàng đến nâu đen theo môi trường sống Sâu ở phía ngòaithò đầu vào bên trong phá hại búp non, nụ hoa, cắn điểm sinh trưởng, đụt thủngquả từ khi còn xanh cho đến lúc gần chín làm thối trái Nhộng màu nâu đỏ nằmtrong lá khô hoặc trong đất

Trang 7

bông vãi, thuốc lá Ấu trùng và thành trùng đều chích hút làm lá biến vàng, câymau suy yếu, giảm năng suất và truyền bệnh siêu trùng như rầy mềm Bọ phấntrắng phát triển nhanh trong điều kiện nóng và khô, rất dễ quen thuốc khi phun ởnồng độ cao, hoặc phun thường xuyên định kỳ.

Trong tự nhiên có nhiều loài ong ký sinh trên ấu trùng bọ phấn trắng Thuốchiệu quả là Admire, Confidor, phun ở mặt dưới lá

- Rầy nhớt, rầy mềm ( Aphis spp.)

Còn được gọi là rầy mật, cả ấu trùng lẫn thành trùng đều rất nhỏ, dài độ 2mm, có màu vàng, sống thành đám đông ở mặt dưới lá non từ khi cây có 2 lámầm đến khi thu hoạch, chích hút nhựa làm cho ngọn dây dưa chùn đọt và lá bịvàng Rầy truyền các loại bệnh siêu vi khuẩn như khảm vàng Chúng có rấtnhiều thiên địch như bọ rùa, dòi, kiến, nhện nấm nên chỉ phun thuốc khi nàomật số quá cao ảnh hưởng đến năng suất Phun các loại thuốc phổ biến rầy mềmnhư Trebon, Bassa

1 Sâu ăn tạp, sâu ổ, sâu đàn ( Spodoptera litura )

+ Sâu non lúc nhỏ sống tập trung ở mặt dưới phiến lá nên gọi là sâu ổ, khi lớnlên phân tán dần, mình có màu xám với khoan đen lớn ở trên phía lưng sau đầu,

ăn lủng lá có hình dạng bất định, hoặc cắn đứt ngang thân cây con Sau đó sâuthường chui vào sống trong đất, ẩn dưới các kẻ nứt hay rơm rạ phủ trên mặt đất,nhộng ở trong đất

- Nên làm đất kỹ trước khi trồng vụ sau để diệt sâu và nhộng còn sống trongđất, xử lý đất bằng thuốc hạt Có thể ngắt bỏ ổ trứng hay bắt sâu non đang sốngtập trung

- Nên thay đổi loại thuốc thường xuyên, phun vào giai đoạn trứng sắp nở sẽcho hiệu quả cao: Sumicidin 10EC, Cymbus 5EC, Karate 2.5EC, Decis 2.5 EC 1-2%o có thể pha trộn với Atabron 5EC từ 2-3 cc/bình xịt 8 lít

Bệnh hại:

- Bệnh héo cây con:Do nấm Rhizoctonia solani , Phythophthora sp., Pythium sp

Trang 8

Bệnh thường gây hại cây con trong líp ương hoặc sau khi trồng khoảng mộttháng tuổi Vết bệnh thường xuất hiện ở phần thân ngay trên mặt đất, nấm tấncông vào gốc làm gốc cây bị thối nhũn và cây bị gãy gục, phần cây bên trên vếtbệnh vẫn còn tươi xanh, sau đó cây mới bắt đầu héo Bệnh phát triển mạnh khi

ẩm độ cao, nấm lưu tồn trên thân luá, rơm rạ, cỏ dại, lục bình, hạch nấm tồn tạitrong đất sau mùa gặt lúa

+ Để trị bệnh cần phun, Validacin 5L, Anvil 5SC, Rovral 50WP, Ridomil 25

WP 1-2%o; Copper -B 2-3%o, Tilt super 250 ND, Bonanza 100 (các loại thuốctrị bệnh đốm vằn trên luá đều trị được bệnh này)

- Bệnh héo chết cây do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum, nấm Fusarium oxysporum, F lycopersici, Sclerotium sp.: Bệnh thường gây hại khi cây đã

trưởng thành, hoặc khi cây bắt đầu mang trái Đầu tiên các lá ngọn bị héo vàobuổi trưa, và tươi lại vào buổi chiều mát, sau vài ngày cây bệnh chết hẳn, khôngcòn khả năng hồi phục, bộ rễ không phát triển

Đối với bệnh do vi khuẩn cần nhổ và tiêu hủy cây bệnh; dùng vôi bột rãi vàođất, hoặc Starner, New Kasuran, Copper Zin C tưới nơi gốc cây hay phun ngừabằng Kasumin Đối với nấm cần phát hiện sớm, phun ngừa hoặc trị bằng thuốcCopper B, Derosal, Appencarb super, Ridomil, Score

Trang 9

- Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum sp Bốn loài Colletotrichum được tìm thấy trên ớt là: C gloesporiodes, C.

capsici (2 loài quan trọng nhất), C.

acertatum và C coccodes Bệnh thường

gây hại trên trái đang hay đã chín trong

điều kiện có mưa nhiều, hoặc ẩm độ không

khí cao Vết bệnh lúc đầu hình tròn, úng

nước, hơi lõm xuống, sau đó lan dần ra, tâm vết bệnh có màu nâu đen, viền màunâu xám, bên trong có nhiều vòng đồng tâm và có những chấm nhỏ li ti màu đennhô lên cao Bệnh gây hại chủ yếu trên trái làm trái mất thương phẩm Ở đồngbằng sông Cửu Long bệnh phát triển và lây lan mạnh vào mùa mưa, nhất là vàocác tháng 7, 8, 9 dl Nấm bệnh tồn tại rất lâu trong đất, trên cây và trong hạt câybệnh

Các thuốc Copper B, Manzate, Mancozeb, Antracol, Ridomil được sử dụngrộng rãi để trừ bệnh này Tuy nhiên, bệnh khó phòng trị trong mùa mưa và vìbịnh chỉ xuất hiện rất trễ khi trái chín Hiện nay biện pháp trồng giống khángbệnh như ớt hiểm trong mùa mưa là kinh tế nhất

-Bệnh héo vàng do nấm Fusavium Oxys pomm,F.Licopersiei

Thường gây hại lúc cây con và lúc ra hoa trái, thời gian bệnh kéo dài 10 – 15ngày, lá xanh héo, mất nước, lâu dần chuyển vàng đều từ gốc lên, bó mạch trongthân và rễ thối nâu

Trang 10

- Bệnh héo muộn do nấm Phytophthora infestan : Bệnh gây hại trên thân, lá vàtrái Vết bệnh lúc đầu có màu xanh úng nước, sau đó chuyển sang màu nâu đen.Nếu trời ẩm bên dưới vết bệnh có tơ màu trắng bao phủ; nếu thời tiết khô thì vếtbệnh khô dòn, dễ vở Bệnh thường xuất hiện ở cuống trái, bệnh nặng làm trái dễrụng.

Không trồng ớt liên tục nhiều năm trên cùng một ruộng Phun trị khi bệnh xuấthiện với các loại thuốc Aliette, Manzate, Mancozeb, Curzate

-Bệnh sương mai do nấm

Phythopthora capsici

Lá có những đốm tròn, xanh

đen, thân màu xám đen và trái

có màu nâu nhạt, mềm, bị thối

Ngày đăng: 23/12/2016, 22:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w