Bài viết đi sâu chỉ ra sự khác biệt trong tư tưởng nhàn dật, thể hiện qua hai tập thơ: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm.. Hai nhà thơ nà
Trang 1Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Tư tưởng nhàn dật của Nguyễn Trãi trong Quốc
âm thi tập" và của
Nguyễn Bỉnh Khiêm
trong "Bạch Vân quốc
ngữ thi tập"
Trang 2hồ thị huế tư tưởng nhàn dật của nguyễn trI , tr 38-43
tư tưởng nhàn dật của nguyễn tri trong quốc âm thi tập và của nguyễn bỉnh khiêm
trong bạch vân quốc ngữ thi tập
Tóm tắt Bài viết đi sâu chỉ ra sự khác biệt trong tư tưởng nhàn dật, thể hiện qua hai tập thơ: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm Hai nhà thơ này có sự khác biệt rõ nét trong cách bộc lộ tư tưởng nhàn dật: Nguyễn Trãi bộc lộ qua những áng thơ trữ tình, Nguyễn Bỉnh Khiêm bộc lộ qua những bài thơ giàu màu sắc triết lí Những cách bộc lộ đó nói lên tính đặc thù trong tư tưởng nhàn của mỗi tác giả
đại nói riêng luôn là nơi cất giữ, lưu
chuyển thế giới tư tưởng, tâm hồn, khát
vọng của các bậc hiển Nho xưa Thơ xưa
cho phép nhận diện nhiều chiều kích
khác nhau trong cảm nhận cũng như
ứng xử của các tác giả về con người và
thế giới Trường hợp thơ Nôm Nguyễn
Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không
nằm ngoài quy luật chung ấy Quốc âm
thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch Vân
quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh
Khiêm là những tập thơ Nôm có giá trị
khai phá, mở đường cho nền thơ Việt
Những bài thơ Nôm làm mê đắm lòng
người bao thế hệ ấy kết tụ, dung chứa
những dấu hiệu tư tưởng của thời đại và
số phận cá nhân mỗi tác giả Một trong
những âm hưởng vọng lại từ thơ hai ông
là tư tưởng nhàn dật, là quan niệm xử
thế trong xã hội đầy những biến động
thăng trầm Cùng với sự bộc lộ tư tưởng
nhàn trong thơ, chúng ta bắt
gặp một số sắc thái khác biệt trong
phương thức thể hiện: Nguyễn Trãi nổi
bật trong phong thái một nghệ sĩ,
Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi bật trong
phong thái một triết nhân Theo đó, nếu
nhàn dật đối với Nguyễn Trãi chủ yếu
được thể hiện thành những dòng mạch
tâm trạng qua những áng thơ trữ tình
thì tư tưởng nhàn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm nghiêng về thể hiện những vấn
đề nhận thức qua những bài thơ giàu tính triết lí Tuy nhiên, sự khác biệt ấy chỉ mang tính tương đối vì thảng hoặc một số bài của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm diễn ra sự ngược lại: trữ tình đối với thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và
chúng tôi tạm phân định nét nổi trội hơn của từng tác giả để nhìn rõ hơn cho việc luận giải về vấn đề được bàn tới
Nguyễn Trãi biểu hiện ở một tâm hồn giàu rung cảm trước thiên nhiên tạo vật,
ở tâm thế vừa phóng khoáng quảng đại trước tự nhiên, vừa chất chứa nhiều tâm
sự u uẩn, tất cả cùng đan xen hòa quyện trong một nội tâm phong phú và vô cùng sâu sắc Thơ Nôm Nguyễn Trãi được viết
Trần tình, Thuật hứng, Tự thán, Tự giới, Tức sự, … Đó là một đặc trưng của
ý thức trữ tình truyền thống, trữ tình bằng cách thuật kể nỗi lòng mình, bày
tỏ cảm xúc, chí hướng, hoài bão của mình
Theo Trần Đình Sử: “Nếu thơ trữ tình là sự biểu hiện của thế giới chủ quan của ý thức con người (theo quan
Nhận bài ngày 27/10/2008 Sửa chữa xong 12/12/2008.
Trang 3trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 1b-2009 niệm từ Hêghen, Bêlinxki) thì phạm vi
chủ quan trong thơ trung đại là chí
hướng, hoài bão, nó hướng con người
nhìn vào một miền lí tưởng, khao khát
trong tâm tư ý thức chủ quan của con
người có khả năng nội cảm hoá toàn bộ
thế giới và quan hệ chủ - khách quan”
[5, tr 119]
Nhìn vào những đề mục trong thơ
Nôm Nguyễn Trãi, chúng ta thấy hiện
diện rõ nét những mạch tâm trạng,
những tâm sự về khát vọng, về lí tưởng
cao đẹp Những dòng mạch tâm trạng ấy
mỗi lúc như càng thấm sâu, lan rộng và
chuyển tải thành những hình tượng thơ
dồi dào cảm xúc Đó có thể là niềm khát
khao được cống hiến đến độ thôi thúc
giục giã:
Niềm cũ sinh linh đeo ắt nặng,
Cật chưng hồ hải đặt chưa an
Những vì chúa thánh âu đời trị,
Há kể thân nhàn tiếc tuổi tàn
(Tự thán - bài 2) Còn một lòng âu việc nước,
Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung
(Thuật hứng - bài 23)
Đó có thể là sự chua xót, bất mãn
trước thế thái nhân tình đen bạc, lòng
người hiểm hóc, quanh co:
Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc,
Cho hay đường lợi cực quanh co
(Ngôn chí - bài 19)
Đó có thể là nỗi cô đơn, khép kín của
một tài năng lớn bị hờ hững, bỏ quên:
Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ,
Trời ban tối, ước về đâu
(Ngôn chí - bài 13) Người tri âm ít, cầm nên lặng,
Lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu
(Tự thuật - bài 10)
Đó có thể là niềm hoài niệm da diết
khôn nguôi về quê cũ, cảnh xưa:
Non quê ngày nọ chiêm bao thấy,
Viên hạc chăng hờn lại những thương
(Tự thán - bài 1)
Và đó cũng có thể là hoài niệm về quá khứ lẫy lừng đáng tự hào và những day dứt khi nghĩ mình chưa làm tròn bổn phận bề tôi trung:
Quân thân chưa báo lòng canh cánh, Tình phụ cơm trời áo cha
(Ngôn chí - bài 7) Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn: “Nguyễn Trãi là nhà thơ của những phức điệu trữ tình, những trạng huống cảm xúc đối nghịch Ông có quan phương nhưng li tâm, bung toả đến tận cùng gam độ Ông như chiếc lá mỏng, chỉ một thoảng gió nhẹ của đời cũng run rẩy reo lên, rung lên tiếng xào xạc của
điệu tâm hồn vốn nhạy cảm, giàu trắc
ẩn, giàu cảm thông ân nghĩa” [4, tr 734]
Tư chất nghệ sĩ của Nguyễn Trãi thể hiện trong cả những thú vui nhàn tản
và niềm hứng thú cao độ được thưởng thức, chiêm ngưỡng: thưởng ngoạn thiên nhiên, ngâm thơ, sáng tác thơ, đánh
đàn, nghe đàn, uống rượu, uống trà… Trong sự thưởng thức các thú vui đó có
sự giao hoà giữa con người với ngoại giới Sự “chủ quan hoá” ngoại vật khiến cho thế giới như có linh hồn, có tâm trạng Chẳng hạn, trong thú thưởng trăng của ông chúng ta vừa bắt gặp một tầm vóc đĩnh đạc, đường hoàng, vừa phiêu diêu phóng túng Nhiều khi, ông vô hình hoá những cái hữu hình, trọng lượng hoá những cái không trọng lượng Cách thưởng trăng vì thế trong thơ ông thật ấn tượng:
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,
(Ngôn chí - bài 10) Hái cúc ương lan hương bén áo, Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn
(Thuật hứng - bài 15) Trong thú vui uống rượu, ngâm thơ thưởng lãm cảnh vật, Nguyễn Trãi cũng
Trang 4hồ thị huế tư tưởng nhàn dật của nguyễn trI , tr 38-43 thể hiện theo một cách rất riêng, đầy
khí vị, rất nghệ sĩ:
Con cờ quảy, rượu đầy bầu,
Đòi nước đòi non chơi quản dầu
(Trần tình - bài 5) Say mùi đạo chè ba chén,
Dã lòng phiền, thơ bốn câu
(Thuật hứng - bài 13) Người ẩn sĩ trong Quốc Âm thi tập
cũng bộc lộ tư chất nghệ sĩ trong những
cảm quan tinh nhạy, trong thái độ hết
mình trân trọng nâng niu cái đẹp Muốn
chim về làm tổ quanh mình, ông muốn
phát cây (Mạn thuật - bài 6); Nguyễn
Trãi không nói chăm sóc cây mà nói “bợ
cây” (Ngôn chí - bài 10) Ông luôn sống
trong cảm giác sợ cái đẹp mất đi, trôi
qua tan biến nhanh chóng không níu giữ
được: nhặt cành trúc rơi, ông “tiếc cháu
rồng” (Thuật hứng - bài 5), không bẻ
cành mai vì “thương cành ngọc” (Thuật
hứng - bài 5) Với từng thời khắc biến
đổi của tạo vật, ông tỏ ra thật nhẹ
nhàng, khẽ khàng để cảnh vật không bị
đánh thức, bị lay động, bị xâm phạm:
“chăng buông cá” (Mạn thuật - bài 6), để
nguyệt hiện dưới ao, quét hiên nhà lại sợ
ánh trăng tan (Bảo kính cảnh giới - bài
33) Ngay cả khi say sưa thưởng trăng,
ông cũng sợ thời gian trôi mất: “Say
thưởng nguyệt, lệ thu qua” (Bảo kính
cảnh giới - bài 41) Về ở ẩn, con người
chức năng phận vị trong Nguyễn Trãi
rút lui nhường chỗ cho con người nghệ sĩ
với nhiều cảm nhận tinh tế và niềm
khao khát chiếm hữu vẻ đẹp thiên
nhiên, ngoại vật Hình như khi phát huy
hết mọi giác quan nghệ sĩ thì sự kiểm
soát thẩm mỹ quan thuộc ý thức hệ Nho
giáo phải lùi chỗ nhường đường cho
những xúc động sâu sắc Thi hứng cũng
từ thẩm mỹ quan giàu rung cảm ấy mà
trỗi dậy, trào dâng:
Qua đòi cảnh chắp câu đòi cảnh
(Tự thán - bài 5) Tuyết đượm trà mai câu dễ động,
Đìa in bóng nguyệt hứng thêm dài
(Tự thán - bài 14) Trong sự thu nhận, chiếm lĩnh vẻ
đẹp thiên nhiên, cảm quan nghệ sĩ của Nguyễn Trãi toả đi khắp mọi nơi, vào từng ngõ ngách không gian để chiếm lĩnh, để thu nhận tất cả những cử động
âm thanh, màu sắc, hương vị phong phú:
Am rợp chim kêu hoa xẩy động, Song im hương tịn khói sơ tàn Mưa thu tưới ba đường cúc, Gió xuân đưa một luống lan
(Ngôn chí - bài 16) Rồi hóng mát thuở ngày trường, Hoè lục đùn đùn tán rợp trương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
(Bảo kính cảnh giới - bài 43) Qua sự bén nhạy của cảm quan nghệ sĩ, thiên nhiên trở nên đầm ấm, sinh động:
Tằm ôm lúc nhúc, thuyền đầu bãi, Hàu chất so le, khóm cuối làng
(Ngôn chí - bài 8)
Tà dương bóng ngả thuở giang lâu, Thế giới đông nên ngọc một bầu
(Ngôn chí - bài 13)
Sự liên tưởng thế giới đọng lại như viên ngọc đã làm nổi bật vẻ đẹp của vũ trụ trong sự cảm nhận thật ấn tượng của tác giả Bức tranh thiên nhiên với rất nhiều hình ảnh đẹp nhưng đượm chút hoang vắng, cô đơn
Đối diện với thiên nhiên, hoà nhập với thiên nhiên, người ẩn sĩ đầy tâm sự
và uẩn khúc trước cuộc đời như tìm thấy chỗ dựa về mặt tinh thần để có thể quên
đi những biến đổi đau đớn ngoài đời Như vậy, tư tưởng nhàn trong thơ Nguyễn Trãi được thâu chiếu, khúc xạ qua một tâm hồn vừa phong phú về mặt
Trang 5trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 1b-2009 cảm xúc, vừa bén nhạy về năng lực cảm
nhận và vô cùng rộng mở, khoáng đạt
trước tự nhiên Tâm hồn ấy luôn luôn
khát khao được hoà nhập, được lắng
nghe, được quan sát, cảm nhận, chiếm
lĩnh tất cả những biến thái tinh vi của
tạo vật để chiếu ứng vào cõi lòng vốn
sẵn ngự trị nhiều u uẩn, khuất khúc
Chính tư chất nghệ sĩ đã giúp Nguyễn
Trãi viết nên những áng thơ nhàn đậm
đà sắc thái trữ tình; trong đó đan xen,
hoà thấm rất nhiều trạng huống tình
cảm khác nhau
Đó cũng chính là biểu hiện riêng
làm nên sự khác biệt của tư tưởng nhàn
Nguyễn Trãi so với người cách ông cả
thế kỷ: bậc nhàn Nho Nguyễn Bỉnh
Khiêm
Bỉnh Khiêm lại có cách bộc lộ tư tưởng
nhàn theo một chiều hướng khác, ở đó có
sự gặp gỡ giữa những vần thơ đậm màu
sắc triết lí với một tư duy tỉnh táo, sắc
sảo
Quốc ngữ thi tập là một đặc trưng nổi
bật, quán xuyến thể hiện trên nhiều
bình diện nội dung: triết lí hành đạo,
triết lí thế sự, triết lí nhàn dật… Tư
tưởng nhàn dật ở Nguyễn Bỉnh Khiêm
chủ yếu là một quan niệm triết lí nhân
sinh vừa có gốc gác ở Nho - Phật - Lão,
vừa nảy sinh từ sự chiêm nghiệm đời
sống chính trị, xã hội lúc đương thời
Phong vị riêng của thơ nhàn Nguyễn
Bỉnh Khiêm cũng là ở tính chất triết lí
đó Mỗi bài thơ của ông thường gắn với
những ý tứ về lẽ biến dịch, lẽ tương
sinh, tương khắc, một quan niệm nhân
sinh… Từ sự hiểu biết triết lí, kết hợp
với những suy tư và sự thể nghiệm triết
lí đó trong đời sống xã hội, ông đã tìm ra
một đáp số: người biết sống là người biết
tuân theo lẽ tự nhiên, vui đạo trời, biết
số mệnh, an nhiên tự tại, lấy “nhàn” làm quan niệm nhân sinh thì yên ổn, thanh thản, có lạc thú
Khi triết lí trực tiếp về chữ nhàn cũng như những vấn đề xoay quanh nó như: triết lí về công danh, triết lí về lẽ biến dịch của thời cuộc, sự tráo trở của lòng người, về tự do tự tại, bao giờ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đặt mình trong tâm thế của một triết nhân thông suốt, thấu đạt tất cả mọi lẽ, đặt mình lên trên sự cuộc để có cái nhìn đúng mực, sáng suốt, có vị trí cao hơn cuộc
đời, chủ động trước cuộc đời Trong thời loạn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xây dựng một triết lí nhàn như là một thái độ khôn ngoan để vững vàng sống một cách
an nhiên, thanh giản nhưng cũng đầy hứng thú Theo ông, công danh là lụy: Thuả áng công danh nhiều phải luỵ, Trong nơi ẩn dật mới nên mầu
(Bài 9) Nẻo có công danh thì có luỵ,
Cho hay dù có chẳng bằng chăng
(Bài 18) Trong đạo học Khổng Nho, Khổng
Tử đã đề cập quan niệm về giàu - nghèo trong sự tương quan đối lập và theo thuyết thiên mệnh Ông cho “Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên” (sống chết
có mệnh, giàu sang tại trời) Mạnh Tử thì xem sự đối lập phú quý - bần tiện như là tình huống thử thách lương tâm, như là hoàn cảnh để bộc lộ đạo đức nhà Nho: phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (Mạnh tử) (không bị mê đắm vì giàu sang, không bị lay chuyển vì nghèo hèn, không bị khuất phục bởi uy quyền bạo lực) Phú quý với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ nên xem là “chiêm bao”:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
(Bài 18)
Trang 6hồ thị huế tư tưởng nhàn dật của nguyễn trI , tr 38-43 Triết lí nhàn đối với Nguyễn Bỉnh
Khiêm hoàn toàn không phải là lẽ sống
cầu an ích kỉ, mà là trạng thái làm chủ
trong phong thái một triết nhân thấu
đạt thời thế nên cân nhắc một cách sáng
suốt những ứng xử suốt cuộc đời
Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, tiếng đời
khen chê cũng là vòng cương toả:
Khoe trí, khoe tài dầu nó ngổ,
Chê ngu, chê dại miễn ta hiền
Yêu đương trước tai còn mảng,
Khôn khéo, nay miệng chớ truyền
(Bài 53) Theo ông, có tài cũng đừng nên cậy tài:
Dù hay phận, mới yên dầu phận,
Dẫu có tài hơn chớ cậy tài
(Bài 42) Triết lí nhàn tản, yên phận của
Nguyễn Bỉnh Khiêm còn đề cập đến thái
độ kiên định chờ thời, biết giữ miệng,
không nên oán giận, ghen tị:
Giữ miệng cho hay, chớ nói năng,
Thìn lòng hôm sớm hãy khăng khăng
Tranh khôn ắt có bề rắp rảnh,
Chịu dại làm chi hãy thốt thăng
Mảng tiếng dữ lành tai quản đắp,
Thấy lời hơn thiệt mặt bằng chăng
(Bài 72) Nguyễn Bỉnh Khiêm làm nhiều thơ
Quốc âm, nhưng số bài hiện còn không
nhiều Theo Tựa dẫn của tác giả Bùi
Nguyễn Bỉnh Khiêm, tập 1, NXB Giáo
dục, Hà Nội, 1989, thơ Quốc âm của
Nguyễn Bỉnh Khiêm còn lại 177 bài
Trong những bài thơ ấy, Nguyễn Bỉnh
Khiêm cũng đã thể hiện là con người
giàu lí trí, lịch lãm, biết thích nghi một
cách hợp lí nhất để sống an nhiên, vững
vàng trong thời loạn Nguyễn Bỉnh
Khiêm dường như biết giới hạn, biết kìm
giữ đến mức trung tính mọi sự phơi bày
tâm trạng, biểu lộ cảm xúc để hướng đến
sự quan sát thật tỉnh táo, đầy đủ mọi thế thái nhân tình, để nghiệm ra những
điều tưởng như chân lí Nếu thơ nhàn Nguyễn Trãi giàu cảm xúc tâm trạng thì thơ nhàn Nguyễn Bỉnh Khiêm lại giàu màu sắc trí tuệ
Chính hình thức biểu đạt ấy cùng với giọng thơ điềm tĩnh ung dung góp phần đem lại màu sắc riêng biệt cho tư tưởng nhàn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
thú vui nhàn tản cũng như khi phát biểu những quan niệm, những tình cảm
đối với cuộc sống nhàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm không bộc phát trong thơ những xúc động mãnh liệt, những phẫn uất xé lòng, những yêu ghét cháy bỏng, những tiếc nhớ day dứt như Nguyễn Trãi mà bao giờ ông cũng thoát lộ một phong thái chủ động, từ tốn, chừng mực Phong thái
ấy chỉ có ở một triết nhân thông hiểu mọi biến dịch của thời thế, sâu sắc trong việc xuyên vượt cái bề ngoài của sự vật, của lòng người để nhận diện, chiếm lĩnh chân lí ẩn chứa bên trong từng sự vật hiện tượng Như vậy, tuy vừa trực tiếp, vừa gián tiếp thể hiện tư tưởng nhàn trong thơ, nhưng thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm không chứa đựng khí vị ưu uất của một nhân cách cao cả bị chèn ép như Nguyễn Trãi, mà chứa đựng những suy tư giàu màu sắc triết lí Do đó, triết lí nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là lánh đời, trốn đời, mà là một cách sống lạc quan, khoẻ khoắn, ung dung tự tại mang tính chất minh triết Chính quan niệm nhàn dật đạt đến ý vị triết học đó đã tạo nên một Nguyễn Bỉnh Khiêm không thể lẫn lộn với bất kì một tác gia trung đại nào khác
Trang 7trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIII, số 1b-2009
tài liệu tham khảo
[1] Trần Trọng Kim, Nho giáo, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2003
[2] Mai Quốc Liên (chủ biên), Kiều Thu Hoạch, Quảng Tuân, Nguyễn Khuê, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, NXB Văn học, Hà Nội, 2003
[3] Bùi Văn Nguyên (phiên âm, chú thích và giới thiệu), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Bạch Vân Quốc ngữ thi tập, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1989
[4] Nguyễn Hữu Sơn (tuyển chọn và giới thiệu), Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, 2001
[5] Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Giáo dục,
Hà Nội, 1999
Summary
The leisure thoughts of Nguyen Trai in Quoc am thi tap and Nguyen Binh Khiem in Bach Van quoc ngu thi tap
The payper has shown the difference in leisure thoughts expressed in poetry volumes: Quoc am thi tap by Nguyen Trai and Bach Van quoc ngu thi tap by Nguyen Binh Khiem They had different remarkable ways of showing their leisured and secluded personalities: Nguyen Trai expressed it through his lyrics while Nguyen Binh Khiem expressed it through his living philosophy poems These ways created the typical characteristics in leisure thoughts of each author
(a) Cao học 14, chuyên ngành Văn học Việt Nam, Trường Đại học Vinh