1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chân dung tự hoạ của nguyễn trãi trong quốc âm thi tập

62 1,8K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chân dung tự hoạ của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập
Tác giả Vi Bích Thuỳ
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Minh Đạo
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học trung đại Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 292 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu chân dung tự họa của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập nhằm góp phần làm sáng tỏ vẻ đẹp của một con ngời đã từng đợc ca ngợi “Chân dung tự hoạ”ức Trai tâm thợng quang khuê tảo”

Trang 1

Trờng đại học vinhKhoa ngữ văn -

Vi Bích Thuỳ

Chân dung tự họa của nguyễn trãi

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: văn học trung đại Việt Nam

Vinh - 2010 Trờng đại học vinhKhoa ngữ văn -

Chân dung tự họa của nguyễn trãi

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Trang 2

Chuyên ngành: văn học trung đại Việt Nam

Ngời hớng dẫn : ThS. Hoàng Minh Đạo

Sinh viên thực hiện : Vi Bích Thuỳ

Lớp : 47B4 - Văn

Vinh - 2010 Lời cảm ơn

Khoá luận này đợc hoàn thành dới sự hớng dẫn nhiệt tình của thầy Hoàng Minh Đạo, bởi vậy tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Xin cảm

ơn thầy đã giúp đỡ tôi một cách tận tình để hoàn thành khoá luận này.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình đã

có nhiều ý kiến đóng góp quí báu tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá luận này.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 5 năm 2010.

Sinh viên

Vi Bích Thuỳ

Trang 3

1.1 Sơ lợc về Nguyễn Trãi và Quốc âm thi tập 7

1.2 Khái niệm Chân dung tự hoạ“Chân dung tự hoạ” ” 15

1.3 Khảo sát thống kê các bài thể hiện chân dung tự họa trong Quốc âm

thi tập

17

Chơng 2: Chân dung Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập 182.1 Hình ảnh con ngời bên ngoài 182.2 Hình ảnh con ngời bên trong 28Chơng 3: Những nguồn chất liệu trong thơ Nôm Nguyễn Trãi tạo

sử dụng chất liệu văn hoá dân gian Việt Nam

64

Phần Kết luận 70tài liệu tham khảo 72

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Trãi không những là cây đại thụ của nền văn học trung đạiViệt Nam mà còn là danh nhân văn hoá thế giới Trong hơn sáu thế kỷ qua, ởnớc ta cũng nh ở một số nớc khác, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểugiá trị thơ văn của ông trên nhiều phơng diện Trong di sản tinh thần quý báuNguyễn Trãi để lại cho đời sau, có một tác phẩm đợc viết bằng chữ Nôm, đợc

đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu văn học đón nhận và đánh giá cao Đó

là Quốc âm thi tập Trong tác phẩm này, với cảm xúc chân thành, sâu lắng,

bằng ngôn ngữ thơ ca, tác giả đã phác họa chân dung của chính mình Tìm

hiểu chân dung tự họa của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập nhằm góp phần làm sáng tỏ vẻ đẹp của một con ngời đã từng đợc ca ngợi “Chân dung tự hoạ”ức Trai tâm

thợng quang khuê tảo” (Lê Thánh Tông).

1.2 Vấn đề mà chúng tôi quan tâm khi đến với Quốc âm thi tập nh đã

trình bày trên thực ra cũng đã đợc đề cập trong một số công trình của các nhà

Trang 4

nghiên cứu có tên tuổi Tuy nhiên, trong việc phân tích, xem xét con ngờiNguyễn Trãi và tập thơ Nôm nổi tiếng của ông, hầu nh cha có ai dùng khái

niệm “Chân dung tự hoạ”chân dung tự họa” nh là một vấn đề chuyên biệt (Thực tế đó sẽ đợc

làm sáng tỏ ở phần “Chân dung tự hoạ”Lịch sử vấn đề” trong khoá luận này) Để góp thêm tiếngnói vào việc nhìn nhận con ngời Nguyễn Trãi in dấu ấn trong tập thơ Nôm

của ông nh thế nào, chúng tôi chọn đề tài “Chân dung tự hoạ” Chân dung tự họa của chính tác

giả trong Quốc âm thi tập" làm khoá luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành

văn học Việt Nam trung đại

1.3 Thơ văn của Nguyễn Trãi nói chung, một số bài trong Quốc âm thi

tập nói riêng đã và đang đợc tuyển chọn đa vào giảng dạy trong chơng trình

môn Ngữ văn ở trờng THCS và THPT (nh bài Tùng trớc đây, bài Cây chuối gần đây và bài Bảo kính cảnh giới_ số 21 hiện nay) Dạy và học thơ văn của

ức Trai nhằm làm cho mọi ngời hiểu đợc cái hay, cái đẹp trong sáng tác vănchơng của một nhà văn lớn Vì thế, đề tài mà chúng tôi lựa chọn ở khoá luậnnày nếu giải quyết một cách thấu đáo hy vọng sẽ giúp cho việc dạy học thơvăn Nguyễn Trãi trong nhà trờng đạt đợc mục đích nh đã trình bày

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu “Chân dung tự hoạ”Chân dung tự họa của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập"

đòi hỏi ngời thực hiện cần giải quyết các khía cạnh cụ thể sau đây:

2.1 Tái hiện chân dung của chính tác giả trong tập thơ Nôm qua một

số bài, một số câu tiêu biểu, nhất là những câu thơ giàu tính tạo hình Về khíacạnh trọng tâm này, câu hỏi đặt ra cần có lời giải đáp sẽ là: Chân dung tự họa

của Nguyễn Trãi đợc vẽ lên trong Quốc âm thi tập nh thế nào?

2.2 Trong tập thơ Nôm đó, Nguyễn Trãi đã sử dụng những nguồn chấtliệu nào để phác hoạ chân dung của chính mình?

2.3 Tự vẽ chân dung trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi muốn gửi

gắm nỗi niềm tâm sự gì cho các thế hệ những ngời thởng thức bức tranh đó?

3 Phạm vi nghiên cứu

- Do Quốc âm thi tập là tập thơ có dung lợng lớn với rất nhiều bài,

nhiều đề mục cho nên trong khuôn khổ một khoá luận tốt nghiệp, với đề tài

đã chọn chúng tôi chỉ có thể tìm hiểu vấn đề qua một số bài, một số câu mà ở

đó con ngời Nguyễn Trãi hiện ra rõ nét nhất từ ngoại hình đến nội tâm

- Do lịch sử nớc nhà trải qua hơn 600 năm có nhiều biến động, bảnthân Nguyễn Trãi cũng phải chịu nỗi oan rất lớn cho nên thơ văn của ông,

trong đó có thơ chữ Nôm, có hiện tợng “Chân dung tự hoạ”tam sao thất bản” Có một số bài

Trang 5

ng-ời ta nghi ngờ không biết là của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Bỉnh Khiêm?Vì thế, cuốn sách mà chúng tôi dùng để tìm hiểu vấn đề là công trình biên

soạn, khảo cứu công phu, đáng tin cậy với tiêu đề Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H.1976 Trong cuốn sách này, các bài của Quốc âm thi tập

đợc đề cập từ trang 393 đến trang 479, cha kể phần chú giải

- Phơng pháp phân tích, tổng hợp: Phơng pháp này đợc sử dụng mộtcách thờng xuyên trong việc phân tích một số bài, một số câu cụ thể để làmnổi bật dấu ấn của thi nhân trong đó

Tất cả những phơng pháp đó đợc vận dụng dới ánh sáng của quan điểmlịch sử cụ thể khi tìm hiểu một hiện tợng văn học đã lùi xa vào quá khứ

5 Lịch sử vấn đề

Trong số các nhà văn, nhà thơ của nền văn học Việt Nam thời trung

đại, cùng với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi vẫn là tác gia đợc nhiều nhà nghiêncứu ở nớc ta và một số nớc khác trên thế giới lu tâm Các công trình nghiêncứu về tác gia này xuất hiện ngày càng nhiều và đạt đợc những thành tựu

đáng kể Riêng về tác phẩm Quốc âm thi tập cũng đã có các chuyên luận, các

cuốn sách khảo cứu và rất nhiều bài báo lần lợt đợc công bố, đăng tải giúpcho mọi ngời thấy đợc giá trị lớn lao của nó trên nhiều phơng diện

Việc tìm hiểu con ngời Nguyễn Trãi qua tập thơ Nôm nổi tiếng của

ông đã đợc đề cập trong các công trình của một số nhà nghiên cứu có têntuổi:

- Trong chuyên luận: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb giáo dục,

1998, tác giả Xuân Diệu đã dành một số trang để làm nổi bật hình ảnh của

Nguyễn Trãi hiện rõ trong Quốc âm thi tập Với sự cảm nhận sắc sảo, tinh tế

của một nhà thơ hiện đại khi đến với một nhà thơ trung đại, Xuân Diệu đã có

những phát hiện bất ngờ Đó là đoạn ông thẩm bình hai câu thơ “Chân dung tự hoạ”Tuổi cao,

tóc bạc, cái râu bạc, Nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh” (bài số 99) Theo

Xuân Diệu, trong hai câu thơ này, nổi bật hình ảnh một con ngời “Chân dung tự hoạ” thức suốt

đêm cùng ngọn đèn xanh ở trong cái nhà nghèo, thức ngàn đêm vì u quốc ái

Trang 6

dân và thức mãi mãi trong lịch sử để hỏi tội bọn nịnh thần gian ác, để chong một ngọn đèn cảnh giác đối với cái tà, cái ác trong đời” [3,62], trong một

đoạn khác, phân tích 2 câu: “Chân dung tự hoạ”Rũ bao nhiêu bụi, bụi lầm, Giơ tay áo đến tùng

lâm”, Xuân Diệu lại viết: “Chân dung tự hoạ”Tôi thấy cả cái nét cánh tay của ức Trai giơ ra chỉ về phía rừng tùng, nơi có thể ẩn dật; cánh tay ấy đang mang áo, thì rũ ống tay ra, rũ cho rơi bùn bụi và rơi cả bổng lộc, rồi giơ tay áo lên h“Chân dung tự hoạ” ” ớng

về phía non xanh, ta có thể coi nh t thế giơ tay áo in lên nền trời“Chân dung tự hoạ” ” [3,26]

Sau đó, dựa trên bài viết Đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi trong cuốn

Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Xuân Diệu viết bài với tiêu đề Quốc âm thi tập, tác phẩm mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam Trong công trình này, ngay

ở những trang đầu, tác giả cho rằng: “Chân dung tự hoạ”Trong thơ cổ điển Việt Nam có hai

ng-ời bạc tóc: Nguyễn Trãi và Nguyễn Du” [4,587] Nh vậy, tuy không nõi rõ

nhng Xuân Diệu đã đa ra những câu thơ với những nét vẽ độc đáo, giàu tínhtạo hình, chẳng khác gì bức chân dung tự họa

Cùng một cảm nhận tơng tự Xuân Diệu, trong công trình Khảo và

luận một số thể loại, tác gia ,tác phẩm văn học trung đại Việt Nan, ông Bùi

Duy Tân viết: “Chân dung tự hoạ” Tóc bạc mà mắt lại xanh, tuổi thì già nhng chí vẫn trẻ Mái

tóc bạc, đôi mắt xanh đều đáng kính đáng trọng, đáng thơng mà mới đẹp làm sao! Đôi mắt ấy cha bao giờ chịu nghỉ ngơi, bởi vì có thể nói rằng suốt đời Nguyễn Trãi cha bao giờ ngủ ”[18,200] Cũng trong công trình này, tác giả

còn cho rằng: “Chân dung tự hoạ”Thơ Nguyễn Trãi hầu hết là thơ trữ tình, qua đó còn thấy cái

tôi trữ tình của nhà thơ biểu hiện trong từng nét bút Thơ Nguyễn Trãi mở ra cho ngời đọc thấy tấm lòng của một con ngời có niềm u ái sâu nặng, có nỗi

bi phẫn đau đời và niềm khát khao đợc sống tự do, tự tại” [18,195].

- Xu hớng tìm hiểu con ngời Nguyễn Trãi trong sáng tác thơ Nôm của

ông còn đợc tìm hiểu trong một số bài viết có các tiêu đề: Về con ngời cá

nhân trong thơ Nguyễn Trãi của Nguyễn Hữu Sơn, trong cuốn Văn học trung

đại Việt Nam, quan niệm con ngời và tiến trình phát triển, Nxb Khoa học xã

hội, …; Nhà t tởng và nhà nghệ sĩ trong Quốc âm thi tập của Trần Ngọc V-;

ơng trong cuốn Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung, Nxb Giáo dục, 1998; Thời đại – con ng con ng ời – con ng văn nghiệp trong cuốn Nhà văn và tác

phẩm trong trờng phổ thông – con ng Nguyễn Trãi của Lê Bảo tuyển chọn và biênsoạn, Nxb Giáo dục, 1997 Trong bài viết có tính mở đầu cuốn sách này, tác

giả Lê Bảo đa ra nhận xét: “Chân dung tự hoạ”Có thể nói, về mặt biểu hiện trên hai phơng diện

chung và riêng, hình nh có một cái gì mâu thuẫn ở ức Trai Nhng xét cho

Trang 7

cùng thì đó vẫn là một con ngời nhất quán, một con ngời biết sống, ham sống hết mình ” (Lời nhận xét đó dựa trên cơ sở phân tích một số bài trong Quốc

âm thi tập nh bài Trần tình – con ng V, Thuật hứng_XI, Thuật hứng_ XIX) Trong

các bài viết đó, tuy mỗi nhà nghiên cứu tìm hiểu con ngời Nguyễn Trãi trongthơ Nôm của ông từ những góc độ, trên nhiều bình diện khác nhay nhng đều

gặp nhau ở một điểm, đó là trong Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi đã xuất hiện

với t cách chân dung một con ngời

- Trong các bài đi sâu phân tích một số bài cụ thể trong thơ Nôm của

ức Trai, mà chủ yếu là các bài đã đợc đa vào sách giáo khoa môn Ngữ văn ởtrờng phổ thông, các tác giả nh Trần Đình Sử, Phạm Tú Châu, Hoàng TháiSơn, Lê Bảo … đều đã chỉ ra mối liên hệ giữa con ngời của thi nhân với

những vần thơ giàu tính ớc lệ Chẳng hạn nh bài Cây chuối thấp thoáng hiện

ra một Nguyễn Trãi vừa đa tình vừa có cốt cách của đạo thiền Hay nh qua

biểu tợng “Chân dung tự hoạ”cây tùng” trong bài thơ cùng tên, nổi rõ một Nguyễn Trãi trong

cốt cách ngời quân tử …

Nh vậy, điểm qua một số công trình nghiên cứu về Quốc âm thi tập

chúng tôi thấy đợc một thực tế: vấn đề con ngời Nguyễn Trãi trong tập thơnày ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đã đợc nói tới trong các công trình

đó Tuy nhiên, đối với con ngời Nguyễn Trãi trong tập thơ Nôm của ông, các

nhà nghiên cứu chỉ mới dùng các khái niệm: hình tợng, hình ảnh hoặc con

ngời … mà cha dùng khái niệm “Chân dung tự hoạ”chân dung tự họa”.

Dẫu sao những thành tựu của những ngời đi trớc, nhất là của XuânDiệu, Bùi Duy Tân là những gợi ý quan trọng tạo điều kiện cho tôi đến với đề

tài “Chân dung tự hoạ”Chân dung tự họa của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập".

6 Bố cục của khóa luận:

Gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung chính và phần kết luận.Trong phần nội dung chính có 3 chơng:

- Chơng 1: Những vấn đề chung

- Chơng 2: Con ngời Nguyễn Trãi đợc vẽ trong Quốc âm thi tập.

- Chơng 3 Những nguồn chất liệu trong thơ Nôm Nguyễn Trãi tạo nênchân dung tự họa

Ngoài ra còn có phần “Chân dung tự hoạ”Mục lục” và “Chân dung tự hoạ”Tài liệu tham khảo”

Trang 8

PHầN NộI DUNG CHíNH Chơng I: Những vấn đề chung

1.1 Sơ lợc về Nguyễn Trãi và Quốc âm thi tập.

1.1.1 Về Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi, hiệu ức Trai, ông sinh năm Canh Thân (1380), con traithứ hai của Nguyễn ứng Long, sau ngời anh trởng của ông là Nguyễn Tác,tức Nguyễn Lý đổi tên Nguyễn Tác theo cha chạy trốn ở miền Tây ThanhHóa, sau vụ truy lùng nói trên, về sau sống luôn ở đấy và tham gia cuộc khởinghĩa Lam Sơn khá sớm, từ năm 1416, năm có hội thề Lũng Nhai

Nguyễn Trãi sinh tại dinh ông ngoại là t đồ Trần Nguyên Đán, ở vùngBích Câu – con ng Văn Miếu hiện nay Về sau khi ông ngoại mất mới về Nhị Khêvới thân phụ mình Khoảng này, Hồ Quý Ly đang ráo riết chuẩn bị cớp ngôivua nhà Trần khiến Quốc thợng hầu Trần Nguyên Đán phải rút về ẩn ở CônSơn Thân mẫu Nguyễn Trãi là bà Trần Thị Thái mất lúc ông mới năm tuổinên ông phải lên Côn Sơn ở với ông ngoại

Trần Nguyên Đán là một nhân sĩ vốn có kiến thức cổ uyên thâm, nắmvững lý thuyết triết học phơng Đông, qua các sách nh: Phật kinh, Dịch kinh,

Đạo Đức kinh … kể cả sách của bách gia ch tử Ông khá tinh thông các quyluật tự nhiên nh thiên văn học, địa lí, đã từng viết lịch số, toán số, còn để lại

tập th Băng Hồ ngọc hác Phần nào Băng Hồ tớng công truyền lại kiến thức

cổ cho rể là ứng Long và ứng Long truyền lại cho Nguyễn Trãi vì NguyễnTrãi theo rất sát phụ thân mình cho đến mãn cuộc đời So với các anh em củamình hoặc cùng mẹ, hoặc khác mẹ, thì Nguyễn Trãi, nhờ dựa vào phía ôngngoại, nên có điều kiện học tập đầy đủ hơn, và có học vị cao hơn Năm CanhThìn (1400), trong khi nhiều anh em khác theo ông nội của mình đi trốn khỏi

vụ sát phạt của Hồ Quý Ly thì Nguyễn Trãi hởng ứng khoa thi Hội đầu tiên(Thánh Nguyên năm đầu) của nhà Hồ ở thủ đô Tây Giai (Thanh Hóa) Khoathi này theo kiểu Bác học hoành từ, cha theo kiểu chính quy, nên chỉ có tiến

sĩ loại hai (Hoàng Giáp) và Tiến sĩ loại ba (Đồng Tiến sĩ)

Ngời đỗ đầu tiến sĩ loại hai cũng là đỗ đầu khoa thi là Lu Thúc Kiệm,còn Nguyễn Trãi đố đầu tiến sĩ loại ba, tức đỗ thứ t toàn khoa … Năm sau

Trang 9

đó, Nguyễn ứng Long đổi tên là Phi Khanh ra làm quan ở Tây Giai, nhậnchức Hàn Lâm học sĩ, kiêm Quốc tử giám T nghiệp, cạnh chức Quốc tử giám

Tế tửu do Lê Cảnh Kì đảm nhiệm Cũng khoảng này, Nguyễn Trãi đợc sơ bổchức Chánh chởng ở Ngự sử đài Dờng nh Chánh chởng là một chức quancấp thấp, tạm đảm nhiệm đài này chứ cha phải là chức Thị ngự sử đứng đầu

đài nh đời Trần?

Triều đình nhà Hồ ở thủ đô Tây Giai (tức Tây Đô) tuy bị phe quý tộcbảo thủ nhà Trần chống đối nhng đã tập hợp đợc một số nhân sĩ có xu hớngcách tân, trong đó có cha con Nguyễn Trãi Với chủ trơng đẩy mạnh pháttriển kinh tế, chủ yếu phát triển nông nghiệp, để có cơ sở củng cố quốcphòng, Hồ Quý Ly chủ trơng hạn điền, hạn nô để giảm bớt óc làm giàu vôhạn của bọn cựu quý tộc, phát hành tiền giấy đển tiện giao lu, buôn bán.Riêng về văn hóa, nhà Hồ chủ trơng cải cách và phát triển giáo dục, bớc đầu

đa môn chính tả vào thi cử để loại bớt học trò kém, đa toán pháp vào thi đểkhuyến khích kỹ thuật và đang nghiên cứu cải cách chữ Nôm để dần dần cóthể sử dụng Quốc âm ở nhà trờng và triều đình, công sở thay một phần chochữ Hán Nhng mọi chủ trơng cách tân nói trên đang bớc đầu triển khai thìbọn quan lại, cờng hào cũ vừa mù quáng về quyền lợi riêng của mình và gia

đình, vừa ngu xuẩn, mắc mu giặc nớc dới chiêu bài “Chân dung tự hoạ”Diệt Hồ, phục Trần”(Diệt nhà Hồ, cứu nhà Trần) khiến cho quân Minh thừa cơ kéo sang xâm lợcnớc ta Nhục nhã thay, cha con, ông cháu Hồ Quí Ly, Hồ Hán Th ơng bị bắtsống, hầu hết các quan chức trong đại triều đình Tây Giai cũng bị bắt sống đa

đi Trung Quốc, trong đó có Quốc tử giám Tế tửu Lê Cảnh Kì, Quốc tử giám

T nghiệp Nguyễn Phi Khanh (và Nguyễn Trãi), Quốc tử giám giáo thụ LêCảnh Tuân (và Lê Thái Điên) … Lê Cảnh Kì chửi vào mặt giặc rồi nhảyxuống sông tử tự Lê Cảnh Tuân và con bị giặc giam đến chết Riêng NguyễnPhi Khanh và con, lại theo kế “Chân dung tự hoạ”tâm công” (đánh vào lòng ngời), cố gắngcùng với Triệu Thái(ngời cùng quê với Trần Nguyên Hãn ở trấn Sơn Tây cũ,nay thuộc Vĩnh Phú), thuyết phục giặc, để Nguyễn Trãi an toàn về tìm đờngcứu nớc

Nhờ kế “Chân dung tự hoạ”tâm công”của Nguyễn Phi Khanh, phía Nguyễn Trãi và nhữngngời bạn của mình đã thành công từng bớc, buộc nhà Minh phải để cha conNguyễn Phi Khanh về nớc an toàn Nh vậy, Nguyễn Phi Khanh không bịgiam chết ở Trung Quốc mà đợc Nguyễn Trãi, Nguyễn Hùng đa về “Chân dung tự hoạ”ẩn” dới

Trang 10

dạng bị giam lỏng ở Côn Sơn cho đến lúc mất và táng ở Bái Vọng Sơn trênnúi Phợng Hoàng (lúc đó thuộc Kinh Bắc).

Nguyễn Trãi là một ngời đại hiếu, đại trung và đại hiếu phải trớc mộtbớc Bởi vậy, kín đáo và khôn khéo ông lo cho mình thoát khỏi cái nhục “Chân dung tự hoạ”bất

đắc kì tử” dới bàn tay giặc nớc để cha mình không phạm vào tội “Chân dung tự hoạ”lục cực” và

để mình không phạm vào tội “Chân dung tự hoạ”con bất hiếu”

Sau khi cha mất, theo lệ cũ, Nguyễn Trãi phải cự tang ba năm Do đótrong khoảng thời gian này, Nguyễn Trãi chỉ đi đây đi đó để chuẩn bị “Chân dung tự hoạ”nhậpthế” trở lại

Năm 1423, Nguyễn Trãi dâng Bình Ngô sách ở Lỗi Giang nơi Lê Lợi

đóng quân chính thức tham gia vào khởi nghĩa Lam Sơn Tiếp đó ông đợc Lê

Lợi trao chức Thừa chỉ học sĩ và viết bức th địch vận đầu tiên Th kêu oan (mà

giặc gọi là th đầu hàng) Qua năm 1424 đến năm 1425, ông viết năm bức thnhân danh Bình định vơng gửi cho viên Thái giám xảo quyệt là Sơn Thọ vàtên ác tớng khát máu Phơng Chính Năm 1426, cũng mới có bốn bức th kếtiếp Đặc biệt sang năm 1427, có thể coi nh năm tổng phản công song songhai mặt quân sự và ngoại giao, th địch vận của ông rần rật tính chiến đấu,theo sát mặt trận gồm 37 bức Và từ đó cho đến cuối năm đó, có hội thề Hòa

Bình giữa ta và giặc ở phía nam thành Đông Quan Kết thúc là bản Bình Ngô

đại cáo lịch sử, một bản anh hùng ca dới dạng tuyên ngôn độc lập và hòa

bình, có thể nói rất độc đáo, không riêng trong lịch sử văn học ta mà cả tronglịch sử văn học thế giới thời Trung cổ

Nhng tình đời éo le! Có ai biết bài Bình Ngô đại cáo mới viết mực còn

tơi, mà Tả tớng quốc Trần Nguyên Hãn trầm mình, Thái úy Phạm Văn Xảochém chết, Quang phục hầu Nguyễn Trãi vào tù Hai năm tang tóc 1429,

1430 lặng lẽ trôi qua, Nguyễn Trãi gạt nớc mắt mà viết chùm thơ Hạ tiệp,

sau đó Nguyễn Trãi đợc trả tự do, đi nhận chức quan Thầy chùa ở chùa CônSơn

Sau khi Lê Thái Tổ từ trần, Nguyễn Trãi mới đợc mời viết văn bia ởVĩnh Lăng (1433) Dới thời Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi cùng một số bạn

đồng liêu đợc bổ dụng trở lại Xúc động đợc triều đình tín nhiệm, Nguyễn

Trãi viết bài “Chân dung tự hoạ”Biểu tạ ơn” với tất cả tấm lòng thành vì dân vì nớc của mình.

Nguyễn Trãi trở lại triều đình, hăng hái tham gia mọi công việc xâydựng nền văn hiến dân tộc, chuẩn bị cho kỳ thi Hội chính quy đầu tiên củanhà Hậu Lê và tham gia Ban chấm tuyển kì thi đó

Trang 11

Oái ăm thay, sau cuộc chấm thi khoa thi Hội chính quy đầu tiên năm

Đại Bảo thứ 3 (1442) này thì Nguyễn Trãi và gia đình đã chịu thảm họa vụ án

Lệ Chi Viên Mà bi kịch do cánh Hoàng hậu nhiếp chính Nguyễn Thị Anh vàanh con dì bà ta là Nguyễn Phụ Lỗ phụ trách Ti Thái giám dàn dựng, vu choNguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ giết vua Sở dĩ cánh này phải thủ tiêu nhà vua

và Nguyễn Trãi vì sợ hai ngời này đã biết rõ Bang Cơ, thái tử nối ngôi lúc đóvốn không phải con vua Lê Thái Tông

Nỗi oan của Nguyễn Trãi về sau đến đời Lê Thánh Tông, ngời chắt rểcủa mình mới đợc làm sáng tỏ

Trớc khi chết, Nguyễn Trãi đã hối hận không nghe lời Đinh Phúc, ĐinhThắng để xử sự kịp thời Nhng trớc sau, Nguyễn Trãi đã xứng đáng là mộttấm gơng “Chân dung tự hoạ”đại hiếu”, “Chân dung tự hoạ”đại trung”, hết lòng vì dân vì nớc Ông đã cố gắng cứucha mình khỏi nạn “Chân dung tự hoạ”lục cực” vào tay giặc ngoại xâm thì chính ông lại mắcvào nạn đó, từ tay giặc trong triều Sự nghiệp “Chân dung tự hoạ”bình Ngô” của ông giờ đâycòn ghi lại trong nhiều tác phẩm văn học của ông, nh: về thể loại quan phơng

có Quân trung từ mệnh tập, Ngọc đờng văn loại tập, về loại trữ tình có tập

Thơ chữ Hán trên trăm bài, đặc biệt có tập Thơ Quốc âm vô cùng quý giá

trên hai trăm bài Đó là cha nói còn sót lại một số tác phẩm và phiến đoạn,

nh D địa chí, nh về hình luật, về âm nhạc …

Tài đức của Nguyễn Trãi đơng thời đã có rất nhiều ngời ca ngợi, nh

Đinh Liệt, Nguyễn Mộng Tuân, Phạm Phu Tiên, Nguyễn Tử Tấn, Lê ThánhTông … Trải qua các thời kì về sau, nhiều nhà thơ, nhà văn nh Cao Bá Quát,

Lê Qúy Đôn, Phan Huy Chú … đều ca ngợi đức tài Nguyễn Trãi Năm 1962,

Đảng và Chính phủ ta đã tổ chức lễ kỷ niệm 520 năm ngày mất Nguyễn Trãi

và năm 1980 lại tổ chức lễ kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi.Trongdịp này,UNESCO công nhận ông là danh nhân văn hoá thế giới Ở cả hai lần,

cố vấn Phạm Văn Đồng hoặc với t cách Thủ tớng Chính Phủ hoặc với t cáchChủ tịch Hội đồng bộ trởng đã ca ngợi Nguyễn Trãi hết lời, coi Nguyễn Trãi

là ngời anh hùng cứu nớc, đồng thời là nhà văn lớn, nhà thơ lớn của nớc ta,coi Nguyễn Trãi là một tiêu biểu rất đẹp của thiên tài Việt Nam Quả nhiên,ngay trong đêm trờng trung cổ, không riêng gì ở nớc ta mà cả ở thế giới,hiếm có đợc một ngời đức tài hoàn chỉnh và trung kiên nh vậy

1.1.2 Về Quốc âm thi tập

Trang 12

Trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi, Quốc âm thi tập giữ một vị

trí rất đặc biệt Tác phẩm gồm 254 bài thơ, là tập thơ theo thể thơ cách luậtthất ngôn bát cú (thơ 8 câu, mỗi câu 7 chữ), phần lớn theo thể phổ biến bìnhthờng nhng có một số ít bài theo thể cải biên, có pha các câu hoặc lục ngôn(sáu chữ) hoặc ngũ ngôn (năm chữ) vào những vị trí không nhất định.Nguyễn Trãi đã dùng hình thức chữ Nôm để ghi lời thơ “Chân dung tự hoạ”tiếng Việt” củamình ở thế kỷ XV

Bố cục tập thơ tuy vẫn dựa theo công thức phổ biến thời bấy giờ nhng

đợc chỉnh lý chon lọc theo cách riêng của tác giả Công thức phổ biến trong

“Chân dung tự hoạ”ngâm vịnh” dựa vào nguyên lý “Chân dung tự hoạ”Thiên nhân tơng dự” (Trời với ngời có liênquan, tức nguyên lý “Chân dung tự hoạ”Thiên địa vạn vật nhất thể”, nguyên lý “Chân dung tự hoạ”Phiếm thần

luận” theo quan niệm của phơng Tây Công thức khái quát là Thiên địa môn

và Vạn vật môn Môn tức là thể loại hoặc phạm trù Riêng Thiên địa môn lại chia ra các chủng loại nhỏ nh Thiên lệnh môn, Phong cảnh môn, Hoa mộc

môn, và Vạn vật môn chia ra Nhấn đạo môn, Cầm thú môn, Phẩm vật môn

… Nguyễn Trãi không giáo điều theo thứ tự đầy đủ nh trên mà chỉ chọn lọc

một số chủ đề mình thích ngâm vịnh nh Thời lệnh môn với chín đề mục nhỏ:

Tảo xuân đắc ý, Xuân hoa tuyệt cú, Tích cảnh tuyệt cú hoặc Hoa mộc môn

với 23 đề mục nh: Tùng, trúc, mai, mẫu đơn, thiên tuế … Nói chung là nhữngmục đề tả cảnh để ngụ tình chứ không phải tả cảnh chung chung

Cũng vậy, khi ông vào mục cuối là Cầm thú môn với 7 mục đề nh: Lão

Hạc, Nhạn trận, Điệp trận, Miêu, Tr … thì Nguyễn Trãi vẫn thông qua lối tả

cảnh vật, chim muông để ngụ ngôn dạy đời, khuyên đời Đó là mấy nụ cờichâm biếm cuộc đời của ông ở phần cuối tập thơ, rất tiếc, ít quá, hay bị thấtlạc một số?

Nhng quan trọng hơn cả là mục Vô đề (Vô đề môn) gồm 13 mục đề, từ

Ngôn chí, Mạn thuật, Trần tình, Thuật hứng, Tự thán đến Dạy con trai,

không tính mục “Chân dung tự hoạ”Thủ vĩ ngâm” Mục này quan trọng vì chính đây mới là tâm

t Nguyễn Trãi, tấm lòng son của ông, Đan tâm môn“Chân dung tự hoạ” ” hay “Chân dung tự hoạ”Trữ tình môn” Trọng tâm tập thơ nằm ở mục Vô đề này Đây là điểm độc đáo của Nguyễn

Trãi, một nhà thơ thời trung cổ dới chế độ phong kiến khắc nghiệt phơng

Đông Đọc kỹ tập thơ Quốc âm của ông, chúng ta dần dần hiểu rõ đợc triết lýtình thơng bao la của ông, bao gồm ngời và cảnh, ngời và tự nhiên, ngời vàvật Riêng về con ngời, Nguyễn Trãi nhận thức rất rõ vấn đề dân tộc, vấn đề

Trang 13

nhân dân nên thơ Quốc âm của ông mang tiếng nói dân tộc, mang âm vangtục ngữ, ca dao dân tộc Ngoài ra ông nhận thức lờ mờ về vị trí cá nhân củamình, thông qua các công thức “Chân dung tự hoạ”Tam cơng”, “Chân dung tự hoạ”Ngũ thờng”, những công thứcrất chặt chẽ Do đó, thơ Quốc âm của ông khá cởi mở, bay bổng, đồng thờichâm biếm khá sâu sắc theo hớng phê phán hiện thức bấy giờ.

Trong tập thơ Quốc âm của mình, Nguyễn Trãi không nói gì nhiều, chỉtheo đúng triết lý muôn thủơ là “Chân dung tự hoạ”Đạo làm ngời” trong “Chân dung tự hoạ”trời đất” mà tổ tiên từthời Kinh dơng vơng – con ng Hùng Vơng truyền lại

Nguyễn Trãi có ý thức về đạo làm ngời chân chính, giữ đúng vị trí “Chân dung tự hoạ”vậtlinh trởng” của muôn vật, thơng yêu chủng loại riêng mình đã đành mà cònthơng yêu cả cảnh vật thiên nhiên, cả muôn vật, coi trọng hạnh phúc chung,coi trọng phong cảnh chung

Để xây dựng bản lĩnh của mình, Nguyễn Trãi theo đúng nguyên lý tự

rèn mà sách Lễ ký có gốc rễ từ thời Bách Việt cổ đã nêu ra trong Chơng đại

học (đời Tống đợc tách ra đa vào bộ Tứ th): “Chân dung tự hoạ”Cách vật, trí trí, chính tâm, tu thân”, sau đó mới nói đến “Chân dung tự hoạ”Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Do đó trong thơ

Quốc âm của mình, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Nguyễn Trãi rất chú

ý những mục đề nh: Ngôn chí, Mạn thuật, Trần tình, Thuật hứng, Tự thán,

đặc biệt là Bảo kính cảnh giới (Gơng báo răn mình) gồm 61 bài thơ Tiếp đó

ng t tởng nổi bật trong tập thơ Quốc âm của ông là t tởng “Chân dung tự hoạ”Đạo ngời” hợp với

“Chân dung tự hoạ”Đạo trời” tức là t tởng hài hoà giữa “Chân dung tự hoạ”xã hội” và “Chân dung tự hoạ”thiên nhiên” Trớc sau, “Chân dung tự hoạ”tấc

lòng u ái”, tức “Chân dung tự hoạ”u quốc ái dân” hay “Chân dung tự hoạ”ái quốc, u dân” vẫn Đêm ngày cuồn

cuộn nớc triều đông (Thuật hứng – con ng Bài 5)

Và ông đã thề nguyền:

Còn có một lòng âu việc nớc

Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung.

(Thuật hứng - B i 23)ài 23)Trong thơ Quốc âm, bằng tiếng mẹ đẻ của mình, Nguyễn Trãi theo

đúng quy cách mà sách Đại học đề ra, trong việc xây dựng cuộc đời mình

“Chân dung tự hoạ”Phải từ thực tế và kiến thức cơ bản (cách vật, trí tri), mới có cơ sở để tự xây

Trang 14

dựng t tởng đạo đức cho mình (chính tâm, tu thân), trớc khi đờng hoàng, tựtin bớc vào đời, từ gia đình ra đến xã hội Điển hình việc tu dỡng vào đời đó

là Thuấn, ngời thanh niên đợc Nghiêu chú ý từ trớc để nối ngôi mình Họ gốccủa Thuấn là Diêu, còn Ngu là tên đất, tức nớc Ngu mà Thuấn đợc Nghiêuphong làm vua ch hầu Thuấn là con nhà nghèo, gia đình khó khăn, bất hoà,cha thì hay thiên vị, ngoan cố, dì ghẻ thì độc ác, em trai là T ợng cùng chakhác mẹ, theo mẹ của hắn âm mu giết Thuấn Tuy vậy, Thuấn vẫn bền lòngchịu đựng, tránh né một lòng hiếu thảo nên đợc bà con, láng giềng thơng yêu,che chở Tiếng tăm đạo đức của Thuấn vang đến triều đình Đế Nghiêu Triều

đình trung ơng các cộng đồng Bách Việt Đế Nghiêu cho quan về xem xét,mời Thuấn về triều giúp vua Sau khi Thuấn đợc thử thách gian khổ, kể cả lênrừng, xuống biển, Đế Ngiêu quyết định truyền ngôi hoàng đế Bách Việt choThuấn bất chấp mọi lời dèm pha của bọn nịnh thần

Vậy quy cách trong sách Đại học mà Nguyễn Trãi theo để tự tu dỡng

là quy cách truyền thống từ đời Nghiêu, Thuấn

Trong chơng Tận tâm (thợng) sách Mạnh tử, Mạnh Kha tự xng là học

trò truyền thống bốn đời của Khổng Tử, cũng ca ngợi vua Thuấn hết lời

Mạnh Kha nói: “Chân dung tự hoạ”Hễ xem ai là ngời cứ nghe gà gáy sáng thì dậy, sốt sắng làm

việc thiện đó là những ngời đi theo con đờng của Thuấn Còn những ai, nghe

gà gáy sáng thức dậy sốt sắng chạy theo lợi của mình, đó là phờng theo Đạo Chích” (Trùm kẻ trộm) Đó chính là khoảng cách giữa Thuấn và Chích Tiếp

theo đoạn sách này, Mạnh Kha cũng nói: Ng“Chân dung tự hoạ” ời ta cốt phải rèn cho mình cái chí và chí đó phải theo đạo nhân nghĩa

“Chân dung tự hoạ” ” “Chân dung tự hoạ” ” “Chân dung tự hoạ” ” Đó là quy cách mà sách Đại

học đúc kết nh đã nói ở trên.

Từ ngày Nguyễn Trãi mất đến nay, đã sáu thế kỷ và chúng ta đã bớcsang thế kỷ XXI Cuộc sống trần gian so với thế kỷ Nguyễn Trãi sống đãkhác nhiều Qua nhiều sự biến đổi khác nhau cả về thiên nhiên và xã hội.Thiên nhiên đã xảy ra nhiều thiên tai nh hồng thuỷ, động đất, núi lửa, bão tố,sóng thần xã hội thì bị sự đe doạ của bệnh tật, chiến tranh, giặc cớp, tộiphạm Thế kỷ Nguyễn Trãi sống, hoà bình nhiều hơn chiến tranh, còn thế

kỷ XXI chúng ta sống chiến tranh nhiều hơn hoà bình Có lẽ chỉ thời Nghiêu,Thuấn trớc đây mới là thời thanh bình Còn từ Hạ_Thơng về sau, xung độtnội bộ các cộng đồng Bách Việt đã nhiều hơn Chúng ta hơn tổ tiên chúng ta

ở chỗ: đợc thấy khoa học – con ng kỹ thuật phát triển cao hơn Chỉ sợ rằng chúng taquá hãnh diện về máy móc mà cha theo kịp tổ tiên về vị trí làm ngời mà thôi

Trang 15

Đó là tất cả tâm t Nguyễn Trãi gửi lại chúng ta, những con em đất Việt trongtập thơ Quốc âm của mình.

1.2 Khái niệm Chân dung tự họa“Chân dung tự hoạ” ”

Khái niệm Chân dung tự họa“Chân dung tự hoạ” ” nếu ta hiểu một cách đơn giản thì đó làbức tranh bản thân con ngời đó tự vẽ về mình

Hiểu theo cách này, ta thấy Nguyễn Trãi trong tập thơ Quốc âm củamình, ông đã tự vẽ mình bằng ngôn ngữ thơ ca

ông Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển

thuật ngữ văn học đa ra khái niệm “Chân dung tự hoạ”Chân dung văn học” Theo các ông: thể“Chân dung tự hoạ”

loại văn học đặc thù có nhiệm vụ tơng tự nh thể loại chân dung trong hội hoạ

và điêu khắc, miêu tả diện mạo của một con ngời cụ thể, có thật, sao cho truyền đợc thần thái sống động của ngời đó, phát hiện đặc điểm riêng, cá nhân, độc đáo, không lặp lại của một nhân cách với thế giới tinh thần của

Khác với hồi tởng, ghi chép về một con ngời cụ thể, với t cách là một thể loại văn học, chân dung văn học miêu tả con ngời cụ thể với một quan niệm xác định về nhân cách ( )” [5, 54].

Nh vậy, khái niệm “Chân dung tự hoạ”chân dung tự hoạ” khác với khái niệm “Chân dung tự hoạ”chân dung

văn họ c” Nếu chân dung văn học là một thể loại thì chân dung tự họa là mộtbức tranh trong một tác phẩm cụ thể do chính tác giả vẽ nên

Các tác giả văn học trung đại, trừ một số trờng hợp nh Hồ Xuân Hơng,Nguyễn Công Trứ thể hiện con ngời của mình một cách trực tiếp trong tác

phẩm của mình, nh với Bài ca ngất ngỡng, Nguyễn Công Trứ thể hiện mình

nh một chân dung tự hoạ từ những nét bên ngoài đén tính cách, sở thích rấtngông của mình thì hầu hết các tác giả văn học trung đại đều thể hiện mìnhmột cách hàm ẩn bằng ngôn ngữ hàm ẩn Với sự ra đời của thơ Nôm, phạm

vi và khả năng biểu hiện của con ngời trong thơ đợc mở rộng về phía riêng t,trần tục, ít quan phơng

Ta thấy trong thơ Nôm Nguyễn Trãi nổi lên chữ tự : Tự thán“Chân dung tự hoạ” ” (41 bài),

tự thuật (11 bài), tự giới (1 bài), tổng cộng là 53 bài/254 bài thơ Nôm Các đề

thơ khác nh Trần tình, Thuật hứng, Mạn thuật thực ra cũng đều là Nguyễn

Trãi tự nói về mình, tự biểu hiện con ngời của mình

Khái niệm “Chân dung tự hoạ”Chân dung tự họa” đã từng đợc dùng khi các nhà nghiên cứu tìm hiểu về tập thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh Trong tập thơ này, bằng

ngôn ngữ thơ ca, Hồ Chí Minh đã tự vẽ nên chân dung của mình Đó là mộtcon ngời có bản lĩnh kiên cờng, ý chí vợt lên hoàn cảnh, làm chủ hoàn cảnh

Trang 16

với tinh thần tiến công cách mạng; đó là tâm hồn thiết tha yêu thơng con

ng-ời và cuộc sống, đặc biệt Ngng-ời rất nhạy cảm với nỗi đau của con ngng-ời, tập thơnày còn bộc lộ một tâm hồn nghệ sỹ tài ba rất nhạy cảm với cái đẹp

Hay Chu Văn Sơn khi nghiên cứu Hàn Mạc Tử, cũng dùng khái niệm

“Chân dung tự hoạ”chân dung tự họa” với câu thơ:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Theo chúng tôi, qua quá trình khảo sát thống kê tập Quốc âm thi tập,

trong tổng số 254 bài thơ, chỉ có 26 bài thơ là không xuất hiện hình ảnh conngời tự họa của Nguyễn Trãi, chiếm 10,2% Các bài còn lại đều xuất hiệnhình ảnh con ngời tự họa của Nguyễn Trãi, chiếm 89,4% Những bài không

xuất hiện hình ảnh con ngời tự họa nh Nhạn trận Điệp trận, Miêu, Tr …; một

số bài trong Bảo kính cảnh giới, tác giả viết răn đời …; Tuy nhiên trongnhững bài thơ đó, ta vẫn thấy thấp thoáng tâm trạng ,nỗi lo của Nguyễn Trãi.Trong số 228 bài xuất hiện hình ảnh tự họa,có 83 bài Nguyễn Trãi vẽ hình

ảnh con ngời bên ngoài, 117 bài ông vẽ hình ảnh con ngời bên trong và có 28

bài là sự kết hợp hài hoà giữa con ngời bên ngoài và bên trong, nh Thuật

hứng – con ng bài 24, Tự thán – con ng bài 10, Tự thán – con ng bài 40…;

Qua các bài thơ Nguyễn Trãi tự vẽ mình ta thấy Nguyễn Trãi hiện lên ởcả phơng diện con ngời bên ngoài (ăn, ở, mặc, sinh hoạt, cảnh sống…; ) vàphơng diện con ngời bên trong, với đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp, đángtrân trọng! Hình ảnh con ngời với dáng vẻ bên ngoài cùng với những nét đẹpbên trong đợc kết hợp một cách hài hoà tạo thành chân dung tự họa của chính

nhà thơ trong Quốc âm thi tập

Chơng 2: chân dung Nguyễn Trãi

trong Quốc Âm Thi Tập.

Trong cuốn Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, ở trang đầu Xuân Diệu viết:

“Chân dung tự hoạ”Các bậc tiền bối của chúng ta ngày trớc, hẵng chỉ kể từ Nguyễn Du trở lên có

ai để hình ảnh con ngời mắt tai xơng thịt lại cho chúng ta! Ngẫu nhiên thế nào

mà duy nhất chúng ta còn có đợc bức truyền thần lụa xa, vẽ chân dung Nguyễn

Trang 17

Trãi, họ Nguyễn Nhị Khê còn giữ đợc Bức hình ảnh ấy ta xem rồi nhắm mắt thấy lại trong trí nhớ tự nhiên in lên trên nền thời gian khoảng sáu trăm năm, Hoàng các thanh phong ngọc th

“Chân dung tự hoạ” tiên , gió thanh hây hây gác vàng, ng” “Chân dung tự hoạ” ời nh một ông tiên ở trong nhà ngọc , phong thái ức Trai tiên sinh ung dung, vững chãi mà thanh tao thật, những ngón tháp bút dài, tay phải dang nh một quả phất thủ, tay trái cầm cây quạt xếp lại chống trên đầu gối; mái tóc tràn ra dới chiếc mão triều thần, Sầu nặng Thiếu Lăng biên đã bạc , nhìn trong tranh,“Chân dung tự hoạ” ”

râu trong mép liền với râu dới cằm, Tuổi cao, tóc bạc, cái râu bạc , sắc bạc“Chân dung tự hoạ” ”

của râu tóc nh toả ra ánh sáng [3,5].

Với những dòng văn trên tâ thấy đợc hình ảnh Nguyễn Trãi qua bứctranh lụa truyền thần Đó là chân dung Nguyễn Trãi do ngời khác vẽ nên, còn

chân dung của ức Trai do chính ông tự vẽ trong Quốc âm thi tập là con ngời

nh thế nào? Qua khảo sát thống kê, chúng tôi thấy trong Quốc âm thi tập

hiện lên một con ngời Nguyễn Trãi vô cùng rõ nét, không chỉ là hình ảnh conngời bên ngoài mà nổi bật hơn cả là hình ảnh con ngời bên trong của NguyễnTrãi

2.1 Hình ảnh con ngời bên ngoài

Trong Quốc âm thi tập hình ảnh con ngời bên ngoài của Nguyễn Trãi

đợc ông vẽ bằng những đờng nét cụ thể, từ diện mạo đến cách ăn, mặc, từsinh hoạt đến phong thái

Trang 18

2.1.1 Về nơi ở

Ngay ở bài thơ đầu tiên của Quốc âm thi tập chúng ta đã thấy Nguyễn

Trãi đã vẽ lên nơi ở của mình với mình với hình ảnh nổi bật:

Góc thành Nam, lều một gian

… Góc thành Nam, lều một gian (Thủ vĩ ngâm).

Về hai câu thơ này có bản ghi là: “Chân dung tự hoạ”lều một căn”.

Trong suốt cả tập thơ, chúng tôi thấy hình ảnh căn “Chân dung tự hoạ”lều” này trở đi trở

lại rất nhiều lần, hình ảnh này xuất hiện ở 20/1908 câu thơ, chiếm 1%

Đặc biệt là từ “Chân dung tự hoạ”lều” này lại thờng đi kèm với từ “Chân dung tự hoạ”một” (9 lần), cho

chúng ta thấy một con ngời sống lẻ loi, cô đơn,chẳng hạn:

Thất gia chẳng quản một con lều

(Mạn thuật – con ng Bài 2)

Hay:

Chân rừng chiếm một gian lều

(Tự thán – con ng Bài 35)

Hình ảnh “Chân dung tự hoạ”con lều” này còn gợi cho chúng ta thấy đợc nơi ở của

Nguyễn Trãi rất bé nhỏ, đơn sơ Ngoài hình ảnh con lều“Chân dung tự hoạ” ”, trong Quốc âm

thi tập, chúng ta còn thấy xuất hiện hình ảnh “Chân dung tự hoạ” cái am”, chẳng hạn:

Am quạnh thiêu hơng đọc ngũ kinh

Trong Quốc âm thi tập, ta thấy hiện lên một Nguyễn Trãi không quan

tâm nhiều đến việc ăn, mặc của mình, với ông cái ăn, cái mặc thật giản dị:

Bữa ăn dầu có da muối áo mặc nài chi gấm là

(Ngôn chí – con ng Bài 3)

Cơm ăn chẳng quản da muối áo mặc nài chi gấm thêu

(Thuật hứng – con ng Bài 22)

Trang 19

Cơm ăn miễn có dầu xoa bạc áo mặc âu chỉ quản cũ đen

(Bảo kính cảnh giới – con ng Bài

Rau trong nội, cá trong ao (Mạn thuật – con ng Bài 13)

Chính vì vậy mà ông tự mình lao động để làm ra cái ăn với quan niệm:

Làm biếng hay ăn, lở núi non (Dạy con trai)

Nguyễn Trãi đã hiện ra trong sự gắn bó với cảnh sinh hoạt rất dân dã:

Ao quan thả gửi hai bè muống Đất bụt ơng nhờ một lảnh mùng

( Thuật hứng - Bài 23)

Ao cạn vớt bèo cấy muống

Trì thanh phát cỏ ơng sen

(Thuật hứng - Bài 24)

Một cày một cuốc thú nhà quê

áng cúc lan chen vãi đậu kê

(Thuật hứng - Bài 3)

Cây rợp chồi cành chim kết tổ

Ao quang mấu ấu cá nên bầy

(Ngôn chí - Bài 10)

Những ngày kê khoai những sản hằng Tờng đào ngõ mận ngại thung thăng

(Mạn thuật - Bài 14)

Tả lòng thanh, vị núc nác Vun đất ải, luống mồng tơi

(Ngôn chí - Bài 9 )

Trang 20

Thậm chí có khi ông tự biếm hoạ mình:

Miệt bả, hài gai, khăn cóc

Xềnh xoàng làm mỗ đứa thôn nhân

(Mạn thuật – con ng Bài 11)

Cảnh sinh hoạt của Nguyễn Trãi đợc vẽ lên trong “Chân dung tự hoạ”Quốc âm thi tập “Chân dung tự hoạ”

chính là những đờng nét cụ thể bắt nguồn từ quan niệm sống của ngời quân

tử: “Chân dung tự hoạ” thực vô cầu bạo, c vô cầu an” (ăn không cần no, ở không cần yên)

2.1.3 Nguyễn Trãi tự phác họa dáng vẻ bên ngoài của mình

Trong Quốc âm thi tập ta thấy Nguyễn Trãi tự giới thiệu về mình một

cách hài hớc, chân thực:

Vừa sáu mơi d tám chín thu

Lng gầy da xỉ tớng lù khù (Ngôn chí – con ng Bài 14)

Nhng qua thơ ta thấy ngay trong tuổi già, ông cũng không lấy gì làm lùkhù cho lắm Lù khù thì đâu có thể nói với ngời trẻ:

Tiếc thiếu niên qua lật hẹn lành Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình Biện xanh nỡ phụ cời đâu bạc

Đầu bạc xa nay có thuở xanh (Tích cảnh – con ng Bài 5)

Hay ông vẽ mình:

Đầu kết lăng căng những hổ Thân nhàn lục cục mỗ già (Tự thán – con ng Bài 24)

Đặc biệt trong Quốc âm thi tập hình ảnh “Chân dung tự hoạ”mái đầu bạc” xuất hiện

nhiều lần trong thơ ông, ở 18/1908 câu thơ, chiếm 0,94%

Trang 21

ở bài thơ thứ 5, thuộc mục Tích cảnh, Nguyễn Trãi rất thành thật, thúnhận đợc cái nhợc điểm của tuổi tác mình; khi tuổi trẻ qua rồi phải lỡ baonhiêu ớc hẹn lành tốt, hoa với nguyệt bây giờ cũng làm lơ với ta NguyễnTrãi không làm kiêu đứng ở trên bề cao của chức vị, danh phận của mình mà

thật thà bảo với những bạn trẻ có mái tóc xanh: Sao lại nỡ phụ cời ngời đầu

bạc?,đồng thời bảo với họ: cái đầu bạc này đã từng có lúc xanh đấy, xanh

nh tóc các bạn đang xanh, là “Chân dung tự hoạ”Cời ngời chớ vội cời lâu, cời ngời hôm trớc,hôm sau ngời cời”, các bạn rồi cũng đến lợt sẽ bạc đầu [3,40]

Và đến khi Nguyễn Trãi hạ xuống cái ý: sơng bạc đè lên mái tóc phảichịu, thì ta cảm động đến rng rng nớc mắt

Tôi ngơi một tiết bền bằng đá

Biên (=mái) tóc mời phần chịu những sơng

(Tự thán – con ng Bài 12)

Cùng với hình ảnh “Chân dung tự hoạ”mái đầu bạc” là hình ảnh “Chân dung tự hoạ”con mắt xanh”, hình

ảnh này xuất hiện 3 lần trong Quốc âm thi tập :

Mắt hoà xanh, đầu dễ bạc

(Mạn thuật – con ng Bài 8) Nhà ngặt đèn xanh, con mắt xanh

(Tự thán – con ng Bài 29) Xanh bạc dầu chng mặt chúng ngơi

(Tự thuật – con ng Bài 9)

Hình ảnh “Chân dung tự hoạ”con mắt xanh” nói nh Xuân Diệu: đôi mắt “Chân dung tự hoạ” ức Trai sâu vời vợi cùng thức với ngọn đèn xanh, mắt sáng quá, trong quá, đến mức xanh,

đồng thời mắt xanh cũng có nghĩa là mắt đợi chờ ngời tri kỷ, tri âm cha tới…; [3,8]

2.1.4 Hình ảnh một con ngời luôn luônngồi bên án sách, cây đèn

Trong Quốc âm thi tập nổi bật lên hình ảnh một Nguyễn Trãi rất chăm

lo đến sách, chăm lo đèn sách ngay từ khi ông còn trẻ cho đến khi ông về già,

về ở ẩn Và hình ảnh này xuất hiện ở 26 bài/254 bài

ở bài Ngôn chí, số 6, chàng th“Chân dung tự hoạ” sinh tự bảo: Mình nh loại cuốc cằn “Chân dung tự hoạ” “Chân dung tự hoạ”

nhng cuốc xáo cho chín cái v“Chân dung tự hoạ” ” “Chân dung tự hoạ” ờn của trăm nhà (ch tử) chắc cũng gặt hái

Trang 22

Thuyền mọn khôn đua bể lục kinh Học ấy là vừa học, vừa tu dỡng Coi bè bạn với mình là sách, mai và trúc, là lấy cái hiểu của sách, cái sáng của đèn luyện cái trí của mình, còn lấy cái khí tiết của trúc, cái gan dạ của mai làm cái đức của mình Học làm ngời của chàng th sinh lúc nhỏ đã vậy Tuy thế chàng cũng phải trải qua bao nhiêu vất vả với thi cử (trờng ốc: thi cử):

Trờng ốc ba thu uổng mấy danh Nói vậy nhng năm hai mơi tuổi ông đã đỗ tiến sỹ, tức năm 1400? [22,6].

Ngay cả khi về ở ẩn, tuổi đã cao, ông vẫn không sao nhãng đèn sách:

Thanh nhàn án sách hãy còn đeo đai

(Ngôn chí – con ng Bài 5) Ngày nhàn xem chơi, sách một an

(Ngôn chí – con ng Bài 16) Sách một hai phiên làm bầu bạn

(Ngôn chí – con ng Bài 12)

Đây là hình ảnh rất đẹp, rất riêng của Nguyễn Trãi ít thấy trong thơNôm trung đại Việt Nam

2.1.5 Hình ảnh con ngời sống gắn bó, hoà nhập với thiên nhiên

Trong Quốc âm thi tập ,có đến 30 bài/254 bài nổi lên hình ảnh Nguyễn

Ttrãi sống gắn bó, hòa nhập với thiên nhiên

Thiên nhiên trong Quốc âm thi tập thờng là những bức tranh xinh xắn, những bức tranh lụa mợt mà, những bức kí hoạ thiên nhiên mộc mạc [19,60].

Đối với thiên nhiên, thơ x

“Chân dung tự hoạ” a rất tơi màu thiên nhiên, thơ Nguyễn Trãi cũng ở trong nếp đó Có hơi khác là cỏ cây, chim muông trong thơ cổ điển thờng là loại quý đẹp, sang trọng Nguyễn Trãi tìm thấy hứng thơ ở mọi loại, không kể sang hèn, hiếm hay thờng Đào liễu ở chốn lầu son gác vàng trong thơ ông bên cạnh rau muống, mùng tơi quê mùa một cách tự nhiên Không thể tùng, trúc mới quý vì cái đức của chúng mà cây đa, cây hoàng tinh, cây hoè vẫn có cái quý của nó: cây đa có bóng rợp đến dân , cây hoàng tinh có ph“Chân dung tự hoạ” ” “Chân dung tự hoạ” ơng

Trang 23

lành để giữ mình , cây hoè có thuở ngày tr” “Chân dung tự hoạ” ờng hoè trơng tán lục”… Đến con mèo, con lợn cũng có thơ [22,33].

Chính vì vậy thơ ông nói nh Hàn Mạc Tử:

Lánh giềng một áng mây bạc Khách khứa hai ngàn núi xanh

Hàng xóm của Nguyễn Trãi là mây, khách của Nguyễn Trãi là núi

Đây chính là sự hòa hợp giữa Nguyễn Trãi với thiên nhiên, tiêu biểu nh cáccâu trong một số bài:

Rùa nằm, hạc lẩn nên bầy bạn

ủ ấp cùng ta làm cái con

(Ngôn chí – con ng Bài 20) Núi láng giềng, chim bầu bạn

Mây khách khứa, nguyệt anh tam

(Thuật hứng – con ng Bài 19)

Trang 24

Rủ viên hạc xin phơng giải tục Quyến trúc mai kết bạn tri âm

(Tự thuật – con ng Bài 8)

Đặc biệt là khi Nguyễn Trãi viết về “Chân dung tự hoạ”trăng” Trong thơ xa hầu nh cácnhà thơ đều viết về trăng nhng ít có nhà thơ nào khi nói đến trăng, có nhiều

câu hay về mặt trăng nh ức Trai Quét trúc bớc qua lòng suối - Thởng mai về

đạp bóng trăng, hoặc là Dò trúc xông qua lòng suối - Tìm mai theo đạp bóng trăng.

Rất nhiều trờng hợp trăng đã thành “Chân dung tự hoạ”nguyệt”, nguyệt phối hợp với cái

đẹp khác:

Cây rợp tán che am mát

Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn.

(Ngôn chí – con ng Bài 20) Trong các tác giả phân tích về vẻ đẹp của “Chân dung tự hoạ”trăng” trong Quốc âm thi

tập thì Xuân Diệu là ngời phân tích hay nhất, tinh tế nhất ông viết: Đối với nguyệt, với trăng, Nguyễn Trãi có tâm tình của một ngời bạn: trăng tri kỷ, trăng tơng thức, bởi thế trăng xuất hiện thật đúng vào lúc Nguyễn Trãi cần

có bạn tri âm:

Khách đến vờn còn hoa lác (=lác đác) Thơ nên, cửa thấy nguyệt vào!

cũng do đó mà Nguyễn Trãi đa một cái tứ hay trong thơ cổ điển vào thành thơ của mình:

Rợu đối cầm, đâm một thủ

Ta cùng bóng mây (=với) nguyệt ba ngời [3,37}

Qua khảo sát, thống kê chúng tôi thấy hình ảnh “Chân dung tự hoạ” nguyệt “Chân dung tự hoạ” xuất hiện 77lần/1908 câu thơ, chiếm 4,04%

“Chân dung tự hoạ”Có thể nói khi đối diện với cảnh vật Nguyễn Trãi có hai cách cảm thụ

chủ yếu: kéo nó vào với mình và hoà mình vào với nó ( ) những ngời bạn muôn thuở trong thơ các nhà nho ẩn dật cũng đợc Nguyễn Trãi gọi về họp mặt đầy đủ trong thơ ông: mai , tùng , cúc , trúc“Chân dung tự hoạ” ” “Chân dung tự hoạ” ” “Chân dung tự hoạ” ” “Chân dung tự hoạ” ”… trăng , gió ,” ” “Chân dung tự hoạ” ”

mây , núi

“Chân dung tự hoạ” ” “Chân dung tự hoạ” ”… Cùng một số thi cụ nh r “Chân dung tự hoạ” ợu , nh đàn , nh“Chân dung tự hoạ” ” án sách“Chân dung tự hoạ” ”… Tất

cả những thứ đó là bạn, bằng những phẩm chất của nó tơng xứng với phẩm chất nào đó mà ngời quân tử muốn đạt tới hay mang sẵn ở trong mình Cũng

có khi cảnh vật là ngời phục vụ cho ngời quân tử, là nô bộc, là tôi tớ, một thứ

Trang 25

nô bộc, tôi tớ chân tình, tâm phúc, không phải là không tri kỷ, tri âm…” [11,

753]

Nói chung, Nguyễn Trãi không dựng lên những cảnh dữ dội, haynhững cảnh triền miên, vụn vặt Cảnh trong thơ ông thờng “Chân dung tự hoạ”bén áo, xâmkhăn” với con ngời Có một dấu bằng rất rõ và rất dịu dàng giữa con ngời vàtạo vật Nguyễn Trãi dờng nh bao giờ cũng tìm thấy một sự thân thuộc bình

Khách khứa hai ngàn núi xanh

(Bảo kính cảnh giới – con ng Bài 42)

“Chân dung tự hoạ”Láng giềng , bầu bạn , khách khứa , anh tam” “Chân dung tự hoạ” ” “Chân dung tự hoạ” ” “Chân dung tự hoạ” ” đều toàn là những

đối tợng “Chân dung tự hoạ”bằng vai phải lứa” cả thôi Ngay cả khi là “Chân dung tự hoạ”cái con” thì cũng “Chân dung tự hoạ”ủ ấp

cùng ta” chứ không ráo hoảnh, không ngờ ngợ gì Đến “Chân dung tự hoạ”hoa tàn” cũng đợc

“Chân dung tự hoạ”ngắm”, “Chân dung tự hoạ”nguyệt xấu” cũng đợc “Chân dung tự hoạ”soi”, thì việc:

Chẳng cài cửa tiếc non che khuất Sá để thuyền cho nguyệt chở nhờ

(Tự thán – con ng Bài 38)

hẳn không có gì là lạ

Tóm lại, trong Quốc âm thi tập chúng ta thấy Nguyễn Trãi vẽ nên quê

hơng nông thôn đậm chất giản dị: lều thì be bé, ngõ thì ngõ gai, ăn thì chẳng

quản da muối, mặc thì áo bộ quẹn cật , làm lụng thì cuốc cày, vớt bèo phát

cỏ, cần kiệm thì có ao sen, nhng cũng có ao niềng niễng, cá rồng rồng, áng

cúc lan thì chen vãi đậu kê, nuôi miệng thì tay làm, làm biếng ngồi ăn thì núi

cũng lở, có việc mới nên thầy nên thợ, hay làm mới no ăn no mặc, xa hoa thì nhiều hãy hết, hà tiện thì ít hãy còn…Trên nền của cảnh sinh hoạt đó, nổi bật

hình ảnh một con ngời tuy đầu đã bạc nhng mắt vẫn còn xanh, một con ngờiluôn ngồi cạnh án sách, cây đèn và trong phong thái ung dung t tại

2.2 Con ngời bên trong

Trong cuốn Thơ Việt Nam tác giả, tác phẩm, lời bình, Lê Bảo khẳng

định: “Chân dung tự hoạ”Nếu thơ là ngời thì thơ Nguyễn Trãi phải là con ngời Nguyễn Trãi …; ”

và “Chân dung tự hoạ”chính trong lĩnh vực đời thờng, con ngời Nguyễn Trãi hiện ra toàn diện

Trang 26

hơn,sắc sảo hơn, gần gũi hơn nhiều so với thơ chứ Hán của chính ông”[2,

2.2.1 Hình ảnh con ngời u quốc ái dân, con ngời trung hiếu

“Chân dung tự hoạ”Thế kỷ XV là thế kỷ nhân tài đua nhau ra với triều đình Hiện tợng

hút về tâm chi phối cả thế kỷ này mà hình ảnh tiêu biểu nhất là một

Trai bị bỏ rơi lòng vẫn nhớ vua không dứt” [19,7].

Trong Quốc âm thi tập có đến hàng trăm lần Nguyễn Trãi nhắc đi nhắc

lại rằng mình là nhà nho, đề cập đến trách nhiệm của “Chân dung tự hoạ”kẻ t văn”, “Chân dung tự hoạ”ngời quântử”, “Chân dung tự hoạ”đọc sách thông đòi nghĩa sách” Nhà nho xác định cho mình và đẳngcấp mình hai trách nhiệm chủ yếu: trách nhiệm với xã tắc dân sinh và tráchnhiệm với “Chân dung tự hoạ”đạo thánh nhân” Khi hớng vào xã hội, những đối tợng phục vụchủ yếu mà ông đề cập là “Chân dung tự hoạ”chúa”, “Chân dung tự hoạ”quốc gia” và “Chân dung tự hoạ”dân” Nguyễn Trãi nói rấtnhiều đến ơn vua, và ở nhiều cung bậc khác nhau, ngôi vua đó đợc ông địnhtính một cách rất có nguyên tắc

Nguyễn Trãi quan niệm ngôi vua tồn tại nh một tất yếu với ý nghĩa tối

cao của nó, nhng có thể thay ngời làm vua Trong Quốc âm thi tập ông nói nhiều đến ơn chúa: Thuỷ chung mọi vật đều nhờ chúa, Bui một quân thân ơn

cực nặng, Cho về cho ở đều ơn chúa, Ơn thầy, ơn chúa lẫn ơn cha, Ơn vua luống nhiều phần đội… ông cũng nói nhiều hơn đến việc đền ơn chúa nh là

công việc trọng đại hàng đầu:

Bui có một niềm chăng nỡ trễ

Đạo làm con lẫn đạo làm tôi

(Ngôn chí – con ng Bài 1) Quân thân cha báo lòng canh cánh

Tình phụ cơm trời áo cha

(Ngôn chí – con ng Bài 7) Tơ hào chẳng có đền ơn chúa

(Ngôn chí – con ng Bài 14) Tơ hào chửa báo hãy còn âu

(Mạn thuật – con ng Bài 8) Những vì thánh chúa âu đời trị

Trang 27

Sá kể thân nhàn tiếc tuổi tàn

(Tự thán – con ng Bài 2)

Và việc cha báo “Chân dung tự hoạ”đền ơn chúa” trọn vẹn đã trở nên một điều day dứttrăn trở, thậm chí một điều sinh tử ở ông:

Trang 28

Nợ quân thân cha báo đợc Hài hoa còn bện dặm thanh vân

(Ngôn chí – con ng Bài 11) Bui một tấc lòng u ái cũ

Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều đông

(Thuật hứng – con ng Bài 5)

Nhng ông không phải là kẻ chỉ biết “Chân dung tự hoạ” ngu trung” Trách nhiệm với chúakhông chỉ là ơn huệ cá nhân, ông hiểu nó nh một châm ngôn hành động bắtbuộc Sự trung thành của ông có điều kiện, đó là ngôi vua phải gắn với cảnhthái bình, cảnh quốc phú binh cờng:

Rày mừng thiên hạ hai của:

Tể tớng hiền tài, chúa thánh minh

(Thuật hứng – con ng Bài 20)

Vua ấy phải là “Chân dung tự hoạ”Nghiêu Thuấn” mới khiến cho:

Nhật nguyệt dễ qua biên trắng Cơng thờng khôn biến tấc son

(Tự thán – con ng Bài 17)

Đến đây chúng ta bắt gặp một biểu tợng rất đẹp cho lòng trung của

Nguyễn Trãi đối với vua Đó là biểu tợng tấc lòng son Trong Quốc âm thi

tập hình ảnh tấc lòng son xuất hiện ở 8/1908 câu thơ, chiếm 0,42%

Lòng một tấc son còn nhớ chúa

(Trần tình – con ng Bài 7) Nhớ chúa lòng còn đan một tấc

(Bảo kính cảnh giới – con ng Bài 38) Trung hiếu cơng thờng lòng đỏ

(Bảo kính cảnh giới – con ng Bài 60)

Đây là một biểu tợng rất đẹp, đặc biệt mà từ trớc đó cho đến NguyễnTrãi cha có

Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi không thấy xuất hiện cặp từ

“Chân dung tự hoạ”trung ái” và thành phần định ngữ giải thích khái niệm “Chân dung tự hoạ”ái u” thờng ít đợcxác định bởi nội dung Nho giáo, yêu nớc, thơng dân Trong thơ ức Trai cómột nội dung dân tộc và thời đại khá đậm nét:

Còn có một lòng âu việc nớc

Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung

(Thuật hứng – con ng Bài 23)

Trang 29

Gia sơn đờng cách muôn dặm

u ái lòng phiền nửa đêm

(Tự thuật – con ng Bài 4)

Đọc sách thông đòi nghĩa sách

Đem dân mựa nữa mất lòng dân

(Bảo kính cảnh giới – con ng Bài 57)

Nguyễn Trãi lo là lo cho nớc, yêu là yêu đến dân đen, con đỏ Nộidung “Chân dung tự hoạ”u ái” trong thơ Nguyễn Trãi, trong trí tởng tợng nhà thơ là xác định

“Chân dung tự hoạ”âu việc nớc”, “Chân dung tự hoạ”âu đời trị”, nớc và dân cụ thể đến mức:

Mấy kẻ t văn ngời đất Việt

Đạo này nối nắm để cho dài

( Tự thán – con ng Bài 22)

“Chân dung tự hoạ”Đạo này” của Nguyễn Trãi , sách Nguyễn Trãi toàn tập chú thích là

đạo Nho, đạo cơng thờng Không sai nhng cha đầy đủ Đặt trong mối quan hệ

với câu thơ trên Mấy kẻ t văn ngời đất Việt phải hiểu “Chân dung tự hoạ”đạo này” của Nguyễn

Trãi còn là truyền thống tốt đẹp của ngời Việt: yêu nớc, thơng dân, vì nớc, vìdân Cũng trong khái niệm “Chân dung tự hoạ”u dân” của Nguyễn Trãi, t tởng thân dân trongcâu thơ sau chúng ta khó có thể tìm thấy ở các phạm trù t tởng nho giáo:

ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày

(Bảo kính cảnh giới - Bài 19)

ở bài Ngôn chí số 14, Nguyễn Trãi có câu thơ ít nhiều đã vợt ra ngoài

t tởng Khổng Mạnh:

Bát cơm xoàng nhớ ơn xã tắc

Từ ơn vua (ơn vua luống nhiều phần đội – con ng Tự thán – con ng Bài 30) đến ơn

xã tắc là cả một bớc tiến Tuy nhiên nhớ ơn xã tắc , các tác giả tr“Chân dung tự hoạ” ” ớc Nguyễn Trãi và đồng thời với Nguyễn Trãi đã nói nhiều Còn nh “Chân dung tự hoạ”ăn lộc đền

ơn kẻ cấy cày” thì cho đến thế kỷ XV và sau đó vài ba thế kỷ, dờng nh chỉ có mình Nguyễn Trãi Câu thơ là kết tinh cao nhất t tởng thời đại, đánh dấu bớc phát triển nhảy vọt của t tởng nhân văn trong thế kỷ XV “Chân dung tự hoạ” [19,75,76].

Ngay ở chùm thơ ba bài viết về tùng, Nguyễn Trãi cũng nêu lên đặc

tính Một mình lạt thuở ba đông và khả năng Nhà cả nhiều phen chống khoẻ

thay của tùng Nhng ông nhấn mạnh tất cả những phẩm chất quý báu đó đều

nhằm một mục đích cao đẹp: Dành, còn để trợ dân cày… “trung hiếu” đối

với ức Trai không còn là một khái niệm chung chung, trừu tợng Ông tiếp thu

lý tởng “Chân dung tự hoạ”ái u”, “Chân dung tự hoạ”trung hiếu” từ những hoạt động thực tiễn của bản thân, gia

Trang 30

đình, dân tộc Một số biểu hiện nhỏ của sự thiếu công minh, sáng suốt ở đấng

“Chân dung tự hoạ”chí tôn” cũng gây nên những giằng mắc trong tâm trí ông

Nguyễn Trãi thì không bao giờ thoát nổi “Chân dung tự hoạ”lới trần” mặc dù có lúc ông

đã từ quan Náu về quê cũ bấy nhiêu niên Ông luôn luôn phấn đấu hi sinh

Há kể thân nhàn tiếc tuổi tàn Không gì làm bào mòn, không gì nhuộm đen,

không gì hoá nổi tấm lòng trung hiếu đỏ nh son của ông Trung hiếu đối với

ức Trai là một sự đam mê ghê gớm:

Tôi ngơi hết tấc lòng trung hiếu

Ai há liệu nơi thịnh suy

( Tự thán – con ng Bài 30)

“Chân dung tự hoạ”ái u”, “Chân dung tự hoạ”trung hiếu” của Nguyễn Trãi trớc hết là xuất phát từ trái tim,tình cảm Ta có cảm giác ông không quan tâm nhiều lắm đến phơng diện lý

thuyết của khái niệm: Ai há liệu nơi thịnh suy Nguyễn Trãi đã không hành

động theo lý thuyết “Chân dung tự hoạ”xuất xử” của Nho giáo”: Nguỵ bang bất nhập, loan

bang bất c (Luận ngữ) Nguyễn trãi hành động theo yêu cầu của thực tiễn và

ý nghĩa của lý tởng “Chân dung tự hoạ”ái u”, ‘trung hiếu” là lý tởng đó phải đợc thực thi trongcuộc sống Vì thế mà ông suốt đời hành động Cũng vì thế mà nói đến “Chân dung tự hoạ”ái u”,

“Chân dung tự hoạ”trung hiếu”, thơ Nôm Nguyễn Trãi bao giờ cũng rạo rực, thiết tha, sôi nổi:

Đêm đêm cuồn cuộn nớc triều đông nhạy cảm, năng động, hết mình, đó là

nét đẹp trong nhân cách của Nguyễn Trãi “Chân dung tự hoạ”

Với Nguyễn Trãi, việc lo nớc, yên dân đã thành tâm huyết, Nguyễn

Trãi là u ái và tâm huyết Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngợc, Có nhân có trí có

anh hùng; Nguyễn Trãi là chí khí Khó bền mới phải ngời quân tử, Mạnh gắng thì nên đấng trợng phu Nguyễn Trãi là son sắt: Bui có một lòng trung lẫn hiếu Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen Phạm Văn Đồng nói: Thơ“Chân dung tự hoạ”

Nguyễn Trãi hay nhờ vậy Lòng một tấc son còn nhớ chúa, Tóc hai phần bạc“Chân dung tự hoạ”

bởi thơng thu , ý trong những câu thơ này không có gì lạ, tình trong thơ thì

sáu trăm năm sau ngời đọc còn phải ứa nớc mắt [ 11, 598].

Dờng nh cứ nghĩ đến chữ hiếu là lòng ức Trai lại day dứt khôn nguôi

Đó là món nợ mà cả đời ông cha một lần báo đáp:

Nợ cũ trớc nào báo bổ

ơn thầy, ơn chúa lẫn ơn cha

(Tự thán – con ng Bài 24) Cốt lãnh hồn thanh chăng khứng hoá

Âu còn nợ chúa cùng cha

(Thuật hứng – con ng Bài 9)

Trang 31

Nguyễn Trãi vẫn hiểu giặc cớp mất nớc, lo cứu nớc, cứu dân đó là đạihiếu nh lời cha dặn Nguyễn Trãi khi ông bị giặc Minh bắt đa sang TrungQuốc Nhng ông mất mẹ từ thuở nhỏ, cha ông làm rể nhà tể tớng nhng vẫnsống một đời thầy giáo nghèo, mới đợc một chức quan thì chẳng bao lâu đãphải luỵ vì giặc Xét mình, ông thấy mình cha làm đợc gì để báo đền ơn sinh

thành, cho nên ông cảm mình nh có tội: Tơ tóc cha báo mẹ cha sinh Đối với

con cháu, dạy cho chúng biết đạo làm ngời là điều ông thờng xuyên lo lắng,chắc có lúc con cháu than nghèo, ông bảo:

Bình sinh nhiễm đợc tật sơ cuồng

(Thuật hứng – con ng Bài 23)

Nguyễn Trãi là ngời không thích giàu sang nh bao kẻ khác, do đó màcác con các cháu phải nhiều ngày chịu đựng cảnh nghèo khó nh thế này

Đúng là lụa là đâu có mà quần áo không lài xài, sơn hào hải vị đâu mà miệngchẳng thèm thuồng Ao đó, thả muống, hè đó ơng mùng mà sống vậy? Nhng

chớ nên quên học thi th vì thi th là lễ nghĩa Phải lao động và siêng năng: Xa

đã có câu truyền bảo, Làm biếng hay ăn lở núi non Con cái đừng mong cha

mẹ để lại của cải mà cầu cha mẹ để lại đức cho con: Trồng cây đức để con ăn

và Bạc mai vàng cúc để cho con Mấy câu ấy là lời răn dạy mà cứ nghe có

tấm lòng gửi sâu trong đó Nó không phải là lời cửa miệng mà phát ra từ tráitim nghệ sĩ đầy yêu thơng

2.2.2 Hình ảnh Nguyễn Trãi luôn luôn trăn trở, thao thức không ngủ đợc vì dân, vì nớc

Trong cuốn Các nhà thơ cổ điển Việt Nam Xuân Diệu viết:

Nguyễn Trãi ngót sáu thế kỉ nay không ngủ! Chao ôi! Gia sơn cách

“Chân dung tự hoạ”

muôn dặm, Ưu ái lòng phiền nửa đêm; Giang sơn cách đờng ngàn dặm, Sự nghiệp buồn đêm trống ba; Chao ôi! Nguyễn Trãi: Còn có một lòng lo việc nớc Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung Thức từ đầu hôm cho đến hết đêm! Nguyễn Trãi:Bui có một niềm trung hiếu cũ, chẳng nằm thức dậy nẻo ba canh [3, 6]

… và Nguyễn Trãi có ngủ sao đợc, ngót sáu thế kỉ nay Nguyễn Trãi có

ngủ bao giờ! Đối với triều đình nhà Lê lúc bấy giờ sau khi bốn biển đã yên“Chân dung tự hoạ”

lặng Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá Nguồn

gốc sâu xa của thảm án vô cùng đau thơng của Nguyễn Trãi bị tru di ba“Chân dung tự hoạ” ”

họ là ở đó” ( Phạm Văn Đồng) Nguyễn Trãi đã chết một cách thảm khốc,

nhng đôi mắt của Nguyễn Trãi vẫn thức đó “Chân dung tự hoạ”Tuổi cao tóc bạc cái râu bạc,

Nhà ngặt đèn xanh con mắt xanh”, đôi mắt ức Trai sâu vời vợi, cùng thức với

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w