Nguyễn Thị Phương Nhóm trưởng Thuyết trình, điều tra sinh viên đại học Thương Mại 8.. Bằng phương pháp ước lượng khoảng tin cậy, ta có thể giải quyết các bài toán thống kê thường gặp tro
Trang 1Biên bản họp nhóm
I. Thời gian: 15h45 ngày 31 tháng 10 năm 2016
II. Địa điểm: trước sân nhà G
III. Thành viên
1. Nguyễn Thị Hồng Ngọc
2. Bùi Thị Nguyệt
3. Nguyễn Tuyết Nhung
4. Đào Thị Oanh
5. Nguyễn Thị Oanh
6. Nguyễn Thị Kiều Oanh
7. Nguyễn Thị Phương (nhóm trưởng)
8. Phan Thị Phương
9. Nguyễn Đình Quỳnh
IV. Các thành viên tham gia: 9/9
V. Nội dung: Tìm và thống nhất đề tài thảo luận và phân công công việc cho các thành
viên trong nhóm
Trang 2Họ và tên Nhiệm vụ
1 Nguyễn Thị Hồng Ngọc Điều tra sinh viên trường đại học Thương Mại
2 Bùi Thị Nguyệt Lời giải bài toán
3 Nguyễn Tuyết Nhung Lý thuyết và điều tra sinh viên đại học Thương Mại
4 Đào Thị Oanh Lý thuyết và điều tra sinh viên đại học Thương Mại
5 Nguyễn Thị Oanh Lời giải bài toán
6 Nguyễn Thị Kiều Oanh Điều tra sinh viên trường đại học Thương Mại
7 Nguyễn Thị Phương (Nhóm trưởng) Thuyết trình, điều tra sinh viên đại học Thương Mại
8 Phan Thị Phương Tổng hợp word
9 Nguyễn Đình Quỳnh Làm slide
Trang 3Bảng nhận xét kết quả làm việc nhóm
7 Nguyễn Thị Phương(Nhóm trưởng) A
Trang 4Lời mở đầu
Lý thuyết ước lượng, lý thuyết kiểm định các giả thuyết thống kê là một bộ phận của thống kê toán Nó là phương tiện giúp ta giải quyết những bài toán nhìn từ góc độ khác liên quan đến dấu hiệu cần nghiên cứu trong tổng thể
Thống kê có thể được định nghĩa một cách khái quát như là khoa học Kĩ thuật hay nghệ thuật của việc rút ra thông tin từ dữ liệu quan sát, nhằm giải quyết các bài toán từ thực tế cuộc sống Việc rút ra thông tin đó có thể là kiểm định một giả thiết khoa học, ước lượng một đại lượng chưa biết hay dự đoán một sự kiện trong tương lai
Phương pháp ước lượng bằng khoảng tin cậy sẽ giúp chúng ta ước lượng một tham số của một đại lượng ngẫu nhiên gốc X trên một đám đông nào đó, với sai số và chỉ ra khả năng mắc sai lầm khi ước lượng là bao nhiêu Kể cả khi nghiên cứu trên mẫu có kích thước nhỏ thì ước lượng khoảng tin cậy cũng sẽ cho kết quả với sai số là khá nhỏ Bằng phương pháp ước lượng khoảng tin cậy, ta có thể giải quyết các bài toán thống kê thường gặp trong cuộc sống như: Ước lượng mức chi tiêu trung bình hàng tháng của sinh viên trường ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI, ước lượng chiều cao trung bình của nam sinh viên trường ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI, ước lượng tỉ lệ sinh viên đi làm thêm của trường ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI, hay là ước lượng về tỉ lệ việc đi lại của sinh viên ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI, …
Thống kê toán nói chung hay các bài toán ước lượng và kiểm định nói riêng có ứng dụng rất rộng rãi trong thực tế và cuộc sống Nó không chỉ giúp ta giải quyết các bài toán thực tế mà còn có thể giải quyết các bài toán trong nghiên cứu khoa học
Các phương pháp ước lượng, kiểm định có ứng dụng rất lớn trong thực tế bởi vì trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu chúng ta không thể có được những con số chính xác, cụ thể do việc nghiên cứu trên đám đông quá lớn và tốn nhiều chi phí Vì vậy mà chúng ta cần ước lượng và kiểm định
Các phương pháp này giúp chúng ta đánh giá được các tham số trong trường học, cũng như các vấn đề về xã hội và kinh tế như:
Trang 5- Vấn đề về xã hội: ước lượng chiều cao trung bình của người Việt Nam, tổn thất trong những vụ thiên tai, tỉ lệ đói nghèo để từ đó đánh giá về chất lượng đời sống của nhân dân…
- Vấn đề về kinh tế bao gồm cả kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô như: tỉ lệ thất nghiệp của người lao động, tỉ lệ xuất nhập khẩu hàng hóa qua từng năm, …
Bài thảo luận này được xây dựng dựa trên cơ sở của: giáo trình lý thuyết xác xuất và thống kê toán của trường đại học Thương Mại, giáo trình lý thuyết và thống kê toán của trường đại học Kinh Tế Quốc Dân cùng với các kiến thức đã tiếp thu được từ bài giảng của các giảng viên bộ môn trường đại học Thương Mại
Do thời gian điều kiện và khả năng có hạn, bài thảo luận nhóm chúng tôi không tránh được những khiếm khuyết Chúng tôi rất mong nhận được sự cảm thông, chia sẻ và góp ý từ phía các giảng viên, các bạn sinh viên và những ai quan tâm đề tài thảo luận nhóm được hoàn thiện hơn!
Tập thể nhóm 11!
Trang 6I. Tính cấp thiết của đề tài.
Vấn đề đi lại của sinh viên là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay bởi nó gây ảnh hưởng tới giao thông làm tắc nghẽn và dẫn đến việc đi học muộn Ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn đang là vấn nạn hàng ngày, gây tổn hại lớn về kinh tế, làm tăng ô nhiễm môi trường Có rất nhiều loại phương tiện mà sinh viên hiện nay đang sử dụng như: xe máy, xe đạp…
Thật vậy, xe buýt là một trong những hệ thống giao thông quan trọng hiện nay với hơn 150 tuyến lưu thông trên khắp các quận huyện của thành phố Hà Nội Đây là loại phương tiện giúp tiết kiệm chi phí, ít bị bụi bặm , an toàn hơn … Chính vì thế , nó đang được nhiều người sử dụng hàng ngày để đi lại, nhất là giới học sinh, sinh viên và một bộ phận công chức, công nhân lao động có thu nhập thấp Đối với phần lớn sinh viên xe buýt đã trở thành một phương tiện di chuyển không thể thiếu Đặc biệt, vào những giờ cao điểm: giờ đi học của sinh viên vào buổi sáng ( 6h – 7h ) hay buổi trưa (11h30 – 12h30) và những lúc tan học , một lượng lớn sinh viên đứng chờ tại các trạm xe buýt đến nỗi nếu chỉ một chiếc xe buýt xuất hiện cũng không tài nào chở hết , thậm chí chỉ cần một chỗ đứng trên xe Rõ ràng, sự chen chúc nhau trên xe buýt là một hiện trạng không xa lạ đối với các bạn sinh viên
Vì thế, nhóm chúng tôi đã quyết định chọn đề tài này để tìm hiểu và nhận biết cường độ nhu cầu đối với loại phương tiện công cộng này Mục đích của đề tài nhằm tạo ra một nguồn tham khảo tương đối cho những người quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt là mong muốn cục đường bộ
sẽ quan tâm nhiều hơn nữa và có những triển khai thiết thực nhằm hoàn thiện mạng lưới tuyến và kết cấu hạ tầng cũng như đáp ứng nhu cầu của giới sinh viên ngày một tốt hơn
Trang 7
I. Bài tập.
Đề bài: Năm vừa qua tỉ lệ sinh viên trường đại học Thương mại đến trường bằng xe buýt chiếm
50% Có ý kiến cho rằng tỉ lệ sinh viên đi xe buýt năm nay sẽ tăng Để kiểm tra lại, chúng em điều tra ngẫu nhiên 100 sinh viên của trường cho thấy có 38 sinh viên đi xe buýt Với mức ý nghĩa là 0.05 có thể khẳng định ý kiến trên là đúng hay sai không?
Giải quyết bài toán.
Theo báo cáo của nhóm 11 sinh viên môn xác suất thống kê lớp 1666AMAT0111, điều tra 100 sinh viên ở trường đại học thương mại thấy có 38 sinh viên đi xe buýt và được thể hiện rõ qua bảng:
Bảng khảo sát phương tiện đi lại của sinh viên đại học Thương mại
Stt Họ và Tên Sinh viên
năm Quê quán
Lớp hành chính
Phương tiện
1 Phạm Thị Huyền Trang 4 Hưng Yên K48U2 Xe bus
2 Nguyễn Thị Oanh 2 Hải Dương K51A1 Xe bus
7 Nguyễn Thị Linh 2 Hà Nội K51D6 Xe bus
8 Nguyễn Thúy Hằng 2 Hà Nội K51C4 Xe bus
9 Nguyễn Ngọc Khánh 2 Hà Nội K51C4 Xe bus
10 Trần Thảo Phương 2 Thái Bình K51C5 Đi bộ
11 Trần Thị Giang 2 Bắc Ninh K51A1 Đi bộ
12 Đỗ Thị Quỳnh Thảo 2 Bắc Giang K51S4 Đi bộ
13 Tăng Hoài Nam 2 Nghệ An K51H5 Xe bus
15 Bùi Thị Nguyệt 2 Nghệ An K51A5 Xe bus
Trang 821 Đỗ Thị Hiền 2 Bắc Kạn K51K4 Xe bus
22 Phạm Minh Phúc 2 Hà Nội K51A5 Xe bus
23 Nguyễn Thị Khánh Linh 2 Hà Nội K51K1 Xe bus
25 Quế Thị Tuyết 2 Nghệ An K51A3 Xe Bus
27 Lê Thị Thu Lương 2 Thái Bình K51A5 Đi bộ
31 Bùi Thị Nguyệt 2 Yên Bái K51A5 Xe máy
32 Nguyễn Thị Thảo 2 Nghệ An K51E3 Đi bộ
33 Trần Minh Phúc 2 Hà Nội K51A5 Xe đạp
34 Nguyễn Linh 2 Quảng Ninh K51K1 Đi bộ
35 Vũ Ngọc Thành 4 Nghệ An K49U5 Xe bus
36 Nguyễn Thị Kim Anh 2 Thái Bình K51K2 Xe máy
37 Phạm Minh Quân 4 Nghệ An K49U6 Xe bus
38 Nguyễn Thị Oanh 2 Cao Bằng K51A1 Xe máy
40 Nguyễn Thị Minh Anh 3 Lòa Cai K50Q1 Đi bộ
42 Bùi Phụng Anh 2 Nghệ An K51K1 Xe bus
43 Nguyễn Thị Thu Hường 2 Thái Bình K51A1 Đi bộ
44 Nguyễn Thị Minh Ngọc 2 Hưng Yên K51A5 Xe bus
45 Nguyễn Thị Hà Thu 4 Hải Dương K49H5 Xe đạp
48 Nguyễn Hồng Ngọc 2 Nghệ An K51K5 Xe máy
49 Nguyễn Thu Hà 2 Nghệ An K51K5 Xe máy
51 Đỗ Thị Ngọc Anh 2 Nghệ An K51K5 Xe bus
52 Phạm Minh Châu 2 Hà Nội K51K5 Xe bus
53 Trần Thị Cẩm Hà 2 Bắc Ninh K51K5 Xe máy
54 Vũ Trần Ngọc Hân 2 Bắc Giang K51K5 Đi bộ
55 Nguyễn Phương Hải 2 Hà Tĩnh K51K5 Xe bus
56 Đỗ Hoàng Vũ 2 Hải Dương K51K5 Xe bus
57 Bùi Đức Việt 2 Vũng Tàu K51S1 Xe máy
58 Hoàng Thị Kim Tuyền 2 Phú Thọ K51K5 Xe bus
59 Nguyễn Thị Hồng Nhung 2 Nam Định K51A5 Đi bộ
60 Phạm Thị Dung 2 Phú Thọ K51K5 Xe máy
62 Nguyễn Thị Thu Hải 2 Bắc Giang K52S1 Đi bộ
Trang 966 Liễu Thị Huyền 2 Bắc Ninh K51A1 Xe bus
67 Nguyễn Thị Hằng 2 Hưng Yên K51A5 Xe bus
67 Phùng Thị Thùy 2 Vũng Tàu K51A5 Xe máy
68 Trần Thị Diệu My 2 Nam Định K51A2 Xe máy
70 Nguyễn Thị Trang 2 Hải Dương K51A3 Đi bộ
71 Nguyễn Ngọc Ánh 2 Nghệ An K51K4 Xe máy
72 Phạm Minh Hiền 2 Hà Nội K51K4 Xe bus
73 Nguyễn Thùy Dương 2 Phú Thọ K51F2 Xe bus
74 Nguyễn Thị Thảo 2 Điện Biên K51A4 Xe bus
75 Triệu Thị Ngân 2 Quảng Trị K51K1 Xe đạp
76 Lê Xuân Hòa 2 Thái Bình K51A1 Xe bus
77 Nguyễn Thị Quỳnh 2 Hà Nội K51K3 Đi bộ
78 Đỗ Thị Quỳnh Thảo 2 Hải Phòng K51A1 Xe máy
79 Nguyễn Thị Lệ 2 Bắc Ninh K51A1 Xe máy
80 Nguyễn Thị Thúy 2 Vĩnh Phúc K51A4 Đi bộ
81 Bùi Thị Ngọc Trâm 2 Hà Nam K51K1 Đi bộ
82 Trần Thị Thùy 2 Nghệ An K51K3 Xe bus
83 Nguyễn Thị Uyên 1 Quảng Trị K51A2 Xe máy
84 Cao Văn Thoại 2 Quảng Bình K51K5 Đi bộ
85 Nguyễn Thị Minh Thúy 2 Hà Tĩnh K51A1 Xe bus
86 Nguyễn Thị Trang 2 Vĩnh Phúc K51A3 Xe máy
87 Lê Thị Kiều Oanh 2 Hải Dương K51A2 Đi bộ
88 Trần Thị Huyền Trang 2 Phan Thiết K51A1 Đi bộ
89 Cầm Thị Vân Anh 2 Đà Nẵng K51K2 Xe máy
91 Đòan Việt Hoàng 2 Hà Giang K51A2 Xe bus
92 Lê Thị Quỳnh 2 Minh Phú K51A5 Xe bus
93 Cao Thị Thu Hiền 2 Nam Định K51A2 Xe đạp
94 Nguyễn Thị Ngọc Dung 2 HảI Dương K51A3 Xe máy
95 Nguyễn Ngọc Tân 2 Nghệ An K51K1 Xe máy
96 Trần Thị Thu Hường 2 Hà Nội K51K3 Xe đạp
97 Nguyễn Công Chung 2 Hà Nội K51K2 Xe đạp
98 Nguyễn Thị Lan 2 Thanh Hóa K51A4 Xe bus
99 Nguyễn Thị Toan 2 Hà Nội K51A5 Xe máy
100 Nguyễn Thị Phương 2 Bắc Giang K51K4 Xe đạp
Trang 10Giải quyết bài toán:
Gọi
• A là sinh viên đi xe buýt
• Gọi f là tỷ lệ sinh viên đi học bằng xe buýt trên mẫu
• Gọi p là tỉ lệ sinh viên đi học bằng xe buýt trên đám đông
Ta có:
- n=100, = 38
-Cần kiểm định:
Vì n=100 > 30 => khá lớn => f ≃N(p;)
Chọn tiêu chuẩn kiểm định: ≃ N(0,1) nếu H0 đúng thì U N(0;1)⁓
Với = 0,05 ta tìm được == 1,645 sao cho:
Ta có: P(U)=
P(U> 1,645) =
Vì = 0.05 khá bé nên theo nguyên lý xác suất bé thì biến cố (U> 1.645) xem như nhất định không xảy ra một lần lấy mẫu H0 đúng
Nếu trên mẫu : Utn > Utn >1.645 thì H0 tỏ ra không đúng
Miền bác bỏ: ={:}
Trên mẫu có: = = = 0.38
Với mẫu cụ thể: n=100 >30 => = = = -2,4 < 1.645
Utn
Chưa có cơ sở bác bỏ
Vậy với mức ý nghĩa 0,05 ta không thể kết luận rằng tỷ lệ sinh viên đi xe buýt năm nay sẽ
Trang 11Khi nghiên cứu nhóm 11 đã chọn ngẫu nhiên ra mẫu 100 bạn sinh viên của trường để tiến hành nghiên cứu để đưa ra kết luận chung cho toàn bộ sinh viên đại học Thương Mại với mức ý nghĩa 5% Đây là một nghiên cứu nhỏ nhưng nó cũng có tính ứng dụng cao
Trước mắt ở phạm vi hẹp đó là phục vụ nội bộ trường đại học Thương Mại:
- Cung cấp thêm số liệu cho sinh viên cũng như giảng viên trong trường về tỉ lệ sinh viên đi xe bus đến trường
- Giảm được việc ùn tắc khi tham gia giao thông
Ở phạm vi rộng hơn đối với các bạn sinh viên trong trường, ngoài trường và toàn xã hội:
- Dự báo về tỉ lệ sinh viên đi xe bus khi tham gia giao thông
- Giảm tình trạng gây ra tai nạn giao thông
- Giúp sinh viên có thể điều chỉnh được thời gian của mình khi tham gia giao thông
Nhóm đã liên hệ với các bạn tại các trường đại học khác trên Hà Nội như: kinh tế quốc dân, đại học công nghiệp, đại học tài nguyên môi trường, đại học sân khấu điện ảnh…bằng cách khảo sát các bạn và đã phân tích với mức ý nghĩa 5%
Tóm lại sau một thời gian làm việc tích cực nhóm đã thu thập được số liệu và bằng phương pháp thống kê toán được học dưới sự giảng dạy của giảng viên bộ môn, nhóm đã hoàn thành bài thảo luận của mình Dù vẫn chưa hoàn thành xuất sắc nhưng nhóm đã cố gắng làm tốt nhất có thể Mong nhận được nhiều sự góp ý của thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!