1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THUYET TRINH MOI TRUONG DAI CUONG

47 517 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 10 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con người là một thành viên trong các hệ sinh thái tự nhiên quanh mình, có quan hệ tương hổ thông qua các mắt xích thức ăn, các hoạt động lao động sản xuất nhưng đặc biệt là hành vi cư xử của con người. Trong quá trình phát triển, con người đã tác động vào hệ sinh thái tự nhiên rất nhiều như khai thác sinh vật thủy sinh, chăn nuôi, trồng trọt, khai thác các sản phẩm của rừng…. Ngoài ra, con người còn tạo ra những hệ sinh thái nhân tạo như kết hợp trồng trọt, trồng rừng, chăn nuôi và con người tích cực tham gia bảo vệ môi trường, chống lại quá trình ô nhiễm môi sinh và quản lý các nguồn tài nguyên tự nhiên và môi trường. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, con người đã để lại những tác động xấu đến môi trường gây những hậu quả khác nhau

Trang 1

GIẢNG VIÊN:PGS.TS PHAN THANH KIẾM

THÀNH VIÊN NHÓM 3:

1.NGUYỄN PHƯỚC THÀNH(NT)

2.TRẦN AN NINH 3.HUỲNH THỊ THANH SUNG

4.HOÀNG THỊ THANH 5.ĐẶNG THỊ THU THẢO

6.LÊ THỊ THÚY 7.NGUYỄN THỊ CẨM TIÊN 8.NGUYỄN THÀNH TRÍ

MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG

Trang 2

1.TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC QUẦN THỂ

SINH VẬT

Trang 38

2.SỰ PHÁT TRIỂN VÀ TIẾN HÓA CỦA CÁC HỆ

SINH THÁI

.Sự phát triển của các quá trình tự nhiên thông thường được xem xét theo nguyên lí nhiệt động 2.Trong các hệ tự

nhiên,các quá trình tự diễn biến là quá trình tăng

entropia(ds>=0),hay nói cách khác là quá trình tăng trạng

thái vô trật tự,phân bố đều năng lượng và 2 vật chất,ngược lại với quá trình trật tự hóa và quá trình hình thành khác cấu

trúc trật tự

.Sự phát triển của hệ sinh thái tự nhiên tiến triển theo quy

luật chung là duy trì và gia tăng độ trật tự cấu trúc của hệ

sinh thái.Từ hệ sinh thái có rất ít các loài tiến tới hệ sinh thái

có nhiều các nhóm loài sinh vật,sắp theo một cấu trúc nhiều tầng.Hệ sinh thái tự nhiên có mức độ phát triển và cấu trúc

trật tự cao ứng với điều kiện cụ thể của môi trường,thường

gọi là hệ sinh thái đỉnh cực.Thí dụ cho cấu trúc nhiều tầng của

hệ sinh thái rừng là rừng nguyên sinh nhiệt đới trong rừng

quốc gia Cúc Phương.

Trang 39

.Như vậy,sự phát triển của rừng sinh thái tự nhiên có 1 số khác biệt so với các quy trình tự nhiên khác.Hệ sinh thái tự nhiên phát triển theo hướng tăng dần

độ trật tự hay là giảm entropia(ds<=0) theo thời gian.Để duy trì cấu trúc trật

tự vs sự phát triển trên,hệ sinh thái tự nhiên luôn luôn cần có nguồn năng

lượng từ bên ngoài(NLMT).Do vậy,hệ sinh thái tự nhiên không thể tồn tại nếu thiếu nguồn NLMT

.Hệ sinh thái tự nhiên khi phát triển tới mức cao thường cố gắng giảm thiểu

sự tiêu thụ năng lượng cần thiết để duy trì sự sống bằng cách giảm sự tang trưởng.Tỷ số năng lượng sơ cấp đầu vào P và năng lượng hô hấp R tiến tới giá trị cân bằng có nghĩa là P/R1 và P/B0.Ở đây,B là tổng năng lượng sinh khối của hệ sinh thái

.Sự phát triển của hệ sinh thái và các quần xã sinh vật từ mức này sang mức khác gọi là diễn thế sinh thái.Có 2 loại diễn thế sinh thái:diễn thế nguyên sinh

và diễn thế thứ sinh

1.Diễn thế nguyên sinh:

VD1:Hồ cạnđầm lầythực vật cạnrừng

VD2:Bãi triều lầycây mắm,cây trangcây đước,cây tramrừng cây nhiệt đới

2.Diễn thế thứ sinh:phát triển trên nền hệ sinh thái đã bị tàn phá.VD vườn trại thành rừng cây:

Vườn hoangcỏ dạicỏ,lau lách,cây bụirừng cây thứ sinh

.Quần xã sinh vật xuất hiện trong thời điểm ban đầu của sự phát triển gọi là quần xã tiên phong,quần xã phát triển ở mức độ cao nhất gọi là quần xã đỉnh cực.Giữa chúng là các quần xã trung gian

Trang 40

3.TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI ĐẾN HỆ SINH

THÁI

Con người là một thành viên trong các hệ sinh thái tự

nhiên quanh mình, có quan hệ tương hổ thông qua các

mắt xích thức ăn, các hoạt động lao động sản xuất nhưng đặc biệt là hành vi cư xử của con người.

Trong quá trình phát triển, con người đã tác động vào hệ sinh thái tự nhiên rất nhiều như khai thác sinh vật thủy sinh, chăn nuôi, trồng trọt, khai thác các sản phẩm của rừng… Ngoài ra, con người còn tạo ra những hệ sinh thái nhân tạo như kết hợp trồng trọt, trồng rừng, chăn nuôi và con người tích cực tham gia bảo vệ môi trường, chống lại quá trình ô nhiễm môi sinh và quản lý các nguồn tài

nguyên tự nhiên và môi trường.

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, con người

đã để lại những tác động xấu đến môi trường gây những hậu quả khác nhau

Trang 41

Gây ô nhiễm môi trường

.Một số hậu quả nghiêm trọng của ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến toàn cầu như mưa acid; Hiệu ứng nhà kính; Lỗ thủng tầng ozone

.Công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp, sinh hoạt thải ra môi trường đủ dạng chất thải rắn, nước, khí với hàng triệu tấn/năm

.Nước mặt tràn lên mặt đất, sông hồ, ngấm sâu xuống đất, chất khí độc cũng dâng lên cao, gây hại cho tầng ozone

.Mặt đất bị xói mòn, lớp phủ đất – dinh dưỡng cho thực vật cũng bị mất dần, đồng thời trở thành bãi chôn rác và phóng xạ

.Đất nông nghiệp bị thâm canh bằng đủ các loại hóa chất gây chai cứng đất Diện tích canh tác bị thu hẹp hàng năm 5 – 7 triệu ha

.Nguồn nước sạch bị thu hẹp do khai thác bừa bãi, do ô nhiễm 60% dân đô thị và nông thôn không có nước để dùng

.Nitrat trong nước ngầm tăng nhanh.1,6 triệu tấn dầu/năm tràn trên mặt

biển.Phóng xạ α lên đến 1500 curi, β đến 5000 curi.CO2 trong không khí tăng hàng năm 440 ppm.NOx: 30 triệu tấn/năm, CH4: 550 triệu tấn/năm.Chlor-

Fluor-Cacbon (CFC’s): 400 nghìn tấn/năm

.Hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ tăng 1,5 - 4,5oC.Nước biển dâng cao

Trang 43

Gây suy giảm đa dạng sinh học

.Đa dạng sinh học là thuật ngữ để chỉ sự phong phú của các sinh vật sống từ tất cả các nguồn, bao gồm lục địa, biển và các hệ sinh thái thủy sinh khác cũng như tổ hợp sinh thái, bao gồm sự đa dạng trong các chủng loài và hệ sinh thái

Đa dạng sinh học cung cấp nguồn thực phẩm cho con người, cung cấp nguồn gen quý hiếm, là tác nhân điều hòa sinh học, cung cấp các sản phẩm tự

nhiên như thuốc trừ sâu, dược phẩm và các nguyên vật liệu khác, đồng thời còn phục vụ cho môi trường cũng như nhu cầu giải trí của con người

.Nguyên nhân chính gây suy giảm đa dạng sinh học là những hành động phá hoại môi trường sống làm hủy diệt các loài động thực vật, mất tính đa dạng,

số cá thể còn lại ít sẽ không đủ sức hỗ trợ cho sự tồn tại của một quần thể, quần thể dễ bị tiêu diệt, tuyệt chủng vì những thay đổi bất thường Tính đa dạng di truyền của những quần thể này thấp nên khó thích nghi với các biến động khí hậu hoặc các bệnh truyền nhiễm

Hoạt động săn bắt của con người cũng đã gây sự tuyệt chủng của nhiều thú lớn Nhập cư của các loài ngoại lai từ khu vực khác cũng dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều giống loài vì gây sự mất cân bằng của chuỗi thức ăn – con mồi

.Mọi hoạt động của con người nhằm tồn tại và phát triển kinh tế-xã hội, nên bên cạnh những tác động xấu đối với môi trường, còn có những tác động tích cực đến hệ sinh thái Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý đến những tác động tiêu cực đối với môi trường để có những giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự thiệt hại cần tránh

Trang 44

Gây suy giảm chất lượng sống của chính mình

.Khái niệm:

.Chất lượng của cuộc sống là sự thỏa mãn của cá nhân

hay sự hạnh phúc với cuộc sống ở một lĩnh vực mà con

người cho là quan trọng.

.Chất lượng cuộc sống là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa các điều kiện xã hội, sức khỏe, kinh tế và môi

trường mà chúng ảnh hưởng tới sự phát triển của môi

trường và con người.

 

.Chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào trình độ phát triển

xã hội, mức thu nhập, môi trường sống, quan hệ xã hội

.Chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình phụ thuộc trực tiếp vào việc làm ổn định, thu nhập trung bình đầu người, an sinh xã hội (học hành của con cái, chăm sóc sức khỏe, an ninh khu vực ).

Trang 45

Một số biểu hiện có tính toàn cầu như sau:

.Nhịp điệu tăng của nông nghiệp giảm dần: Thập kỷ 30 là 3,1%; thập

kỷ 60 là 2,5%; năm 1985 là 2,1% Sản lượng ngũ cốc tăng không

đáng kể trong khi đó hoa quả, thịt sữa không tăng; củ giảm Nạn đói còn diễn ra ở nhiều nơi.

.Năng lượng hấp thu theo đầu người ở các nước nghèo chỉ có 2.380 kcal/ngày chủ yếu từ thực vật; các nước giàu 3.380 kcal/ngày chủ yếu

là động vật; 730 triệu người không đủ calo bù đắp cho hoạt động

Trang 46

Ðánh giá chất lượng môi trường sống

Hiện nay có 3 cách đánh giá chất lượng môi trường sống như: Tiêu chuẩn tối cao đánh giá chất lượng môi trường là đảm bảo hoạt động bình thường của con người với tư cách là một thực thể sinh học nên các hoạt động của con người phụ thuộc chặt chẽ vào nhiều yếu

tố tự nhiên như nước, ánh sáng, không khí, thức ăn Con người có thể chịu đựng tối đa được 50 ngày không ăn, 5 ngày không uống, 5 phút không thở Như vậy, chất lượng môi trường sống trước hết là nước

trường với tư cách là một "dụng cụ sống" Ví dụ: cây cối có xanh tươi không, sâu bọ sinh sản mạnh hay yếu, động vật béo tốt hay ốm

yếu v.v… Dấu hiệu tổng hợp để đánh giá là sức sản xuất của hệ sinh thái và sự đa dạng của các loài trong hệ sinh thái.

.Căn cứ vào sức khỏe của người dân trong môi trường sống đó vì con người chính là một "dụng cụ sống" nhạy bén nhất đối với những thay đổi diễn ra trong môi trường Các chỉ số quan trọng là số lượng người bệnh, các loại bệnh Tình trạng sức khỏe của trẻ em và người già là nhóm nhạy bén nhất đối với diễn biến của môi trường cộng đồng.

Ngày đăng: 24/11/2016, 20:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w